Nhiệm vụ nghiên cứu Để đạt được mục đích nêu trên, luận văn tập trung thực hiện các nội dung sau: - Làm rõ những vấn đề lý luận về huyện ủy lãnh đạo công tác vận động đồng bào dân tộc t
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
Trang 3Luận văn đã đƣợc chỉnh sửa theo khuyến nghị của Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ
Hà Nội, ngày 13 tháng 12 năm 2022
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG
PGS, TS Trần Thanh Giang
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan những nội dung đƣợc trình bày trong luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu trong luận văn là trung thực Những kết quả khoa học của luận văn chƣa từng đƣợc công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào khác Và tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về những thông tin, dự liệu đã công bố trong luận văn này
Tác giả luận văn
Nguyễn Thanh Hằng
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, em xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc đến TS
Lê Thị Thu Mai, người đã luôn tận tình hướng dẫn và tạo điều kiện tốt nhất cho
em trong suốt quá trình viết luận văn này
Em xin chân thành cảm ơn tập thể các nhà khoa học, quý thầy cô trong khoa Xây dựng Đảng đã tận tình giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu Với vốn kiến thức được tiếp thu trong thời gian học tập trên giảng đường không chỉ là nền tảng cho quá trình nghiên cứu luận văn mà còn là hành trang quý báu để em bước vào cuộc sống một cách vững chắc và tự tin
Trong quá trình viết luận văn, bản thân em đã hết sức cố gắng nhưng do khả năng, vốn kinh nghiệm nghiên cứu và thời gian có hạn nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, em rất mong nhận được sự chỉ bảo, đóng góp của các nhà khoa học, các thầy, cô để luận văn của em được hoàn chỉnh hơn
Tác giả luận văn
Nguyễn Thanh Hằng
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 Chương 1 : HUYỆN ỦY LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC VẬN ĐỘNG ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ - NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 10
1.1 Dân tộc thiểu số và công tác vận động đồng bào dân tộc thiểu số 101.2 Huyện ủy lãnh đạo công tác vận động đồng bào dân tộc thiểu số - quan niệm, nội
dung, phương thức 21
Chương 2 : HUYỆN ỦY MÙ CANG CHẢI, TỈNH YÊN BÁI LÃNH ĐẠO 38 CÔNG TÁC VẬN ĐỘNG ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ HIỆN NAY - THỰC TRẠNG, NGUYÊN NHÂN VÀ MỘT SỐ KINH NGHIỆM 38
2.1 Các yếu tố tác động đến sự lãnh đạo của Huyện ủy Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái đối
với công tác vận động đồng bào dân tộc thiểu số 38
2.2 Thực trạng Huyện ủy Mù Cang Chải lãnh đạo công tác vận động đồng bào dân tộc thiểu số 48
2.3 Nguyên nhân và một số kinh nghiệm 73
Chương 3 : PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG SỰ LÃNH ĐẠO CỦA HUYỆN ỦY MÙ CANG CHẢI, TỈNH YÊN BÁI ĐỐI VỚI CÔNG TÁC VẬN ĐỘNG ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ THỜI GIAN TỚI 81
3.1 Phương hướng tăng cường sự lãnh đạo của Huyện ủy Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái
đối với công tác vận động đồng bào dân tộc thiểu số trong thời gian tới 81
3.2 Những giải pháp tăng cường sự lãnh đạo của Huyện ủy Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái đối với công tác vận động đồng bào dân tộc thiếu số trong thời gian tới 83
KẾT LUẬN 100 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 102 PHỤ LỤC
TÓM TẮT LUẬN VĂN
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Đồng hành cùng lịch sử dân tộc, công tác dân vận vẫn luôn là một bộ phận quan trọng, có ý nghĩa chiến lược đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Lực lượng của dân rất to Việc dân vận rất quan trọng Dân vận kém thì việc gì cũng kém Dân vận khéo thì việc gì cũng thành công” [16, tr.234] Từ những buổi bình minh sơ khai dựng nước, đất nước Việt Nam đã là một cộng đồng với nhiều dân tộc gắn kết, đoàn kết lại để chinh phục
tự nhiên và chống lại sự xâm lăng từ bên ngoài, ngày càng có nhiều dân tộc gia nhập vào đại gia đình các dân tộc Việt Nam Trong suốt chặng đường lịch sử, các dân tộc luôn sát cánh bên nhau, đoàn kết, thống nhất để chống chọi với thiên nhiên, địch họa, bảo vệ và xây dựng non sông đất nước Có thể nói, nếu không
có sự đoàn kết của đồng bào dân tộc thiểu số, không có sự ủng hộ, giúp đỡ của các dân tộc thiểu số thì chắc chắn không thể có một quốc gia Việt Nam thống nhất, độc lập như ngày nay
Tuy nhiên, trong tình hình thế giới đang có nhiều thay đổi phức tạp, các thế lực thù địch luôn tìm mọi cách để chống phá Đảng và Nhà nước, chia rẽ khối đại đoàn kết của dân tộc ta Trong thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ, các lực lượng thù địch luôn lợi dụng các vấn đề dân tộc để chống phá cách mạng nước ta bởi đồng bào dân tộc thiểu số các vùng sâu vùng xa đặc biệt khó khăn do điều kiện kinh tế -
xã hội còn nghèo nàn, lạc hậu, trình độ dân trí thấp, nên dễ bị các thế lực chống phá dụ
dỗ, lôi kéo, mua chuộc, kích động
Huyện Mù Cang Chải là một huyện Tây Bắc đặc biệt khó khăn của tỉnh Yên Bái nói riêng và cả nước nói chung Là một huyện vùng cao giáp các tỉnh biên giới, nằm dọc quốc lộ 32, với vị trí chiến lược quan trọng về phát triển kinh
tế và quốc phòng, an ninh, toàn huyện Mù Cang Chải có 13 xã và 1 thị trấn Đồng bào dân tộc thiểu số chiếm 91% dân số của cả huyện Trong những năm qua, từ việc thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo sát sao của Đảng bộ huyện Mù Cang Chải,
Trang 8tỉnh Yên Bái, đời sống của người dân đã được nâng cao về cả vật chất và tinh thần, kinh tế - xã hội của địa phương ngày càng được cải thiện nhưng nhìn chung vẫn còn nhiều khó khăn Phần lớn đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Mù Cang Chải còn đói nghèo, trình độ dân trí thấp, sống rải rác tại các điểm dân cư nhỏ lẻ trên địa bàn núi cao, giao thông đi lại còn nhiều khó khăn, sống không tập trung nên dễ bị kẻ xấu lợi dụng, lôi kéo Những đặc điểm đó đã khiến cho công tác vận động đồng bào dân tộc thiểu số của Huyện ủy Mù Cang Chải gặp nhiều khó khăn
Ngoài những yếu tố khách quan, sự lãnh đạo của Huyện ủy Mù Cang Chải đối với công tác vận động đồng bào dân tộc thiểu số vẫn còn tồn tại những hạn chế Việc lãnh đạo, chỉ đạo về công tác vận động đồng bào dân tộc thiểu số của Huyện ủy Mù Cang Chải chưa đạt hiệu quả cao, nội dung, phương thức lãnh đạo còn chậm đổi mới Một số cấp ủy cơ sở, chi bộ cơ sở, cán bộ, đảng viên còn chưa nhận thức rõ vai trò và tầm quan trọng của công tác vận động đồng bào dân tộc thiểu số Một số cấp ủy cơ sở nhận thức đúng nhưng do quá trình tổ chức thực hiện chưa đạt hiệu quả cao và do thiếu kiểm tra đôn đốc; công tác tuyên truyền, hướng dẫn đồng bào chưa sâu sát, cụ thể, các hoạt động triển khai các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến đồng bào thiểu số còn chậm; công tác tham mưu đề xuất chưa chủ động, còn lúng túng khi gặp những tình huống phát sinh ngoài dự kiến Đội ngũ làm công tác dân vận lâu năm
có nhiều kinh nghiệm thực tiễn, tuy nhiên lại ngại đổi mới, phương pháp và cách thức vận động đi theo lối mòn, không đáp ứng được yêu cầu hiện nay, vẫn còn tình trạng chạy theo thành tích trong các phong trào dân vận ở một số xã, trong cuộc phát động thì thực hiện tốt, hết thời gian thi đua thì bỏ dở, không tích cực, các phong trào chỉ thực hiện mùa vụ, không có tính lâu dài
Tất cả những tồn tại trên đều trực tiếp ảnh hưởng không nhỏ tới hiệu quả của công tác vận động đồng bào dân tộc thiểu số của Huyện ủy Mù Cang Chải trong thời gian qua Điều đó thể hiện ở việc đồng bào dân tộc thiểu số vẫn còn mang tâm lý dựa dẫm vào chính sách của Nhà nước, không muốn “thoát nghèo”, lười làm kinh tế, sợ mất chế độ, chính sách, chưa tích cực xây dựng nông thôn
Trang 9mới Đặc biệt, một bộ phận không nhỏ đồng bào thiểu số còn mắc các tệ nạn xã hội, vi phạm pháp luật như buôn bán phụ nữ qua biên giới, nhất là nạn ma túy và buôn bán ma túy đã từng là những “điểm nóng ma túy” của khu vực, gây mất trật tự an ninh tại địa phương
Trước thực trạng và yêu cầu ngày càng cao của nhiệm vụ phát triển kinh
tế - xã hội đã và đang đặt ra nhiều vấn đề mới, đòi hỏi Huyện ủy Mù Cang Chải cần phải lãnh đạo hiệu quả công tác vận động đồng bào dân tộc thiểu số cho phù hợp, đáp ứng yêu cầu đặt ra Nhận thức được tầm quan trọng và tính cấp bách
của vấn đề trên, tôi lựa chọn đề tài “Huyện ủy Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái lãnh đạo công tác vận động đồng bào dân tộc thiểu số hiện nay” làm luận văn
thạc sĩ ngành Xây dựng Đảng và Chính quyền nhà nước
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trong thời gian qua, đã có nhiều công trình, đề tài khoa học nghiên cứu
về sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng đối với công tác vận động đồng bào dân tộc thiểu số từ Trung ương đến cơ sở Khi thực hiện đề tài này, tác giả đã tiếp cận một số công trình khoa học liên quan trực tiếp đến đề tài luận văn, tiêu biểu như:
- Viện Hồ Chí Minh (2013), Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác dân vận trong thời kỳ đổi mới ở nước ta hiện nay, Nxb Lao động - Xã hội, Hà Nội Đây
là công trình gồm 42 bài viết của các tác giả, đưa ra những cơ sở lý luận khoa học và cơ sở pháp lý quan trọng trong việc xác định những phương thức cơ bản trong việc tiến hành công tác dân vận
- Ban Dân vận Trung ương (2014), Cẩm nang công tác dân vận, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội Cuốn sách là cẩm nang quý giá trong việc nghiên
Trang 10cứu và vận dụng những kinh nghiệm vào thực tiễn công tác dân vận của Đảng Cuốn sách đã thống kê những công văn, chỉ thị, nghị quyết của Đảng, Nhà nước
và các đoàn thể chính trị - xã hội nhằm hỗ trợ cho nghiệp vụ công tác dân vận của đảng và chính quyền phục vụ hiệu quả trong việc tham khảo và tiến hành công tác dân vận hiện nay
- Trương Ngọc Nam (2015), Giáo trình công tác dân vận của Đảng, Nxb
Lý luận chính trị, Hà Nội Giáo trình trình bày những vấn đề lý luận cơ bản về công tác dân vận và chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của ban dân vận cấp
- Đậu Tuấn Nam, Vũ Hải Vân, Trương Bảo Thanh (2021), Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác dân tộc của hệ thống chính trị ở vùng dân tộc thiểu số nước ta hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội Cuốn sách đã phân
tích thực trạng chất lượng, hiệu quả, những mặt thuận lợi và khó khăn trong quá trình triển khai thực hiện công tác dân tộc ở vùng dân tộc thiểu số những năm qua, đồng thời chỉ ra những hạn chế, bất cập, những vấn đề mới nảy sinh, trên
cơ sở đó đề xuất các nhóm giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả thực hiện công tác dân tộc của hệ thống chính trị ở vùng dân tộc thiểu số đến năm
2030 Cuốn sách góp phần cung cấp cơ sở lý luận, thực tiễn cho các nhà nghiên cứu, các nhà hoạch định chính sách
* Luận văn, luận án
- Nguyễn Quốc Đoàn (2015), Tỉnh ủy Lào Cai lãnh đạo công tác vận động đồng bào dân tộc Mông hiện nay, Luận văn Thạc sĩ Xây dựng Đảng và
Trang 11Chính quyền Nhà nước, Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Hà Nội Luận văn đã làm rõ được tầm quan trọng trong sự lãnh đạo của Tỉnh ủy Lào Cai với công tác vận động đồng bào dân tộc Mông trong thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng về công tác dân vận và thực hiện chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước ta hiện nay Đánh giá thực trạng Tỉnh ủy Lào Cai lãnh đạo công tác vận động đồng bào dân tộc Mông từ năm 2010 đến năm 2015, từ đó đề xuất giải pháp nhằm tăng cường sự lãnh đạo của Tỉnh ủy Lào Cai đối với công tác vận động đồng bào dân tộc Mông đến năm
2020 và những năm tiếp theo
- Nguyễn Thị Mai Phương (2015), Công tác dân vận của Ủy ban nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng hiện nay, Luận văn thạc sĩ Chính trị
học, Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Hà Nội Luận văn làm rõ những vấn đề
lý luận về công tác dân vận của Ủy ban Nhân dân huyện Tiên Lãng - thành phố Hải Phòng, gồm: quan niệm, nội dung và phương thức tiến hành công tác dân vận của Ủy ban Nhân dân huyện Tiên Lãng hiện nay Khảo sát, đánh giá thực trạng công tác dân vận của Ủy ban Nhân dân huyện Tiên Lãng - thành phố Hải Phòng từ năm 2010 đến năm 2014; chỉ rõ ưu, khuyết điểm, nguyên nhân và rút
- Hoàng Đình Long (2017), Công tác dân vận của Đảng bộ tỉnh Đồng Nai hiện nay, Luận văn Thạc sĩ Xây dựng Đảng và Chính quyền Nhà nước, Học viện
Báo chí và Tuyên truyền, Hà Nội Luận văn làm rõ những vấn đề lý luận về công tác dân vận của đảng bộ tỉnh (quan niệm, vai trò, nội dung, phương thức tiến
Trang 12hành công tác dân vận của đảng bộ tỉnh) Khảo sát đánh giá thực trạng công tác dân vận của tỉnh Đồng Nai hiện nay, chỉ rõ được những ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân và rút ra những kinh nghiệm cần thiết Đề xuất những phương hướng, giải pháp nhằm tăng cường công tác dân vận của tỉnh Đồng Nai trong thời gian tới
* Các bài viết trên báo, tạp chí
- Nguyễn Thế Trung (2015), Nhận thức về chức năng, nhiệm vụ của ban dân vận các cấp trong tình hình mới, Tạp chí dân vận số 7 Bài viết đề cập đến
vị trí, vai trò rất quan trọng của công tác dân vận trong sự nghiệp cách mạng nước ta đồng thời trình bày chức năng, nhiệm vụ của ban dân vận các cấp trong tình hình mới
- Nguyễn Thế Trung (2016), Tiếp tục đổi mới nâng cao hiệu quả công tác dân vận theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, Tạp chí Dân vận số 3
Bài viết tóm tắt và phân tích các mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp nâng cao hiệu quả công tác dân vận được đề ra trong Nghị quyết Đại hội XII của Đảng
- La Hồng Điệp (2018), Mấy khía cạnh về lý luận dân vận, Công tác dân vận, Tạp chí Cộng sản số 9 Trong bài viết này, tác giả đã chỉ rõ: Công tác dân
vận là một công tác cơ bản của Đảng, nhân tố quan trọng góp phần củng cố mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với nhân dân, xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc Trước yêu cầu đổi mới, nhiệm vụ chính trị, công tác dân vận cần tiếp tục tăng cường, nâng cao hiệu quả hoạt động, xứng đáng là cầu nối giữa “ý Đảng” với “lòng dân”, phát huy sức mạnh nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc hiện nay
- Trương Thị Mai (2019), Xây dựng mô hình “Dân vận khéo” gắn với lợi ích người dân, bài học từ thực tiễn, Tạp chí Cộng sản số 2 Để nâng cao mô hình
dân vận khéo ở các cấp, địa phương, tác giả bài viết khẳng định: Việc nâng cao nhận thức cho các cấp, các ngành, đội ngũ cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên, nhất là người đứng đầu hiểu được hiệu quả mang lại từ phong trào “Dân
Trang 13vận khéo” Từ đó, tác giả định hướng rõ nội dung trọng tâm trong từng giai đoạn, từng địa phương, đơn vị phải thực sự hướng đến lợi ích hợp pháp, chính đáng, thiết thực của người dân
Các công trình nghiên cứu trên là tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu công tác vận động đồng bào dân tộc thiểu số ở huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái Nhìn chung các công trình, các bài viết nêu trên đều đã đề cập đến những khía cạnh khác nhau, với mức độ khác nhau liên quan đến công tác vận động đồng bào dân tộc thiểu số Nhiều công trình đã làm sáng tỏ thêm các vấn đề lý luận và thực tiễn ở các đảng bộ và đề xuất giải pháp tăng cường
Tuy nhiên, tính đến thời điểm hiện nay chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống và cụ thể về công tác vận động đồng bào dân thiểu số của Huyện ủy Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái trong giai đoạn hiện nay
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về Huyện ủy Mù Cang Chải lãnh đạo công tác vận động đồng bào dân tộc thiểu số, luận văn đề xuất phương hướng và những giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường sự lãnh đạo của Huyện ủy Mù Cang Chải đối với công tác vận động đồng bào dân tộc thiểu
số trong thời gian tới
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nêu trên, luận văn tập trung thực hiện các nội dung sau:
- Làm rõ những vấn đề lý luận về huyện ủy lãnh đạo công tác vận động đồng bào dân tộc thiểu số
- Nghiên cứu, phân tích, đánh giá đúng thực trạng sự lãnh đạo của Huyện ủy
Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái đối với công tác vận động đồng bào dân tộc thiểu số, chỉ ra nguyên nhân và một số kinh nghiệm
- Đề xuất phương hướng và những giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường sự lãnh đạo của Huyện ủy Mù Cang Chải, tỉnh Yên bái đối với công tác vận động đồng bào dân tộc thiểu số trong thời gian tới
Trang 144 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Sự lãnh đạo của Huyện ủy Mù Cang Chải đối với công tác vận động đồng
bào dân tộc thiểu số
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Huyện Mù Cang Chải
- Phạm vi thời gian: từ năm 2015 đến nay
5 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Luận văn dựa trên những quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận và công tác vận động dân tộc thiểu số
5.2 Cơ sở thực tiễn
Thực trạng Huyện ủy Mù Cang Chải lãnh đạo công tác vận động đồng bào dân tộc thiểu số từ năm 2015 đến nay
5.3 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin
Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể: kết hợp lịch sử và lôgic, phân tích và tổng hợp, thống kê - so sánh, thảo luận nhóm, phân tích SWOT, nghiên cứu tài liệu, tổng kết thực tiễn
- Phương pháp kết hợp phân tích và tổng hợp: Được sử dụng chủ yếu cho nghiên cứu lý thuyết và đồng thời cũng sử dụng trong phân tích thực tiễn ở một
số nội dung cần thiết
- Phương pháp thống kê - so sánh: Sử dụng các số liệu thống kê, phân tích, đánh giá và đưa ra kết luận về thực trạng các vấn đề nảy sinh trong quá trình lãnh đạo của Huyện ủy Mù Cang Chải đối với công tác vận động đồng bào dân tộc thiểu số hiện nay
- Phương pháp thảo luận nhóm tập trung: Tiến hành một số buổi thảo luận nhóm tập trung về đối tượng nghiên cứu và về các nội dung nghiên cứu chính của đề tài
Trang 15- Phương pháp phân tích SWOT (Điểm mạnh - điểm yếu - thời cơ - thách thức: Strengths - Weaknesses - Opportunitis - Threats) được sử dụng để phân tích nhằm làm rõ vị trí, sự tác động của các yếu tố tác động đến sự lãnh đạo của Huyện ủy Mù Cang Chải đối với công tác vận động đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện
6 Đóng góp mới của luận văn
- Những đóng góp về mặt khoa học của luận văn:
Luận văn đã xây dựng khung lý thuyết về đồng bào dân tộc thiểu số, sự lãnh đạo huyện ủy đối với của công tác vận động đồng bào dân tộc thiểu số nói chung và của Huyện ủy Mù Cang Chải nói riêng; đưa ra các nhận xét, kết luận
về thực trạng sự lãnh đạo của Huyện ủy Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái đối với công tác vận động đồng bào dân tộc thiểu số
- Những đóng góp về mặt thực tiễn:
Luận văn đã đề xuất một số phương hướng và giải pháp cụ thể để tăng cường sự lãnh đạo của Huyện ủy Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái đối với công tác vận động đồng bào dân tộc thiểu số trong thời gian tới
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
- Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần cung cấp cứ liệu khoa học cho Huyện ủy Mù Cang Chải tham khảo để đề ra những chủ trương, biện pháp lãnh đạo công tác vận động đồng bào dân tộc thiểu số
- Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc giảng dạy, nghiên cứu và học tập về công tác vận động đồng bào dân tộc thiểu số ở trung tâm bồi dưỡng chính trị huyện và trong các lớp đào tạo cán bộ làm công tác dân vận
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 03 chương, 07 tiết
Trang 16Chương 1 HUYỆN ỦY LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC VẬN ĐỘNG ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ - NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Dân tộc thiểu số và công tác vận động đồng bào dân tộc thiểu số
1.1.1 Khái niệm, vai trò, đặc điểm của đồng bào dân tộc thiểu số
1.1.1.1 Dân tộc, dân tộc thiểu số
* Dân tộc
Dân tộc là một khái niệm rộng, bởi vậy trên thực tế đã có nhiều ý kiến khác nhau khi luận giải về khái niệm này Ở Việt Nam, khái niệm dân tộc được
hiểu theo hai nghĩa: thứ nhất, dân tộc theo nghĩa là dân tộc quốc gia (nation)
được hiểu “là một cộng đồng chính trị - xã hội được chỉ đạo bởi một nhà nước, thiết lập trên một lãnh thổ nhất định, ban đầu được hình thành do sự tập hợp của nhiều bộ lạc và liên minh bộ lạc, sau này là của nhiều cộng đồng mang tính tộc
người (ethnie) của bộ phận tộc người”; thứ hai, dân tộc theo nghĩa là tộc người
(ethnie) như dân tộc Tày, dân tộc Hmông, dân tộc Thái… Tộc người có thể là bộ phận chủ thể hay thiểu số của một số dân tộc (nation) sinh sống ở nhiều quốc gia dân tộc khác nhau, được liên kết với nhau bằng những đặc điểm ngôn ngữ, văn hóa và ý thức tự giác tộc người
Dân tộc theo nghĩa là “dân tộc quốc gia” hay “quốc gia dân tộc” có
những đặc trưng cơ bản như có một lãnh thổ chung, là vùng đất, vùng trời, vùng biển và thềm lục địa mà ở đó các cư dân của một quốc gia (hay công dân) cùng nhau sinh sống Lãnh thổ này được phân định với các nước láng giềng bằng các đường biên giới trên biển, đất liền, trên không Ví dụ như dân tộc Việt Nam, dân tộc Trung Hoa, dân tộc Lào… Như vậy, dân tộc hiểu theo nghĩa là quốc gia dân tộc sẽ bao gồm những đặc trưng tạo cho quốc gia dân tộc có sự thống nhất, đảm bảo sự cố kết dân tộc chặt chẽ và ổn định
Dân tộc hiểu theo nghĩa là “tộc người” là một cộng đồng tộc người có
chung những đặc điểm tương đối bền vững về nguồn gốc lịch sử, ngôn ngữ, văn
Trang 17hóa, ý thức tộc người Các thành viên trong tộc người có chung một tiếng nói, là phương tiện giao tiếp của một tộc người hay một nhóm tộc người nhất định Thông thường tiếng nói là giới hạn ngăn cách, phân biệt tộc người này với tộc người khác Ngoài ra, những đặc điểm trong đời sống văn hóa, vật chất và tinh thần như nhà cửa, đồ dùng sinh hoạt, trang phục, ăn uống, tập quán, lễ nghi, lễ hội… cũng là yếu tố đặc trưng của từng tộc người Cộng đồng tộc người có thể sinh sống trong một quốc gia dân tộc, cũng có thể sinh sống trong nhiều quốc gia dân tộc Ví dụ như người Thái sinh sống ở Việt Nam, Lào và Thái Lan, người Mông sinh sống ở Việt Nam, Lào và Trung Quốc
Như vậy, qua phân tích trên có thể thấy khái niệm dân tộc được hiểu theo hai nghĩa khác nhau, dân tộc với nghĩa là một quốc gia dân tộc và dân tộc với nghĩa là một cộng đồng tộc người Trong công trình nghiên cứu này, tác giả sẽ
sử dụng khái niệm dân tộc với nghĩa thứ hai, đó là những dân tộc (tộc người) sinh sống trên lãnh thổ quốc gia Việt Nam
* Dân tộc thiểu số
Trên thực tế, khái niệm dân tộc thiểu số thường được hiểu với những ngụ
ý khác nhau tùy vào điều kiện lịch sử, chính trị và xã hội cụ thể ở mỗi quốc gia, tùy thuộc vào thói quen và ngữ cảnh Trên bình diện quốc tế, thuật ngữ dân tộc thiểu số được Liên hợp quốc đề cập trong “Tuyên ngôn về quyền của những người thuộc các nhóm thiểu số về dân tộc hay tộc người, tôn giáo và ngôn ngữ”, dùng để chỉ một nhóm người “cư trú trên lãnh thổ của một quốc gia có chủ quyền mà họ là công dân; duy trì mối quan hệ lâu dài với quốc gia mà họ đang sinh sống; thể hiện bản sắc riêng về chủng tộc, văn hóa, tôn giáo và ngôn ngữ của mình; đủ tư cách đại diện cho nhóm dân tộc của họ mặc dù có số lượng ít hơn ở nước này; có mối quan tâm đến bảo tồn bản sắc chung của mình, bao gồm các yếu tố văn hóa, phong tục tập quán, tôn giáo và ngôn ngữ”[1]
Khái niệm “dân tộc thiểu số” (ethnic minorities) hay ở Việt Nam còn gọi
là “đồng bào dân tộc thiểu số” được hiểu là “tộc người thiểu số”, dân tộc có số
Trang 18dân ít (có thể từ hàng trăm cho đến hàng triệu), cư trú trong một quốc gia thống nhất có nhiều dân tộc, trong đó có một dân tộc có số dân đông nhất Theo Điều 4 Nghị định số 05/2011/NĐ-CP, ngày 14/01/2011 của Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam “về công tác dân tộc” nêu rõ: “Dân tộc thiểu số là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số trên phạm vi lãnh thổ nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam” “Dân tộc đa số là dân tộc có số dân chiếm trên 50% tổng dân số của cả nước, theo điều tra dân số quốc gia” Như vậy, khái niệm dân tộc thiểu số là khái niệm sử dụng nhằm phân biệt số đông và số ít, khái niệm này hoàn toàn không có ý nghĩa phân biệt đối xử trong quan hệ xã hội
1.1.1.2 Đặc điểm của đồng bào dân tộc thiểu số
Việt Nam là một quốc gia gồm 54 thành phần dân tộc Theo Thông cáo báo chí kết quả sơ bộ “Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019” của Tổng cục Thống kê, toàn quốc có 82.085.729 người dân tộc Kinh, chiếm 85,3% và 14.123.255 người của 53 dân tộc khác, chiếm 14,7% tổng dân số của cả nước [40] Tuy nhiên, phần lớn các dân tộc thiểu số ở nước ta sinh sống chủ yếu ở miền núi phía bắc, vùng cao trên địa bàn rộng lớn có vị trí chiến lược về kinh tế
- xã hội và quốc phòng - an ninh Hầu hết các dân tộc thiểu số sinh sống ở miền núi cao, biên giới, vùng sâu, vùng xa và tập trung chủ yếu ở một số tỉnh khu vực miền núi phía Bắc (khoảng 6,7 triệu người), Tây Nguyên (khoảng 2 triệu người), Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung (khoảng 1,9 triệu người), Tây Nam Bộ (1,4 triệu người); dân số còn lại sinh sống rải rác ở miền trung du, đồng bằng, ven biển và đô thị lớn
Do đối tượng nghiên cứu của luận văn là sự lãnh đạo của huyện ủy Mù Cang Chải đối với công tác vận động đồng bào dân tộc thiểu số, nên luận văn sẽ tập trung phân tích và làm rõ các đặc điểm của đồng bào dân tộc thiểu số phía bắc
Các dân tộc thiểu số phía bắc cư trú trên các địa bàn rộng lớn, có vị trí chiến lược quan trọng về chính trị, kinh tế, quốc phòng, an ninh và giao lưu quốc tế (đó là các vùng biên giới, vùng núi cao,…)
Trang 19Thứ nhất, Vị trí chiến lược quan trọng của miền núi được thực tế lịch sử
khẳng định Từ xưa đến nay, các thế lực thù địch bên ngoài đến sử dụng địa bàn miền núi để xâm lược, xâm nhập, phá hoại sự nghiệp dựng nước và giữ nước, sự nghiệp cách mạng trên đất nước ta Trong giai đoạn hiện nay, miền núi biên giới
là “phên dậu” vững chắc của Tổ quốc, là địa bàn chiến lược về quốc phòng, an ninh trong việc bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia, chống âm mưu xâm nhập gây bạo loạn, lật đổ, bảo vệ sự nghiệp hòa bình, xây dựng chủ nghĩa xã hội
Có thể thấy, dọc tuyến biên giới đất liền kéo dài hơn 3.200 km giáp với các nước láng giềng như Lào, Trung Quốc, Campuchia, dân cư chủ yếu đều là đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống tại những địa bàn có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng về chính trị, kinh tế, quốc phòng, an ninh và đối ngoại của đất nước Những năm gần đây, dân tộc và tôn giáo là những vấn đề hết sức nhạy cảm Không ít quốc gia xảy ra xung đột từ vấn đề dân tộc, tôn giáo Các thế lực thù địch và phản động luôn lợi dụng các vấn đề dân tộc, tôn giáo để kích động, xuyên tạc và chống phá cách mạng nước ta
Thứ hai, các dân tộc thiểu số phía bắc nước ta cư trú đan xen lẫn nhau,
không có vùng lãnh thổ riêng Hiện nay, xu hướng đan xen giữa các dân tộc ngày càng trở nên phổ biến Đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống thành cộng đồng, đan xen với nhau và với dân tộc Kinh Trên địa bàn một xã, huyện, tỉnh vùng dân tộc thiểu số và miền núi thường có nhiều thành phần dân tộc cùng chung sống Nguyên nhân chủ yếu là trong quá trình lịch sử, do nhu cầu sản xuất
và đời sống đã diễn ra hiện tượng du canh, du cư, di cư tự do cùng với các chính sách định cư, xây dựng kinh tế mới, quy hoạch dân cư của Đảng và Nhà nước Tình trạng cư trú xen kẽ dẫn tới sự giao lưu kinh tế - văn hóa, tăng cường sự hiểu biết, hòa hợp, xích lại gần nhau, hỗ trợ nhau cùng phát triển, xây dựng và tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc
* Các dân tộc thiểu số phía bắc có trình độ phát triển kinh tế - xã hội không đều nhau
Trình độ phát triển kinh tế - xã hội của các dân tộc thiểu số ở phía bắc
Trang 20Việt Nam không đồng đều Gần đây nhất, theo Quyết định số 861/QĐ-TTg ngày 04/6/2021 của Thủ tướng Chính phủ: Vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi phía bắc bao gồm 3.434 xã thuộc 51 tỉnh; được phân định theo trình độ phát triển; trong đó có 1.551 xã thuộc khu vực III (khu vực đặc biệt khó khăn), 210 xã thuộc khu vực II (khu vực khó khăn) và 1.673 xã thuộc khu vực I (khu vực bước đầu phát triển) Phần lớn đồng bào các dân tộc thiểu số sinh sống ở địa bàn có điều kiện đặc biệt khó khăn, kinh tế - xã hội có xuất phát điểm thấp, kết cấu hạ tầng yếu kém, giao thông đi lại vất vả, địa hình phức tạp, hiểm trở, chia cắt, luôn chịu ảnh hưởng nặng nề của biến đổi khí hậu, thiên tai; đời sống vật chất và tinh thần của người dân còn khoảng cách khá xa so với mặt bằng chung của cả nước
Tuy nhiên, đây cũng là địa bàn giàu tiềm năng, lợi thế về kinh tế nông nghiệp, lâm nghiệp, khoáng sản, thủy điện, du lịch, kinh tế biên mậu và có vai trò đặc biệt quan trọng đối với môi trường sinh thái Trong lịch sử cũng như hiện tại, địa bàn vùng dân tộc thiểu số và miền núi rộng lớn từng là “phên dậu” của
Tổ quốc; là nơi có nhiều căn cứ cách mạng, di sản vật thể và phi vật thể, di tích lịch sử, lễ hội dân tộc truyền thống mang bản sắc văn hóa riêng, đa dạng, đặc sắc, độc đáo và giàu tính nhân văn
* Các dân tộc thiểu số phía bắc có lịch sử gắn bó lâu đời trong đấu tranh chống ngoại xâm, xây dựng cộng đồng dân tộc thống nhất
Giống với toàn thể quốc gia dân tộc, các dân tộc thiểu số Việt Nam cũng
có truyền thống yêu nước, truyền thống đoàn kết trong thích ứng với điều kiện
tự nhiên và đấu tranh chống giặc ngoại xâm, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Tiến trình lịch sử dựng nước và giữ nước với những hoàn cảnh chủ quan và khách quan đã tạo cho con người Việt Nam, cộng đồng các dân tộc sự cộng cảm, cộng mệnh, chia sẻ, đùm bọc, thương yêu và giúp đỡ lẫn nhau Mặc dù các dân tộc thiểu số ở nước ta có sự khác nhau về ký ức lịch sử, quá trình hình thành tộc người, trình độ phát triển kinh tế - xã hôi, đa dạng về các sắc thái văn hóa… nhưng cùng cộng cư, sinh tồn trên mảnh đất Việt Nam Chủ tịch Hồ Chí Minh
Trang 21đã rút ra bài học từ thực tiễn lịch sử của cách mạng Việt Nam “Đoàn kết, đoàn kết đại đoàn kết Thành công, thành công, đại thành công”
Truyền thống đoàn kết dân tộc là nét chủ đạo xuyên suốt trường kỳ lịch
sử, là tài sản vô giá trong thực hiện chính sách dân tộc, phát triển đất nước… Tuy nhiên do tính chất phong phú, đa dạng của quá trình tộc người, quan hệ dân tộc ở Việt Nam cũng nảy sinh một số vấn đề cần lưu ý, nhất là trong bối cảnh hiện nay, như hình thành các cộng đồng tộc người xuyên biên giới, các cộng đồng dân tộc - tôn giáo, âm mưu chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc của các thế lực thù địch
Sắc thái văn hóa các dân tộc thiểu số phía bắc rất phong phú, đa dạng
Các dân tộc thiểu số phía bắc Việt Nam đều có bản sắc văn hóa riêng độc đáo góp phần làm nên sự phong phú, đa dạng của nền văn hóa thống nhất Văn hóa các dân tộc Việt Nam là sự hợp thành của văn hóa 54 thành phần dân tộc tạo nên trên nền tảng kế thừa, phát huy tinh hoa của các thế hệ trước, vừa mang tính thống nhất chung cơ bản của văn hóa quốc gia vừa phản ánh tính đa dạng mang
sắc thái văn hóa địa phương, vùng miền… của các thành phần dân tộc
Tính thống nhất được biểu hiện trong ý thức chung của các tộc người về một tổ quốc - quốc gia, với một ngôn ngữ chung (tiếng Việt) bên cạnh ngôn ngữ của các thành phần dân tộc; có những giá trị văn hóa mang đặc trưng truyền thống, văn hiến lâu đời khác với các quốc gia láng giềng và trên thế giới, có tâm
lý, truyền thống lịch sử đoàn kết, yêu nước gắn bó, cùng chung số phận, đồng hành cùng dân tộc – quốc gia… Tính đa dạng là nhiều hệ, dòng ngôn ngữ (bên cạnh ngôn ngữ chung của quốc gia) như Nam Á, Nam Đao, Hán - Tạng, mỗi ngôn ngữ lại nhiều nhóm ngôn ngữ khác nhau (ví dụ: Hệ ngôn ngữ Nam Á có các nhóm ngôn ngữ như Việt - Mường, Thái - Ka…); phong phú đa dạng về các giá trị văn hóa vật thể (nhà cửa, trang phục, ẩm thực…), phi vật thể (tín ngưỡng, tôn giáo, lễ hội, nghệ thuật dân gian…), các giá trị đó vừa mang sắc thái của đồng bào dân tộc thiểu số vừa mang sắc thái của vùng miền (Đông Bắc, Tây
Trang 22Bắc, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ…), địa phương (các tỉnh, thành phố…)
Như vậy, đồng bào các dân tộc thiểu số phía bắc ngoài những đặc điểm chung của dân tộc Việt Nam đồng thời cũng mang những nét đặc trưng riêng Điều đó đã và đang tác động trực tiếp đến công tác vận động đồng bào dân tộc thiểu số trên cả nước nói chung và công tác vận động đồng bào dân tộc thiểu số của Đảng bộ huyện Mù Cang Chải tỉnh Yên Bái nói riêng Tùy vào từng điều kiện kinh tế - xã hội, văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số ở từng địa phương đòi hỏi Đảng bộ địa phương phải lãnh đạo công tác dân vận cho phù hợp, khéo léo, hiệu quả và toàn diện
1.1.1.3 Vai trò của đồng bào dân tộc thiểu số
Đồng bào dân tộc thiểu số là một bộ phận hữu cơ không chỉ có vai trò quan trọng mà còn là chủ thể trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước hiện nay
Một là, trên con đường phát triển, hội nhập, đồng bào các dân tộc thiểu số
là nguồn lực quan trọng về tài nguyên thiên nhiên và con người cho sự phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh, quốc phòng quốc gia Đây là dư địa của việc thực hiện các chiến lược, quy hoạch thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch dân cư cũng như các vấn đề về an ninh -quốc phòng, quan hệ với các nước láng giềng và trong khu vực Trong bối cảnh đó, việc thực hiện các chính sách vừa giúp đồng bào dân tộc thiểu số khắc phục khó khăn vừa phát huy nội lực để phát triển bền vững là hoạt động có ý nghĩa, vai trò hết sức quan trọng Phát triển kinh tế gắn với đảm bảo công bằng xã hội ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi có ý nghĩa, vai trò chiến lược đặc thù đối với sự phát triển bền vững của quốc gia
Hai là, đồng bào các dân tộc thiểu số vừa là chủ thể vừa có vai trò quan
trọng trong việc xây dựng nền văn hóa của các dân tộc thiểu số nói riêng và nền văn hóa Việt Nam nói chung Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, mỗi dân tộc đều có nền văn hóa riêng Qua các tác phẩm nghệ thuật dân gian
và chuyên nghiệp của các văn nghệ sĩ, trí thức dân tộc thiểu số luôn phản ánh
Trang 23khát vọng của nhân dân các dân tộc thiểu số về chân, thiện, mỹ và ảnh hưởng tới nền văn hóa của cả nước, của thời đại Các dân tộc thiểu số với vai trò trách nhiệm lớn lao của mình, cũng là chủ thể chính trong đấu tranh với xu hướng ngoại lai làm băng hoại văn hóa truyền thống của các dân tộc, đồng thời tiếp thu những giá trị văn hóa tiên tiến phù hợp với những điều kiện kinh tế, chính trị của từng dân tộc
Ba là, đồng bào dân tộc thiểu số có vai trò tất yếu, quan trọng trong sự
nghiệp giữ gìn, bảo vệ an ninh, quốc phòng, góp phần vào sự ổn định chính trị, trật tự an toàn, xã hội và phát triển bền vững đất nước Các dân tộc thiểu số có vai trò bảo vệ, giữ gìn sự toàn vẹn của lãnh thổ quốc gia, gắn bó, đoàn kết với cộng đồng người Kinh trong đấu tranh chống các thế lực thù địch, âm mưu kích động, chia rẽ các dân tộc, chống phá chế độ chính trị - xã hội ở nước ta, làm mất
ổn định an ninh chính trị, trật tự và an toàn xã hội vùng dân tộc thiểu số Bên cạnh đó, cộng đồng các dân tộc thiểu số còn là hiện thân của mối quan hệ hữu nghị, đoàn kết các dân tộc Việt Nam và các quốc gia láng giềng Sự ổn định về
an ninh chính trị, trật tự và an toàn xã hội vùng biên giới được quyết định bởi chính trách nhiệm của cộng đồng các dân tộc thiểu số
Xuất phát từ những vai trò quan trọng của đồng bào dân tộc thiểu số, công tác vận động đồng bào các dân tộc thiểu số luôn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm Thực tế Đảng Cộng sản Việt Nam từ khi ra đời luôn chú trọng tới công tác dân tộc, Đảng ta đã luôn huy động được lực lượng quan trọng của các dân tộc thiểu số trong sự nghiệp cách mạng, đóng góp vào những thắng lợi lịch
sử Và vai trò to lớn ấy không chỉ có giá trị trong lịch sử mà còn trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay
1.1.2 Khái niệm, nội dung, vai trò của công tác vận động đồng bào dân tộc thiểu số
1.1.2.1 Khái niệm công tác vận động đồng bào dân tộc thiểu số
Công tác vận động đồng bào dân tộc thiểu số là một trong những bộ phận quan trọng của công tác dân vận và có mối liên hệ mật thiết chặt chẽ với công
Trang 24tác dân vận nói chung
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra khái niệm công tác dân vận một cách ngắn gọn và dễ hiểu: “Dân vận là vận động tất cả các lực lượng của mỗi một người dân không để sót một người dân nào, góp thành lực lượng toàn dân, để thực hành những công việc nên làm, những công việc mà Chính phủ và đoàn thể đã giao cho”[15, tr.232] Như vậy, có thể hiểu dân vận là quá trình xây dựng một mặt trận dân tộc thống nhất, xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc Công tác dân vận là hoạt động tuyên truyền đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước tới nhân dân, vận động nhân dân ủng hộ và thực hiện các đường lối, chính sách, tiếp xúc với nhân dân, tìm hiểu đời sống tâm tư, nguyện vọng của nhân dân,
từ đó xây dựng và điều chỉnh đường lối, chủ trương đúng đắn và phù hợp với thực tiễn đời sống nhân dân từng địa phương
Chủ thể làm công tác dân vận là cả hệ thống chính trị, các cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, đoàn viên, hội viên các tổ chức chính trị - xã hội, các chiến sĩ lực lượng vũ trang, trong đó trách nhiệm của Đảng là lãnh đạo, chính quyền là tổ chức thực hiện, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị -xã hội là các cơ quan tham mưu và là lực lượng nòng cốt Đối tượng của công tác dân vận
là toàn thể nhân dân Việt Nam không phân biệt tộc người, tuổi tác, giới tính… Còn đối với công tác vận động đồng bào dân tộc thiểu số, đối tượng của công tác chính là quần chúng, nhân dân đồng bào các dân tộc thiểu số
Như vậy, từ khái niệm công tác dân vận nói trên, ta có thể đưa ra khái niệm công tác vận động đồng bào dân tộc thiểu số như sau:
Công tác vận động đồng bào dân tộc thiểu số là quá trình vận động v đồng bào dân tộc thiểu số; tuyên truyền, giác ngộ nhân dân, xây dựng mối quan hệ đoàn kết, gắn bó giữa các dân tộc thiểu số, loại bỏ tư tưởng kỳ thị, tự ti dân tộc, làm thất bại các âm mưu và hành động thù địch… đảm bảo cho các dân tộc có cuộc sống ổn định, xây dựng cộng đồng các dân tộc Việt Nam đoàn kết, vững mạnh, chung tay xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Trang 251.1.2.2 Nội dung công tác vận động đồng bào dân tộc thiểu số
Một là, tuyên truyền, giáo dục các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp
luật của Nhà nước, các chủ trương, quyết định của đảng bộ, chính quyền địa
phương, cơ sở để đồng bào hiểu rõ và thực hiện có hiệu quả Đây là nội dung
quan trọng hàng đầu trong công tác vận động đồng bào dân tộc thiểu số vì chỉ khi hiểu được các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước đồng bào các dân tộc thiểu số mới ủng hộ và thực hiện
Hai là, động viên, hướng dẫn, tạo điều kiện cho đồng bào các dân tộc
thiểu số phát triển kinh tế Chủ trương, đường lối của Đảng về phát triển kinh tế cho đồng bào dân tộc thiểu số từ thời kỳ đổi mới đất nước đến nay được thể hiện qua các kỳ đại hội và các chỉ thị, nghị quyết chuyên đề của Đảng, được ban hành
cụ thể trong từng nhiệm kỳ, từng giai đoạn với nội dung cơ bản thống nhất, đó là: “Phát triển toàn diện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và an ninh – quốc phòng trên địa bàn vùng dân tộc và miền núi; gắn tăng trưởng kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội, thực hiện tốt các chính sách dân tộc…” [3, tr.77] Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Đảng ta nêu rõ:
Xây dựng cơ chế, chính sách đặc thù chăm lo giáo dục, đào tạo, y tế, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo sinh kế, việc làm, định canh, định cư vững chắc cho đồng bào dân tộc thiểu số, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới Triển khai các dự án phát triển kinh tế, xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, vùng có điều kiện đặc biệt khó khăn [22]
Thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng về công tác dân tộc, đến nay, nước ta đã hình thành hệ thống chính sách dân tộc với 118 văn bản, trong đó có
54 đề án, chính sách dân tộc trực tiếp hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi Tuy nhiên hiện nay, một số đối tượng chính sách 134,
135 của Chính phủ vẫn còn tồn tại thực trạng đồng bào ỷ lại, trông chờ vào Nhà nước, không tự nỗ lực vươn lên xóa đói, giảm nghèo, điều này đặt ra vấn đề công tác vận động đồng bào thiểu số để đồng bào hiểu và làm kinh tế từ chính
Trang 26đôi tay của mình Hiện nay, huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái vẫn đang là một đối tượng của chương trình xóa đói giảm nghèo 135 (Chương trình phát triển kinh tế - xã hội các vùng đặc biệt khó khăn vùng dân tộc thiểu số và miền núi)
Ba là, vận động đồng bào dân tộc thiểu số thực hiện tốt phong trào xây
dựng nếp sống mới, hướng dẫn đồng bào có ý thức tự quản, đoàn kết với các dân tộc anh em, đấu tranh chống các âm mưu chống phá của các thế lực thù địch Xây dựng nếp sống mới trong đồng bào dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết, tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển chung của xã hội Đấu tranh với sự xâm nhập của các hiện tượng tôn giáo, các hoạt động tuyên truyền, lôi kéo đồng bào dân tộc thiểu số tham gia, ảnh hưởng tới ổn định an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội tại một số vùng đồng bào dân tộc thiểu số
Bốn là, tổ chức, khuyến khích, động viên đồng bào dân tộc thiểu số tích
cực tham gia xây dựng hệ thống chính trị ở địa phương trong sạch, vững mạnh
Để thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nâng cao đời sống nhân dân trong đó có đồng bào các dân tộc thiểu số, yêu cầu tiên quyết là Đảng phải xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở thật sự trong sạch, vững mạnh, có đội ngũ cán bộ đảng viên trung thành với nhân dân, có mối liên hệ mật thiết với nhân dân
1.1.2.3 Vai trò công tác vận động đồng bào dân tộc thiểu số
Công tác vận động đồng bào dân tộc thiểu số nói riêng và công tác dân vận nói chung đều có vai trò quan trọng trong công tác xây dựng Đảng Cụ thể được thể hiện ở những vai trò sau:
Thứ nhất, giúp tạo sự đồng thuận, đoàn kết giữa các dân tộc Việc thực
hiện nguyên tắc “Bình đẳng, tôn trọng, đoàn kết và giúp nhau cùng phát triển” trong công tác dân tộc của Đảng và Nhà nước ta đã tạo điều kiện về kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội … để các dân tộc thiểu số và đa số ngày càng hiểu biết lẫn nhau sâu sắc hơn, đồng cảm hơn, cùng chung tay phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng, bảo tồn bản sắc văn hóa, môi trường theo hướng bền vững
Trang 27Thứ hai, phát huy sức mạnh tổng hợp của nhân dân trong thực hiện các
đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội Việc tuyên truyền, vận động đồng bào dân tộc thiểu số ủng hộ và thực hiện các quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về vấn đề dân tộc, công tác dân tộc, chính sách dân tộc… sẽ tạo môi trường chính trị, pháp lý, kinh tế - xã hội nhằm củng cố mối quan hệ giữa các dân tộc thiểu số với dân tộc đa số, giữa các dân tộc thiểu số với nhau trên tinh thần củng cố, đoàn kết, gắn bó đồng hành cùng dân tộc - quốc gia trên con đường phát triển
Thứ ba, giữ vững lòng tin yêu của nhân dân đối với sự lãnh đạo của
Đảng “Nước lấy dân làm gốc, gốc có vững thì cây mới bền, xây dựng thắng lợi trên nền nhân dân” [15, tr 288] Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn luôn quan niệm lực lượng toàn dân là lực lượng vĩ đại nhất, toàn bộ sức mạnh của Đảng không chỉ ở bản thân Đảng mà chủ yếu bắt nguồn từ mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa Đảng với nhân dân Công tác dân vận giúp cho Đảng hiểu được tâm
tư, nguyện vọng chính đáng của nhân dân Lắng nghe và gắn bó với quần chúng, Đảng sẽ biết được những ưu điểm, khuyết điểm trong chủ trương, đường lối khi đưa vào thực tiễn, từ đó có sự điều chỉnh cho phù hợp với đặc điểm của từng địa phương Khi “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”, các tổ chức Đảng sẽ nhận được phản hồi về thái độ, tác phong làm việc và lối sống của cán bộ đảng viên, từ đó phát hiện và xử lý kịp thời những cán bộ đảng viên tha hóa, suy thoái, biến chất và biểu dương, nêu gương những cán
bộ đảng viên tận tụy hết lòng vì nhân dân, góp phần xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh
1.2 Huyện ủy lãnh đạo công tác vận động đồng bào dân tộc thiểu số - quan niệm, nội dung, phương thức
1.2.1 Quan niệm về huyện ủy
* Khái niệm: Huyện ủy là cơ quan lãnh đạo giữa hai kỳ đại hội của đảng
bộ cấp huyện, theo đó huyện ủy chịu trách nhiệm trước cấp ủy, ban thường vụ,
Trang 28thường trực cấp ủy cấp tỉnh; đảng bộ và nhân dân trên địa bàn về tình hình mọi mặt của địa phương và những quyết định của mình, căn cứ theo Quyết định 202 – QĐ/TW 2019 về chức năng, nhiệm vụ của huyện ủy
* Chức năng, nhiệm vụ của huyện ủy
Huyện ủy là cơ quan lãnh đạo của đảng bộ huyện giữa hai nhiệm kỳ Đại hội, có nhiệm vụ lãnh đạo toàn diện các mặt công tác của Đảng bộ và hệ thống chính trị của huyện được quy định tại Điều lệ Đảng và Hiến pháp
Huyện uỷ chịu trách nhiệm trước tỉnh ủy, trước đảng bộ và nhân dân trong huyện về lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước; các chỉ thị, nghị quyết của trung ương, của tỉnh và nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện, đảm bảo kết hợp tốt các lợi ích của huyện với của tỉnh và cả nước; nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật và nghĩa vụ với nhà nước; lãnh đạo chính quyền làm tốt chức năng quản lý nhà nước trên địa bàn huyện
Huyện uỷ lãnh đạo bằng nghị quyết và chủ trương của các hội nghị huyện
ủy thông qua hoạt động chỉ đạo của ban thường vụ huyện uỷ Những vấn đề phải đưa ra tập thể huyện uỷ thảo luận và quyết định về:
1 Phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp và chính sách lớn về quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội dài hạn và hàng năm, kế hoạch ngân sách của huyện, chủ trương thu, chi ngân sách hàng năm
2 Những vấn đề có quan hệ đến đời sống vật chất, tinh thần; văn hoá – xã hội của nhân dân; những vấn đề mới quan trọng về cơ chế, chính sách kinh tế, quan hệ sản xuất liên quan đến nhiều mặt của địa phương
3 Những vấn đề quan trọng về quốc phòng - an ninh, về xây dựng đảng, chính quyền, mặt trận tổ quốc và các đoàn thể nhân dân trong huyện
4 Quán triệt và bàn các chủ trương, biện pháp thực hiện nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương, nghị quyết, chỉ thị của Bộ Chính trị, của tỉnh uỷ mà thấy cần thiết phải đưa ra huyện uỷ thảo luận
5 Bàn và quyết định những vấn đề mà Điều lệ Đảng quy định như: bầu ban thường vụ, bí thư, phó bí thư, ủy ban kiểm tra, chủ nhiệm ủy ban kiểm tra
Trang 29huyện ủy; ban hành quy chế làm việc của huyện ủy, quy chế làm việc của ủy ban kiểm tra huyện ủy; xét thi hành kỷ luật và đề nghị thi hành kỷ luật đảng viên thuộc diện cấp ủy huyện quản lý; phân công nhiệm vụ cho cấp ủy huyện phụ trách khối, ngành, xã –thị trấn; chuẩn bị văn kiện đại hội, nhân sự Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện khoá mới
6 Tổng kết công tác lãnh đạo, chỉ đạo của huyện uỷ; tự phê bình và phê bình theo sự chỉ đạo của cấp trên và theo định kỳ hàng năm
7 Nghe báo cáo tình hình hoạt động của ban thường vụ huyện uỷ hàng quý và của uỷ ban kiểm tra huyện uỷ theo định kỳ 6 tháng, 1 năm
1.2.2 Quan niệm huyện ủy lãnh đạo công tác vận động đồng bào dân tộc thiểu số
* Đảng lãnh đạo công tác vận động đồng bào dân tộc thiểu số
Sự lãnh đạo của Đảng đối với toàn xã hội và mọi mặt của đời sống xã hội
là một tất yếu khách quan khi Đảng giữ vai trò là một đảng cầm quyền Đảng cầm quyền phải thực hiện song song cả hai nhiệm vụ cơ bản là lãnh đạo hệ thống chính trị và nhiệm vụ xây dựng nội bộ Đảng Dân vận là một trong những nhiệm vụ quan trọng của một đảng cầm quyền, nhất là đối với một Đảng Cộng sản cầm quyền như ở Việt Nam Công tác dân vận là cơ sở, tiền đề để xây dựng
và củng cố khối đại đoàn kết dân tộc
Công tác vận động đồng bào dân tộc thiểu số của Đảng là một bộ phận không thể tách rời trong công tác dân vận của Đảng, được hiểu là toàn bộ các hoạt động của Đảng tác động tới đồng bào nhằm tuyên truyền, thuyết phục, giáo dục, nâng cao giác ngộ cách mạng, ý thức chính trị cho đồng bào dân tộc thiểu số; tập hợp, thu hút đồng bào; chăm lo lợi ích chính đáng của người đồng bào và
tổ chức các phong trào để đồng bào thực hiện tốt đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; xác lập và tăng cường mối quan hệ gắn bó giữa Đảng, chính quyền và đồng bào dân tộc thiểu số
Đảng lãnh đạo công tác vận động đồng bào dân tộc thiểu số sẽ giúp cho công
Trang 30tác dân vận vùng đồng bào dân tộc thiểu số đi đúng hướng, thực hiện thắng lợi những chủ trương, chính sách cũng như những đường lối của Đảng và Nhà nước về công tác dân tộc, phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc, vùng sâu, vùng
xa, biên giới và hải đảo của đất nước; công tác sẽ góp phần làm giảm sự chênh lệch vùng miền và tạo sự ổn định cho vùng đồng bào các dân tộc thiểu số
* Huyện ủy lãnh đạo công tác vận động đồng bào dân tộc thiểu số
Đảng lãnh đạo công tác dân vận bằng định hướng chính trị, bằng tổ chức, kiểm tra và bằng vai trò gương mẫu của đảng viên, gắn bó đảng viên với nhân dân Chính vì thế, các tổ chức đảng từ Trung ương đến cơ sở phải lấy công tác vận động
và chăm lo lợi ích của quần chúng làm nội dung chủ yếu trong hoạt động của mình, phải có kế hoạch, thường xuyên tìm hiểu tình hình đời sống, tâm tư, nguyện vọng của nhân dân và có chủ trương, biện pháp xử lý đúng đắn, kịp thời
Với tư cách là cấp lãnh đạo trực tiếp của tổ chức cơ sở đảng của Đảng, tổ chức đảng ở cấp huyện có vai trò rất quan trọng đối với công tác vận động đồng bào dân tộc thiểu số của Đảng Đây là cấp tổ chức gần với cấp cơ sở nhất trong
hệ thống tổ chức bốn cấp của Đảng ta, là cấp tổ chức sâu rộng, gắn với các đơn
vị cơ sở trên toàn lãnh thổ, các lĩnh vực của đời sống xã hội, bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng tới từng tổ chức cơ sở, từng đảng viên Nằm ở vị trí trung gian, Đảng bộ huyện là nơi trực tiếp tuyên truyền và thực hiện các chủ trương, chính sách dân tộc, công tác dân tộc thiểu số của một huyện, lãnh đạo cấp cơ sở thực hiện chủ trương, đường lối ấy vào thực tiễn từng địa phương và từ đó kiểm nghiệm và bổ sung cho các đường lối, chủ trương của Đảng về công tác dân tộc
Như vậy, huyện ủy lãnh đạo công tác vận động đồng bào dân tộc thiểu số được hiểu là tổng thể các hoạt động lãnh đạo của huyện ủy trong việc xác định
và đề ra chủ trương, nghị quyết đối với đồng bào dân tộc thiểu số, lãnh đạo, chỉ đạo chính quyền, Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể, các tổ chức đảng và đảng viên tuyên truyền, giáo dục, tổ chức thực hiện và kiểm tra, giám sát việc thực hiện các nghị quyết đó, đảm bảo cho đường lối, chủ trương được thực hiện
Trang 31thắng lợi ở địa phương, góp phần nâng cao mọi mặt đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số
* Vai trò của huyện ủy đối với công tác vận động đồng bào dân tộc thiểu số
Với vị trí là hạt nhân lãnh đạo hệ thống chính trị huyện, huyện ủy có vai trò lãnh đạo chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể huyện thực hiện toàn bộ các hoạt động của công tác vận động đồng bào dân tộc thiểu số Vai trò lãnh đạo đó được thể hiện trên những điểm chủ yếu sau:
Thứ nhất, huyện ủy đề ra nghị quyết, chương trình tiến hành công tác vận động đồng bào dân tộc thiểu số trên cơ sở quan điểm, chủ trương của Trung ương và Tỉnh ủy về công tác dân vận Huyện ủy xác định mục tiêu, nội dung, hình thức, phương pháp tiến hành công tác vận động đồng bào dân tộc thiểu số đồng thời xác định chủ thể, đối tượng, vai trò, trách nhiệm của các chủ thể, các thành viên của hệ thống chính trị huyện trong công tác vận động
Thứ hai, huyện ủy trực tiếp tiến hành công tác vận động đồng bào dân tộc thiểu số thông qua những hoạt động cụ thể của các tổ chức cơ sở đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên Các tổ chức đảng và mỗi cán bộ, đảng viên phải tiến hành công tác vận động đồng bào dân tộc thiểu số dựa trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ và chức trách của mình
Thứ ba, huyện ủy lãnh đạo chính quyền, Mặt trận và các đoàn thể tiến hành công tác vận động đồng bào dân tộc thiểu số Trên cơ sở quan điểm, chủ trương của Đảng, tỉnh ủy và tình hình thực tiễn tại địa phương, huyện ủy lãnh đạo các tổ chức trong hệ thống chính trị huyện tiến hành công tác vận động đồng bào dân tộc thiểu số và lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện các nội dung, nhiệm vụ công tác vận động đối với từng tổ chức thành viên
Thứ tư, huyện ủy kiểm tra, giám sát các tổ chức đảng, đảng viên tiến hành công tác vận động đồng bào dân tộc thiểu số Huyện ủy lãnh đạo các cấp ủy đảng trong công tác kiểm tra, giám sát các tổ chức đảng và đảng viên chấp hành Cương
Trang 32lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị của Đảng Các cấp ủy cơ sở, tổ chức cơ sở đảng vừa có trách nhiệm trực tiếp tiến hành công tác vận động đồng bào dân tộc thiểu số, đồng thời vừa có trách nhiệm kiểm tra, giám sát việc thực hiện
Như vậy, vai trò lãnh đạo của huyện ủy trong công tác vận động đồng bào dân tộc thiểu số không chỉ thể hiện ở việc đề ra chủ trương, nghị quyết, trực tiếp tiến hành công tác vận động, lãnh đạo chính quyền huyện, Mặt trận và đoàn thể thực hiện, kiểm tra, giám sát mà còn thể hiện ở việc lãnh đạo xây dựng tổ chức và đội ngũ cán bộ làm công tác dân vận Năng lực lãnh đạo của huyện ủy là nhân tố quyết định đến hiệu quả tuyên truyền, tập hợp, vận động đồng bào dân tộc thiểu số thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước, củng cố lòng tin của đồng bào dân tộc thiểu số, tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc và mối quan hệ mật thiết giữa Đảng và nhân dân
1.2.3 Nội dung lãnh đạo công tác vận động đồng bào dân tộc thiểu số của huyện ủy
Để thực hiện chức năng lãnh đạo của Đảng, cần có nội dung lãnh đạo Nội dung lãnh đạo của Đảng về công tác vận động đồng bào dân tộc thiểu số là những vấn đề, nhiệm vụ cụ thể mà Đảng đặt ra đối với công tác dân tộc và chủ yếu được xác định ở mục tiêu trong các đường lối, chủ trương, chính sách nhằm xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, phát triển kinh tế - xã hội, củng cố an ninh, quốc phòng vùng có đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống, bao gồm tất cả các vấn
đề chính trị, tư tưởng, tổ chức, trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Huyện ủy lãnh đạo công tác vận động đồng bào dân tộc thiểu số là đưa ra những chủ trương, quyết sách đúng đắn về công tác vận động dân tộc thiểu số nhằm đạt được mục tiêu đặt ra, cụ thể gồm những nội dung sau đây:
1.2.2.1 Lãnh đạo xác định chủ trương, chính sách đúng đắn, tuyên truyền, giải thích các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đối với đồng bào dân tộc thiểu số
Một trong những phương thức Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị và các lĩnh vực đời sống là thông qua đường lối, chủ trương đúng đắn, mang tính chất
Trang 33quyết định đến thắng lợi của các cuộc cách mạng Đối với công tác vận động đồng bào dân tộc thiểu số cũng vậy, việc quán triệt chủ trương, đường lối của Trung ương, đảng bộ cấp trên các cấp, từ đó xác định và xây dựng những nghị quyết đúng với tinh thần chỉ đạo của cấp ủy cấp trên, đồng thời áp dụng một cách phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của đồng bào dân tộc thiểu
số ở địa phương là một nội dung quan trọng
Đường lối, chủ trương đúng đắn mới thúc đẩy phát triển kinh tế của địa phương, nâng cao chất lượng đời sống vật chất và tinh thần cho đồng bào, giải quyết các vấn đề, giữ vững an ninh, trật tự của huyện, từ đó làm cho quần chúng tin tưởng vào Đảng và chính quyền Ngược lại, nếu chủ trương, chính sách không phù hợp sẽ gặp phải những khó khăn trong quá trình thực hiện, hoặc không hiệu quả hay hiệu quả đem lại không cao, làm mất niềm tin của đồng bào thiểu số vào Đảng và chính quyền địa phương
Tuyên truyền, giáo dục, giải thích các đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước, đảng bộ địa phương, vận động đồng bào dân tộc thiểu số phát huy quyền làm chủ của các dân tộc ở địa phương đối là nội dung quan trọng, đặc biệt đối với các huyện vùng sâu, vùng xa nơi dân trí còn thấp Phải tuyên truyền để cho đồng bào thiểu số biết và hiểu về các chủ trương, hiểu một cách rõ ràng, biết một cách chính xác, có vậy đồng bào mới có thể thực hiện được chủ trương của Đảng
1.2.2.2 Lãnh đạo chính quyền, đoàn thể thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế, xóa đói, giảm nghèo, nâng cao mức sống mọi mặt cho đồng bào dân tộc thiểu số
Huyện ủy lãnh đạo chính quyền, đoàn thể thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với đặc điểm, điều kiện của địa phương Gắn phát triển kinh tế với việc không ngừng nâng cao mức sống của người dân là nội dung quan trọng Thực hiện hiệu quả công tác xóa đói, giảm nghèo, tập trung giải quyết các vấn đề khó khăn về lương thực, nước sinh hoạt, hỗ trợ nhà ở đối với các đồng bào xa trung tâm, hộ nghèo Hoàn thiện chính sách định canh định cư theo quy hoạch phải phát triển
Trang 34bền vững, xây dựng kết cấu hạ tầng cơ sở ở các xã vùng sâu, vùng xa Cụ thể:
Từng bước hình thành kinh tế hàng hóa ở miền núi và các vùng dân tộc, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng sản xuất hàng hóa Triển khai thực hiện nhiều chính sách, chương trình, dự án đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế -
xã hội và đời sống nhân dân nhiều vùng đồng bào dân tộc Thực hiện tốt công tác xóa đói, giảm nghèo Tổ chức đồng bào các dân tôc thiểu số định canh, định
cư, tạo điều kiện cho đồng bào dân tộc chủ động sản xuất
Nâng cao mặt bằng giáo dục, củng cố và duy trì kết quả phổ cập giáo dục tiểu học, trung học, chống tái mù chữ, tăng cường dạy nghề cho thanh niên và đồng bào dân tộc thiểu số bằng các hình thức phù hợp Thực hiện các chính sách
ưu tiên khám chữa bệnh, các dịch vụ y tế, cấp thuốc cho người nghèo, bảo hiểm y tế Đẩy mạnh công tác phòng, chống suy dinh dưỡng ở trẻ em Lãnh đạo chính quyền và đoàn thể tuyên truyền đời sống văn hóa mới, tôn trọng, giữ gìn và phát huy văn hóa truyền thống của dân tộc, xóa bỏ những hủ tục lạc hậu phản khoa học ảnh hưởng đến sức khỏe và giống nòi như cúng bái ma, mê tín dị đoan, nghiện hút, tảo hôn, hôn nhân cận huyết, cưỡng ép hôn nhân Chăm lo sức khỏe, thực hiện kế hoạch hóa gia đình, ngăn chặn và từng bước đẩy lùi các bệnh dịch truyền thống (tả, tiêu chảy, sốt xuất huyết, cúm ), dịch bệnh mới (Covid - 19, Ebola, cúm A, viêm võng mạc, )
1.2.2.3 Lãnh đạo xây dựng và phát huy vai trò của các tổ chức, các lực lượng làm công tác vận động đồng bào dân tộc thiểu số
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định trong tác phẩm Dân vận được người
viết năm 1949: “Tất cả cán bộ chính quyền, tất cả cán bộ Đoàn thể và tất cả hội viên của các tổ chức nhân dân (Liên Việt, Việt Minh ) đều phải phụ trách dân vận”[46, tr.305] Tiếp thu tư tưởng của Người, Nghị quyết Trung ương 7 (khóa XI) về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận trong tình hình mới” đã có nhiều đổi mới trong công tác dân vận, Đảng chủ trương giữ vững phương châm “Đảng lãnh đạo, chính quyền tổ chức thực hiện, mặt trận,
Trang 35đoàn thể làm tham mưu, nòng cốt”, công tác dân vận tập trung hướng về cơ sở
Huyện ủy lãnh đạo xây dựng và phát huy vai trò của các lực lượng làm công tác dân vận trong toàn huyện Cụ thể lãnh đạo ban dân vận thực hiện tốt nhiệm vụ của mình là theo dõi, hướng dẫn, kiểm tra các ngành, đoàn thể huyện
và các tổ chức cơ sở thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của Trung ương, tỉnh ủy, huyện ủy về công tác vận động đồng bào dân tộc thiểu số; phối hợp với Mặt trận
Tổ quốc quan tâm và nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của đồng bào dân tộc thiểu
số Bồi dưỡng nghiệp vụ, phương pháp làm công tác vận động đồng bào dân tộc thiểu số cho các tổ chức cơ sở đảng, xây dựng đội ngũ làm công tác vận động đồng bào các dân tộc thiểu số đủ phẩm chất và năng lực công tác, phù hợp với nhiệm vụ của địa phương Lãnh đạo chính quyền làm tốt công tác tuyên truyền, phổ biến các chủ trương và chính sách của Đảng và Nhà nước, tỉnh ủy và chính quyền tỉnh, huyện ủy và chính quyền huyện
1.2.2.4 Lãnh đạo xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, tăng cường gắn bó mật thiết với nhân dân
Tổ chức đảng là thành viên giữ vai trò hạt nhân lãnh đạo toàn hệ thống chính trị, xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh là nhân tố quyết định thắng lợi nhiệm vụ chính trị Huyện ủy xây dựng cấp ủy các có đủ phẩm chất, năng lực, hoạt động có hiệu quả, được đảng viên, đồng bào tín nhiệm, thường xuyên kiểm tra tổ chức đảng và đảng viên chấp hành Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và Quy định của Bộ Chính trị về những điều đảng viên không được làm Định kỳ hằng năm, cấp ủy tổ chức
để đồng bào thiểu số tham gia góp ý về sự lãnh đạo của tổ chức đảng và vai trò tiên phong, gương mẫu của cán bộ đảng viên Chỉ khi đảng bộ huyện trong sạch vững mạnh mới có thể lãnh đạo hệ thống chính trị huyện thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị huyện đã đề ra, giúp đồng bào thiểu số thoát nghèo, cải thiện đời sống cho bà con, góp phần giữ vững và tăng cường lòng tin vào Đảng và chính quyền của đồng bào các dân tộc thiểu số
Trang 36Sinh thời, chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Trong bầu trời không
có gì quý bằng nhân dân Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân” [12, tr.453] Mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa Đảng với nhân dân là cội nguồn sức mạnh của cách mạng Việt Nam Có thể nói mọi việc Đảng làm đều là vì lợi ích của nhân dân, để chăm lo và phục vụ cho nhân dân Để tăng cường mối quan hệ của Huyện ủy với đồng bào dân tộc thiểu số cần thực hiện quy chế “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”, để đồng bào thiểu số nắm được và hiểu được chủ trương của Đảng, được tham gia bàn bạc, ủng hộ và thực hiện chủ trương, đồng thời là người kiểm tra, giám sát hiệu quả của các đường lối, chủ trương khi đưa vào thực tế Ngược lại huyện ủy cũng cần phải nắm bắt được ý kiến, biết tâm tư, nguyện vọng của đồng bào các dân tộc thiểu số, trên cơ
sở đó có những quyết sách hợp lòng dân, đáp ứng lợi ích chính đáng của đồng bào thiểu số
1.2.2.5 Lãnh đạo thực hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc
Đại đoàn kết dân tộc là nhân tố quan trọng, có ý nghĩa then chốt đối với
sự phát triển của đất nước Chính sách đại đoàn kết dân tộc của Đảng ta không chỉ hướng tới mục tiêu xây dựng đất nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, mà còn phát huy sức mạnh của từng dân tộc, tạo thành sức mạnh của toàn dân Là một huyện vùng cao với nhiều dân tộc thiểu số
cư trú, tiếp thu quan điểm của Đảng, Huyện ủy Mù Cang Chải luôn giữ vững nguyên tắc các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển Bình đẳng quyền giữa các dân tộc, không phân biệt đa số hay thiểu số, trình độ văn hóa, dân trí cao hay thấp, bình đẳng trên mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và được đảm bảo bằng pháp luật Bình đẳng giữa các dân tộc
là điều kiện đầu tiên để đảm bảo sự đoàn kết các dân tộc nói chung và đồng bào dân tộc thiểu số nói riêng Đại đoàn kết các dân tộc thiểu số với nhau, giữa dân tộc thiểu số với dân tộc đa số, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc trên địa bàn huyện là nội dung quan trọng, đồng thời cũng là quan điểm xuyên suốt
Trang 37trong công tác vận động đồng bào thiểu số của Huyện ủy
1.2.4 Phương thức lãnh đạo công tác vận động đồng bào dân tộc thiểu
số của huyện ủy
Phương thức lãnh đạo công tác vận động đồng bào dân tộc thiểu số của huyện ủy là tổng thể các phương pháp, cách thức, biện pháp mà Huyện ủy sử dụng để tác động vào công tác vận động đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện nhằm thực hiện thắng lợi những nội dung của công tác vận động đồng bào thiểu số của huyện Bao gồm những phương thức chính sau:
1.2.3.1 Huyện ủy lãnh đạo công tác vận động đồng bào dân tộc thiểu số bằng các chủ trương, nghị quyết, chỉ thị
Đảng ta luôn xác định vấn đề dân tộc nói chung, trong đó có công tác vận động đồng bào dân tộc thiểu số, là một trong những nhiệm vụ chiến lược của Cách mạng Việt Nam Các văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ trước và sau đổi mới đều xác định, vấn đề dân tộc “có vị trí chiến lược lớn”, “luôn luôn có vị trí chiến lược”, “có vị trí chiến lược lâu dài trong sự nghiệp cách mạng nước ta” Cụ thể,
có thể kể đến một số Nghị quyết sau:
Nghị quyết số 24 - NQ/TW ngày 12/3/2003 của Hội nghị lần thứ bảy của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX “Về công tác dân tộc”, trong đó Nghị quyết chỉ rõ về công tác vận động đồng bào các dân tộc thiểu số trong thời kỳ đổi mới đất nước như sau:
Đổi mới nội dung và công tác dân vận ở vùng đồng bào dân tộc, quán triệt phương châm chân thành, tích cực, thận trọng, kiên trì, tế nhị, vững chắc; sử dụng các phương thức phù hợp với đặc thù của từng dân tộc, từng địa phương Cán bộ công tác ở vùng dân tộc và miền núi phải quán triệt và thực hiện thật tốt phong cách công tác dân vận
“trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân và có trách nhiệm với dân[24] Chỉ thị số 49 - CT/TW ngày 20 tháng 10 năm 2015 của Ban Bí thư về tăng cường đổi mới công tác dân vận của Đảng ở vùng đồng bào các dân tộc thiểu số đã chỉ rõ để thực hiện tốt Nghị quyết số 25 - NQ/TW ngày 3/6/2013 của
Trang 38Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về công tác dân vận, tạo bước chuyển biến mới trong công tác dân vận của Đảng ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số
Cần tăng cường đổi mới công tác dân vận trong các cơ quan nhà nước, rà soát, ban hành và thực hiện tốt chính sách dân tộc “Thể chế hóa kịp thời các quan điểm, chủ trương của Đảng về công tác dân vận ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số; tiếp tục rà soát, sửa đổi những bất cập của hệ thống chính sách dân tộc phù hợp với đặc điểm tự nhiên và xã hội của từng vùng, từng dân tộc ” [23, tr.2]
Quán triệt các đường lối, chủ trương về công tác vận động đồng bào dân tộc thiểu số của Trung ương Đảng, huyện ủy đề ra và thực hiện các chủ trương, chính sách dân tộc phù hợp với tình hình thực tiễn tại địa phương, đề ra các nội dung, mục tiêu và nguyên tắc hoạt động cho cán bộ Hoạch định chiến lược thực hiện công tác vận động đồng bào dân tộc thiểu số đảm bảo về an sinh xã hội, giáo dục, việc làm, thu nhập, an ninh quốc gia tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số Nội dung của các chủ trương, nghị quyết, chỉ thị về lãnh đạo công tác vận động đồng bào dân tộc thiểu số thể hiện những quan điểm của Đảng về nhiệm vụ phát triển kinh tế, xóa đói, giảm nghèo, thực hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc, tăng cường gắn bó mật thiết với đồng bào các dân tộc, giữ gìn bảo vệ an ninh trật tự của địa phương Dựa trên cơ sở những cương lĩnh, đường lối, nghị quyết của Trung ương Đảng và các nghị quyết của Đảng bộ tỉnh, Huyện ủy ra nghị quyết hoặc chỉ đạo ban dân vận tham mưu, xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện các nghị quyết của Trung ương
và Đảng bộ cấp trên về công tác vận động đồng bào dân tộc thiểu số tại địa phương Trong quá trình tổ chức thực hiện, Chính quyền và các tổ chức đoàn thể sẽ
có ý kiến phản hồi về hiệu quả của các chủ trương, nghị quyết khi đưa vào thực tiễn, từ đó tổng kết và tham mưu nhằm bổ sung và hoàn thiện hơn
1.2.3.2 Huyện ủy lãnh đạo công tác vận động đồng bào dân tộc thiểu số bằng tuyên truyền, vận động, thuyết phục
Tuyên truyền, vận động, thuyết phục là phương pháp hiệu quả trong việc đưa đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến với mỗi người dân, khơi dậy và phát huy tinh thần yêu nước, ý chí tự lực, tự
Trang 39cường, vươn lên trong khó khăn của đồng bào thiểu số nhằm đưa những chủ trương, chính sách của Đảng thành hiện thực, thành phong trào hành động cách mạng của đồng bào các dân tộc thiểu số Thông qua các hoạt động tuyên truyền, giáo dục, thuyết phục để nhân dân nắm được, ủng hộ và hăng hái thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, nghị quyết, chương trình, kế hoạch, đề án phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh, quốc phòng của huyện
Huyện ủy cần nắm bắt được những tâm tư, tình cảm, nguyện vọng của đồng bào các dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện để kết hợp linh hoạt nhiều hình thức, phương pháp cụ thể, phù hợp để tuyên truyền, thuyết phục từng người dân, động viên các tầng lớp nhân dân thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, nghị quyết, chương trình, kế hoạch, đề án phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh, quốc phòng của tỉnh Việc tuyên truyền, thuyết phục đồng bào thiểu số cần được tiến hành thông qua hoạt động của cán bộ, công chức làm công tác vận động đồng bào dân tộc thiểu số
Các lực lượng làm công tác dân vận của huyện thường xuyên tuyên truyền, vận động, giáo dục thuyết phục đồng bào dân tộc thiểu số bằng nhiều hình thức như: tuyên tuyền vận động qua hệ thống phát thanh, truyền hình của địa phương, các bài tuyên truyền có tiếng phổ thông và tiếng dân tộc; In ấn truyền tải các ấn phẩm văn hóa, sách báo tiếng phổ thông và tiếng dân tộc đến tay đồng bào; tổ chức các đội thông tin lưu động đến các vùng, các xã đặc biệt là các xã xa trung tâm, kết hợp tuyên truyền chính sách với văn hóa văn nghệ; tổ chức các cuộc thi tìm hiểu chủ trương, chính sách của đảng bộ huyện bằng nhiều hình thức
1.2.3.3 Huyện ủy lãnh đạo công tác vận động đồng bào dân tộc thiểu số bằng công tác tổ chức và cán bộ
Làm tốt công tác cán bộ và quần chúng nhân dân các dân tộc thiểu số, coi việc chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số có trình độ, năng lực, phẩm chất chính trị tốt, có uy tín với quần chúng là nguồn sức mạnh có tính then
Trang 40chốt để thực hiện thắng lợi công tác vận động đồng bào dân tộc thiểu số Đảng coi trọng việc bồi dưỡng về mọi mặt, văn hóa, chính trị, nghiệp vụ công tác vận động và những chế độ, chính sách đối với cán bộ làm công tác vận động đồng bào dân tộc thiểu số của Đảng Phát triển đảng viên, xây dựng tổ chức đảng ở vùng núi, vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứ địa cách mạng, vùng biên giới và hải đảo để lãnh đạo và vận động đồng bào dân tộc thiểu số
Công tác tổ chức và cán bộ cần chú trọng bồi dưỡng, rèn luyện và tạo điều kiện cho những trí thức các dân tộc thiểu số Trí thức các dân tộc thiểu số vừa là hạt nhân, là bộ phận quan trọng đối với sự phát triển chung, đặc biệt là ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi Đội ngũ chức sắc, trí thức, già làng, trưởng bản, người có uy tín, trưởng dòng họ cũng như con em của đồng bào dân tộc thiểu số có vai trò to lớn trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Họ vừa là đối tượng, vừa là người tuyên truyền và phổ biến tiến bộ khoa học - kỹ thuật cũng như tri thức vào sản xuất và các vấn đề kinh tế - xã hội khác nhằm thu hẹp dần khoảng cách giữa vùng núi, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới với vùng đồng bằng, thành thị Những thành tựu mới về nghiên cứu khoa học của trí thức các dân tộc thiểu số được kết tinh ở những sản phẩm như các kế hoạch, dự án tổ chức sản xuất, mô hình kinh tế, quản lý xã hội… ở mức độ khác là những phát minh, sáng chế, giải pháp hữu ích nhằm phát triển kinh tế - xã hội vùng núi, vùng dân tộc thiểu số
1.2.3.4 Huyện ủy lãnh đạo công tác vận động đồng bào dân tộc thiểu số thông qua hoạt động của chính quyền, Mặt trận và các đoàn thể nhân dân
Huyện ủy thông qua hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân và các đảng viên trong bộ máy chính quyền để huyện ủy lãnh đạo chính quyền cụ thể hóa những chủ trương, nghị quyết của huyện thành các chính sách, chương tình hành động,
kế hoạch, để tạo điều kiện thuận lợi về pháp lý, vật chất, văn hóa để đồng bào các dân tộc thiểu số được quan tâm, chăm sóc sức khỏe, có điều kiện học hành nâng cao trình độ dân trí, phát triển kinh tế, cải thiện đời sống Huyện ủy lãnh đạo nâng cao chất lượng hoạt động của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân huyện, xã, thị