1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đặc trưng của đô thị việt nam truyền thống và sự thay đổi của những đặc trưng này trong quá trình hội nhập quốc tế ở việt nam hiện nay

31 4 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đặc trưng của đô thị Việt Nam truyền thống và sự thay đổi của những đặc trưng này trong quá trình hội nhập quốc tế ở Việt Nam hiện nay
Người hướng dẫn T.S. Đào Ngọc Tuấn, T.S. Trần Thị Hồng Thúy
Trường học Học viện Ngoại Giao Truyền Thông Và Văn Hoá Đối Ngoại
Chuyên ngành Văn hóa Việt Nam và Hội nhập quốc tế
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 604,2 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Đô thị (3)
  • 2. Hội nhập quốc tế (5)
  • II. N HỮNG ĐẶC TRƯNG CỦA ĐÔ THỊ V IỆT N AM TRUYỀN THỐNG ................................... 1. Những đặc trưng của đô thị Việt Nam truyền thống (6)
    • 1.1 Đặc trưng 1: Xét về nguồn gốc và quản lý, đô thị Việt Nam phần lớn do nhà nước sản sinh ra và quản lí, vì vậy đô thị Việt Nam trước hết là trung tâm chính trị, rồi sau đó mới là kinh tế, văn hóa (0)
    • 1.2 Đặc trưng 2: Xét về chức năng, đô thị Việt Nam thực hiện chức năng hành chính là chủ yếu và chịu sự quản lý trực tiếp của nhà nước phong kiến (7)
    • 1.3 Đặc trưng 3: Xét về quy mô, số lượng và quy mô của đô thị ở Việt Nam không đáng kể so với nông thôn (7)
    • 1.4 Đặc trưng 4: Xét về mối quan hệ nông thôn - đô thị, đô thị phụ thuộc vào nông thôn, và bị nông thôn hóa, tư duy nông nghiệp, căn tính nông dân đã in đậm dấu ấn (8)
    • 2. Các đô thị truyền thống tiêu biểu (10)
    • 3. Lý giải các đặc trưng từ góc độ văn hóa (14)
  • III. S Ự THAY ĐỔI NHỮNG ĐẶC TRƯNG CỦA ĐÔ THỊ V IỆT N AM TRUYỀN THÔNG (17)
    • 1. Tổng quan về đô thị Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế (17)
    • 2. Sự thay đổi những đặc trưng của đô thị Việt Nam truyền thống trong quá trình hội nhập quốc tế (18)
    • 3. Ưu điểm và hạn chế của những thay đổi (19)
    • 4. Giải pháp cho những sự hạn chế (22)
  • PHẦN 3. TỔNG KẾT – TÀI LIỆU THAM KHẢO (23)
    • I. T ỔNG KẾT (23)
    • II. T ÀI LIỆU THAM KHẢO (23)
  • PHẦN 4. PHỤ LỤC (25)

Nội dung

Những đặc trưng của đô thị Việt Nam truyền thống...6 1.1 Đặc trưng 1: Xét về nguồn gốc và quản lý, đô thị Việt Nam phần lớn do nhà nước sản sinh ra và quản lí, vì vậy đô thị Việt Nam trư

Trang 1

KHOA TRUYỀN THÔNG VÀ VĂN HOÁ ĐỐI NGOẠI

-*** -TIỂU LUẬN

Môn học: Văn hóa Việt Nam và Hội nhập quốc tế

ĐỀ TÀI ĐẶC TRƯNG CỦA ĐÔ THỊ VIỆT NAM TRUYỀN THỐNG VÀ SỰ THAY ĐỔI CỦA NHỮNG ĐẶC TRƯNG NÀY TRONG QUÁ TRÌNH

HỘI NHẬP QUỐC TẾ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Giảng viên : T.S Đào Ngọc Tuấn

T.S Trần Thị Hồng Thúy

Nhóm thực hiện: Nhóm 9

Hà Nội, tháng 12 năm 2022

Trang 2

MỤC LỤC

PHẦN I MỞ ĐẦU

PHẦN II NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

I C Ơ SỞ LÝ LUẬN

1 Đô thị 3

2 Hội nhập quốc tế 5

II N HỮNG ĐẶC TRƯNG CỦA ĐÔ THỊ V IỆT N AM TRUYỀN THỐNG

1 Những đặc trưng của đô thị Việt Nam truyền thống 6

1.1 Đặc trưng 1: Xét về nguồn gốc và quản lý, đô thị Việt Nam phần lớn do nhà nước sản sinh ra và quản lí, vì vậy đô thị Việt Nam trước hết là trung tâm chính trị, rồi sau đó mới là kinh tế, văn hóa 6

1.2 Đặc trưng 2: Xét về chức năng, đô thị Việt Nam thực hiện chức năng hành chính là chủ yếu và chịu sự quản lý trực tiếp của nhà nước phong kiến 6

1.3 Đặc trưng 3: Xét về quy mô, số lượng và quy mô của đô thị ở Việt Nam không đáng kể so với nông thôn 7

1.4 Đặc trưng 4: Xét về mối quan hệ nông thôn - đô thị, đô thị phụ thuộc vào nông thôn, và bị nông thôn hóa, tư duy nông nghiệp, căn tính nông dân đã in đậm dấu ấn trong văn hóa đô thị của Việt Nam .8

2 Các đô thị truyền thống tiêu biểu 10

3 Lý giải các đặc trưng từ góc độ văn hóa 14

III S Ự THAY ĐỔI NHỮNG ĐẶC TRƯNG CỦA ĐÔ THỊ V IỆT N AM TRUYỀN THÔNG TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ 16

1 Tổng quan về đô thị Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế 16

2 Sự thay đổi những đặc trưng của đô thị Việt Nam truyền thống trong quá trình hội nhập quốc tế 18

3 Ưu điểm và hạn chế của những thay đổi 19

4 Giải pháp cho những sự hạn chế 22

PHẦN 3 TỔNG KẾT – TÀI LIỆU THAM KHẢO 23

I T ỔNG KẾT 23

II T ÀI LIỆU THAM KHẢO 23

PHẦN 4 PHỤ LỤC 25

Trang 3

PHẦN I MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Ngày nay, trong bối cảnh toàn cầu hóa, hiện đại hóa, và hội nhập quốc tế đô thị Việt Nam

đã có những sự thay đổi rõ rệt Thực tế, điều này vừa mang đến những sự tích cực song cũng vẫn còn những nhược điểm cần tìm cách khắc phục và giải quyết Vì vậy, việc nghiên cứu về đề tài “Đặc trưng của đô thị Việt Nam truyền thống và sự thay đổi những

đặc trưng này trong quá trình hội nhập quốc tế” là điều vô cùng cần thiết Bằng cách tìm

hiểu và nghiên cứu về đặc trưng của đô thị Việt Nam và cách các đặc trưng ấy thay đổi như thế nào trong thời kỳ toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, sinh viên không chỉ nâng cao nhận thức, mở rộng sự hiểu biết về lịch sử phát triển, đặc trưng của đô thị Việt Nam truyền thống mà còn đem những kiến thức đó góp phần vào việc gìn giữ diện mạo văn hóa riêng của dân tộc, gây dựng lòng yêu nước và yêu mến văn hóa Tổ quốc song song với việc phát triển đô thị trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay Có thể khẳng định, các

đô thị nước ta còn đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc phát triển, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của cả nước cũng như của các vùng và của tỉnh Đây chính là bài học

về sự kế thừa những giá trị truyền thống tốt đẹp để làm giàu thêm cho đất nước và phát triển các giá trị đó trong thời kỳ hội nhập quốc tế, toàn cầu hóa

2 Mục đích nghiên cứu đề tài

- Tìm hi u, ể phân tích l ch s hình thành, nh ng c tr ng tiêu bi u c a ô th Vi t ị ử ữ đặ ư ể ủ đ ị ệNam truy n th ng và lý gi i chúng t góc v n hóa ề ố ả ừ độ ă

- Nghiên c u và phân tích s thay i c a các c tr ng này trong quá trình h i nh p ứ ự đổ ủ đặ ư ộ ậ

1.1 Khái niệm đô thị

Theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về Quy hoạch xây dựng ban hành kèm Thông tư22/2019/TT-BXD có hiệu lực ngày 01/7/2020 thì đô thị được định nghĩa như sau:

Khu vực tập trung dân cư sinh sống có mật độ cao và chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kinh

tế phi nông nghiệp, là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hoá hoặc chuyên ngành,

có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, mộtđịa phương, bao gồm nội thành, ngoại thành của thành phố; nội thị, ngoại thị của thị xã; thịtrấn

Theo Nghị định số 72/2001/NĐ-CP ngày 05.10.2001 của Chính phủ về việc phân loại

đô thị và cấp quản lí đô thị thì đô thị là các điểm dân cư có các yếu tố cơ bản:

Trang 4

- Là ơi trung tâm tổng hợp hay trung tâm chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự pháttriển kinh tế - xã hội của cả nước hoặc một vùng lãnh thổ nhất định;

- Quy mô dân số ít nhất là 4.000 người;

- Tỉ lệ lao động phi nông nghiệp trong tổng số lao động tối thiểu là 65%;

- Cơ sở hạ tầng phục vụ các hoạt động của dân cư tối thiểu phải đạt 70% mức tiêuchuẩn, quy chuẩn quy định đối với từng loại đô thị;

- Mật độ dân cư phù hợp với quy mô, tính chất và đặc điểm của từng loại đô thị

1.2 Lịch sử hình thành

Theo tài liệu của Viện Sử học Việt Nam, đô thị đầu tiên ở Việt Nam xuất hiện khámuộn so với các nước trên thế giới và các đô thị cổ sau khi hình thành cũng không có sự pháttriển liên tục mà thường thăng trầm cùng với sự thay đổi địa điểm kinh đô của các triều đạikhác nhau Điều này cho phép các học giả đưa ra tổng kết quan trọng về lịch sử và tính chấtcủa đô thị Việt Nam, đó là sự phát triển hay lụi tàn của các đô thị Việt Nam mang nhiều dấu

ấn hành chính – chính trị hơn là thương mại, dịch vụ như nguyên lý ra đời đô thị ở hầu hếtcác nước, tức yếu tố “đô” trong “đô thị” lấn át yếu tố “thị” vốn là cơ bản để tạo thành đô thị

Các đô thị cổ Việt Nam ban đầu được hình thành trên các trung tâm chính trị quân sự,

ở đó các toà thành phục vụ cho mục đích phòng thủ và bên trong là nơi đồn trú của các thếlực phong kiến Bên cạnh phần “đô” còn có phần “thị”; là nơi tập trung các thợ thủ công sảnxuất ra các hàng hoá tiêu dùng và những cư dân làm nghề buôn bán trao đổi hàng hoá cầnthiết Như vậy thành thị ra đời, mang tính chất chính trị quân sự và kinh tế

Đô thị Việt Nam hiện nay được tổ chức rải đều cả nước, chủ yếu theo không gianchùm đô thị Theo đó, chùm đô thị phía Bắc tập trung ở khu vực sông Hồng, nổi bật là TP

Hà Nội, chùm đô thị phía Nam là khu vực đồng bằng sông Cửu Long với đô thị trung tâm là

TP Hồ Chí Minh

1.3 Vai trò của đô thị

Đô thị là trung tâm chính trị - hành chính, kinh tế, văn hoá, khoa học - kĩ thuật, , giáo dục - đào tạo, du lịch, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu trong nước và quốc tế, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một vùng lãnh thổ liên tỉnh hoặc của cả nước

Cụ thể hơn:

Về mặt chính trị: Các đô thị là nơi tập trung nhiều trụ sở của các cơ quan nhà

nước, các tổ chức chính trị - xã hội , các cơ quan đại diện ngoại giao, tổ chứcquốc tế và là nơi diễn ra nhiều hoạt động đối nội đối ngoại của đất nước Đô thị

ở Việt Nam không nảy sinh bằng con đường phát triển tự nhiên, tức không phải

là hệ quả của sự phát triển tiểu thủ công nghiệp và thương mại; mà trái lại doNhà nước sinh ra Bởi vậy nên, nhiều học giả đều khẳng định xác đáng rằng:phần lớn đô thị Việt Nam thực hiện chức năng hành chính nhiều hơn chức năng

Trang 5

Về mặt kinh tế : Các đô thị có vị trí là đầu tàu kinh tế, đóng vai trò hết sức quan

trọng trong việc thúc đẩy nền kinh tế quốc dân Đô thị vừa là thị trường laođộng, vừa là thị trường tiêu thụ tiềm năng Đây là nơi tập trung nhiều hoạt độnggiao thương buôn bán và dịch vụ, có sức hút đối với các nhà đầu tư đến từ cảtrong lẫn ngoài nước Cho đến nay, 70-80% hoạt động kinh tế trên phạm vi đấtnước hoặc thế giới đều diễn ra ở khu vực đô thị; điều này cho thấy nguồn thu tàichính của nhiều quốc gia trong giai đoạn hiện nay đều đến từ các đô thị Vai tròkinh tế của đô thị đã và đang được xác định ngày càng rõ trong các chính sáchphát triển của Nhà nước ta

Về mặt văn hóa - xã hội : Quy mô dân cư đô thị ngày càng tăng dẫn theo khả

năng gia tăng vai trò của đô thị đối với sự phát triển văn hóa - xã hội Đô thị lànơi giao lưu và tiếp biến nhiều nền văn hóa nội - ngoại vùng, cùng với đó, đô thịcòn góp phần quan trọng trong việc đón đầu những thành tựu, cải tiến về khoahọc - kỹ thuật, cơ sở vật chất, cơ sở hạ tầng nhằm nâng cao chất lượng dich vụ y

tế, giáo dục, giải trí…

2 Hội nhập quốc tế

Hội nhập quốc tế được biết đến chính là một quá trình phát triển tất yếu, xuất phát từ

bản chất xã hội của lao động và quan hệ giữa con người Sự ra đời và phát triển của kinh tếthị trường cũng chính là động lực quan trọng có vai trò thúc đẩy quá trình hội nhập Tronggiai đoạn hiện nay, hội nhập đã trở thành một xu thế lớn của thế giới hiện đại và nó có nhữngtác động mạnh mẽ đến quan hệ quốc tế và đời sống của từng quốc gia Hội nhập quốc tế hiện

là lựa chọn chính sách của đa số các quốc gia để phát triển Những năm trở lại đây thì hộinhập quốc tế đã trở thành ngôn từ khá thân quen với nhiều người dân Việt Nam

Nguồn gốc cụm từ hội nhập quốc tế trong tiếng Việt có nguồn gốc dịch từ tiếng nước

ngoài Hội nhập quốc tế được biết đến chính là một khái niệm được sử dụng chủ yếu trongcác ngành chính trị học quốc tế và kinh tế quốc tế, và nó đã được ra đời từ khoảng giữa thế

kỷ trước ở châu Âu, trong bối cảnh những chủ thể là người theo trường phái thể chế chủtrương xúc tiến sự hợp tác và liên kết giữa các cựu thù nhằm mục đích để có thể tránh rủi rotái diễn chiến tranh thế giới thông qua việc xây dựng Cộng đồng châu Âu Ta nhận thấy rằng,hiện nay có nhiều phương pháp hiểu và định nghĩa khác nhau về khái niệm hội nhập quốc tế

Hội nhập quốc tế trong các lĩnh vực đang trở thành xu thế chủ đạo và là sự phát triểntất yếu trong sự phát triển của xã hội bởi những lý do sau: (1) Sự phát triển của khoa học, kỹthuật, công nghệ và kinh tế thị trường dẫn đến sự phát triển trong các quan hệ sản xuất Mặtkhác, các điều kiện tự nhiên giữa các quốc gia là khác nhau, do đó, chúng đòi hỏi các quốcgia phải mở rộng thị trường, hình thành thị trường khu vực và quốc tế nhằm thúc đẩy quátrình hội nhập quốc tế (2) Các cuộc khủng hoảng tài chính dẫn đến những chuyển dịch trên

Trang 6

phạm vi toàn cầu, đồng thời, quá trình xã hội hóa và phân công lao động ở mức cao đã vượt

ra khỏi phạm vi biên giới quốc gia; dẫn đến nhu cầu tất yếu về việc hợp tác ngày càng sâusắc giữa các quốc gia theo hình thức song phương, tiểu khu vực, khu vực và toàn cầu trongquan hệ hợp tác đa ngành, liên ngành và đa phương

Ta nhận thấy rằng, hiện nay, hội nhập quốc tế có ba cấp độ chính là: Hội nhập toàn

cầu, khu vực và hội nhập song phương Song, các phương thức hội nhập cụ thể này đượctriển khai trên các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội Cho đến giai đoạn này, đối vớiViệt Nam, hội nhập quốc tế được triển khai trên ba lĩnh vực chính bao gồm các lĩnh vực cơbản như: Hội nhập trong lĩnh vực kinh tế (hội nhập kinh tế quốc tế) Hội nhập trong lĩnh vựcchính trị, quốc phòng, an ninh và hội nhập quốc tế trong lĩnh vực văn hóa – xã hội, giáo dục,khoa học – công nghệ hay hội nhập trên lĩnh vực khác

II Những đặc trưng của đô thị Việt Nam truyền thống

1 Những đặc trưng của đô thị Việt Nam truyền thống

1.1 Đặc trưng 1: Xét về nguồn gốc, đô thị Việt Nam phần lớn do nhà nước sản sinh

ra, vì vậy đô thị Việt Nam trước hết là trung tâm chính trị, rồi sau đó mới là kinh

tế, văn hóa

Đô thị Việt Nam do nhà nước khai sinh ra và thực hiện chức năng hành chính là chủyếu Các đô thị lớn nhỏ, ra đời vào các giai đoạn khác nhau như Văn Lang, Cổ Loa, Luy Lâu,Thăng Long, Phú Xuân (Huế) đều hình thành theo con đường như thế Ngay các đô thị mớinhư Xuân Mai, Xuân Hòa cũng không thoát ra ngoài quy luật trên Lấy ví dụ, Cổ Loa –một đô thị quan trọng thời cổ đại, được hình thành từ việc vua An Dương Vương dựa trênnhững thuận lợi về mặt địa lý, dời đô từ vùng núi và xây dựng thành trì to lớn tại đây

Trái lại, hầu hết đô thị phương Tây đều hình thành một cách tự phát và là một tổ chức

tự trị nếu có một trong 3 điều kiện sau: (1) là nơi tập trung đông dân, (2) có sản xuất côngnghiệp, (3) là nơi tập trung buôn bán (ba nguyên nhân này liên quan chặt chẽ với nhau) 1

Điển hình như sự hình thành đô thị Athens tại Hy Lạp: do mua bán ruộng đất, và sự phâncông lao động ngày càng phát triển giữa nông nghiệp với thủ công nghiệp, thương nghiệp, vàhàng hải, nên tất yếu thành viên của những thị tộc, bào tộc và bộ lạc khác nhau đã mau chóngsống lẫn vào nhau; trên lãnh thổ của bào tộc và bộ lạc đã có những người khác đến ở Trongthời bình, mỗi bào tộc và bộ lạc đều tự quản lý công việc của mình, không nhờ tới hội đồngnhân dân hay basileus của Athens Đây chính là một hình thức của thị tộc Sau đó, theo sauChiến tranh giành độc lập Hy Lạp và sự thành lập của Vương quốc Hy Lạp, Athens đượcchọn là thủ đô của nhà nước Hy Lạp độc lập năm 1834 Tuy nhiên, cũng có trường hợp đô thịphương Tây do nhà nước khai sinh ra (như Petersburg), nhưng đã có tính đến yếu tố giaothông và kinh tế, vì vậy, đã phát triển rất tốt sau khi hình thành

1 Xem: Trần Ngọc Thêm, Cơ sở văn hóa Việt Nam, NXB Giáo dục, 1999, tr.93

Trang 7

1.2 Đặc trưng 2: Xét về chức năng, đô thị Việt Nam thực hiện chức năng hành chính

là chủ yếu và chịu sự quản lý trực tiếp của nhà nước phong kiến

“Trong đô thị có bộ phận quản lí và bộ phận làm kinh tế (buôn bán); thường thì bộphận quản lí hình thành trước theo kế hoạch, rồi dần dần, một cách tự phát, bộ phận làm kinh

tế mới được hình thành Thậm chí trong nhiều trường hợp, bộ phận quản lí của đô thị đã hoạtđộng rồi mà bộ phận làm kinh tế vẫn không phát triển được hoặc phát triển rất yếu ớt nhưtrường hợp các kinh đô Hoa Lư của nhà Đinh, phủ Thiên Trường của nhà Trần, Tây Đô củanhà Hồ, Lam Kinh của nhà Lê, Phượng Hoàng Trung Đô của nhà Tây Sơn ”2 Như vậy, trongkhi đô thị của ta thực hiện chức năng hành chính là chủ yếu thì đô thị phương Tây thực hiệnchức năng kinh tế là chủ yếu Khi nhà nước có nhu cầu mở trung tâm hành chính thì họthường chọn một trong những đô thị có sẵn như đô thị Athens tại Hy Lạp, đô thị Babylon –thành quốc của Lưỡng Hà cổ đại

1.3 Đặc trưng 3: Xét về quy mô, số lượng và quy mô của đô thị ở Việt Nam không đáng kể so với nông thôn

Cho đến tận thế kỷ XVI, Đại Việt mới chỉ có một đô thị, một trung tâm chính trị kinh tế - văn hóa là Kẻ Chợ (Thăng Long) Từ sau thế kỷ XVI, xuất hiện thêm một số đô thị

-mà chủ yếu là gắn với ngoại thương (Phố Hiến, Thanh Hà, Hội An, Nước Mặn, Sài Gòn…) 3

Từ giữa thế kỷ XX đến nay, khu vực nông thôn vẫn chiếm tỉ trọng lớn hơn nhiều so với đôthị, khoảng 90% diện tích đất đai vẫn thuộc nông thôn Thêm vào đó, từ năm 1960 tới nay,tại Việt Nam, tỉ lệ dân số thành thị chưa vượt quá 50%, cụ thể:

Năm Dân số Tỉ lệ dân thành thị Số dân thành thị

2 Trích theo: Trần Ngọc Thêm, Cơ sở văn hóa Việt Nam, NXB Giáo dục, 1999, tr92

3 Xem: Cơ sở Văn hóa Việt Nam, Trần Quốc Vượng (chủ biên), NXB Giáo dục, tái bản lần thứ năm, 2002, tr.47

Trang 8

ấn trong văn hóa đô thị của Việt Nam 4

Đến tận ngày nay, ảnh hưởng của nông thôn vẫn còn gây khó khăn rất nhiều cho việcquản lí đô thị Trong Hội nghị Đô thị toàn quốc lần thứ II (tổ chức tại Tp Hồ Chí Minh tháng7-1995), Thủ tướng Võ Văn Kiệt nhận xét: “Mô hình tổ chức của bộ máy nhà nước hiện nay

ở các đô thị không khác gì tổ chức bộ máy ở các huyện, xã Về cung cách quản lí, nhiều nơi,nhiều cán bộ đang quản lí hành chính ở đô thị không khác gì lề lối quản lí ở các làng xã”5

Biểu hiện sự phụ thuộc đô thị vào nông thôn:

Tổ chức hành chính của đô thị Việt Nam được sao phỏng theo tổ chức nông thôn.

Đô thị truyền thống cũng chia thành các phủ, huyện, tổng, thôn Đời Gia Long, huyệnThọ Xương ở Hà Nội (quận Hoàn Kiếm và Hai Bà Trưng bây giờ) chia làm 8 tổng.Cho đến tận năm 1940, các làng quanh hồ Hoàn Kiếm vẫn còn chức tiên chỉ, thứ chỉ.Bên cạnh những đơn vị như phủ, huyện, tổng, thôn, ở đô thị Việt Nam đã xuất hiện từrất sớm một loại đơn vị đặc biệt bắt nguồn từ nông thôn mà đến nay đã trở thành đơn

vị hành chính cơ sở đô thị - đó là PHƯỜNG (Trong một làng, phần lớn người dân đềulàm nông nghiệp; tuy nhiên nhiều làng có những bộ phận cư dân sinh sống bằng nghềkhác, họ liên kết chặt chẽ với nhau, khiến cho nông thôn Việt Nam có thêm mộtnguyên tắc tổ chức thứ ba là tổ chức theo nghề nghiệp, tạo thành đơn vị gọi làphường) Ở nông thôn có thể gặp hàng loạt phường như phường gốm làm sành sứ,phường nề làm nghề xây cất, phường chài làm nghề đánh cá, phường vải làm nghề dệtvải, rồi những phường nón, phường giấy, phường mộc, phường thợ tiện, phường đúcđồng Ngay bây giờ, khi nền kinh tế thị trường đã ngự trị, đô thị Việt Nam vẫn tiếptục tự phát tổ chức theo lối phường Chẳng hạn như ở thành phố Hố Chí Minh cóđường Ngô Gia Tự bán đồ gỗ, đường Tô Hiến Thành bán vật liệu xây dựng, đường LíThái Tổ làm dịch vụ in ấn Lối tổ chức đô thị theo phường làm cho đô thị Việt Nam cómột bộ mặt đặc biệt, khiến người châu Âu luôn ngỡ ngàng: Năm 1884, Julien viết:

“Mỗi loại hàng hóa đều có một phố riêng Ở phố Bát Sứ tất cả đều xanh Tiếp đến phố

4 Xem: Đại cương về Văn hóa Việt Nam, Phạm Thái Việt (chủ biên), NXB Văn hóa – thông tin, 2004, tr.90

5 Trích theo: Báo Tuổi Trẻ, ngày 27 tháng 07 năm 1995

Trang 9

Bát Đàn - tất cả đều đỏ” 6Ta còn có thể thường xuyên gặp hiện tượng tái phường hoá:Một dãy phố trước đây bán mặt hàng này, nay cả phố chuyên sang kinh doanh mặthàng khác Điều này xuất phát từ tính cộng đồng và tính tự trị Trước hết, do tính cộngđồng mà cách tổ chức theo phường tỏ ra có lợi cho người bán: họ có điều kiện tươngtrợ giúp đỡ nhau trong việc định giá.,giữ giá, vay mượn hàng, giới thiệu khách hàngcho nhau Không phải ngẫu nhiên mà tục ngữ có câu: “Buôn có bạn, bán cóphường” Mặt khác, do tính tự trị dẫn đến nếp sống tự cấp tự túc, dân không có nhucầu mua bán, cho nên người buôn bán phải gian lận để kiếm sống - truyền thống giandối đó đến nay vẫn còn rất nặng; bởi vậy mà, về mặt này, cách tổ chức theo phường tỏ

ra có lợi cho người mua: tuy mất công đi xa để mua hàng, nhưng bù vào đó, ngườimua có điều kiện khảo giá (không bị mua đắt), và vì nhiều hàng ít có nguy cơ muaphải hàng giả.7

Phố nằm xen kẽ với làng Tại Hà Nội, trong lòng các đô thị, cho tới tận bây giờ, vẫn

còn tồn tại những lũy tre xanh giữa ốc đảo làng quê, có tiếng gà kêu mỗi sáng Cạnhquảng trường Ba Đình vẫn còn làng hoa Ngọc Hà, gần công viên Thống Nhất có làngKim Liên, phía Tây có làng Láng với nghề trồng rau húng nổi tiếng ở Hà Nội Haynhư tại Huế, bộ mặt đô thị của Huế từ trước thế kỷ XIX hiện ra cùng với việc xâydựng phần ‘đô’ , ‘thành’ trên một vùng đất nông thôn Các nhà đều lát nền bằng đá,máng đều làm bằng kẽm để hứng nước Quanh nhà còn trồng xen các loại cây cối.Huế được ví như “Thành phố nhà vườn” 8- mỗi ngôi nhà được bao bọc bởi một khuvườn, những hàng cây Điều này chính là một minh chứng cho một gia đình nông thônđiển hình

Lối sống của đô thị Việt Nam cũng tương tự như ở nông thôn vì có tính cộng đồng

và tập thể cao Do chỗ sức mạnh của truyền thống văn hóa nông nghiệp đã không cho

phép nông thôn tự chuyển thành đô thị cho nên ở Việt Nam, có những làng xã nông

thôn thực hiện chức năng kinh tế của đô thị - đó là các làng công thương Làng Bát

Tràng (Gia Lâm) làm đồ gốm, là Đại Bái (Bắc Ninh) đúc đồng, làng Bưởi (Từ Liêm)làm giấy, làng Nhị Khê (Hà Tây) làm nghề tiện, làng Báo Đáp buôn vải Nếu ởphương Tây thì những làng như vậy sẽ phát triển dần lên, mở rộng dần ra và tự phátchuyển thành đô thị Nhưng ở Việt Nam thì chúng không trở thành đô thị được, mọisinh hoạt vẫn giống một làng nông nghiệp thông thường Sở dĩ như vậy là vì do tínhcộng đồng, cả làng làm cùng một nghề (sản xuất cùng một sản phẩm, buôn cùng mộtmặt hàng) Không có trao đổi hàng hoá nội bộ, không thể trở thành đô thị được Mặtkhác, do tính tự trị, dân cư sống tự cấp tự túc, khép kín, không có nhu cầu buôn bán,giao lưu - đó là lí do thứ hai khiến cho các làng công thương không thể trở thành đôthị được Không chỉ vậy, chất nông thôn của đô thị Việt Nam còn bộc lộ ở tính cộng

6 Xem thêm: Yann, Croquis tonkinois, Hanoi, 1889, tr.55.

7 Xem: Trần Ngọc Thêm, Cơ sở văn hóa Việt Nam, NXB Giáo dục, 1999, tr.95 – tr.96.

8 Trích theo: Trần Ngọc Thêm, Cơ sở văn hóa Việt Nam, NXB Giáo dục, 1999, tr.97

Trang 10

đồng (tập thể) của nó Cho đến tận những năm 80, ở các đô thị Việt Nam vẫn rất phổbiến lối kiến trúc “khu tập thể”, (miền Nam gọi là “chung cư”) - ở đó tất cả đều tậpthể, cộng đồng y như trong một làng: bể nước tập thể, bếp tập thể, thùng rác tập thể,

và cả nhà vệ sinh cũng tập thể; hành lang thì dài dằng dặc chung cho tất thảy mọi nhà

9

Như vậy, trong khi ở phương Tây, đô thị là một tổ chức tự trị vững mạnh thì, ngượclại, ở Việt Nam làng xã nông nghiệp là một tổ chức tự trị vững mạnh, còn đô thị lại yếu ớt, lệthuộc Đó là một bức tranh mang tính quy luật tất yếu do sự khác biệt của hai loại hình vănhóa quy định: ở nền văn hóa Việt Nam nông nghiệp trọng tĩnh, làng xã là trung tâm, là sứcmạnh, là tất cả, cho nên làng xã có quyền tự trị Còn ở các nền văn hóa châu Âu sớm pháttriển thương mại và công nghiệp, thì hiển nhiên là đô thị tự trị và có uy quyền

2 Các đô thị truyền thống tiêu biểu

2.1 Đô thị cổ Phố Hiến, Hưng Yên 10

Vùng này vốn là một lãnh địa của sứ quân Phạm Bạch Hổ, đến thời Tiền Lê là thực

ấp11 của Lý Công Uẩn Thế kỷ XVIII, dưới thời nhà Trần, khi nhà Nguyên diệt Tống (ởTrung Quốc), một số kiểu dân Trung Quốc tị nạn đã kéo sang Việt Nam lập nên làng HoaDương (hàm ý những Hoa kiều tị nạn thờ Dương Qúy Phi) Vùng này về sau bao gồm các xãMậu Dương, Lương Điền và Phương Các Cùng lúc đó, một số người Việt từ nhiều địaphương khác nhau và nhiều kiều dân, thương nhân của các nước trong khu vực và PhươngTây dần dần đến sinh sống tại địa điểm tụ cư nay để buôn bán và làm ăn

Phố Hiến trong lịch sử chủ yếu mang diện mạo của một đô thị kinh tế

Những năm 1600-1610 phố Hiến đã trở thành một đô thị sầm uất, nổi tiếng trong cảnước, một trung tâm kinh tế - chính trị có nhiều mối giao lưu quốc tế Lúc này, ở phố Hiến có

lỵ sở12 Trấn Thủ Sơn Nam, Ty Hiến Ty Sơn Nam, các trạm tuần ty kiểm soát thuyền bètrong ngoài nước; một đoạn sông tấp nập các thuyền bè đi lại và đỗ bến; những chợ phố đôngđúc; các thủ công và thương nhân người Việt người Hoa, Nhật Bản và phương Tây hòa đồngbuôn bán, tụ tập lại làm ăn với nhau gọi là Vạn Lai Triều13, phong vật phồn thịnh, nhà ngóinhư bát úp”

Bến cảng sông

9 Xem: Trần Ngọc Thêm, Cơ sở văn hóa Việt Nam, NXB Giáo dục, 1999, tr.95

10 Xem: Nguyễn Sỹ Quế, Lịch sử đô thị, NXB Khoa học & Kĩ thuật, 2009, tr.152 - tr.155

11 Thực ấp: vùng đất được ban cho quan lại gồm một số lượng hộ dân và ruộng đất dưới sự quản lí của họ, được nhà Lý áp dụng rộng rãi.

12 Lỵ sở: Một tỉnh lỵ của một tỉnh, một thủ phủ của một vùng, Tổng hành dinh hay nơi cư ngụ chính thức của Tỉnh trưởng hoặc thủ hiến.

13 Thuật ngữ “Vạn Lai Triều” có nghĩa là “bến nước từ đó các tàu thuyền sau khi được phép sẽ đi vào triều đình Lê - Trịnh ở Thăng Long” là tên gọi mà người Việt và khách thương Trung Hoa thời đó gọi chung cho Phố Hiến

Trang 11

Mạch máu giao thương của Phố Hiến là sông Xích Đằng - đoạn sông Nhị Hà chảy sátPhố Hiến Bến Xích Đằng có 4 bến đò lớn: Kệ Châu, Quan Xuyên, Nhân Dục và PhươngTrà Bên kia sông lại có trạm tuần ty Lãnh Trì, ở phía Nam có bến Mễ Châu, là nơi cho cácthuyền phương Tây neo đậu Điều này nói lên vai trò quan trọng, có tính quyết định của bếncảng ở Phố Hiến, tính chất thương cảng đối với toàn bộ đời sống kinh tế- xã hội của PhốHiến.

Chợ

Cùng với bến cảng sông là các khu chợ sầm uất như Chợ Vạn, Chợ Hiến, Chợ BảoChâu Những chợ này đã vượt khỏi khuôn khổ những chợ địa phương để trở thành các chợliên vùng, có quan hệ và ảnh hưởng rất lớn đến Thăng Long - Kẻ Chợ đương thời

Những thương điếm 14 phương Tây

Trong thế kỷ XVII, có hai thương điếm phương Tây đã được dựng lên ở Phố Hiến:thương điếm Hà Lan (1673 – 1700) và thương điếm Anh (1672 – 1683) Các thương nhânngười Hà Lan và Anh đã cho đào một con kênh từ sông Hồng vào tới các thương điếm chothuyền bé thuận tiện qua lại, hai bên bờ kênh có đắp đê con Con kênh này cũng nối cácthương điếm phương Tây với một đầu là cảng sông và đầu kia là phố Châu Á (Phố Khách),hơn nữa còn có thể là một phương tiện cung cấp nước sinh hoạt cho khu thương điếm

Phố Hiến là đô thị đa văn hóa và mang dáng dấp quốc tế

Phố Hiến là khu sản xuất và buôn bán của người Việt và các kiều dân ngoại quốc.Diện mạo Phố Hiến trong những năm 1709 - 1711 đã được các nhà hàng hải thương lái người

Âu chú ý và tiếng tăm của đô thị đã lan tận sang các nước Anh, Hà Lan, Pháp, Bồ Đào Nha,

Ấn Độ Chính vì thế, Phố Hiến mang những nhu cầu về tâm linh văn hóa của nhiều cộngđồng khác nhau, thể hiện qua các công trình kiến trúc, nổi bật với các phong cách kiến trúcViệt Nam và phong cách kiến trúc Trung Hoa xen lẫn vào đó có phong cách kiến trúc Châu

Âu, đôi khi chúng còn pha trộn lẫn nhau Tổng cộng lại Phố Hiến có 60 di tích lịch sử vănhóa, trong đó có nhiều kiến trúc tôn giáo của người Việt và người Âu Tuy nhiên, cũng nhưcác đô thị Việt Nam khác, bên cạnh những kiến trúc bằng gạch ngói, đại bộ phận nhà ở củadân đều bằng gỗ, tre, nứa, lại ở sát nhau Vào năm 1673, hàng trăm nóc nhà ở Phố Hiến đã bịcháy; riêng tháng 7 năm 1869, chỉ một nửa thành phố còn nguyên vẹn sau khi một vụ hỏahoạn lớn xảy ra

2.2 Đô thị cổ Hoàng thành Thăng Long.

Khu Hoàng thành Thăng Long được công nhận là Di sản văn hóa thế giới tại ViệtNam vào tháng 7 năm 2010 Với 3 tiêu chí nổi bật là: (1) Minh chứng duy nhất về truyềnthống văn hóa lâu đời của người Việt ở vùng châu thổ sông Hồng qua các thời kỳ lịch sử.(2)Minh chứng đặc sắc về quá trình giao lưu văn hóa lâu dài, là nơi tiếp nhận nhiều ảnh

14 Thương điếm: Hiệu buôn lớn (từ Hán Việt cũ).

Trang 12

hưởng văn hóa từ bên ngoài, nhiều học thuyết, tư tưởng có giá trị toàn cầu của văn minhnhân loại để tạo dựng nên những nét độc đáo, sáng tạo của một trung tâm chính trị, kinh tế,văn hóa của quốc gia (3) Có liên hệ trực tiếp với nhiều sự kiện lịch sử trọng đại của quốc giatrong mối quan hệ với khu vực và thế giới Tại lễ khai mạc đại lễ kỷ niệm 1.000 năm ThăngLong – Hà Nội vào ngày 1/10/2010, bà Irina Bokova - tổng giám đốc UNESCO đã trao bằngcông nhận khu di tích trung tâm Hoàng thành Thăng Long – Hà Nội là Di sản văn hóa thếgiới cho lãnh đạo thành phố Hà Nội.

Hoàng Thành Thăng Long - Trung tâm quyền lực chính trị kiểu châu Á

Về mặt địa lý, đất Thăng Long nằm giữa vùng Đồng Bằng đông dân, trù phú, lại ở vào

vị trí của những đường giao thông quan trọng chủ yếu mà lúc bấy giờ chủ yếu là đường sông.Thuyền bè có thể xuôi ngược khắp đất Kinh kỳ và có dải sông Hồng tỏa đi khắp mọi miềncủa đất nước Đó là nơi quy tụ và tỏa rộng của mạng lưới giao thông, là vị trí “chính giữaNam - Bắc - Đông - Tây”, “chỗ tụ hội trọng yếu của bốn phương”

Về mặt kinh tế - xã hội, từ một làng nhỏ ven sông Tô rồi qua thành Vạn Xuân của nhàtiền Lý, thành Tông Bình - Đại La thời Tùy - Đường, đến đầu thế kỷ XI, đất Thăng Long đãtrở thành một vùng cư dân tập trung, kinh tế phát triển Vùng đó cũng đã có thành lũy, đêđiều có thể coi đây là cơ sở ban đầu và những đường nét cấu trúc thành thị sơ khai của HàNội thời tiền Thăng Long Tất cả những điều kiện tự nhiên và kết quả phát triển lịch sử trênđây cùng với tầm nhìn bao quát và sự phát hiện thiên tài của Lý Công Uẩn, đã dẫn đến chủtrương định đô ở Thăng Long và từ đó, mở ra một thời kỳ mới trong lịch sử nghìn năm vănhiến và anh hùng của Hà Nội Đó là thời kỳ Thăng Long với biểu tượng rồng bay vừa mangkhí thế vươn lên mạnh mẽ của dân tộc, vừa chứa đựng ý niệm thiêng liêng về cội nguồnRồng - Tiên và ước mơ về nguồn nước, mưa thuận gió hòa của cư dân văn minh nông nghiệptrồng lúa nước Năm 1010 đã được ghi vào lịch sử Hà Nội như một mốc lớn với hai sự kiệntrọng đại: Định đô ở vùng Hà Nội và đặt tên thành Thăng Long.Và từ đó, Thăng Long đãvươn lên như Rồng bay trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước, xứng đáng là kinh đôcủa nước đại Việt, là trung tâm chính trị - kinh tế - văn hóa lớn nhất của cả đất nước

Hoàng thành Thăng Long – Hà Nội được ví là nơi giao các giá trị văn hóa của Đông Ávới Đông Nam Á trong tiến trình lịch sử lâu dài Sự giao thoa ấy được biểu hiện qua các hiệnvật lịch sử, công trình kiến trúc, cảnh quan đô thị với bề dày lịch sử lên tới 1000 năm Tổngquan mô hình đô thị, kiểu dáng kiến trúc và nghệ thuật của Thăng Long - Hà Nội mang giátrị độc đáo và tiêu biểu cho sự phát triển liên tục của một trung tâm quyền lực chính trị kiểuChâu Á

Trang 13

phong phú, đa dạng về phong cảnh, đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc, hòa quyện vào cảnhquan kỳ diệu của thiên nhiên Quần thể di tích Cố đô Huế có giá trị đặc biệt về lịch sử,khoa học, văn hóa, nghệ thuật, kiến trúc.

Huế được hình thành kể từ khi hai châu Ô - Rí chính thức thuộc về Đại Việt năm 1306(sau đám cưới của Huyền Trân Công chúa), tích tụ và phát triển lên đến đỉnh cao vào thế kỷXIX; được thể hiện trên nhiều khía cạnh của đời sống văn hóa Huế hiện nay Từ đó tạo nênbản sắc văn hóa Huế độc đáo và cũng là những giá trị tinh thần của Quần thể di tích Cố đôHuế, tạo nên giá trị nổi bật của một kinh đô phong kiến phương Đông

Những di vật trong Quần thể di tích Cố đô Huế chứa đựng và phản ánh cả chiều dàylịch sử mở cõi lẫn quá trình kiến tạo đất nước, ví dụ như những chiếc vạc đồng trong Đại Nộihay ở một số lăng tẩm các vua nhà Nguyễn Mỗi chiếc vạc đồng là một chứng tích của lịch

sử, là vật chứng tiêu biểu ghi lại quá trình “Bình Di phá Trịnh” của các chúa Nguyễn Mỗikhi đem quân đi chiến đấu với quân Trịnh từ phía Bắc đánh xuống hay trực tiếp cầm quân đichinh phạt, bình định Man Di trở về thắng lợi, các chúa Nguyễn đều cho đúc những chiếc vạcđồng để biểu dương cho Võ công Không những thế, mỗi chiếc vạc đồng còn là một tácphẩm độc đáo của nghệ thuật đúc đồng ViệtNam Chúng giống như nội dung của cuốn báchkhoa thư về thiên nhiên, đất nước và con người Việt Nam, thể hiện qua các hình ảnh đúc trênthân vạc Nhiều loài động, thực vật đặc hữu hiện nay đã không còn tồn tại, muốn tìm hiểu,nghiên cứu về chúng chỉ có thể tìm hiểu qua các cuốn “sách đồng” độc nhất vô nhị này.Ngoài ra, trong Quần thể di tích Cố đô Huế còn rất nhiều di vật đặc sắc “có một không hai”như: Cửu đỉnh; Cửu vị Thần công, Ngai vàng Hoàng đế…

Bên cạnh những kiến trúc cung đình lộng lẫy vàng son, Huế còn có hàng trăm ngôichùa thâm nghiêm cổ kính với kiến trúc truyền thống Dưới góc nhìn kiến trúc đô thị, Huếkhông chỉ là một hình mẫu về kiến trúc sinh hoạt truyền thống, mà còn là một điển hình vềkiến trúc không gian - sinh cảnh Nơi đây chính là sự hội tụ về tinh thần của một trung tâmchính trị - văn hóa - nghệ thuật sôi động Ở Huế, đạo Phật và đạo Nho đã thấm sâu, hòaquyện vào văn hóa truyền thống địa phương để rồi từ đó trở thành nguồn lực tinh thần nuôidưỡng những tư tưởng tôn giáo, triết học và đạo lý nhân văn hết sức đặc sắc

Với lịch sử phát triển, truyền thống kinh tế cùng với cách tổ chức, quy hoạch hiện nay,

đô thị Việt Nam có những đặc trưng nổi bật được tổng kết từ nhiều học giả như sau:

Thứ nhất, đô thị Việt Nam có sự đan xen, hòa trộn giữa nông thôn và thành thị ở

hầu như tất cả các mặt (không gian địa lý, cơ sở hạ tầng, dân cư, tôn giáo, văn hóa, hoạt độngkinh tế) do Việt Nam vốn là một nước nông nghiệp, trước đây 90% dân sống ở nông thôn vàhoạt động nghề nông, nay cùng với quá trình hòa nhập với thế giới nói chung, công cuộccông nghiệp hóa – hiện đại hóa ở Việt Nam nói riêng, quá trình đô thị hóa đang diễn ra rộngkhắp và mạnh mẽ

Trang 14

Thứ hai, về chính trị, văn hóa, xã hội: ở đô thị, vấn đề chính trị là nhạy cảm (do

tầng lớp trí thức đông), văn hóa đa dạng, hội tụ, diễn biến phức tạp và tạo nên văn hóa riêng,

đó là văn hóa đô thị Ngoài ra, đô thị là nơi quần cư của nhiều tầng lớp, đa dạng về dân tộc,tôn giáo với nhu cầu xã hội khác nhau, đa dạng và luôn biến động… Từ những yếu tố đó, vấn

đề an ninh quốc phòng tại đô thị cũng cần được chú trọng hơn địa bàn nông thôn

Thứ ba, do lịch sử chính trị của các đô thị cổ (Cổ Loa, Hoa Lư, Thăng Long…) là

một căn cứ chính trị hơn là một đô thị mà ngày nay nhiều học giả đều khẳng định xác đáng

rằng: các đô thị Việt Nam có chức năng của một trung tâm hành chính (của cả nước hoặc tỉnh, huyện) hơn là chức năng kinh tế.

Thứ tư, về tốc độ đô thị hóa: quá trình đô thị hóa ở Việt Nam được đánh giá là chậm

chạp cho đến trước thời kỳ đổi mới và sau đó phát triển mạnh mẽ

Thứ năm, đô thị Việt Nam cũng như các đô thị khác, có vị trí là đầu tàu kinh tế, là

nơi có tỷ lệ phát triển kinh tế cao nhất và cũng đóng góp GDP nhiều nhất so với các khu vựcnông thôn, có vai trò thúc đẩy kinh tế, là cực tác động cho cả nước và khu vực

Như vậy, đô thị có đặc trưng hoàn toàn khác biệt với nông thôn và việc quản lý đô thịcần thiết phải có cơ chế phù hợp Cơ chế đó phải được hình thành từ thể chế pháp lý về tổchức đơn vị hành chính lãnh thổ đô thị, mô hình chính quyền đô thị phù hợp, từ đó, đápứng nhu cầu quản lý đô thị hiệu quả, đáp ứng nhu cầu phát triển đô thị và thúc đẩy pháttriển cả nước và khu vực

3 Lý giải các đặc trưng từ góc độ văn hóa

Nhìn từ góc độ văn hóa, đô thị Việt Nam truyền thống có những đặc trưng như trên vì những yếu tố dưới đây

3.1 Thành thị bị nông thôn chi phối

Đô thị chịu ảnh hưởng của nông thôn và mang đặc tính nông thôn đậm nét Văn hóa Việt nam ngày xưa không phải là văn hóa thành thị, không có hiện tượng thành thị chỉ huy nông thôn để chuyển nền kinh tế tự túc sang kinh tế hàng hoá Ngược lại, chính thành thị lại

bị nông thôn hoá Thể chế làng xã Việt Nam mang tính bao trùm tới mức tất cả các cộng đồng lớn hơn (đô thị, nhà nước) đều là sự phòng chiếu của chính nó.15 Đô thị truyền thống cũng chia thành các phủ, huyện, tổng, thôn Thậm chí, Đô thị lớn nhất nước như Thăng Longchỉ là cửa hàng bán các sản phẩm nông thôn Từng phường chỉ là cái đuôi của từng làng nghềvới thành hoàng làng, và gắn chặt chẽ với làng Đời Gia Long, huyện Thọ Xương ở Hà Nội

15 Trích theo: Đại cương về Văn hóa Việt Nam, Phạm Thái Việt (chủ biên), NXB Văn hóa – thông tin, 2004, tr.91

Trang 15

(quận Hoàn Kiếm và Hai Bà Trưng bây giờ) chia làm 8 tổng Cho đến tận năm 1940, các làng quanh hồ Hoàn Kiếm vẫn còn chức tiên chỉ, thứ chỉ.16 17

Có thể nói: “Siêu làng lớn nhất là nước, là dân tộc”18 Trong lòng các đô thị, cho tới gần đây, thậm chí tận bây giờ, vẫn còn sót lại những ốc đảo làng quê có lũy tre xanh, có tiếng gà kêu, chó sủa Ở Hà Nội, ngay cạnh quảng trường Ba Đình vẫn còn làng hoa Ngọc Hà, ngay gần công viên Lênin có làng Kim Liên Ở Huế, cho đến tân bây giờ không chỉ có những thôn Vĩ

Dạ thơ mộng, làng Phủ Cam làm nón mà cả thành phố vẫn còn nguyên đó chất nông thôn: Người Huế tự hào khoe với dụ khách rằng đây là một "Thành phố nhà vườn".19

3.2 Văn hóa nông thôn chi phối không cho làng xã phát triển thành đô thị

Các làng nghề của Việt nam không thể phát triển được thành các thị trấn, để từ đó phát triển tiếp lên thành các đô thị vì:

 Trước hết, cùng với sự phát triển của nền văn minh nông nghiệp, nhiều nghề thủ công cũng đã ra đời tại các vùng nông thôn Việt Nam, ban đầu là những công việc phụ tranh thủ làm lúc nông nhàn, để chế tại những vật dụng cần thiết trong sinh hoạt, phát triển lên thành nhu cầu trao đổi hàng hóa và tìm kiếm thu nhập ngoài nghề nông Chung quy lại, "nghề" chỉ là một hoạt động phụ thu so với canh tác nông nghiệp của làng Các làng nghề không bị sức ép về sự khan hiếm đất đai canh tác đến độ phải chuyển hẳn sang sống bằng nghề thủ công.20

 Thị trường tiêu thụ không mở rộng được, do hàng hoá tiểu thủ công nghiệp mà các làng nghề sản xuất ra chủ yếu là để phục vụ nhu cầu nhỏ hẹp của tầng lớp quan lại phong kiến Các hoạt động buôn bán những sản phẩm này lại do chính tầng lớp quan lại phong kiến quản lý Chính quyền vua chúa cũng chỉ xem thủ công nghiệp như một hoạt động cung cấp vật phẩm tiêu sái và đổi lấy hàng hóa nước ngoài Việc này dẫn đến hệ quả là: thủ công và thương nghiệp bị bóp nặn đến kiệt sức và không có khả năng tái sản xuất mở rộng, không thể có diện mạo độc lập và do đó, không đủ lực để bứt ra khỏi quỹ đạo của làng xã nông thôn để trở thành một bộ phận kinh tế độc lập Thêm vào đó, hệ thống giao thông thời gian này không phát triển, bởi vậy, việc lưu thông và trao đổi các sản phẩm thủ công trở nên hết sức khó khăn 21

 Ở Việt Nam có một số làng thực hiện chức năng đô thị - các làng công thương ví dụ làng Bát Tràng (Gia Lâm) làm đồ gốm, làng Đại Bái (Bắc Ninh) đúc đồng, làng Bưởi (Từ Liêm) làm giấy, làng Phù Lưu, Đa Ngưu (Hải Dương) buôn thuốc bắc, Nếu ở phương Tây thì những làng như vậy sẽ phát triển dần lên, mở rộng dần ra và tự phát chuyển thành đô thị Nhưng ở Việt Nam thì chúng không trở thành đô thị được Sở dĩ

như vậy là vì do tính cộng đồng, cả làng làm cùng một nghề (sản xuất cùng một sản

phẩm, buôn cùng một mặt hàng) không có sự trao đổi hàng hóa Mặt khác, cũng là do

16 Xem: Trần Ngọc Thêm, Cơ sở văn hóa Việt Nam, NXB Giáo dục, 1999, tr119.

17 Tiên chỉ, thứ chỉ: Là người có phẩm tước, danh vọng, địa vị cao nhất, tuổi tác cũng phải cao nhất và sinh trưởng tại Làng Xã Đây là lớp người đứng đầu có toàn quyền quyết định mọi việc lớn nhỏ trong làng Do đó,

họ là lớp người có quyền thế nhất.

18 Trích theo: GS Hà Văn Tấn, Làng, liên làng, siêu làng-mấy suy nghĩ về phương pháp, Nhà xuất bản Hội Nhà văn, 2005, tr126

19 Thích theo: Trần Ngọc Thêm, Cơ sở văn hóa Việt Nam, NXB Giáo dục, 1999, tr122.

20 Xem: Đại cương về Văn hóa Việt Nam, Phạm Thái Việt (chủ biên), NXB Văn hóa – thông tin, 2004, tr.91

21 Xem: Đại cương về Văn hóa Việt Nam, Phạm Thái Việt (chủ biên), NXB Văn hóa – thông tin, 2004, tr.91-92

Ngày đăng: 02/06/2023, 10:44

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
5. Tổ chức đô thị Di tích lịch sử – văn hoá Hà Nội. Có tại: http://ditichlichsu- vanhoahanoi.com/co-so-van-hoa-viet-nam/van-hoa-to-chuc-doi-song-tap-the/to-chuc-do-thi/ (Truy cập: 10/12/2022) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức đô thị Di tích lịch sử – văn hoá Hà Nội
6. Phạm Thị Ngọc Anh. (2022) Đô thị là gì? Đặc điểm, Chức Năng và Cách phân loại đô thị?, Luật Dương Gia. Có tại: https://luatduonggia.vn/do-thi-la-gi-dac-diem-chuc-nang-va-cach-phan-loai-do-thi/ (Truy cập: 10/12/2022) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đô thị là gì? Đặc điểm, Chức Năng và Cách phân loại đô thị
Tác giả: Phạm Thị Ngọc Anh
Nhà XB: Luật Dương Gia
Năm: 2022
7. Phạm Lan Anh. (2022) Thủ đô Hà Nội có vai trò như thế nào? Cơ Quan tổ chức thủ đô Hà Nội có trách nhiệm thế nào Trong Phạm Vi nhiệm vụ và Quyền HạnCủa Mình?, ThuVienPhapLuat.vn. Có tại:https://thuvienphapluat.vn/phap-luat/thu-do-ha-noi-co-vai-tro-nhu-the-nao-co-quan-to-chuc-thu-do-ha-noi-co-trach-nhiem-the-nao-trong-pha-155642- Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thủ đô Hà Nội có vai trò như thế nào? Cơ Quan tổ chức thủ đô Hà Nội có trách nhiệm thế nào Trong Phạm Vi nhiệm vụ và Quyền HạnCủa Mình
Tác giả: Phạm Lan Anh
Nhà XB: ThuVienPhapLuat.vn
Năm: 2022
8. Đô Thị Hóa Tại Việt Nam trong Bối Cảnh Hội Nhập Quốc Tế - góc học tập - khoa quản trị Kinh Doanh - đại học Duy Tân. Có tại:https://kqtkd.duytan.edu.vn/Home/ArticleDetail/vn/88/4809/do-thi-hoa-tai-viet-nam-trong-boi-canh-hoi-nhap-quoc-te (Truy cập: 15/12/2022) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đô Thị Hóa Tại Việt Nam trong Bối Cảnh Hội Nhập Quốc Tế
Nhà XB: góc học tập
11. Xây dựng đời sống văn hóa đô thị trong quá trình hội nhập quốc tế. Có tại:http://dlib.huc.edu.vn/bitstream/123456789/8119/1/31.1_p057-063.pdf Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng đời sống văn hóa đô thị trong quá trình hội nhập quốc tế
12. Đô thị hóa Việt Nam và những đặc trưng cơ bản của quản lý đô thị trong thời kỳ đổi. Có tại: https://repository.vnu.edu.vn/flowpaper/simple_document.php?subfolder=16%2F53%2F27%2F&doc=165327028666456559686148250735084957729&bitsid=c63be0ab-9f7d-4572-8e69-1862659d8549&uid=&fbclid=IwAR0-tznRm7iyFz0uu65-oniPAinAXBIUzpw7wKS4FI1I2iCb4yPdrW5Cj5Y Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đô thị hóa Việt Nam và những đặc trưng cơ bản của quản lý đô thị trong thời kỳ đổi
13. Dương, P.N. (2006) Di tích Lịch sử Điện Biên Phủ đang bị tàn phá, Báo Công an Nhân dân điện tử. Báo Công an Nhân dân điện tử. Có tại:https://cand.com.vn/Phong-su-tu-lieu/Di-tich-lich-su-Dien-Bien-Phu-dang-bi-tan-pha-i29594/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Di tích Lịch sử Điện Biên Phủ đang bị tàn phá
Tác giả: Dương, P.N
Nhà XB: Báo Công an Nhân dân điện tử
Năm: 2006
14. Từ cuốn sách “Đô thị vị nhân sinh”, nghĩ về văn hóa đô thị Việt Nam hiện nay. Có tại: http://huc.dspace.vn/flowpaper/simple_document.php?subfolder=66%2F99%2F68%2F&doc=66996872530485905851954516422010495076&bitsid=5b7accc8-7063-4d8e-9535-e6ddd52ab37a&uid= Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đô thị vị nhân sinh
15. Cải thiện môi trường ở cho các khu dân cư nghèo đô thị trong quá trình đô thị hóa ở Việt Nam. DSpace at VNU: Nguyễn Tố Lăng. Có tại:https://text.123docz.net/document/4707440-dspace-at-vnu-cai-thien-moi-truong-o-cho-cac-khu-dan-cu-ngheo-do-thi-trong-qua-trinh-do-thi-hoa-o-viet-nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cải thiện môi trường ở cho các khu dân cư nghèo đô thị trong quá trình đô thị hóa ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Tố Lăng
16. Baodientuvtv (2022) Thủ Tướng Phạm Minh chính: Phát triển đô thị là nhiệm vụ Chung của tất cả Các Cấp, Các Ngành, BAO DIEN TU VTV. vtv.vn. Có tại:https://vtv.vn/chinh-tri/thu-tuong-pham-minh-chinh-phat-trien-do-thi-la-nhiem-vu-chung-cua-tat-ca-cac-cap-cac-nganh-20221130123202427.htm (Truy cập:13/12/2022) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thủ Tướng Phạm Minh chính: Phát triển đô thị là nhiệm vụ Chung của tất cả Các Cấp, Các Ngành
Tác giả: Baodientuvtv
Nhà XB: BAO DIEN TU VTV
Năm: 2022
17. Tác động của đô Thị Hóa đến chênh Lệch Giàu Nghèo ở Việt Nam (2021) General Statistics Office of Vietnam. Có tại: https://www.gso.gov.vn/du-lieu-va-so-lieu-thong-ke/2021/12/tac-dong-cua-do-thi-hoa-den-chenh-lech-giau-ngheo-o-viet-nam/ (Truy cập 13/12/2022) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác động của đô Thị Hóa đến chênh Lệch Giàu Nghèo ở Việt Nam
Nhà XB: General Statistics Office of Vietnam
Năm: 2021
9. Phát triển đô Thị Việt Nam – Những Vấn đề đặt Ra Trong Giai đoạn tới. Có tại:https://moc.gov.vn/tl/tin-tuc/74077/phat-trien-do-thi-viet-nam-nhung-van-de-dat-ra-trong-giai-doan-toi.aspx (Truy cập: 13/12/2022) Link
10. Đô Thị Việt Nam - thực trạng và định Hướng Chính Sách. Có tại:https://moc.gov.vn/tl/tin-tuc/74016/do-thi-viet-nam--thuc-trang-va-dinh-huong-chinh-sach.aspx (Truy cập: 09/12/2022) Link
1. Các nguyên tắc cơ bản trong Hội nhập quốc tế Theo quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam, chú trọng công tác đối ngoại cũng như hội nhập quốc tế, tuy nhiên vẫn phải đảm bảo các nguyên tắc sau Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w