1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tiểu luận chuyên đề 1 lovastatin tính chất hóa lý, ứng dụng trong kiểm nghiệm, bảo quản

18 6 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tiểu luận chuyên đề 1 lovastatin tính chất hóa lý, ứng dụng trong kiểm nghiệm, bảo quản
Tác giả Bùi Văn Toán, Chu Lê Trang, Hoàng Trung Tùng, Phạm Anh Vũ
Trường học Hanoi University of Pharmacy
Chuyên ngành Hóa Dược
Thể loại Tiểu luận chuyên đề
Năm xuất bản 2022 – 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 1,22 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Loại thuốc mới này làm giảm tổng hợp cholesterol và nồng độ apolipoprotein B, đồng thời làm tăng hoạt động của thụ thể LDL mà không có tác dụng phụ đối với các sản phẩm khác trong con đư

Trang 1

BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI

BỘ MÔN HÓA DƯỢC

TIỂU LUẬN Chuyên đề 1: LOVASTATIN

Nhóm 4B – Tổ 1 – H1K2

SINH VIÊN THỰC HIỆN

2

3

3 Hoàng Trung Tùng 219105

8

1

Trang 2

2022 – 2023

Đặt Vấn Đề 2

I.Nội dung 3

1 Tên quốc tế, tên khác; công thức cấu tạo 3

2 Nguồn gốc, các phương pháp điều chế chính 3

2.1 Nguồn gốc: 3

2.2 Điều chế từ phương pháp lên men 3

3 Tính chất hóa lý, ứng dụng trong kiểm nghiệm, bảo quản 4

4 Phương pháp kiểm nghiệm (dược điển Anh - 2020) [6] 5

5 Tác dụng, cơ chế tác dụng 5

5.1 Tác dụng 5

5.2 Cơ chế tác dụng 6

6 Dược lực học 7

7 Dược lý/ Dược động học 8

8 Chỉ định, chống chỉ định 8

8.1 Chỉ định 8

8.2 Chống chỉ định 9

9 Các dạng bào chế và dạng phối hợp thường gặp 10

10 Các thông tin khác 11

10.1 Tác dụng không mong muốn 11

10.2 Ứng dụng y sinh 12

10.2.1 Bệnh tim mạch vành 12

10.2.2 Thuốc điều trị bệnh Alzheimer (AD): 12

10.2.3 Lovastatin trong điều trị bệnh thận: 12

10.2.4 Lovastatin và ung thư: 13

10.2.5 Lovastatin điều trị phần xương: 13

II.Kết luận 13

TÀI LIỆU THAM KHẢO 14

Trang 3

Đặt Vấn Đề

Lipid là chất béo được hấp thu từ thực phẩm hoặc được tổng hợp bởi gan Triglycerides (TG) và cholesterol góp phần nhiều nhất đối với bệnh tật, mặc dù tất cả lipid đều quan trọng về mặt sinh lý Cholesterol máu gồm hai loại chính là High Density Lipoprotein Cholesterol

(HDL) và Low Density Lipoprotein Cholesterol (LDL) Cholesterol LDL còn gọi là Cholesterol xấu Nó có thể gây hẹp hoặc tắc nghẽn mạch máu dẫn đến nhồi máu cơ tim hoặc đột quỵ

Cholesterol HDL còn gọi là Cholesterol tốt Nó giúp loại bỏ các lớp mỡ tích tụ bên trong mạch máu và giữ cho mạch máu không bị tắc nghẽn

Mỡ máu cao đã và đang trở thành vấn đề báo động, gây nhiều hậu quả nghiêm trọng Theo thống kê về Gánh nặng bệnh tật toàn cầu vào năm 2019, rối loạn lipid máu, thường được biết tới với tên gọi mỡ máu cao gây ra gần 4,4 triệu ca tử vong, tương đương 7,78% số ca tử vong trên toàn cầu và được xác định là một trong các yếu tố nguy cơ chính của nhiều bệnh mạn tính không lây Tại Việt Nam, cứ 10 người trưởng thành thì có 3 người cholesterol máu cao (chiếm

tỷ lệ 30%), ở thành thị là 44,3% Hơn 50% phụ nữ 50 - 65 tuổi bị thừa cholesterol máu Trong

đó, thừa cholesterol do chế độ dinh dưỡng và vận động không hợp lý là nguyên nhân chính gây nên tình trạng này [4]

Cholesterol máu cao là một trong những yếu tố dẫn đến xơ vữa động mạch và nhiều biến chứng tim mạch nguy hiểm như: nhồi máu cơ tim, đột quỵ, tăng huyết áp, bệnh mạch máu ngoại biên,… Do vậy, kiểm soát ngăn ngừa cholesterol máu cao có vai trò quan trọng trong nâng cao sức khỏe tim mạch

Lovastatin là thuốc đầu tiên trong nhóm thuốc hạ cholesterol mới ức chế cạnh tranh HMG-CoA reductase Loại thuốc mới này làm giảm tổng hợp cholesterol và nồng độ

apolipoprotein B, đồng thời làm tăng hoạt động của thụ thể LDL mà không có tác dụng phụ đối với các sản phẩm khác trong con đường chuyển hóa cholesterol Ở những bệnh nhân tăng

cholesterol máu dị hợp tử có tính chất gia đình hoặc đa gen (không phải gia đình), lovastatin uống 20 đến 40mg hai lần mỗi ngày làm giảm nồng độ cholesterol toàn phần và

LDL-cholesterol trong huyết tương từ 25 đến 40% trong khoảng thời gian vài tuần Lovastatin cũng làm giảm nồng độ triglycerid và LDL-cholesterol trong huyết tương, mặc dù ở mức độ thấp hơn Ngoài ra, nồng độ HDL-cholesterol tăng nhẹ Sử dụng kết hợp lovastatin với các thuốc hạ lipid máu khác dẫn đến giảm hơn nữa nồng độ cholesterol toàn phần và LDL-cholesterol trong huyết tương so với những gì được thấy khi chỉ sử dụng một trong hai loại thuốc Lovastatin vẫn chưa được nghiên cứu theo cách xác định ảnh hưởng của nó đối với tỷ lệ tử vong do tim mạch trong quá trình sử dụng lâu dài Tuy nhiên, nếu những cải thiện đáng kể về thành phần lipid và lipoprotein của bệnh nhân được quan sát thấy trong các nghiên cứu ngắn hạn được duy trì trong thời gian dùng thuốc dài hạn, thì lovastatin sẽ có vai trò quan trọng trong việc kiểm soát tăng lipid máu bằng thuốc [16]

Tiểu luận là tổng hợp của nhiều bài báo khoa học về một số thông tin của Lovastatin bao gồm cấu tạo, tính chất, điều chế, kiểm nghiệm, Từ đó đưa ra cho bạn đọc một cái nhìn tổng

Trang 4

quan về sự phát triển của thuốc loại thuốc Lovastatin - thuốc đầu tiên trong nhóm thuốc hạ cholesterol mới ức chế cạnh tranh HMG-CoA reductase

1 Tên quốc tế, tên khác; công thức cấu tạo

Tên quốc tế: Lovastatin

Tên Tây Ba Nha: lovastatina

Tên Pháp : Lovastatine

Tên La Tinh: Lovastatinum

Tên khoa học: (IS,3R,7S,8S,8aR) - 8 - [2 - [(2R,4R) - 4 - hydroxy - 6 - oxooxan - 2 - yl] ethyl] - 3,7 - dimethyl -I,2,3,7,8,8a - hexahydronaphthalene - I - yl (2S) - 2 - methylbutanoate

Công thức phân tử: C24H36O5

Công thức cấu tạo:

2 Nguồn gốc, các phương pháp điều chế chính

2.1 Nguồn gốc:

Statin lần đầu tiên được phát hiện bởi nhà vi trùng học Nhật Bản Akira Endo trong môi trường lên men Penicillium citrinum vào những năm 1970, trong quá trình tìm kiếm các chất chống vi trùng Công ty dược phẩm Merck & Co đã quan tâm đến nghiên cứu của Nhật Bản vào năm 1976 và đã phân lập được lovastatin (mevinolin, MK803), statin thương mại đầu tiên được bán trên thị trường, từ loại nấm ''Aspergillus terreus''

2.2 Điều chế từ phương pháp lên men

Các sinh vật được báo cáo sản xuất lovastatin như một chất chuyển hóa thứ cấp bao gồm: Aspergillus terreus, Monascus sp, Aspergillus niger, Aspergillus flavus Penicillium purpurogenum, Pleurotus sp, Trichoderma viride, Penicillium sp nhưng với mục đích thương

Trang 5

mại là Penicillium sp , Monascus ruber và Aspergillus terreus dường như được sử dụng phổ biến nhất Aspergillus terreus, một loại nấm quan trọng là nguồn chính cung cấp lovastatin, thuốc điều trị bệnh tim mạch bằng cách ức chế hiệu quả hoạt động của HMG CoA reductase, bước giới hạn tốc độ trong quá trình sinh tổng hợp cholesterol [13]

Sản xuất Lovastatin là một phần của quá trình trưởng thành bình thường của chúng Thiết

kế môi trường lên men là một quá trình quan trọng và quan trọng vì thành phần môi trường có thể ảnh hưởng đáng kể đến năng suất sản phẩm Một môi trường nuôi cấy cân bằng tối ưu là bắt buộc để sản xuất tối đa các chất chuyển hóa thứ cấp Trong số các chất dinh dưỡng nuôi cấy chính, các nguồn carbon và nitơ thường đóng vai trò chủ đạo trong năng suất lên men vì các chất dinh dưỡng này có liên quan trực tiếp đến sự hình thành sinh khối và chất chuyển hóa [13]

Quá trình lên men Aspergillus terreus thường được thực hiện ở 28° và pH 5,8-6,3 Mức

oxy hòa tan được kiểm soát ở mức 40% độ bão hòa không khí Quá trình lên men hàng loạt

thường kéo dài dưới 10 ngày Trong một số trường hợp, sự phát triển dạng viên của A terreus

đã mang lại hiệu giá lovastatin cao hơn so với thu được khi tăng trưởng dạng sợi Thành phần của môi trường lên men ảnh hưởng đến việc cung cấp chất dinh dưỡng và chuyển hóa tế bào trong lò phản ứng sinh học và do đó năng suất của quá trình lên men phụ thuộc vào môi trường nuôi cấy được sử dụng Trong số các chất dinh dưỡng nuôi cấy chính, các nguồn carbon và nitơ thường đóng vai trò chủ đạo trong năng suất lên men vì các chất dinh dưỡng này có liên quan trực tiếp đến sự hình thành sinh khối và các chất chuyển hóa [17]

Quá trình sản xuất sinh khối và lovastatin bằng quá trình lên men ngập nước bắt đầu bằng

bào tử của Aspergillus terreus ATCC 20542 đã được nghiên cứu và chỉ ra rằng quá trình sản

xuất này phụ thuộc vào tuổi của bào tử được sử dụng để cấy và hiệu giá lovastatin được tìm thấy là 186,5 ± 20,1 mg/l trong một tuổi bào tử 16 ngày Thời gian hình thành bào tử trên môi trường nuôi cấy bề mặt rất nhạy cảm với lịch sử tiếp xúc với ánh sáng của nấm và nồng độ cấy bào tử [25]

Trong số một số nguồn nitơ hữu cơ và vô cơ xác định được chuyển hóa bởi A terreus ,

glutamate và histidine cho mức độ sinh tổng hợp lovastatin cao nhất Đối với nuôi cấy trên glucose và glutamate, quá trình tổng hợp lovastatin bắt đầu khi mức tiêu thụ glucose chững lại

Khi A terreus được trồng trên đường lactoza, quá trình sản xuất lovastatin bắt đầu với sự có

mặt của lactoza còn sót lại Kết quả thí nghiệm cho thấy cần phải bỏ đói nguồn carbon ngoài việc giảm bớt sự ức chế glucose, trong khi glutamate không ức chế sinh tổng hợp [28]

Sản xuất lovastatin bằng phương pháp lên men làm giảm chi phí sản xuất so với chi phí tổng hợp hóa học [29]

3 Tính chất hóa lý, ứng dụng trong kiểm nghiệm, bảo quản.

Trang 6

a Tính chất vật lý

- Bột kết tinh màu trắng; nóng chảy ở khoảng 174°C

- Khó tan trong nước; tan trong cloroform và nhiều dung môi hữu cơ khác

- Hấp thụ UV: Các cực đại ở 231; 238 và 247 nm (0,5% trong acetonitrile)

- Định tính, định lượng: Bằng các phương pháp: Phổ UV, IR và HPLC

b Tính chất hóa học

- Tính chất của nhóm -OH

- Tác dụng với kim loại kiềm tạo khí H2 -> Định tính.

- Ester hóa

- Phản ứng loại H2O

- Tính chất của nhóm Ester

- Thủy phân nhóm ester cho nhóm -COOH -> Định tính, định lượng.

c Bảo quản

- Trong điều kiện nitơ, ở nhiệt độ từ 2°C đến 8°C [6]

4 Phương pháp kiểm nghiệm (dược điển Anh - 2020) [6]

Kiểm nghiệm bằng HPLC:

Dung dịch thử: Hoà tan 20,0 mg chế phẩm trong acetonitril (TT) và pha loãng thành

50,0 mL với cùng dung môi

Dung dịch đối chiếu: (a) Hòa tan 20,0 mg lovastatin CRS trong acewnicrile (TT) và pha

loãng thành 50,0 mL với cùng dung môi

Dung dịch đối chiếu: (b) Pha loãng 5,0 mL dung dịch thử thành 100,0 mL với

acetonitrile (TT) Pha loãng 5,0 mL dung dịch này thành 50,0 mL với acetonitrile (TT)

Dung dịch đối chiếu: (c) Hòa tan 4 mg lovastatin để xác định pic CRS (chứa tạp chất A,

B, C) D, E và F) trong acetonitrile (TT) và pha loãng thành 10 mL với cùng dung môi

Cột:

- Kích thước: 0,25x4,6 nm;

- Pha tĩnh: octylsilyl khử hoạt tính bazơ(yl silica gel for,chromatography R (5µm)

Pha động:

Trang 7

- Pha động A: dung dịch axit photphoric 0,1% VIV (TT);

- Pha động B: acetonitrile cho sắc ký R,

Tốc độ dòng: 1,5 ml/phút.

Detector: bước sóng 238 nm.

5 Tác dụng, cơ chế tác dụng

5.1 Tác dụng

Lovastatin là chất ức chế hiệu quả enzym hydroxymethylglutaryl coenzym A (HMG-CoA) reductase (mevalonate: NADP1 oxidoreductase, EC 1.1.1.34) xúc tác quá trình khử HMG-CoA thành mevalonate trong quá trình tổng hợp cholesterol [30]

Khi vòng lacton của lovastatin ở dạng mở, giống như ở gan người, cấu trúc này rất giống với HMG-CoA Người ta đã chứng minh rằng lovastatin và các monacolin khác là những chất

ức chế cạnh tranh rất đặc hiệu của men khử, men này làm giảm nồng độ cholesterol trong huyết thanh bằng cách ngăn chặn quá trình sinh tổng hợp cholesterol Một đặc điểm hấp dẫn của các chất ức chế này là chúng làm giảm có chọn lọc mức độ lipoprotein mật độ thấp (LDL), các lipoprotein xấu Trong khi mức độ lipoprotein mật độ cao (HDL, lipoprotein tốt) vẫn không bị ảnh hưởng, hoặc trong một số trường hợp, thậm chí còn tăng lên [29]

Hình 3 Vai trò của lovastatin trong việc ức chế tổng hợp cholesterol

Trang 8

Cơ chế tế bào và phân tử của statin bằng cách xem xét con đường sinh tổng hợp cholesterol Bước chính dẫn đến giảm tổng hợp cholesterol là giảm tiền chất mevalonate do ức chế HMG-CoA reductase Bằng cách ức chế HMG-CoA thành mevalonate, quá trình sinh tổng hợp hai sản phẩm chính ở hạ nguồn của mevalonate, quá trình sản xuất cholesterol và tổng hợp isoprenoid bị ảnh hưởng

5.2 Cơ chế tác dụng

Hình 2 Cấu trúc của lovastatin

Tất cả các statin đều có cấu trúc chung, hệ thống hexahydro-naphthalene và ß-hydroxylactone; sự khác biệt của chúng là do chuỗi bên (R1) và nhóm methyl (R2) xung quanh vòng

Lovastatin là một lacton dễ dàng bị thủy phân in vivo thành β-hydroxyacid tương ứng và

là chất ức chế mạnh HMG-CoA reductase, một enzym của microsom thể gan xúc tác quá trình chuyển đổi HMG-CoA (3-hydroxy-3-methylglutaryl-coenzym A) thành mevalonate, một bước giới hạn tốc độ sớm trong quá trình sinh tổng hợp cholesterol [5; 22] Ở liều điều trị lovastatin, HMG-CoA reductase không bị chặn hoàn toàn, do đó cho phép có sẵn một lượng mevalonate cần thiết về mặt sinh học Bởi vì việc chuyển đổi HMG-CoA thành mevalonate là một bước đầu tiên trong con đường sinh tổng hợp cholesterol, nên việc điều trị bằng lovastatin sẽ không gây

ra sự tích tụ các sterol có khả năng gây độc [14]

Lovastatin tác dụng chủ yếu ở gan, nơi nồng độ cholesterol trong gan giảm sẽ kích thích tăng điều hòa các thụ thể lipoprotein tỷ trọng thấp (LDL) ở gan, làm tăng hấp thu LDL ở gan Lovastatin cũng ức chế tổng hợp lipoprotein mật độ rất thấp (VLDL) ở gan Hiệu quả tổng thể

là giảm LDL và VLDL huyết tương và giảm đáng kể nguy cơ phát triển bệnh tim mạch và tử vong do mọi nguyên nhân [8; 15; 23; 26; 27]

Tác dụng đáng kể trong việc giảm LDL-C đã được ghi nhận trong vòng 2 tuần kể từ khi bắt đầu dùng lovastatin và đáp ứng điều trị tối đa xảy ra trong vòng 4-6 tuần Đáp ứng được duy trì trong quá trình tiếp tục điều trị Liều duy nhất hàng ngày vào buổi tối có hiệu quả hơn so với cùng một liều dùng vào buổi sáng, có lẽ vì cholesterol được tổng hợp chủ yếu vào ban đêm Khi

Trang 9

ngừng điều trị bằng lovastatin, cholesterol toàn phần đã được chứng minh là sẽ trở lại mức trước khi điều trị [14]

Các nghiên cứu in vitro và in vivo trên động vật cũng chứng minh rằng lovastatin có tác dụng bảo vệ mạch máu độc lập với các đặc tính hạ lipid của nó, còn được gọi là tác dụng đa hướng của statin [19] Điều này bao gồm cải thiện chức năng nội mô, tăng cường sự ổn định của các mảng xơ vữa động mạch, giảm stress oxy hóa và viêm nhiễm, đồng thời ức chế phản ứng tạo huyết khối

Statin cũng đã được tìm thấy để liên kết dị lập thể với kháng nguyên-1 liên quan đến chức năng integrin-1 (LFA-1), đóng vai trò quan trọng trong việc buôn bán bạch cầu và kích hoạt tế bào T [31]

Lovastatin đã được báo cáo là có tác dụng có lợi đối với một số bệnh ung thư Điều này bao gồm sự chết tế bào do căng thẳng đa yếu tố (apoptosis) và phản ứng thoái hóa DNA trong các tế bào ung thư vú [21] Nó cũng đã được chứng minh là có tác dụng ức chế hoạt động của histone deacetylase 2 (HDAC2) và tăng tích lũy histone-H3 đã acetyl hóa và biểu hiện của p21 (WAF/CIP) trong tế bào ung thư ở người, cho thấy rằng statin có thể đóng vai trò là chất ức chế HDAC mới đối với bệnh ung thư trị liệu và phòng ngừa bằng hóa chất [20]

6 Dược lực học

Các nghiên cứu về dược lực học Lovastatin là một chất ức chế cạnh tranh có hồi phục của HMG-CoA reductase trong tế bào gan, một loại enzyme sớm và hạn chế tốc độ trong quá trình sinh tổng hợp cholesterol Lovastatin làm giảm hiệu quả quá trình tổng hợp cholesterol trong cơ thể và trong ống nghiệm mà không làm cạn kiệt kho dự trữ cholesterol quan trọng trong cơ thể

Nó làm giảm đáng kể cholesterol trong huyết tương và LDL-cholesterol ở động vật, trừ loài gặm nhấm, là những động vật bình thường hoặc tăng cholesterol máu Các nghiên cứu với giả dược ở những người tình nguyện khỏe mạnh đã cho thấy lovastatin với liều từ 12,5 đến 100 mg mỗi ngày làm giảm đáng kể nồng độ cholesterol toàn phần trong huyết thanh mà không làm thay đổi đáng kể nồng độ HDL-cholesterol, VLDL-cholesterol và triglycerid trong huyết thanh

Sử dụng lovastatin làm giảm nồng độ apolipoprotein B từ 25 đến 34% ở những người tình nguyện khỏe mạnh dùng liều 6,25 đến 50 mg hai lần mỗi ngày và từ 23 đến 33% ở bệnh nhân tăng lipid máu dùng liều 20 đến 40 mg hai lần mỗi ngày Mức tăng nhỏ khoảng 10% cũng được quan sát thấy đối với nồng độ apolipoprotein A I và A II sau khi dùng liều lovastatin tương tự ở những bệnh nhân tăng cholesterol máu dị hợp tử có tính chất gia đình hoặc không có tính chất gia đình (đa gen) Lovastatin làm tăng số lượng thụ thể LDL ở gan và tăng tỷ lệ dị hóa một phần của LDL Việc giảm nồng độ apolipoprotein B dường như là kết quả của sự gia tăng phân hủy LDL, và do đó nồng độ cholesterol trong huyết tương giảm xuống Chức năng vỏ thượng thận, được đánh giá bằng đáp ứng với ACTH, không bị suy giảm ở bất kỳ mức độ đáng kể nào sau khi sử dụng lovastatin trong thời gian ngắn cho những người tình nguyện khỏe mạnh và bệnh nhân tăng cholesterol máu [16]

7 Dược lý/ Dược động học

HẤP THỤ

Trang 10

Lovastatin Cmax được tìm thấy là 3,013 mg/mL với Tmax là 3,36 giờ [14] Hấp thu giảm một phần ba khi uống thuốc vào lúc đói Thời gian đạt nồng độ đỉnh: 2 - 4 giờ

Nên uống vào bữa ăn để hấp thu tối đa Liều thông thường người lớn: Khởi đầu 20 mg, một lần mỗi ngày, vào bữa ăn tối Ðiều chỉnh liều 4 tuần một lần, nếu cần và nếu dung nạp được Liều duy trì 20 - 80 mg, mỗi ngày uống một lần hoặc hai lần, vào bữa ăn [2]

Khối lượng phân khối: Lovastatin có thể đi qua hàng rào máu não và nhau thai [14] Liên kết protein: Cả lovastatin và chất chuyển hóa axit β-hydroxy của nó đều gắn kết

cao (>95%) với protein huyết tương của người, phần lớn là do tính thân dầu của nó Các nghiên cứu trên động vật đã chứng minh rằng lovastatin đi qua hàng rào máu não và nhau thai [10; 14]

Sự trao đổi chất: Lovastatin được dùng dưới dạng tiền chất lacton và do đó, để tạo ra cơ

chế hoạt động của nó, nó cần được chuyển đổi thành dạng beta-hydroxy có hoạt tính

Con đường đào thải: Sau khi uống một liều lovastatin đánh dấu 14C cho người, 10%

liều dùng được bài tiết qua nước tiểu và 83% qua phân Loại thứ hai đại diện cho thuốc được hấp thụ bài tiết qua mật, cùng với thuốc không được hấp thu [14]

Chu kỳ bán rã: Thời gian bán thải của lovastatin được báo cáo là 13,37 giờ Thời gian

bán hủy đào thải của dạng axit hydroxy của lovastatin được báo cáo là 0,7-3 giờ [14]

8 Chỉ định, chống chỉ định

8.1 Chỉ định

Loạn lipid huyết: Các chất ức chế HMG-CoA reductase được chỉ định bổ trợ cho liệu pháp ăn uống để giảm nồng độ cholesterol toàn phần và cholesterol LDL, apolipoprotein B (apo B) và triglycerid và để làm tăng HDL-c trong huyết tương ở người bệnh tăng cholesterol máu tiên phát và loạn lipid huyết hỗn hợp, tăng cholesterol huyết có tính chất gia đình đồng hợp tử

và tăng triglycerid huyết

Dự phòng tiên phát (cấp 1) tai biến tim mạch: Ở người tăng cholesterol huyết chưa có biểu hiện lâm sàng rõ rệt về bệnh mạch vành, các chất ức chế HMG-CoA reductase được chỉ định kết hợp với liệu phát ăn uống nhằm giảm nguy cơ tai biến mạch vành cấp nặng đầu tiên (thí dụ nhồi máu cơ tim, đau thắt ngực không ổn định, phải làm thủ thuật tái tạo mạch vành, tử vong do mạch vành hoặc đột quỵ)

Dự phòng thứ phát (cấp II) tai biến tim mạch: Ở người bệnh tăng cholesterol máu đã có biểu hiện lâm sàng về bệnh mạch vành, bao gồm nhồi máu cơ tim, và đau thắt ngực trước đó, các chất ức chế HMG-CoA reductase được chỉ định bổ trợ cùng liệu pháp ăn uống nhằm làm giảm nguy cơ tử vong toàn bộ (bằng cách làm giảm tử vong do mạch vành), làm giảm tái diễn nhồi máu cơ tim, đột quỵ hoặc cơn thiếu máu cục bộ thoảng qua, phải nằm viện do suy tim sung huyết, và giảm nguy cơ phải tiến hành thủ thuật tái tạo mạch vành

Dự phòng tai biến tim mạch ở người bệnh đái tháo đường: Các chất ức chế HMG-CoA reductase được sử dụng để bổ trợ liệu pháp ăn uống nhằm làm giảm nồng độ cholesterol toàn phần và LDLcholesterol cao trong huyết thanh và giảm nguy cơ tai biến mạch vành lần đầu hoặc tái diễn (dự phòng tiên phát hoặc thứ phát) ở người bệnh đái tháo đường có hoặc không có bằng chứng lâm sàng mắc bệnh mạch vành và tăng cholesterol máu

Ngày đăng: 02/06/2023, 10:44

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w