1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đối chiếu ẩn dụ cấu trúc trong các bản tin y tế tiếng việt và tiếng anh

217 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đối Chiếu Ẩn Dụ Cấu Trúc Trong Các Bản Tin Y Tế Tiếng Việt Và Tiếng Anh
Tác giả Lê Viên Lan Hương
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Thị Bích Hạnh, PGS. TS. Nguyễn Văn Chính
Trường học Học viện Khoa Học Xã Hội - http://www.vass.gov.vn
Chuyên ngành Ngôn ngữ học so sánh, đối chiếu
Thể loại Luận án tiến sĩ
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 217
Dung lượng 3,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI LÊ VIÊN LAN HƢƠNG ĐỐI CHIẾU ẨN DỤ CẤU TRÚC TRONG CÁC BẢN TIN Y TẾ TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG ANH LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC Hà Nội 2023VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI LÊ VIÊN LAN HƢƠNG ĐỐI CHIẾU ẨN DỤ CẤU TRÚC TRONG CÁC BẢN TIN Y TẾ TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG ANH Ngành: Ngôn ngữ học so sánh, đối chiếu Mã số: 9.22.20.24 LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: 1. TS. Nguyễn Thị Bích Hạnh 2. PGS. TS. Nguyễn Văn Chính Hà Nội 2023LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi. Các số liệu thống kê là hoàn toàn trung thực do tôi thực hiện, không sao chép của ai. Đề tài nghiên cứu và các kết luận khoa học của luận án chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Tác giả luận án Lê Viên Lan HƣơngLỜI CẢM ƠN Tôi xin gửi lời tri ân sâu sắc nhất đến TS. Nguyễn Thị Bích Hạnh và PGS. TS Nguyễn Văn Chính thầy cô đã luôn chỉ dạy tận tình, động viên và khích lệ tôi trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành luận án này; giúp tôi trƣởng thành hơn trên con đƣờng nghiên cứu khoa học. Tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn tới các thầy, cô giáo của Học viện Khoa học xã hội đã giảng dạy, truyền đạt kiến thức và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện luận án. Tôi xin đƣợc tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc Lãnh đạo các phòng, ban, Khoa Ngoại ngữ và đồng nghiệp tại Học viện Quân y đã động viên, giúp đỡ và chia sẻ với tôi về mọi mặt trong quá trình tôi thực hiện luận án này. Tôi luôn ghi nhớ và trân trọng sự nhiệt tình của anh chị em, bạn bè đã luôn ở bên, động viên và góp ý cho tôi để kết quả nghiên cứu đƣợc trọn vẹn. Tôi xin đặc biệt gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới bố mẹ, chồng và các con, cùng toàn thể đại gia đình những ngƣời luôn thƣơng yêu, chia sẻ, ủng hộ và sát cánh bên tôi trên từng bƣớc đƣờng nghiên cứu và phấn đấu. Hà Nội, tháng 5 năm 2023 Tác giả luận án Lê Viên Lan HƣơngMỤC LỤC MỞ ĐẦU ....................................................................................................................1 Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT ...........................................................................................................7 1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu ......................................................................7 1.1.1. Tình hình nghiên cứu về ngôn ngữ y học và bản tin y tế ở nƣớc ngoài...7 1.1.2. Tình hình nghiên cứu về ngôn ngữ y học và bản tin y tế ở trong nƣớc .13 1.1.3. Tiếp cận theo hƣớng tri nhận..................................................................17 1.2. Cơ sở lý luận về đề tài nghiên cứu ..................................................................17 1.2.1. Cơ sở lý luận về ẩn dụ ý niệm ................................................................17 1.2.2. Cơ sở lý luận về ngôn ngữ y học và bản tin y tế ....................................35 1.2.3. Cơ sở lý luận về ngôn ngữ học đối chiếu (Contrastive Linguistics) ......39 1.3. Tiểu kết..............................................................................................................41 Chƣơng 2: ĐỐI CHIẾU HIỆN TƢỢNG CHỒNG LẤN TRONG CÁC ẨN DỤ CÓ MIỀN ĐÍCH “BỆNH TẬT DỊCH BỆNH” TRONG BẢN TIN Y TẾ TIẾNG VIỆT TIẾNG ANH..............................................................43 2.1. Dẫn nhập ...........................................................................................................43 2.2. Ẩn dụ ý niệm BỆNH TẬT DỊCH BỆNH LÀ CHIẾN TRANH ..................45 2.2.1. Ẩn dụ ý niệm CÁC LOẠI BỆNH TẬT DỊCH BỆNH LÀ KẺ THÙ TRONG CUỘC CHIẾN..................................................................................46 2.2.2. Ẩn dụ ý niệm ĐỘI NGŨ Y BÁC SĨ, BỆNH NHÂN, LIỆU PHÁP Y SINH LÀ NHỮNG NGƢỜI LÍNH THAM CHIẾN........................................49 2.2.3. Ẩn dụ ý niệm LIỆU PHÁP Y SINH HỆ MIỄN DỊCH LÀ VŨ KHÍ SỬ DỤNG TRONG CUỘC CHIẾN ................................................................51 2.2.4. Ẩn dụ ý niệm PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ VÀ CƠ CHẾ PHÕNG VỆ CỦA CƠ THỂ LÀ CHIẾN THUẬT TRONG CHIẾN TRANH ....................54 2.2.5. Ẩn dụ ý niệm MỨC ĐỘ NGUY HIỂM CỦA BỆNH TẬT LÀ MỨC ĐỘ NGUY HIỂM CỦA CUỘC CHIẾN..........................................................57 2.2.6. Ẩn dụ ý niệm THẤT BẠI CHIẾN THẮNG TRONG ĐIỀU TRỊ BỆNH DỊCH BỆNH LÀ THẤT BẠI CHIẾN THẮNG TRONG CUỘC CHIẾN..........592.3. Ẩn dụ ý niệm BỆNH TẬT DỊCH BỆNH LÀ THIÊN TAI..........................63 2.3.1. Ẩn dụ ý niệm BỆNH TẬT DỊCH BỆNH NGUY HIỂM LÀ THIÊN TAI 64 2.3.2. Ẩn dụ ý niệm TÁC ĐỘNG CỦA BỆNH TẬT DỊCH BỆNH ĐẾN CỘNG ĐỒNG LÀ TÁC ĐỘNG TIÊU CỰC CỦA THIÊN TAI ....................68 2.4. Ẩn dụ ý niệm BỆNH TẬTDỊCH BỆNH LÀ TRẬN THI ĐẤU THỂ THAO .72 2.5. Tiểu kết..............................................................................................................76 Chƣơng 3: ĐỐI CHIẾU HIỆN TƢỢNG CHỒNG LẤN TRONG CÁC ẨN DỤ CÓ MIỀN ĐÍCH “THỰC THỂ Y SINH” TRONG BẢN TIN Y TẾ TIẾNG VIỆT TIẾNG ANH ........................................................................80 3.1. Dẫn nhập ...........................................................................................................80 3.2. Ẩn dụ ý niệm THỰC THỂ Y SINH LÀ CON NGƢỜI ................................81 3.2.1. Ẩn dụ ý niệm THỰC THỂ Y SINH LÀ CON NGƢỜI SINH HỌC .....81 3.2.2. Ẩn dụ ý niệm THỰC THỂ Y SINH LÀ TỘI PHẠM KHỦNG BỐ ...103 3.2.3. Ẩn dụ ý niệm THỰC THỂ Y SINH LÀ ĐỘI QUÂN PHÕNG VỆ.....117 3.2.4. Ẩn dụ ý niệm THỰC THỂ Y SINH LÀ NGƢỜI LÍNH THAM CHIẾN121 3.3. Ẩn dụ ý niệm THỰC THỂ Y SINH LÀ THÔNG TIN ...............................126 3.3.1. Ẩn dụ ý niệm THỰC THỂ Y SINH LÀ HỆ THỐNG KÝ TỰ VĂN BẢN127 3.3.2. Ẩn dụ ý niệm THỰC THỂ Y SINH LÀ HỆ THỐNG TÍN HIỆU, MẬT MÃ........................................................................................................130 3.4. Ẩn dụ ý niệm THỰC THỂ Y SINH LÀ MÁY MÓC..................................133 3.4.1. Ẩn dụ CÁC DẠNG THỰC THỂ Y SINH LÀ CÁC LOẠI BỘ PHẬN MÁY MÓC........................................................................................134 3.4.2. Ẩn dụ CƠ CHẾ VẬN HÀNH CỦA THỰC THỂ Y SINH LÀ CƠ CHẾ VẬN HÀNH CỦA MÁY MÓC............................................................138 3.4.3. Ẩn dụ KHẢ NĂNG TỰ THIẾT KẾ, ĐIỀU CHỈNH CỦA THỰC THỂ Y SINH LÀ KỸ THUẬT THIẾT KẾ VÀ BẢO TRÌ MÁY MÓC .......140 3.5. Ẩn dụ ý niệm THỰC THỂ Y SINH LÀ PHƢƠNG TIỆN .........................142 3.5.1. Ẩn dụ ý niệm KHẢ NĂNG XÂM NHẬP, ĐIỀU KHIỂN CỦA THỰC THỂ Y SINH LÀ KHẢ NĂNG XÂM NHẬP, ĐIỀU KHIỂN CỦA PHƢƠNG TIỆN .............................................................................................1433.5.2. Ẩn dụ ý niệm CHỨC NĂNG CỦA THỰC THỂ Y SINH LÀ CHỨC NĂNG CỦA PHƢƠNG TIỆN .......................................................................146 3.6. Ẩn dụ ý niệm THỰC THỂ Y SINH LÀ HỆ THỐNG PHÕNG VỆ ..........148 3.7. Các ẩn dụ ý niệm chỉ xuất hiện trong bản tin y tế tiếng Anh ....................151 3.7.1. Ẩn dụ ý niệm THỰC THỂ Y SINH LÀ ĐỘNG VẬT HOANG DÃ THÖ SĂN MỒI .............................................................................................151 3.7.2. Ẩn dụ ý niệm THỰC THỂ Y SINH LÀ MÓN ĂN .............................156 3.8. Tiểu kết chƣơng..............................................................................................159 KẾT LUẬN ............................................................................................................164 DANH MỤC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ.........................169 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.............................................................170 PHỤ LỤC 1 PHỤ LỤC 2 PHỤ LỤC 3DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT AD: Ẩn dụ BT: Biểu thức MIP: Metaphor Identification Procedure (Quy trình nhận dạng ẩn dụ) MĐ: Miền đích MN: Miền nguồn NNH: Ngôn ngữ học TA: Tiếng Anh TV: Tiếng Việt ADYN: Ẩn dụ ý niệm TTYS: Thực thể y sinh BTAD: Biểu thức ẩn dụDANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 2.1: Thống kê các ẩn dụ bậc dƣới của ẩn dụ BỆNH TẬT DỊCH BỆNH LÀ CHIẾN TRANH ...............................................................................................45 Bảng 2.2: Lƣợc đồ ánh xạ BỆNH TẬT DỊCH BỆNH LÀ CHIẾN TRANH ..........45 Bảng 2.3: Thống kê các ẩn dụ bậc dƣới của ẩn dụ BỆNH TẬT DỊCH BỆNH LÀ THIÊN TAI ......................................................................................................63 Bảng 2.4: Lƣợc đồ ánh xạ BỆNH TẬT DỊCH BỆNH LÀ THIÊN TAI .................64 Bảng 2.5: Thống kê các ẩn dụ bậc dƣới của ẩn dụ BỆNH TẬTDỊCH BỆNH LÀ TRẬN THI ĐẤU THỂ THAO.........................................................................72 Bảng 2.6: Lƣợc đồ ánh xạ BỆNH TẬTDỊCH BỆNH LÀ TRẬN THI ĐẤU THỂ THAO ...............................................................................................................73 Bảng 3.1: Thống kê các ẩn dụ bậc dƣới của ẩn dụ THỰC THỂ Y SINH LÀ CON NGƢỜI SINH HỌC .........................................................................................82 Bảng 3.2: Lƣợc đồ ánh xạ THỰC THỂ Y SINH LÀ CON NGƢỜI SINH HỌC ....83 Bảng 3.3. Thống kê các ẩn dụ bậc dƣới của ẩn dụ THỰC THỂ Y SINH LÀ TỘI PHẠM KHỦNG BỐ .....................................................................................103 Bảng 3.4: Lƣợc đồ ánh xạ THỰC THỂ Y SINH LÀ TỘI PHẠM KHỦNG BỐ ..104 Bảng 3.5. Thống kê các ẩn dụ bậc dƣới của ẩn dụ THỰC THỂ Y SINH LÀ ĐỘI QUÂN PHÕNG VỆ .......................................................................................118 Bảng 3.6. Thống kê các ẩn dụ bậc dƣới của ẩn dụ THỰC THỂ Y SINH LÀ NGƢỜI LÍNH THAM CHIẾN ......................................................................122 Bảng 3.7: Thống kê các ẩn dụ bậc dƣới của ẩn dụ THỰC THỂ Y SINH LÀ THÔNG TIN..................................................................................................................126 Bảng 3.8. Lƣợc đồ ánh xạ THỰC THỂ Y SINH LÀ THÔNG TIN.......................127 Bảng 3.9: Thống kê các ẩn dụ bậc dƣới của ẩn dụ THỰC THỂ Y SINH LÀ MÁY MÓC.....................................................................................................134 Bảng 3.10: Lƣợc đồ ánh xạ THỰC THỂ Y SINH LÀ MÁY MÓC .......................134 Bảng 3.11: Thống kê các ẩn dụ bậc dƣới của ẩn dụ THỰC THỂ Y SINH LÀ PHƢƠNG TIỆN ..............................................................................................142Bảng 3.12: Lƣợc đồ ánh xạ THỰC THỂ Y SINH LÀ PHƢƠNG TIỆN ...............143 Bảng 3.13. Thống kê tần suất xuất hiện của ẩn dụ THỰC THỂ Y SINH LÀ HỆ THỐNG PHÕNG VỆ.....................................................................................148 Bảng 3.14. Lƣợc đồ ánh xạ THỰC THỂ Y SINH LÀ HỆ THỐNG PHÕNG VỆ .148 Bảng 3.15. Thống kê các ẩn dụ bậc dƣới của ẩn dụ THỰC THỂ Y SINH LÀ ĐỘNG VẬT HOANG DÃ THÖ SĂN MỒI.................................................152 Bảng 3.16. Lƣợc đồ ánh xạ THỰC THỂ Y SINH LÀ ĐỘNG VẬT HOANG DÃ THÖ SĂN MỒI ..............................................................................................152 Bảng 3.17. Thống kê các ẩn dụ bậc dƣới của ẩn dụ THỰC THỂ Y SINH LÀ MÓN ĂN ........................................................................................................157 Bảng 3.18. Lƣợc đồ ánh xạ THỰC THỂ Y SINH LÀ MÓN ĂN...........................157DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ Hình 2.1: Tần suất sử dụng của các tiểu loại ẩn dụ có miền đích BỆNH TẬT DỊCH BỆNH trong các bản tin y tế tiếng Việt tiếng Anh .............................44 Hình 2.2: Tính tầng bậc của ẩn dụ có miền đích BỆNH TẬT DỊCH BỆNH trong các bản tin y tế tiếng Việt tiếng Anh ....................................................44 Hình 3.1: Tần suất sử dụng của các tiểu loại ẩn dụ trong ẩn dụ có miền đích THỰC THỂ Y SINH trong các bản tin y tế tiếng Việt tiếng Anh.................................80 Hình 3.2: Tính tầng bậc của ẩn dụ có miền đích THỰC THỂ Y SINH trong các bản tin y tế tiếng Việt tiếng Anh ....................................................................811 MỞ ĐẦU 1. Lý do lựa chọn đề tài Những năm gần đây, NNH tri nhận đã trở thành một trào lƣu nổi bật trong nghiên cứu ngôn ngữ gắn liền với tƣ duy. Một trong những trọng tâm của khuynh hƣớng này là việc tiếp cận ADYN và sự phản ánh chúng vào ngôn ngữ. Nó không dừng lại ở việc miêu tả mà còn đạt nhiều thành tựu trong giải thích cơ chế hình thành và vận hành ngôn ngữ. Cùng các hỗ trợ liên ngành, lý thuyết ADYN và việc áp dụng lý thuyết này vào nghiên cứu diễn ngôn thực sự là một công cụ hữu hiệu để tìm hiểu các đặc trƣng ngôn ngữ và tƣ duy gắn liền với bối cảnh văn hóa, xã hội của cộng đồng, trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến nền tảng kinh nghiệm trong tâm trí ngƣời dùng ngôn ngữ. Với ƣu thế đặc biệt trên nhiều lĩnh vực, trong đó có giao tiếp, TA đã trở thành một ngôn ngữ quốc tế, đƣợc sử dụng rộng rãi trên thế giới. Tại Việt Nam, TA luôn là môn học nhận đƣợc sự quan tâm sâu sắc ở bất cứ bậc học nào. Ở Học viện Quân y, ngoài việc học TA cơ sở trong hai năm đầu, học viên còn đƣợc tiếp cận với TA chuyên ngành y. Trong bối cảnh của nền cách mạng công nghiệp 4.0 đang diễn ra nhƣ vũ bão đã giúp cho việc cập nhật các thông tin mới một cách đơn giản, liên tục và tức thời về mọi mặt của đời sống xã hội, trong đó có y tế, một lĩnh vực đƣợc nhiều ngƣời quan tâm bởi nó liên quan đến tiêu chí đánh giá hạnh phúc của con ngƣời. Hằng ngày, để nắm bắt đƣợc các tin tức mà không phải mất nhiều thời gian, mọi ngƣời có thể dễ dàng truy cập vào các trang web, bản tin y tế trên vtv.vn, dantri.com.vn… và bản tin y tế trên trang cnn.com, nytimes.com… Đây là các kênh thông tin có độ tin cậy cao, thu hút, phản ánh thông tin y tế nhanh chóng. Tuy nhiên, khi đọc các bài báo về y học bằng TA trên các kênh đó, bản thân tôi cùng các đồng nghiệp cũng nhƣ nhiều học viên đã gặp không ít lúng túng trong quá trình dịch chuyển nghĩa các từ, cụm từ, từ TA sang TV, đặc biệt những chỗ tác giả sử dụng ý niệm AD, dẫn đến không chuyển tải hết nghĩa gốc mà ngƣời viết muốn đề cập đến. Hơn nữa, các nghiên cứu diễn ngôn y tế cho đến nay còn rất mới mẻ, chƣa đƣợc quan tâm thích đáng. Xuất phát từ tình hình thực tiễn, chúng tôi nhận thấy cần phải có một nghiên cứu thấu đáo, cụ thể về vấn đề này, một mặt góp phần tìm ra phƣơng pháp giải quyết khó khăn và nâng cao chất lƣợng giảng dạy. Mặt khác, làm phong phú thêm kho tàng diễn ngôn trong y học, giúp những ngƣời làm công tác y tế có thể chủ động sử dụng những ý niệm AD trong công việc hằng ngày.2 Nghiên cứu về AD tri nhận trong các văn bản y tế là một hƣớng tiếp cận rất mới. Mặc dù tần suất sử dụng ý niệm AD trong các văn bản y tế khá cao nhƣng cho đến nay ở Việt Nam chƣa có công trình nghiên cứu nào đề cập đến. Với phƣơng châm kế thừa, tiếp nối hƣớng nghiên cứu của những ngƣời đi trƣớc, đồng thời khai thác những cái mới, chúng tôi quyết định tập trung đi sâu vào nghiên cứu đề tài “Đối chiếu AD cấu trúc trong các bản tin y tế TV và TA” để chỉ ra những mô hình AD tri nhận chủ yếu mà ngƣời viết hay sử dụng nhằm mục đích tác động một cách mạnh mẽ nhất đến ngƣời đọc. Việc phân tích AD trong loại văn bản đặc thù này và đối chiếu với những cách diễn đạt tƣơng ứng trong TA sẽ góp phần soi sáng một số khía cạnh trong cách thức tri nhận thế giới của ngƣời Anh và ngƣời Việt, đào sâu thêm một số vấn đề về văn hóa ngôn ngữ, đồng thời bổ sung thêm một góc nhìn mới vào những nghiên cứu về AD tri nhận, giúp cho việc giảng dạy và học tập TA chuyên ngành tại Học viện Quân y thêm phong phú, chất lƣợng, hiệu quả và lý thú hơn. 2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2.1. Mục đích nghiên cứu Vận dụng lý thuyết về ADYN nói chung và AD cấu trúc nói riêng, luận án xác định và đối chiếu việc sử dụng các BTADYN trong các bản tin y tế TV và TA trên các thời báo điện tử; xác định các điểm tƣơng đồng và dị biệt giữa hai ngôn ngữ; từ đó đề xuất một số hàm ý khi sử dụng các diễn ngôn y tế và ứng dụng trong các lĩnh vực ngôn ngữ. 2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu Với mục đích làm sáng tỏ việc sử dụng AD cấu trúc trong các bản tin y tế TV và TA, luận án đề ra các nhiệm vụ nghiên cứu sau đây: 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu về ADYN trên thế giới và Việt Nam, đặc biệt là nghiên cứu về ADYN trong các văn bản y tế nói chung và các bản tin y tế nói riêng. 2. Hệ thống hoá các quan điểm lý luận về ADYN và các khái niệm có liên quan làm cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu. 3. Xác lập các BT ngôn ngữ của ADYN trong các bản tin y tế TV và TA: Các mô hình ADYN nào đƣợc sử dụng, các ADYN đƣợc xây dựng trên cơ sở ánh xạ nào và tần suất sử dụng các bản tin y tế, làm rõ hiện tƣợng chồng lấn AD giữa các MN. 4. Miêu tả, phân tích, đối chiếu các mô hình ADYN, hiện tƣợng chồng lấn AD trong 2 khối ngữ liệu để lý giải điểm tƣơng đồng và dị biệt giữa hai ngôn ngữ, từ đó khẳng định mối quan hệ biện chứng giữa bộ ba Ngôn ngữ Văn hóa Tƣ duy.3 3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 3.1. Đối tƣợng nghiên cứu Đối tƣợng nghiên cứu của luận án là các BTADYN trong các bản tin y tế TV và TA. 3.2. Phạm vi nghiên cứu Ngữ liệu nghiên cứu giới hạn trong phạm vi văn bản là các bản tin điện tử hằng ngày về y tế của Việt Nam và Mỹ trong khoảng thời gian giới hạn từ 01012019 31082022. Do hạn chế về mặt thời gian và dung lƣợng, luận án chỉ tập trung nghiên cứu các mô hình AD cấu trúc để làm rõ cơ chế ánh xạ; cách thức tri nhận và phân tích nghĩa AD của các đơn vị từ vựng, qua đó bƣớc đầu kiến giải chức năng dụng học của các mô hình AD đó trong hai ngôn ngữ. 4. Phƣơng pháp nghiên cứu và ngữ liệu nghiên cứu 4.1. Phƣơng pháp nghiên cứu Để thực hiện việc khảo sát và nghiên cứu đề tài, luận án sử dụng tổng hợp các phƣơng pháp nghiên cứu sau đây: Phư ng pháp miêu t : Sử dụng để miêu tả cơ chế ẩn dụ, cơ chế ánh xạ và chuyển di các thuộc tính giữa hai miền “nguồn” “đích”, miêu tả sự chồng lấn giữa các AD có cùng chung cấu trúc khái niệm đích và phân tích, làm rõ tính dụng học của AD theo các khung lý thuyết của ngôn ngữ học tri nhận đƣợc sử dụng trong các bản tin y tế TV và TA mà luận án khảo sát. Phư ng pháp so sánh đối chiếu: Đƣợc sử dụng để so sánh các mô hình ADYN trong khối ngữ liệu của hai ngôn ngữ. Cụ thể, luận án đã tiến hành áp dụng phƣơng thức đối chiếu hai chiều để tìm ra những n t tƣơng đồng và dị biệt của ẩn dụ cấu trúc trong các bản tin y tế TV và TA. Thủ pháp thống kê, phân loại: Đƣợc dùng để tập hợp, phân loại và thống kê các BTAD trong khối ngữ liệu theo các nhóm để phục vụ mục tiêu nghiên cứu. 4.2. Ngữ liệu nghiên cứu Chúng tôi sử dụng ngữ liệu gồm 500 bản tin TV với 357 BTAD và 500 bản tin TA với 658 BTAD để tiến hành nghiên cứu. Tƣ liệu là những bản tin đƣợc thu thập và lựa chọn, chủ yếu trong chuyên mục Sức khoẻ và một số chuyên mục khác nhƣ Đời sống, Kinh tế, Bàn luận, Khoa học… từ những trang web có độ tin cậy cao và phổ biến trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam (http:vtv.vn; http:dantri.com.vn; http:vietnamnet.vn) và Mỹ (http:nytimes.com; http:cnn.com;... ). Thời gian thu thập ngữ liệu trong thời4 gian 42 tháng (từ tháng 12019 đến tháng 82022) để đảm bảo tính cập nhật. Ngữ liệu bao gồm 45 mặt bệnh phổ biến nhƣ cảm cúm, cảm lạnh, sốt xuất huyết, sốt r t, miễn dịch, vaccine, các loại biến đổi gen, ung thƣ, vi khuẩn, virus, HIV, lão hoá, các loại u, di truyền, DNA, tế bào, bệnh parkinson, bệnh alzheimer... Sau khi thu thập, ngữ liệu đƣợc chia thành hai nhóm: ngữ liệu TV (đƣợc mã hoá từ V1 đến V500) và ngữ liệu TA (đƣợc mã hoá từ A1 đến A500). Với các ngữ liệu TA, luận án sử dụng bản dịch thô (do nghiên cứu sinh dịch) cho các BT ngôn ngữ và đƣợc đặt trong ngoặc vuông sau BT nhằm làm sáng rõ ý niệm sử dụng trong các diễn ngôn. Ngữ liệu đƣợc xử lý theo hai bƣớc. Bƣớc đầu tiên: Dựa vào khung lý luận về AD trong Chƣơng 1, các BTAD trong các bản tin y tế thuộc khối ngữ liệu nghiên cứu đƣợc nhận diện. Dựa vào các đặc điểm của MN, các AD tìm thấy đƣợc chia thành các MN, sau đó phân chia thành các tiểu loại tùy theo MN đƣợc sử dụng để kích hoạt các AD này. Khi đối chiếu với khung lý thuyết, luận án xếp các nhóm AD có cùng chung miền đích thành một nhóm, từ đó tìm cách giải mã dựa trên cơ chế chiếu xạ và chuyển di thuộc tính giữa hai miền “nguồn’ và “đích”. Bƣớc thứ hai: Luận án tiến hành đối chiếu các AD tìm đƣợc trong mỗi tiểu loại giữa TV và TA để kiến giải về điểm tƣơng đồng và dị biệt giữa hai ngôn ngữ, từ đó làm rõ mô hình chồng lấn AD trong bản tin y tế TV, TA. 5. Đóng góp mới của luận án 5.1. Đóng góp về lý luận Cho đến nay, đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về ngôn ngữ học tri nhận với việc áp dụng thành tựu của các khung lý thuyết ngôn ngữ học tri nhận trong nhiều lĩnh vực, nhƣng đây là luận án đầu tiên ở Việt Nam nghiên cứu về đề tài AD cấu trúc trong các bản tin y tế một lĩnh vực hiện còn bỏ ngỏ. Kế thừa cơ sở lý luận của những nghiên cứu đi trƣớc, luận án đã hệ thống một cách có chọn lọc những khái niệm cốt lõi về NNH tri nhận và ADYN qua việc đi vào nghiên cứu chuyên sâu mô hình AD đƣợc tìm thấy trong ngữ liệu và kiến giải cho những tƣơng đồng và khác biệt giữa hai ngôn ngữ, làm rõ tính chồng lấn trong các mô hình ẩn dụ. 5.2. Đóng góp về thực tiễn Các sơ đồ tầng bậc của AD cấu trúc đƣợc xây dựng nên để so sánh đối chiếu tần suất, ánh xạ và đặc trƣng ngôn ngữ của các AD. Từ đó xác định sự giống nhau và khác nhau trong cách tri nhận về các vấn đề liên quan đến sức khỏe nói chung, các mặt bệnh nói riêng, từ đó làm rõ hơn mối quan hệ giữa ngôn ngữ, văn hóa và tƣ duy trong các5 thông tin liên quan đến lĩnh vực y tế và sức khoẻ. Kết quả nghiên cứu góp phần bổ sung và làm rõ phƣơng thức tƣ duy về thế giới khách quan của hai cộng đồng ngôn ngữ nói chung, cách tri nhận về các vấn đề liên quan đến y tế công cộng, công tác khám chữa, điều trị, chăm sóc sức khoẻ cộng đồng nói riêng. Đồng thời đây cũng có thể trở thành tài liệu tham khảo hữu ích phục vụ cho hoạt động nghiên cứu, giảng dạy, biên phiên dịch trong các trƣờng có đào tạo ngành Y khoa, Báo chí, giảng dạy tiếng Anh nhƣ một ngoại ngữ. Luận án cũng chỉ ra các mô hình AD cấu trúc và tần suất sử dụng trong bản tin y tế kết hợp một số bình luận về vai trò của AD cấu trúc trong các diễn ngôn y học. Đây là cơ sở tham khảo giúp những nhà nghiên cứu nói chung và những ngƣời làm trong lĩnh vực y tế nói riêng nhận thức đƣợc tầm quan trọng trong việc lựa chọn ngôn ngữ để phản ánh các vấn đề liên quan đến công tác chăm sóc y tế và khám chữa bệnh nói chung, đồng thời là cơ sở cho các biên tập viên sử dụng AD nhƣ một phƣơng tiện giao tiếp và truyền tải thông tin hữu hiệu khi viết và biên tập những tin tức y tế. 6. Ý nghĩa của luận án 6.1. Ý nghĩa lý luận Các kết quả nghiên cứu của luận án góp phần củng cố lý thuyết của NNH tri nhận và làm rõ thêm về lý thuyết ADYN, lý thuyết về hiện tƣợng chồng lấn ẩn dụ thông qua ngữ liệu bản tin y tế. Luận án cũng tiếp tục khẳng định ƣu thế và vai trò của ADYN trong diễn ngôn, qua đó củng cố thêm tính đa dạng văn hóa của ADYN. Ở Việt Nam, đây là công trình nghiên cứu một cách có hệ thống đầu tiên các AD cấu trúc về sức khỏe nói chung và các mặt bệnh nói riêng trên thể loại bản tin y tế. Luận án mở ra hƣớng nghiên cứu sâu hơn về thể loại ngôn ngữ y tế mà lâu nay chƣa nhận đƣợc nhiều sự quan tâm của các nhà ngôn ngữ học. 6.2. Ý nghĩa thực tiễn Nghiên cứu này trƣớc hết sẽ có ý nghĩa đối với những độc giả của bản tin y tế, những ngƣời làm công tác nghiên cứu ngôn ngữ hiểu sâu hơn về ẩn dụ ý niệm nói chung và AD cấu trúc nói riêng trong các diễn ngôn y tế theo góc độ NNH tri nhận. Đồng thời, luận án cũng sẽ giúp cho những ngƣời làm công tác biên phiên dịch tài liệu y tế, cho giảng viên biên soạn và thiết kế tài liệu giảng dạy TA chuyên ngành, cho sinh viên đang theo học TA chuyên ngành y tế tại các trƣờng đại học hiểu sâu hơn về ẩn dụ tri nhận trong các bản tin y tế tiếng Việt và tiếng Anh.6 Ngoài ra, đối với lĩnh vực báo chí, các kết quả nghiên cứu của luận án có thể giúp ích cho công tác viết tin, dịch tin tức cũng nhƣ bình luận các bản tin y tế. 7. Bố cục của luận án Ngoài các phần chung nhƣ Phần mở đầu, Phần kết luận, Phụ lục và Tài liệu tham khảo, luận án có kết cấu gồm 3 chƣơng chính sau: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận Chƣơng này trình bày tổng hợp và phân tích các nghiên cứu có liên quan đến ngôn ngữ y học và ADYN trong các văn bản y tế. Một số vấn đề lý luận chung về ADYN, hiện tƣợng chồng lấn AD, NNH so sánh đối chiếu, ngôn ngữ y học và bản tin y tế cũng đƣợc trình bày trong chƣơng này. Chƣơng 2: Đối chiếu hiện tƣợng chồng lấn trong các ADYN có MĐ “bệnh tật dịch bệnh” trong bản tin y tế tiếng Việt tiếng Anh Dựa trên lý thuyết của AD cấu trúc, lý thuyết về hiện tƣợng chồng lấn ẩn dụ, các mô hình AD có chung MĐ “bệnh tật dịch bệnh” đƣợc sắp xếp và phân tích, lý giải theo tầng bậc, theo các thuộc tính ánh xạ. Các mô hình AD với MN khác nhau cùng tập hợp kiến tạo nên một ý MĐ đƣợc xác định là chồng lấn lên nhau nhờ các tƣơng đồng trong thuộc tính ánh xạ. Các tri thức từ nhiều MN đƣợc kích hoạt và chọn lọc để cùng làm rõ một ý niệm đích. Từ đó, luận án đối chiếu để tìm ra những điểm tƣơng đồng và khác biệt giữa hai ngôn ngữ. Chƣơng 3: Đối chiếu hiện tƣợng chồng lấn trong các ADYN có MĐ “thực thể y sinh” trong bản tin y tế tiếng Việt tiếng Anh Chƣơng này đi sâu phân tích các mô hình AD có MĐ “TTYS”, làm rõ tính tầng bậc trong cấu trúc ẩn dụ. Dựa trên lý thuyết của AD cấu trúc, lý thuyết về hiện tƣợng chồng lấn AD, luận án chỉ ra sự chồng lấn trong các cấu trúc ý niệm căn cứ trên các tri thức đƣợc chuyển di từ MN lên MĐ, các tƣơng đồng ánh xạ giữa các mô hình ý niệm. Chứng minh hiện tƣợng nhiều MN cùng đƣợc huy động để cấu trúc nên một miền ý niệm đích là hiện tƣợng chồng lấn AD. Tập hợp các MN đƣợc sử dụng để giải thích và làm rõ một MĐ tạo thành một ma trận miền.7 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1.1.1. Tình hình nghiên cứu về ngôn ngữ y học và bản tin y tế ở nƣớc ngoài Theo khảo sát của chúng tôi, về lĩnh vực ngôn ngữ y tế nói chung, các nhà nghiên cứu đã tiếp cận theo nhiều hƣớng khác nhau. Nhìn chung, các nghiên cứu ban đầu chủ yếu là các nghiên cứu lý thuyết, bắt đầu từ các giáo trình y khoa và từ điển chuyên ngành y khoa, các nghiên cứu chủ yếu tập trung dƣới góc độ thuật ngữ chuyên ngành. Sau đó là các nghiên cứu ứng dụng với các hƣớng tiếp cận dựa trên các bình diện nhƣ: phân tích diễn ngôn, lý thuyết giao tiếp và hành động ngôn ngữ, NNH xã hội và NNH tri nhận. Trên thế giới, giáo trình về y khoa khá đa dạng, đƣợc sắp xếp thành 12 loại nhƣ các giáo trình tập trung vào các thuật ngữ y khoa, các tiểu luận về y học, các câu chuyện về y đức, chăm sóc sức khỏe từng giai đoạn, từng mặt bệnh, cẩm nang cho bác sĩ và sinh viên y khoa… Giáo trình điển hình có thể kể đến English for the Medical Professions (Beitler Macdonald, 1982) 71, The Language of Medicine in English (Bloom, 1982) 75, Human diseases (2003) 88 và English in Medicine: course in communication skills (2005) 99… tập trung chủ yếu vào các kỹ năng đọc hiểu để làm chủ các từ vựng chuyên ngành y khoa. Trong khi Bloom (1982) thiết kế giáo trình với các chủ điểm chung, đơn giản nhƣ y học lịch sử và văn hóa dân gian, các trƣờng hợp cấp cứu y tế, phòng ngừa và chăm sóc sức khỏe công nghệ cao 75 thì Beitler Macdonald (1982) lại tập trung vào các chuyên ngành sâu hơn nhƣ: Di truyền học, Giải phẫu và Sinh lý học… với mục đích giúp sinh viên y khoa có thể tiếp cận các văn bản chuyên ngành phức tạp hơn 71. Về các cuốn giáo trình dùng để giảng dạy và nghiên cứu tiếng Anh chuyên ngành y, tác giả Eric H. Glendinning Ron Howard (2007) với “Profesional English in Use Medicine” đã đề cập đến các chủ đề đa dạng bao gồm các mặt bệnh và triệu chứng, cách phòng và điều trị bệnh cũng nhƣ giới thiệu tổng quát các từ vựng chuyên ngành liên quan đến các bộ phận và chức năng của cơ thể, đội ngũ nhân viên y tế, các nghiên cứu chuyên sâu 99. Về từ điển, bên cạnh Mosbys Medical Dictionary 9th Edition 139, Butterworths Medical Dictionary 2nd edition (1978) 136; Encyclopedia and dictionary of medicine, nursing, and allied health (1983) 137, Dorland’s Illustrated Medical Dictionary 89 với ấn bản lần thứ 32 đƣợc coi là cuốn Từ điển8 Y khoa nổi tiếng trên thế giới, cung cấp những tri thức tổng quát và chuyên sâu cho các bác sĩ, các nhà nghiên cứu, các sinh viên ngành y và tất cả những ai muốn tìm hiểu về y học. Cuốn sách cũng nêu lên đầy đủ những thuật chữa bệnh truyền thống của các nền văn hóa phƣơng Ðông và những thành tựu tiên tiến của y học phƣơng Tây, từ lịch sử y học cổ đại đến các phân nhánh tỉ mỉ của y học hiện đại qua hơn 120.000 mục từ kết hợp với 1.500 minh họa màu đƣợc chọn lọc cẩn thận để bổ sung và làm sáng tỏ các định nghĩa. Tiếp cận dƣới góc độ thuật ngữ, trên thế giới bên cạnh các nghiên cứu đặc điểm cấu tạo thuật ngữ ngành Y, đã có khá nhiều nghiên cứu về vấn đề chuyển dịch thuật ngữ nhƣ Pilegaard, Morten (1997) cùng các cộng sự 144, Berghammer (2006) 73, Mgr. et Mgr. Eva Dávidová (2011) 85, Adrian Naznean (2013) 140, Anna Browne (2016) 77, Ali Akbar Zeinali (2017) 159, Dzuganova (2017) 90… Với nghiên cứu của mình về sự hình thành từ chuyển dịch các thuật ngữ y học, Ali Akbar Zeinali (2017) đã so sánh đối chiếu cấu tạo từ trong chuyển dịch thuật ngữ y học TA sang tiếng Ba Tƣ, đồng thời gợi mở ra các hƣớng khi dịch thuật TA y học. Mgr. et Mgr. Eva Dávidová (2011) 85 lại đi sâu phân tích phạm vi ảnh hƣởng của tiếng Latinh đối với thuật ngữ y học TA. Nghiên cứu chỉ ra rằng thuật ngữ TA chuyên ngành tiêu hóa đƣợc hình thành dựa trên từ gốc, ngữ nghĩa và hình thức từ. Anna Browne (2016) 77 cho rằng để dịch đƣợc văn bản y tế, ngƣời dịch bên cạnh việc phải có khả năng ngôn ngữ tốt còn cần đến kiến thức chuyên sâu về y học và thuật ngữ y học. Tuy nhiên, chỉ có một số ít những ngƣời thông thạo cả hai lĩnh vực, đáp ứng đƣợc nhu cầu thị trƣờng dƣợc phẩm và y tế ngày càng tăng. Do đó, để tránh đƣợc những sai lầm đáng tiếc có thể xảy ra trong dịch thuật dẫn đến hậu quả nghiêm trọng, các dịch giả nên hợp tác với các chuyên gia y tế. Nghiên cứu về vị trí của TA chuyên ngành y trong TA chuyên ngành nói chung và TA khoa học quốc tế, Dzuganova (2017) 90 nhận thấy sự cần thiết phải tạo ra các thuật ngữ mới cho các khái niệm mới. Bên cạnh đó, nghiên cứu còn chỉ ra sự không cân xứng giữa thuật ngữ giải phẫu và lâm sàng, phân tích các nguồn chính để hình thành nên thuật ngữ y tế, đặc biệt là đi sâu tìm hiểu một số ƣu điểm của các thuật ngữ y khoa có nguồn gốc từ các thuật ngữ Hy Lạp và Latinh. Trên bình diện diễn ngôn và lý thuyết giao tiếp ngôn ngữ: Công trình “English in medical education: An intercultural approach to teaching language and values” đƣợc Peihying Lu John Corbett (2012) 134 tập trung vào những phát triển gần đây về giáo dục y tế và ngôn ngữ, cụ thể là sử dụng ngôn ngữ để giải quyết các vấn đề liên quan đến lâm sàng. Peihying Lu John Corbett đã biến lớp9 học nhƣ một cơ sở y tế, giúp sinh viên y khoa hiểu đƣợc các diễn ngôn cụ thể trong một loạt các tình huống lâm sàng giữa bác sĩ với bệnh nhân và bác sĩ với các đồng nghiệp. Ngoài ra giáo trình còn giúp sinh viên phát triển các kỹ năng thuyết phục, phản biện trong một số tình huống cụ thể. Dƣới góc độ lý thuyết giao tiếp, các nhà nghiên cứu nhƣ Ainsworth Vaughn (1994) 66; Cicourel (1981) 81; Frankel (1990) 96; Hein và Wodak (1987) 107; Mishler (1984) 138; Robins and Wolf (1988) 146; Sarangi và Stembrouk (1998) 148; Waitzkin (1983, 1991) 153, 154; West (1984) 156; West and Frankel (1991) 155; Wodak (1996); Davidson (2000) 86… đã dành nhiều sự quan tâm đến diễn ngôn y tế đặc biệt là diễn ngôn giữa bác sĩ và bệnh nhân, chủ yếu tập trung vào những khó khăn mà bệnh nhân và bác sĩ gặp phải khi giao tiếp với nhau. Hầu hết các nghiên cứu tập trung vào một loại diễn ngôn, đó là “phỏng vấn y tế”. Đây là một loại tƣơng tác có cấu trúc, đƣợc thực hành giữa bác sĩ và bệnh nhân, đƣợc giảng dạy trong các trƣờng y khoa, đƣợc thiết kế giúp bác sĩ nhanh chóng tiếp cận với bệnh nhân trong chẩn đoán và điều trị. Do đó, tƣơng tác y tế là một loại điều tra bằng lời nói và thể chất, một sự kết hợp giữa các trải nghiệm không có tổ chức với các mô hình và quy trình quen thuộc về tính dễ bị tổn thƣơng của con ngƣời đối với bệnh tật. Tƣơng tự, Siminoff LA, Graham GC, Gordon NH. (2006) 150 ghi âm các cuộc hội chẩn của 58 bác sĩ chuyên khoa ung thƣ và 405 bệnh nhân ung thƣ vú để tìm ra mô hình giao tiếp giữa bác sĩ bệnh nhân. Kết quả cho thấy dựa vào đặc điểm của ngƣời bệnh nhƣ độ tuổi, chủng tộc, trình độ học vấn, thu nhập, có sự khác nhau về số lƣợng các câu hỏi, mối quan tâm đến bệnh và bệnh nhân da trắng có nhiều mô hình giao tiếp hơn số còn lại. Từ đó cần chú trọng đến việc nâng cao kỹ năng giao tiếp của các bác sĩ lâm sàng để nâng cao hiệu quả điều trị bệnh. Luận án của Berbyuk Lindström N. (2008) 72 cũng cùng chia sẻ mối quan tâm đến mô hình giao tiếp giữa bác sĩ không phải ngƣời Thuỵ Điển bệnh nhân là ngƣời Thuỵ Điển và bác sĩ không phải ngƣời Thuỵ Điển nhân viên y tế Thuỵ Điển để tìm ra mối quan hệ quyền lực trong tham vấn y tế đa văn hóa, đa ngôn ngữ. Nhƣ vậy giao tiếp giữa bác sĩ và bệnh nhân thu hút đƣợc nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ nói chung và y tế nói riêng. Đây là mối quan hệ có tính chất phức tạp bởi đó là sự tƣơng tác của các cá nhân có vị trí không bình đẳng, thƣờng là không tự nguyện và liên quan đến các vấn đề sống còn. Nhận thức đƣợc tầm quan trọng của khía cạnh tâm lý xã hội đối với việc điều trị bệnh, đặc biệt là các bệnh hiểm nghèo nhƣ ung thƣ, Ong và cộng sự (1995) 143 đi sâu vào các khía cạnh của giao tiếp bác sĩ bệnh nhân nói chung và với bệnh10 nhân ung thƣ nói riêng, nhƣ mục đích giao tiếp y tế; phân tích các mô hình giao tiếp; các hành vi giao tiếp trong quá trình tham vấn và ảnh hƣởng của hành vi giao tiếp đến kết quả điều trị bệnh. Từ đó nhận thấy giao tiếp y tế đã tạo ra mối quan hệ thân thiện, gần gũi giữa bác sĩ với bệnh nhân; giúp các bác sĩ dễ dàng hơn trong việc trao đổi các thông tin lâm sàng và đƣa ra các quyết định lâm sàng điều trị bệnh. Bên cạnh đó Ong và cộng sự phân tích các cặp hành vi giao tiếp phổ biến trong quá trình tham vấn lâm sàng nhƣ: Hành vi công cụ (định hƣớng chữa bệnh) hành vi tình cảm (định hƣớng chăm sóc); hành vi bằng lời nói và hành vi không bằng lời nói; hành vi riêng tƣ; hành vi kiểm soát cao thấp; các từ chuyên ngành y khoa ngôn ngữ hằng ngày. Warren J Ferguson Lucy M Candib (2002) 95 đã đi sâu phân tích chất lƣợng giao tiếp và mối quan hệ của bác sĩ bệnh nhân dựa trên các yếu tố nhƣ văn hóa, tôn giáo, chủng tộc và ngôn ngữ. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng các yếu tố trên có ảnh hƣởng đáng kể đến chất lƣợng của mối quan hệ bác sĩ bệnh nhân. Ví dụ: Bệnh nhân thuộc dân tộc thiểu số, không thành thạo TA sẽ ít nhận đƣợc sự đồng cảm từ bác sĩ do rào cản ngôn ngữ. Từ đó khuyến khích bổ sung vào lực lƣợng y tế những bác sĩ thuộc dân tộc thiểu số để chất lƣợng giao tiếp cũng nhƣ quá trình khám, chữa bệnh đƣợc cải thiện hơn. Tiếp cận theo hƣớng tri nhận, trên thế giới đã có một số công trình nghiên cứu về medical metaphors, có thể kể đến nhƣ: Paul Hodgkin (1985) 109 với công trình “Medicine is war: and other medical metaphors” đã cho thấy quá trình tri nhận về y học xoay quanh các AD cơ bản nhƣ: CƠ THỂ CON NGƢỜI LÀ CỖ MÁY, Y HỌC LÀ CHIẾN TRANH, Y HỌC LÀ CÂU CHUYỆN TRINH THÁM, SỨC KHỎE LÀ HƢỚNG LÊN, ỐM ĐAU LÀ HƢỚNG XUỐNG… trong đó hình ảnh về quân sự xuất hiện ở mọi khía cạnh của ngôn ngữ, đặc biệt là y tế qua các dụ dẫn nhƣ: He’s having a heart attack (Anh ấy bị đau tim) Killer T cells (tế bào giết người T) The body’s defences (đề kháng của c thể) Van Rijnvan Tongeren, G. W. (1997) 152 tập trung nghiên cứu về vai trò của AD trong các văn bản y tế, đặc biệt là trong các nghiên cứu về ung thƣ để tìm ra các phép AD thƣờng gặp cụ thể là các MN nào đƣợc sử dụng để ý niệm hóa MĐ các khái niệm y học. Tác giả nhận thấy các BTAD sau thƣờng xuất hiện: TẾ BÀO UNG THƢ LÀ CON NGƢỜI TẾ BÀO UNG THƢ LÀ KẺ THÙ UNG THƢ LÀ CHIẾN TRANH HỆ GEN LÀ VĂN BẢN TẾ BÀO LÀ MỘT BỘ MÁY… trong đó AD về các tác nhân đƣợc sử dụng phổ biến nhất. Nghiên cứu đã chỉ ra mối quan11 hệ mật thiết giữa ADYN trong các diễn ngôn về ung thƣ học với một số lý thuyết y học nhất định khi phân tích sự tƣơng ứng giữa hai miền ý niệm. Thông qua sự diễn ra tƣơng tác giữa ba nhân tố: Chủ thể, khách thể và xã hội, Van Rijinvan Tongeren nhận ra khoa học là một quá trình phát triển không ngừng, theo chiều xoáy trôn ốc và phép AD là một phần không thể thiếu trong các văn bản y tế và làm đơn giản hóa các kiến thức y học. Nó thực sự là công cụ nhận thức và giao tiếp sống còn của bác sĩ và bệnh nhân. Mabeck, C. E., Olesen, F. (1997) 135 với công trình “Metaphorically transmitted diseases: How do Mabeck, C. E., Olesen, F. patients embody medical explanations?” đã xây dựng khung giao tiếp chung giữa bệnh nhân và bác sĩ; bên cạnh đó giúp bệnh nhân hiểu đƣợc các giải thích lâm sàng của bệnh nhờ đơn giản hóa các thuật ngữ y khoa thông qua mô hình AD CƠ THỂ CON NGƢỜI LÀ CỖ MÁY. Kết quả nghiên cứu cho thấy bệnh nhân có quan niệm chung về cơ thể con ngƣời và các chức năng của cơ thể vận hành nhƣ một cỗ máy khi thƣờng xuyên sử dụng các từ mang tính kỹ thuật nhƣ: van tim, tuần hoàn máu, ống, khớp hình cầu, đường vận động… Khi có sự rối loạn chức năng ở một bộ phận nào đó thì các bác sĩ chuyên khoa nhƣ các kỹ sƣ có thể can thiệp và sửa chữa những hỏng hóc trong hệ thống máy móc đó. Reisfield Wilson (2004) 145 đã nghiên cứu về ph p AD trong chuyên ngành ung thƣ học, tập trung chủ yếu vào AD CHIẾN TRANH khi x t về mối quan hệ bệnh nhân bác sĩ cũng nhƣ sự trải nghiệm các giai đoạn của bệnh. AD chiến tranh đã giúp đơn giản hóa những khái niệm sinh học phức tạp, giúp bệnh nhân bớt xáo trộn tâm lý khi tiếp nhận thông tin bệnh đột ngột, giúp họ kiểm soát bệnh tốt hơn. Bên cạnh đó tác giả nhận thấy ph p AD này còn đƣợc các công ty dƣợc phẩm sử dụng để tiếp thị các tác nhân hóa trị liệu khi đƣa ra những hình ảnh nhƣ một bệnh nhân ung thƣ vú đeo găng tay đấm bốc màu hồng có in tên thuốc với dòng chữ “ung thƣ vú giai đoạn đầu đối thủ hằng ngày”. Hay trong một hình ảnh khác khi quảng cáo dƣợc phẩm liposomal doxorubicin điều trị ung thƣ cùng ngƣời phụ nữ cầm kiếm với khẩu hiệu “hãy chiến đấu hết sức mình”. Tuy nhiên kết quả nghiên cứu cũng cho thấy việc sử dụng AD trong các diễn ngôn lâm sàng cần đƣợc điều chỉnh để phù hợp với từng bệnh nhân dựa trên nhiều khía cạnh cụ thể nhƣ văn hóa, cảm xúc của bệnh nhân, các khía cạnh cụ thể của bệnh hay tiên lƣợng bệnh. Thông qua ba tờ báo uy tín: Tờ The Liberty Times và The United Daily News ở Đài Loan và tờ Nhân dân Nhật báo ở Trung Quốc, Chiang Duann (2007) đã phân tích mô hình ý niệm BỆNH TẬT LÀ CHIẾN TRANH khi đi sâu vào nghiên cứu về bệnh SARS theo hƣớng phân tích của CharterisBlack (2004). Dữ liệu đã cho thấy các định hƣớng chính trị và tƣ tƣởng cơ bản của báo chí đƣợc truyền tải12 thông qua việc sử dụng mô hình AD này. SARS không còn là một căn bệnh nữa mà đã trở thành một cuộc chiến, một thảm họa dƣới góc độ chính trị. Urbonait và Šeškauskien (2007) 149 khi nghiên cứu ngẫu nhiên 600 bài báo bằng TA và tiếng Lithuanian từ năm 2000 đến năm 2005 với MN là sức khỏe trong các diễn ngôn chính trị và kinh tế đã nhận ra hai ngôn ngữ đều sử dụng AD về sức khỏe nhƣ bệnh tật và vết thƣơng để khái niệm hóa các vấn đề về kinh tế và chính trị. Nhóm tác giả đã đƣa ra bảy BTAD sức khỏe, trong đó BT BẤT ỔN CHÍNH TRỊ LÀ BỆNH TẬT (problem is aliment malfunction) đƣợc xuất hiện với tần suất nhiều nhất (6364%). Từ đó có thể nhận thấy các vấn đề về kinh tế chính trị dƣờng nhƣ gắn liền với bệnh tật, ốm đau và những điểm yếu của cơ thể con ngƣời hơn là tình trạng tốt và cân bằng. Wiggins (2012) 157 cho biết trong nghiên cứu của mình về bệnh ung thƣ thƣờng xuyên bắt gặp những thuật ngữ quân sự nhƣ: (battle, courageously fight against cancer, win, give up the fight, lose…) (chiến đấu, can đảm chiến đấu chống lại ung thƣ, chiến thắng, từ bỏ cuộc chiến, thua cuộc). Nghiên cứu nhận ra rằng chỉ có AD với MN chiến tranh mới có thể lột tả hết đƣợc hình ảnh các tế bào lympho chiến đấu với các tế bào “sát thủ” để giành giật sự sống cho ngƣời bệnh. Nie và cộng sự (2016) 142 đã xem x t đến cả hai khía cạnh khi sử dụng các phép AD quân sự trong y học, cụ thể là trong việc chữa trị căn bệnh thế kỷ HIV. Bên cạnh việc giúp nâng cao tinh thần của bệnh nhân và các chuyên gia chăm sóc sức khỏe trong quá trình chữa bệnh, AD quân sự vô hình trung đã hạ thấp các nguy cơ tiềm ẩn của căn bệnh thế kỷ dẫn đến việc có những ngƣời có chủ ý lây nhiễm bệnh này với mục đích “phơi nhiễm bình thƣờng”. Qua đó, cần phải cân nhắc khi sử dụng những hệ thuật ngữ quân sự trong các nghiên cứu y tế và chăm sóc bệnh nhân. Bleakley, A. (2017) 74 bác bỏ quan điểm cho rằng ngôn ngữ y tế là ngôn ngữ y học khách quan mà ph p AD không thể tồn tại trong môi trƣờng khoa học nhƣ vậy. Nghiên cứu đã chỉ ra cần phải nghiêm túc đánh giá lại vai trò của các ph p AD trong việc hình thành nên một nền văn hóa y tế lành mạnh, đặc biệt là trong mối quan hệ giữa bác sĩ với bệnh nhân. Qua đó việc chẩn đoán và giao tiếp với bệnh nhân cần đƣợc chú trọng. Các nghiên cứu so sánh đối chiếu ADYN trong ngôn ngữ y tế giữa hai hoặc nhiều hơn hai ngôn ngữ, trên thế giới có thể kể đến các công trình nhƣ: Françoise SalagerMeyer (1990) 147 đã khảo sát và phân tích sự tƣơng đồng của 130.000 thuật ngữ y học TA, tiếng Pháp và tiếng Tây Ban Nha dƣới góc nhìn AD tri nhận. Nghiên cứu chỉ ra mặc dù AD tri nhận chiếm số lƣợng rất nhỏ trong13 nguồn ngữ liệu nhƣng lại thƣờng đề cập đến các khái niệm quan trọng và ngƣời đọc cần phải có những kiến thức nhất định mới có thể giải mã đƣợc. Các thuật ngữ y học này chủ yếu nằm trong nhóm AD cấu trúc do nguồn gốc của các thuật ngữ chủ yếu bắt nguồn từ gốc Latinh, mang tính khoa học và miêu tả cao. Alshunnag (2016) 69 trong luận án “Translating conceptual metaphor in popular biomedical texts from English to Arabic” khi khảo sát cách thức chuyển dịch 731 BTAD trong văn bản y sinh với nguồn ngữ liệu là các bài báo trên Tạp chí khoa học học nổi tiếng Science American sang tiếng Ả Rập đã tìm ra rằng ADYN đóng một vai trò quan trọng trong việc tạo ra các lƣợc đồ nhằm làm đơn giản hóa các kiến thức về y học trừu tƣợng bằng cách sử dụng các lĩnh vực cụ thể, quen thuộc hơn nhằm thu hút sự chú ý của độc giả. Với việc áp dụng khung lý thuyết ADYN của Lakoff và Johnson (1980) 129, lý thuyết trƣờng ngữ nghĩa của AD trong việc xác định MN, MĐ của Kittay và Lehrer (1981) 113 và quy trình xác định AD (MIP) đƣợc đề xuất bởi Group (2007) 104, tác giả tập trung phân tích sự ánh xạ của MN THỰC THỂ Y SINH qua ba góc độ: cấu trúc, bản thể và định hƣớng, trong đó AD cấu trúc là phạm trù chiếm ƣu thế, tiếp theo là AD bản thể và ít nổi bật nhất là AD định hƣớng. Qua số liệu thống kê cho thấy 72 ánh xạ của MN nhƣ chiến tranh, hành trình, thông tin, cạnh tranh, máy móc, thực phẩm, thực vật, thiên nhiên, thảm họa, nghệ thuật… đƣợc sử dụng để đại diện cho 4 khía cạnh chính của MĐ là bệnh tật, bộ phận cơ thể, vaccine và các nghiên cứu y sinh. Bên cạnh đó, nghiên cứu còn cung cấp những hiểu biết sâu sắc khi chỉ ra những điểm tƣơng đồng và khác biệt trong chuyển dịch các mô hình AD ở hai nền văn hóa có hệ thống ngôn ngữ và khái niệm khác nhau tiếng Ả Rập và TA, đặc biệt là trong lĩnh vực khoa học y sinh. Nhƣ vậy, dƣới góc độ tri nhận, các nghiên cứu về ngôn ngữ thuật ngữ y tế chủ yếu dừng lại ở các diễn ngôn trực tiếp, hoặc là nghiên cứu từ điển. Cũng có một số công trình tập trung nghiên cứu ADYN trong y học nhƣng mới chỉ tập trung ở một số mặt bệnh hiểm nghèo nhƣ ung thƣ, SARS và HIV, chƣa đi sâu phân tích ở các mặt bệnh phổ biến khác. 1.1.2. Tình hình nghiên cứu về ngôn ngữ y học và bản tin y tế ở trong nƣớc Dƣới góc độ lý thuyết giao tiếp, Nguyễn Thị Tuyết Mai (2019) 141 góp phần làm tăng sự hiểu biết về các bƣớc thoại, các dấu hiệu từ vựng và các yếu tố chủ đạo tạo thành việc triển khai các bƣớc thoại trong các báo cáo trƣờng hợp lâm sàng TA và TV. Thông qua phƣơng pháp định lƣợng, định tính và đối chiếu, kết quả cho thấy thể loại diễn ngôn của các báo cáo ca bệnh đặc trƣng gồm 12 bƣớc thoại với 22 bƣớc tiểu thoại. So với các báo cáo TA thiên về sử dụng nhiều động từ tƣờng14 thuật thì các báo cáo TV thƣờng mang nhiều thông tin hơn nhƣng các từ, cụm từ trong các văn bản TV lại không đa dạng và sử dụng lặp đi lặp lại. Tập trung nghiên cứu các thành ngữ TA và TV liên quan đến chủ đề sức khỏe, Trần Huy Sáng (2020) 46 đã hệ thống hóa cơ sở lý thuyết, nghĩa biểu trƣng của thành ngữ, đƣa ra những phƣơng thức đối chiếu thành ngữ và lý thuyết liên quan đến chuyển dịch và chuyển dịch thành ngữ liên quan đến chủ đề sức khoẻ. Trên cơ sở nghiên cứu về cấu trúc cú pháp, phạm vi biểu hiện ngữ nghĩa, những đặc trƣng tƣ duy của hai cộng đồng văn hóa Anh Việt về sức khỏe trở nên sáng tỏ hơn. Bên cạnh việc xác định đƣợc các thành ngữ tƣơng đƣơng giữa hai nhóm thành ngữ, kết quả nghiên cứu cũng đề xuất một số biện pháp chuyển dịch phù hợp các thành ngữ có liên quan đến sức khỏe về thể chất, sức khỏe tinh thần và xã hội trong TA không có dạng tƣơng đƣơng trong TV. Dƣới góc độ thuật ngữ, trong Việt ngữ, có thể nhận thấy hai hƣớng tiếp cận chính: Nghiên cứu các thuật ngữ Đông y và nghiên cứu các thuật ngữ Tây y. Đi sâu nghiên cứu các thuật ngữ Đông y, các tác giả đều tiếp cận dƣới góc độ cấu trúc luận để tìm hiểu về đặc điểm định danh, cấu tạo hay con đƣờng hình thành nên thuật ngữ để từ đó làm nổi bật đặc trƣng định danh và cách thức biểu thị độc đáo của thuật ngữ chuyên ngành y. Có thể kể tới các nghiên cứu của Nguyễn Thị Kim Anh (2017) 1 với luận văn thạc sĩ NNH đã đi vào phân tích hệ thống thuật ngữ y học cổ truyền thống qua các giáo trình y học cổ truyền và các bài giảng y học cổ truyền bằng TV. Thuật ngữ y học cổ truyền Việt Nam là từ ngữ của ngành y học cổ truyền biểu thị các khái niệm, chỉ tên các bộ phận cơ thể, kinh mạch, biểu hiện diễn biến của bệnh và cơ thể con ngƣời. Bên cạnh đó, luận văn còn nghiên cứu sâu về đặc điểm định danh của thuật ngữ trong các khía cạnh: Con đƣờng hình thành, kiểu ngữ nghĩa và đặc điểm cách thức biểu thị của thuật ngữ. X t theo kiểu ngữ nghĩa của các thuật ngữ y học cổ truyền TV có thể khẳng định rằng, toàn bộ thuật ngữ y học cổ truyền TV là những đơn vị định danh trực tiếp. Tuy nhiên, thuật ngữ y học cổ truyền còn nhiều điểm cần phải đƣợc nghiên cứu và điều chỉnh để phù hợp với sự phát triển của ngành y học cổ truyền. Nguyễn Chi Lê (2019) 38 khảo sát, miêu tả, phân tích các thuật ngữ Đông y TV, trên các phƣơng diện: Đặc điểm cấu tạo, đặc điểm ngữ nghĩa và phƣơng thức định danh nhƣ các thuật ngữ về lý luận y học cổ truyền, đông dƣợc, phƣơng tễ, châm cứu huyệt vị, các chuyên khoa y học cổ truyền: nội, ngoại, sản, nhi, lão... Với nguồn tƣ liệu khảo sát gồm các cuốn Từ điển Đông y đã xuất bản, luận án đã nghiên cứu phƣơng diện cấu tạo và định danh của hệ thống thuật ngữ này để làm nổi bật tính chuyên môn, tính đặc thù, tính độc đáo của thuật ngữ Đông y trong TV về các mặt: Cách thức biểu thị, đặc điểm phân định nội dung15 biểu đạt theo tính chuyên môn. Từ đó làm cơ sở định danh của hệ thuật ngữ cho từng nhóm lĩnh vực trong hệ thuật ngữ; làm cơ sở cho những miêu tả, phân tích, nhận x t, đánh giá và kết luận của luận án; làm rõ những n t tƣơng đồng và n t khác biệt về đặc trƣng định danh của thuật ngữ Đông y TV. Những công trình nghiên cứu về thuật ngữ Tây y với hƣớng tiếp cận về định danh và cấu tạo ngữ nghĩa, Phí Thị Việt Hà (2017) 14 đi sâu vào đánh giá ƣu điểm và nhƣợc điểm của hệ thống thuật ngữ phụ sản TV từ đó đề xuất phƣơng hƣớng, giải pháp cụ thể nhằm chuẩn hóa theo các tiêu chí của NNH thông qua việc nghiên cứu, so sánh điểm tƣơng đồng và khác biệt của hệ thuật ngữ phụ sản trong TA và TV dựa trên các phƣơng diện đặc điểm cấu tạo, ngữ nghĩa và phƣơng thức định danh. Luận án tiến sĩ “Nghiên cứu thuật ngữ chỉ bệnh trong TA và cách chuyển dịch sang TV”, Nguyễn Thị Thu Hoài (2018) 23 khi khảo sát 1.949 thuật ngữ chỉ bệnh đã tìm ra sự khác biệt lớn về tỷ lệ thuật ngữ là từ và ngữ giữa TA và TV; xác định 8 mô hình cấu tạo trong TA và 11 mô hình trong TV. Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu cũng cho thấy những thuật ngữ chỉ bệnh cơ bản đƣợc chia thành hai phạm trù ngữ nghĩa: Đặc trƣng của bệnh và đặc điểm cơ thể ngƣời; đồng thời đánh giá mức độ tƣơng đƣơng khi chuyển dịch các thuật ngữ giữa 2 ngôn ngữ. Tuy vậy, luận án mới chỉ dừng lại ở việc khảo sát, nghiên cứu về thuật ngữ chỉ bệnh trong phạm vi từ điển, chƣa phải là những thuật ngữ trong các văn bản y học hay trong giao tiếp của các nhân viên y tế. Cùng chung mối quan tâm về thuật ngữ Tây y nhƣng với hƣớng tiếp cận nghiên cứu đồng đại, lịch đại với luận án “Khảo sát thuật ngữ y học tiếng Anh và cách phiên chuyển sang tiếng Việt”, Vƣơng Thị Thu Minh (2005) 41 tìm hiểu về cơ cấu hệ thống thuật ngữ y học TA về mặt nội dung, cấu trúc và lịch sử hình thành. Qua khảo sát 9.832 thuật ngữ y học TA, tác giả cũng đề xuất một số giải pháp trong việc phiên chuyển thuật ngữ y học giữa TA sang TV nhằm đảm bảo tính chính xác, tính quốc tế và chuẩn hóa thuật ngữ y học trong TV. Trong khi đó, dựa trên lý thuyết về vay mƣợn và tiếp xúc ngôn ngữ có chọn lọc, Lƣu Trọng Tuấn (2009) 57 lại đi sâu nghiên cứu từ việc ảnh hƣởng và ràng buộc văn hóa của các thuật ngữ y học Việt Nam với các thuật ngữ tƣơng đƣơng trong tiếng Pháp, TA và tiếng Trung. Qua đó có thể nhận thấy sự tiếp xúc ngôn ngữ có chọn lọc không những củng cố vững chắc hơn hệ thống thuật ngữ y học Việt Nam mà còn phải đạt đƣợc sự phù hợp hài hòa với văn hóa ngƣời Việt. Dƣới góc độ NNH chức năng hệ thống, Nguyễn Thanh Nga (2018) 42 đi sâu nghiên cứu các nguồn liên nhân đƣợc sử dụng trong TA và TV, tập trung chủ yếu vào ngôn ngữ của bác sĩ và ý nghĩa liên nhân. Nghiên cứu đã đóng góp những phát16 hiện lớn về sự khác biệt trong cách lựa chọn từ vựng thể hiện trong các cú của thức. Kết quả không những khẳng định sự cần thiết phải thay đổi lời thoại y khoa nhƣ nhiều nghiên cứu trƣớc đó mà còn cung cấp những bằng chứng về các lợi ích trong lời thoại của bác sĩ Việt. Nói một cách khác, quyền lực ẩn sau lời nói của ngƣời bác sĩ nên cân nhắc tới những kỳ vọng, mong mỏi của ngƣời bệnh từ đó giúp các nhà giáo dục ngôn ngữ y khoa có thể tận dụng bối cảnh lý thuyết về thức và tình thái của các nguồn liên nhân để hƣớng dẫn các sinh viên y khoa sử dụng ngôn ngữ lịch sự, thân mật khi giao tiếp với bệnh nhân. Nguyễn Thị Kim Luyến (2019) 39 làm sáng tỏ phƣơng thức biểu hiện nghĩa liên nhân trong các văn bản hƣớng dẫn sử dụng thuốc TA thông qua các phƣơng tiện ngữ pháptừ vựng đặc trƣng bao gồm: thức và tình thái. Từ bình diện thức, hai nhóm ngôn liệu đều không sử dụng đầy đủ tất cả các phƣơng tiện ngôn ngữ hiện thực hóa tƣơng thích và không tƣơng thích các chức năng lời nói. Điều này cho thấy nghĩa liên nhân chƣa đƣợc biểu hiện đầy đủ trên tất cả các phƣơng tiện ngôn ngữ, do đó phần nào làm cho thể loại văn bản này chƣa thật sự đạt đƣợc mức độ tƣơng tác, gần gũi với ngƣời đọc. Từ bình diện tình thái, kết quả nghiên cứu chỉ ra cách tính tình thái đƣợc hiện thực hóa tƣơng thích và không tƣơng thích trong diễn ngôn hƣớng dẫn sử dụng thuốc TA và TV thông qua cách sử dụng phƣơng tiện tình thái trong thể loại ngôn bản này. Bên cạnh đó, luận án cũng đối chiếu liên hệ với TV trong cùng thể loại ngôn bản nhằm tìm ra những n t tƣơng đồng và dị biệt giữa hai ngôn ngữ, giúp chúng ta dễ dàng hình dung bức tranh ngôn ngữ y k

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ VIÊN LAN HƯƠNG

ĐỐI CHIẾU ẨN DỤ CẤU TRÚC TRONG CÁC BẢN TIN Y TẾ TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG ANH

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC

Hà Nội - 2023

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ VIÊN LAN HƯƠNG

ĐỐI CHIẾU ẨN DỤ CẤU TRÚC TRONG CÁC BẢN TIN Y TẾ TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG ANH

Ngành: Ngôn ngữ học so sánh, đối chiếu

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các

số liệu thống kê là hoàn toàn trung thực do tôi thực hiện, không sao chép của ai

Đề tài nghiên cứu và các kết luận khoa học của luận án chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận án

Lê Viên Lan Hương

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin gửi lời tri ân sâu sắc nhất đến TS Nguyễn Thị Bích Hạnh và PGS TS Nguyễn Văn Chính - thầy cô đã luôn chỉ dạy tận tình, động viên và khích lệ tôi trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành luận án này; giúp tôi trưởng thành hơn trên con đường nghiên cứu khoa học

Tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn tới các thầy, cô giáo của Học viện Khoa học

xã hội đã giảng dạy, truyền đạt kiến thức và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện luận án

Tôi xin được tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc - Lãnh đạo các phòng, ban, Khoa Ngoại ngữ và đồng nghiệp tại Học viện Quân y đã động viên, giúp đỡ và chia sẻ với tôi về mọi mặt trong quá trình tôi thực hiện luận án này Tôi luôn ghi nhớ và trân trọng sự nhiệt tình của anh chị em, bạn bè đã luôn ở bên, động viên và góp ý cho tôi để kết quả nghiên cứu được trọn vẹn

Tôi xin đặc biệt gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới bố mẹ, chồng và các con, cùng toàn thể đại gia đình - những người luôn thương yêu, chia sẻ, ủng hộ và sát cánh bên tôi trên từng bước đường nghiên cứu và phấn đấu

Hà Nội, tháng 5 năm 2023

Tác giả luận án

Lê Viên Lan Hương

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT 7

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 7

1.1.1 Tình hình nghiên cứu về ngôn ngữ y học và bản tin y tế ở nước ngoài 7

1.1.2 Tình hình nghiên cứu về ngôn ngữ y học và bản tin y tế ở trong nước 13 1.1.3 Tiếp cận theo hướng tri nhận 17

1.2 Cơ sở lý luận về đề tài nghiên cứu 17

1.2.1 Cơ sở lý luận về ẩn dụ ý niệm 17

1.2.2 Cơ sở lý luận về ngôn ngữ y học và bản tin y tế 35

1.2.3 Cơ sở lý luận về ngôn ngữ học đối chiếu (Contrastive Linguistics) 39

1.3 Tiểu kết 41

Chương 2: ĐỐI CHIẾU HIỆN TƯỢNG CHỒNG LẤN TRONG CÁC ẨN DỤ CÓ MIỀN ĐÍCH “BỆNH TẬT/ DỊCH BỆNH” TRONG BẢN TIN Y TẾ TIẾNG VIỆT - TIẾNG ANH 43

2.1 Dẫn nhập 43

2.2 Ẩn dụ ý niệm BỆNH TẬT/ DỊCH BỆNH LÀ CHIẾN TRANH 45

2.2.1 Ẩn dụ ý niệm CÁC LOẠI BỆNH TẬT/ DỊCH BỆNH LÀ KẺ THÙ TRONG CUỘC CHIẾN 46

2.2.2 Ẩn dụ ý niệm ĐỘI NGŨ Y BÁC SĨ, BỆNH NHÂN, LIỆU PHÁP Y SINH LÀ NHỮNG NGƯỜI LÍNH THAM CHIẾN 49

2.2.3 Ẩn dụ ý niệm LIỆU PHÁP Y SINH/ HỆ MIỄN DỊCH LÀ VŨ KHÍ SỬ DỤNG TRONG CUỘC CHIẾN 51

2.2.4 Ẩn dụ ý niệm PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ VÀ CƠ CHẾ PHÕNG VỆ CỦA CƠ THỂ LÀ CHIẾN THUẬT TRONG CHIẾN TRANH 54

2.2.5 Ẩn dụ ý niệm MỨC ĐỘ NGUY HIỂM CỦA BỆNH TẬT LÀ MỨC ĐỘ NGUY HIỂM CỦA CUỘC CHIẾN 57

2.2.6 Ẩn dụ ý niệm THẤT BẠI/ CHIẾN THẮNG TRONG ĐIỀU TRỊ BỆNH/ DỊCH BỆNH LÀ THẤT BẠI/ CHIẾN THẮNG TRONG CUỘC CHIẾN 59

Trang 6

2.3 Ẩn dụ ý niệm BỆNH TẬT/ DỊCH BỆNH LÀ THIÊN TAI 63

2.3.1 Ẩn dụ ý niệm BỆNH TẬT/ DỊCH BỆNHNGUY HIỂM LÀ THIÊN TAI 64 2.3.2 Ẩn dụ ý niệm TÁC ĐỘNG CỦA BỆNH TẬT/ DỊCH BỆNH ĐẾN CỘNG ĐỒNG LÀ TÁC ĐỘNG TIÊU CỰC CỦA THIÊN TAI 68

2.4 Ẩn dụ ý niệm BỆNH TẬT/DỊCH BỆNH LÀ TRẬN THI ĐẤU THỂ THAO 72 2.5 Tiểu kết 76

Chương 3: ĐỐI CHIẾU HIỆN TƯỢNG CHỒNG LẤN TRONG CÁC ẨN DỤ CÓ MIỀN ĐÍCH “THỰC THỂ Y SINH” TRONG BẢN TIN Y TẾ TIẾNG VIỆT - TIẾNG ANH 80

3.1 Dẫn nhập 80

3.2 Ẩn dụ ý niệm THỰC THỂ Y SINH LÀ CON NGƯỜI 81

3.2.1 Ẩn dụ ý niệm THỰC THỂ Y SINH LÀ CON NGƯỜI SINH HỌC 81

3.2.2 Ẩn dụ ý niệm THỰC THỂ Y SINH LÀ TỘI PHẠM/ KHỦNG BỐ 103

3.2.3 Ẩn dụ ý niệm THỰC THỂ Y SINH LÀ ĐỘI QUÂN PHÕNG VỆ 117

3.2.4 Ẩn dụ ý niệm THỰC THỂ Y SINH LÀ NGƯỜI LÍNH THAM CHIẾN121 3.3 Ẩn dụ ý niệm THỰC THỂ Y SINH LÀ THÔNG TIN 126

3.3.1 Ẩn dụ ý niệm THỰC THỂ Y SINH LÀ HỆ THỐNG KÝ TỰ VĂN BẢN127 3.3.2 Ẩn dụ ý niệm THỰC THỂ Y SINH LÀ HỆ THỐNG TÍN HIỆU, MẬT MÃ 130

3.4 Ẩn dụ ý niệm THỰC THỂ Y SINH LÀ MÁY MÓC 133

3.4.1 Ẩn dụ CÁC DẠNG THỰC THỂ Y SINH LÀ CÁC LOẠI/ BỘ PHẬN MÁY MÓC 134

3.4.2 Ẩn dụ CƠ CHẾ VẬN HÀNH CỦA THỰC THỂ Y SINH LÀ CƠ CHẾ VẬN HÀNH CỦA MÁY MÓC 138

3.4.3 Ẩn dụ KHẢ NĂNG TỰ THIẾT KẾ, ĐIỀU CHỈNH CỦA THỰC THỂ Y SINH LÀ KỸ THUẬT THIẾT KẾ VÀ BẢO TRÌ MÁY MÓC 140

3.5 Ẩn dụ ý niệm THỰC THỂ Y SINH LÀ PHƯƠNG TIỆN 142

3.5.1 Ẩn dụ ý niệm KHẢ NĂNG XÂM NHẬP, ĐIỀU KHIỂN CỦA THỰC THỂ Y SINH LÀ KHẢ NĂNG XÂM NHẬP, ĐIỀU KHIỂN CỦA PHƯƠNG TIỆN 143

Trang 7

3.5.2 Ẩn dụ ý niệm CHỨC NĂNG CỦA THỰC THỂ Y SINH LÀ CHỨC

NĂNG CỦA PHƯƠNG TIỆN 146

3.6 Ẩn dụ ý niệm THỰC THỂ Y SINH LÀ HỆ THỐNG PHÕNG VỆ 148

3.7 Các ẩn dụ ý niệm chỉ xuất hiện trong bản tin y tế tiếng Anh 151

3.7.1 Ẩn dụ ý niệm THỰC THỂ Y SINH LÀ ĐỘNG VẬT HOANG DÃ/ THÖ SĂN MỒI 151

3.7.2 Ẩn dụ ý niệm THỰC THỂ Y SINH LÀ MÓN ĂN 156

3.8 Tiểu kết chương 159

KẾT LUẬN 164

DANH MỤC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ 169

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 170 PHỤ LỤC 1

PHỤ LỤC 2

PHỤ LỤC 3

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Thống kê các ẩn dụ bậc dưới của ẩn dụ BỆNH TẬT/ DỊCH BỆNH LÀ CHIẾN TRANH 45 Bảng 2.2: Lược đồ ánh xạ BỆNH TẬT/ DỊCH BỆNH LÀ CHIẾN TRANH 45 Bảng 2.3: Thống kê các ẩn dụ bậc dưới của ẩn dụ BỆNH TẬT/ DỊCH BỆNH LÀ THIÊN TAI 63 Bảng 2.4: Lược đồ ánh xạ BỆNH TẬT/ DỊCH BỆNH LÀ THIÊN TAI 64 Bảng 2.5: Thống kê các ẩn dụ bậc dưới của ẩn dụ BỆNH TẬT/DỊCH BỆNH LÀ TRẬN THI ĐẤU THỂ THAO 72 Bảng 2.6: Lược đồ ánh xạ BỆNH TẬT/DỊCH BỆNH LÀ TRẬN THI ĐẤU THỂ THAO 73 Bảng 3.1: Thống kê các ẩn dụ bậc dưới của ẩn dụ THỰC THỂ Y SINH LÀ CON NGƯỜI SINH HỌC 82 Bảng 3.2: Lược đồ ánh xạ THỰC THỂ Y SINH LÀ CON NGƯỜI SINH HỌC 83 Bảng 3.3 Thống kê các ẩn dụ bậc dưới của ẩn dụ THỰC THỂ Y SINH LÀ TỘI PHẠM/ KHỦNG BỐ 103 Bảng 3.4: Lược đồ ánh xạ THỰC THỂ Y SINH LÀ TỘI PHẠM/ KHỦNG BỐ 104 Bảng 3.5 Thống kê các ẩn dụ bậc dưới của ẩn dụ THỰC THỂ Y SINH LÀ ĐỘI QUÂN PHÕNG VỆ 118 Bảng 3.6 Thống kê các ẩn dụ bậc dưới của ẩn dụ THỰC THỂ Y SINH LÀ NGƯỜI LÍNH THAM CHIẾN 122 Bảng 3.7: Thống kê các ẩn dụ bậc dưới của ẩn dụ THỰC THỂ Y SINH LÀ THÔNG TIN 126 Bảng 3.8 Lược đồ ánh xạ THỰC THỂ Y SINH LÀ THÔNG TIN 127 Bảng 3.9: Thống kê các ẩn dụ bậc dưới của ẩn dụ THỰC THỂ Y SINH LÀ MÁY MÓC 134 Bảng 3.10: Lược đồ ánh xạ THỰC THỂ Y SINH LÀ MÁY MÓC 134 Bảng 3.11: Thống kê các ẩn dụ bậc dưới của ẩn dụ THỰC THỂ Y SINH LÀ PHƯƠNG TIỆN 142

Trang 10

Bảng 3.12: Lược đồ ánh xạ THỰC THỂ Y SINH LÀ PHƯƠNG TIỆN 143 Bảng 3.13 Thống kê tần suất xuất hiện của ẩn dụ THỰC THỂ Y SINH LÀ HỆ THỐNG PHÕNG VỆ 148 Bảng 3.14 Lược đồ ánh xạ THỰC THỂ Y SINH LÀ HỆ THỐNG PHÕNG VỆ 148 Bảng 3.15 Thống kê các ẩn dụ bậc dưới của ẩn dụ THỰC THỂ Y SINH LÀ ĐỘNG VẬT HOANG DÃ/ THÖ SĂN MỒI 152 Bảng 3.16 Lược đồ ánh xạ THỰC THỂ Y SINH LÀ ĐỘNG VẬT HOANG DÃ/ THÖ SĂN MỒI 152 Bảng 3.17 Thống kê các ẩn dụ bậc dưới của ẩn dụ THỰC THỂ Y SINH LÀ MÓN ĂN 157 Bảng 3.18 Lược đồ ánh xạ THỰC THỂ Y SINH LÀ MÓN ĂN 157

Trang 11

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ

Hình 2.1: Tần suất sử dụng của các tiểu loại ẩn dụ có miền đích BỆNH TẬT/ DỊCH BỆNH trong các bản tin y tế tiếng Việt - tiếng Anh 44 Hình 2.2: Tính tầng bậc của ẩn dụ có miền đích BỆNH TẬT/ DỊCH BỆNH trong các bản tin y tế tiếng Việt - tiếng Anh 44 Hình 3.1: Tần suất sử dụng của các tiểu loại ẩn dụ trong ẩn dụ có miền đích THỰC THỂ Y SINH trong các bản tin y tế tiếng Việt - tiếng Anh 80 Hình 3.2: Tính tầng bậc của ẩn dụ có miền đích THỰC THỂ Y SINH trong các bản tin y tế tiếng Việt - tiếng Anh 81

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 Lý do lựa chọn đề tài

Những năm gần đây, NNH tri nhận đã trở thành một trào lưu nổi bật trong nghiên cứu ngôn ngữ gắn liền với tư duy Một trong những trọng tâm của khuynh hướng này là việc tiếp cận ADYN và sự phản ánh chúng vào ngôn ngữ Nó không dừng lại ở việc miêu tả mà còn đạt nhiều thành tựu trong giải thích cơ chế hình thành và vận hành ngôn ngữ Cùng các hỗ trợ liên ngành, lý thuyết ADYN và việc

áp dụng lý thuyết này vào nghiên cứu diễn ngôn thực sự là một công cụ hữu hiệu để tìm hiểu các đặc trưng ngôn ngữ và tư duy gắn liền với bối cảnh văn hóa, xã hội của cộng đồng, trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến nền tảng kinh nghiệm trong tâm trí người dùng ngôn ngữ

Với ưu thế đặc biệt trên nhiều lĩnh vực, trong đó có giao tiếp, TA đã trở thành một ngôn ngữ quốc tế, được sử dụng rộng rãi trên thế giới Tại Việt Nam, TA luôn

là môn học nhận được sự quan tâm sâu sắc ở bất cứ bậc học nào Ở Học viện Quân

y, ngoài việc học TA cơ sở trong hai năm đầu, học viên còn được tiếp cận với TA chuyên ngành y Trong bối cảnh của nền cách mạng công nghiệp 4.0 đang diễn ra như vũ bão đã giúp cho việc cập nhật các thông tin mới một cách đơn giản, liên tục

và tức thời về mọi mặt của đời sống xã hội, trong đó có y tế, một lĩnh vực được nhiều người quan tâm bởi nó liên quan đến tiêu chí đánh giá hạnh phúc của con người Hằng ngày, để nắm bắt được các tin tức mà không phải mất nhiều thời gian,

mọi người có thể dễ dàng truy cập vào các trang web, bản tin y tế trên vtv.vn, dantri.com.vn… và bản tin y tế trên trang cnn.com, nytimes.com… Đây là các kênh

thông tin có độ tin cậy cao, thu hút, phản ánh thông tin y tế nhanh chóng Tuy nhiên, khi đọc các bài báo về y học bằng TA trên các kênh đó, bản thân tôi cùng các đồng nghiệp cũng như nhiều học viên đã gặp không ít lúng túng trong quá trình dịch chuyển nghĩa các từ, cụm từ, từ TA sang TV, đặc biệt những chỗ tác giả sử dụng ý niệm AD, dẫn đến không chuyển tải hết nghĩa gốc mà người viết muốn đề cập đến Hơn nữa, các nghiên cứu diễn ngôn y tế cho đến nay còn rất mới mẻ, chưa được quan tâm thích đáng Xuất phát từ tình hình thực tiễn, chúng tôi nhận thấy cần phải

có một nghiên cứu thấu đáo, cụ thể về vấn đề này, một mặt góp phần tìm ra phương pháp giải quyết khó khăn và nâng cao chất lượng giảng dạy Mặt khác, làm phong phú thêm kho tàng diễn ngôn trong y học, giúp những người làm công tác y tế có thể chủ động sử dụng những ý niệm AD trong công việc hằng ngày

Trang 13

Nghiên cứu về AD tri nhận trong các văn bản y tế là một hướng tiếp cận rất mới Mặc dù tần suất sử dụng ý niệm AD trong các văn bản y tế khá cao nhưng cho đến nay ở Việt Nam chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập đến Với phương châm kế thừa, tiếp nối hướng nghiên cứu của những người đi trước, đồng thời khai

thác những cái mới, chúng tôi quyết định tập trung đi sâu vào nghiên cứu đề tài “Đối

chiếu AD cấu trúc trong các bản tin y tế TV và TA” để chỉ ra những mô hình AD tri

nhận chủ yếu mà người viết hay sử dụng nhằm mục đích tác động một cách mạnh mẽ nhất đến người đọc Việc phân tích AD trong loại văn bản đặc thù này và đối chiếu với những cách diễn đạt tương ứng trong TA sẽ góp phần soi sáng một số khía cạnh trong cách thức tri nhận thế giới của người Anh và người Việt, đào sâu thêm một số vấn đề

về văn hóa ngôn ngữ, đồng thời bổ sung thêm một góc nhìn mới vào những nghiên cứu

về AD tri nhận, giúp cho việc giảng dạy và học tập TA chuyên ngành tại Học viện Quân y thêm phong phú, chất lượng, hiệu quả và lý thú hơn

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu

Vận dụng lý thuyết về ADYN nói chung và AD cấu trúc nói riêng, luận án xác định và đối chiếu việc sử dụng các BTADYN trong các bản tin y tế TV và TA trên các thời báo điện tử; xác định các điểm tương đồng và dị biệt giữa hai ngôn ngữ; từ

đó đề xuất một số hàm ý khi sử dụng các diễn ngôn y tế và ứng dụng trong các lĩnh vực ngôn ngữ

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Với mục đích làm sáng tỏ việc sử dụng AD cấu trúc trong các bản tin y tế

TV và TA, luận án đề ra các nhiệm vụ nghiên cứu sau đây:

1 Tổng quan tình hình nghiên cứu về ADYN trên thế giới và Việt Nam, đặc biệt là nghiên cứu về ADYN trong các văn bản y tế nói chung và các bản tin y tế nói riêng

2 Hệ thống hoá các quan điểm lý luận về ADYN và các khái niệm có liên quan làm cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu

3 Xác lập các BT ngôn ngữ của ADYN trong các bản tin y tế TV và TA: Các

mô hình ADYN nào được sử dụng, các ADYN được xây dựng trên cơ sở ánh xạ nào

và tần suất sử dụng các bản tin y tế, làm rõ hiện tượng chồng lấn AD giữa các MN

4 Miêu tả, phân tích, đối chiếu các mô hình ADYN, hiện tượng chồng lấn AD trong 2 khối ngữ liệu để lý giải điểm tương đồng và dị biệt giữa hai ngôn ngữ, từ đó khẳng định mối quan hệ biện chứng giữa bộ ba Ngôn ngữ - Văn hóa - Tư duy

Trang 14

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là các BTADYN trong các bản tin y tế TV

và TA

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Ngữ liệu nghiên cứu giới hạn trong phạm vi văn bản là các bản tin điện tử hằng ngày về y tế của Việt Nam và Mỹ trong khoảng thời gian giới hạn từ 01/01/2019 - 31/08/2022 Do hạn chế về mặt thời gian và dung lượng, luận án chỉ tập trung nghiên cứu các mô hình AD cấu trúc để làm rõ cơ chế ánh xạ; cách thức tri nhận và phân tích nghĩa AD của các đơn vị từ vựng, qua đó bước đầu kiến giải chức năng dụng học của các mô hình AD đó trong hai ngôn ngữ

4 Phương pháp nghiên cứu và ngữ liệu nghiên cứu

4.1 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện việc khảo sát và nghiên cứu đề tài, luận án sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu sau đây:

- Phư ng pháp miêu t : Sử dụng để miêu tả cơ chế ẩn dụ, cơ chế ánh xạ và

chuyển di các thuộc tính giữa hai miền “nguồn” - “đích”, miêu tả sự chồng lấn giữa các AD có cùng chung cấu trúc khái niệm đích và phân tích, làm rõ tính dụng học của AD theo các khung lý thuyết của ngôn ngữ học tri nhận được sử dụng trong các bản tin y tế TV và TA mà luận án khảo sát

- Phư ng pháp so sánh đối chiếu: Được sử dụng để so sánh các mô hình

ADYN trong khối ngữ liệu của hai ngôn ngữ Cụ thể, luận án đã tiến hành áp dụng phương thức đối chiếu hai chiều để tìm ra những n t tương đồng và dị biệt của ẩn

dụ cấu trúc trong các bản tin y tế TV và TA

- Thủ pháp thống kê, phân loại: Được dùng để tập hợp, phân loại và thống kê

các BTAD trong khối ngữ liệu theo các nhóm để phục vụ mục tiêu nghiên cứu

4.2 Ngữ liệu nghiên cứu

Chúng tôi sử dụng ngữ liệu gồm 500 bản tin TV với 357 BTAD và 500 bản tin TA với 658 BTAD để tiến hành nghiên cứu Tư liệu là những bản tin được thu thập và lựa

chọn, chủ yếu trong chuyên mục Sức khoẻ và một số chuyên mục khác như Đời sống, Kinh tế, Bàn luận, Khoa học… từ những trang web có độ tin cậy cao và phổ biến trong

phạm vi lãnh thổ Việt Nam (http://vtv.vn; http://dantri.com.vn; http://vietnamnet.vn) và

Mỹ (http://nytimes.com; http://cnn.com; ) Thời gian thu thập ngữ liệu trong thời

Trang 15

gian 42 tháng (từ tháng 1/2019 đến tháng 8/2022) để đảm bảo tính cập nhật Ngữ liệu bao gồm 45 mặt bệnh phổ biến như cảm cúm, cảm lạnh, sốt xuất huyết, sốt r t, miễn dịch, vaccine, các loại biến đổi gen, ung thư, vi khuẩn, virus, HIV, lão hoá, các loại u, di truyền, DNA, tế bào, bệnh parkinson, bệnh alzheimer

Sau khi thu thập, ngữ liệu được chia thành hai nhóm: ngữ liệu TV (được mã hoá từ V1 đến V500) và ngữ liệu TA (được mã hoá từ A1 đến A500) Với các ngữ liệu TA, luận án sử dụng bản dịch thô (do nghiên cứu sinh dịch) cho các BT ngôn ngữ và được đặt trong ngoặc vuông sau BT nhằm làm sáng rõ ý niệm sử dụng trong các diễn ngôn

Ngữ liệu được xử lý theo hai bước Bước đầu tiên: Dựa vào khung lý luận về

AD trong Chương 1, các BTAD trong các bản tin y tế thuộc khối ngữ liệu nghiên cứu được nhận diện Dựa vào các đặc điểm của MN, các AD tìm thấy được chia thành các MN, sau đó phân chia thành các tiểu loại tùy theo MN được sử dụng để kích hoạt các AD này Khi đối chiếu với khung lý thuyết, luận án xếp các nhóm AD

có cùng chung miền đích thành một nhóm, từ đó tìm cách giải mã dựa trên cơ chế chiếu xạ và chuyển di thuộc tính giữa hai miền “nguồn’ và “đích” Bước thứ hai: Luận án tiến hành đối chiếu các AD tìm được trong mỗi tiểu loại giữa TV và TA để kiến giải về điểm tương đồng và dị biệt giữa hai ngôn ngữ, từ đó làm rõ mô hình chồng lấn AD trong bản tin y tế TV, TA

5 Đóng góp mới của luận án

5.1 Đóng góp về lý luận

Cho đến nay, đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về ngôn ngữ học tri nhận với việc áp dụng thành tựu của các khung lý thuyết ngôn ngữ học tri nhận trong nhiều lĩnh vực, nhưng đây là luận án đầu tiên ở Việt Nam nghiên cứu về đề tài AD cấu trúc trong các bản tin y tế - một lĩnh vực hiện còn bỏ ngỏ Kế thừa cơ sở lý luận của những nghiên cứu đi trước, luận án đã hệ thống một cách có chọn lọc những khái niệm cốt lõi về NNH tri nhận và ADYN qua việc đi vào nghiên cứu chuyên sâu mô hình AD được tìm thấy trong ngữ liệu và kiến giải cho những tương đồng và khác biệt giữa hai ngôn ngữ, làm rõ tính chồng lấn trong các mô hình ẩn dụ

5.2 Đóng góp về thực tiễn

Các sơ đồ tầng bậc của AD cấu trúc được xây dựng nên để so sánh đối chiếu tần suất, ánh xạ và đặc trưng ngôn ngữ của các AD Từ đó xác định sự giống nhau và khác nhau trong cách tri nhận về các vấn đề liên quan đến sức khỏe nói chung, các mặt bệnh nói riêng, từ đó làm rõ hơn mối quan hệ giữa ngôn ngữ, văn hóa và tư duy trong các

Trang 16

thông tin liên quan đến lĩnh vực y tế và sức khoẻ Kết quả nghiên cứu góp phần bổ sung và làm rõ phương thức tư duy về thế giới khách quan của hai cộng đồng ngôn ngữ nói chung, cách tri nhận về các vấn đề liên quan đến y tế công cộng, công tác khám chữa, điều trị, chăm sóc sức khoẻ cộng đồng nói riêng Đồng thời đây cũng có thể trở thành tài liệu tham khảo hữu ích phục vụ cho hoạt động nghiên cứu, giảng dạy, biên - phiên dịch trong các trường có đào tạo ngành Y khoa, Báo chí, giảng dạy tiếng Anh như một ngoại ngữ

Luận án cũng chỉ ra các mô hình AD cấu trúc và tần suất sử dụng trong bản tin

y tế kết hợp một số bình luận về vai trò của AD cấu trúc trong các diễn ngôn y học Đây là cơ sở tham khảo giúp những nhà nghiên cứu nói chung và những người làm trong lĩnh vực y tế nói riêng nhận thức được tầm quan trọng trong việc lựa chọn ngôn ngữ để phản ánh các vấn đề liên quan đến công tác chăm sóc y tế và khám chữa bệnh nói chung, đồng thời là cơ sở cho các biên tập viên sử dụng AD như một phương tiện giao tiếp và truyền tải thông tin hữu hiệu khi viết và biên tập những tin tức y tế

6 Ý nghĩa của luận án

6.1 Ý nghĩa lý luận

Các kết quả nghiên cứu của luận án góp phần củng cố lý thuyết của NNH tri nhận

và làm rõ thêm về lý thuyết ADYN, lý thuyết về hiện tượng chồng lấn ẩn dụ thông qua ngữ liệu bản tin y tế

Luận án cũng tiếp tục khẳng định ưu thế và vai trò của ADYN trong diễn ngôn, qua đó củng cố thêm tính đa dạng văn hóa của ADYN

Ở Việt Nam, đây là công trình nghiên cứu một cách có hệ thống đầu tiên các

AD cấu trúc về sức khỏe nói chung và các mặt bệnh nói riêng trên thể loại bản tin y

tế Luận án mở ra hướng nghiên cứu sâu hơn về thể loại ngôn ngữ y tế mà lâu nay chưa nhận được nhiều sự quan tâm của các nhà ngôn ngữ học

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Nghiên cứu này trước hết sẽ có ý nghĩa đối với những độc giả của bản tin

y tế, những người làm công tác nghiên cứu ngôn ngữ hiểu sâu hơn về ẩn dụ ý niệm nói chung và AD cấu trúc nói riêng trong các diễn ngôn y tế theo góc độ NNH tri nhận

Đồng thời, luận án cũng sẽ giúp cho những người làm công tác biên - phiên dịch tài liệu y tế, cho giảng viên biên soạn và thiết kế tài liệu giảng dạy TA chuyên ngành, cho sinh viên đang theo học TA chuyên ngành y tế tại các trường đại học hiểu sâu hơn về ẩn dụ tri nhận trong các bản tin y tế tiếng Việt và tiếng Anh

Trang 17

Ngoài ra, đối với lĩnh vực báo chí, các kết quả nghiên cứu của luận án có thể giúp ích cho công tác viết tin, dịch tin tức cũng như bình luận các bản tin y tế

7 Bố cục của luận án

Ngoài các phần chung như Phần mở đầu, Phần kết luận, Phụ lục và Tài liệu tham khảo, luận án có kết cấu gồm 3 chương chính sau:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận

Chương này trình bày tổng hợp và phân tích các nghiên cứu có liên quan đến ngôn ngữ y học và ADYN trong các văn bản y tế Một số vấn đề lý luận chung về ADYN, hiện tượng chồng lấn AD, NNH so sánh đối chiếu, ngôn ngữ y học và bản tin y tế cũng được trình bày trong chương này

Chương 2: Đối chiếu hiện tượng chồng lấn trong các ADYN có MĐ “bệnh tật/ dịch bệnh” trong bản tin y tế tiếng Việt - tiếng Anh

Dựa trên lý thuyết của AD cấu trúc, lý thuyết về hiện tượng chồng lấn ẩn dụ, các mô hình AD có chung MĐ “bệnh tật/ dịch bệnh” được sắp xếp và phân tích, lý giải theo tầng bậc, theo các thuộc tính ánh xạ Các mô hình AD với MN khác nhau cùng tập hợp kiến tạo nên một ý MĐ được xác định là chồng lấn lên nhau nhờ các tương đồng trong thuộc tính ánh xạ Các tri thức từ nhiều MN được kích hoạt và chọn lọc để cùng làm rõ một ý niệm đích Từ đó, luận án đối chiếu để tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt giữa hai ngôn ngữ

Chương 3: Đối chiếu hiện tượng chồng lấn trong các ADYN có MĐ “thực thể y sinh” trong bản tin y tế tiếng Việt - tiếng Anh

Chương này đi sâu phân tích các mô hình AD có MĐ “TTYS”, làm rõ tính tầng bậc trong cấu trúc ẩn dụ Dựa trên lý thuyết của AD cấu trúc, lý thuyết về hiện tượng chồng lấn AD, luận án chỉ ra sự chồng lấn trong các cấu trúc ý niệm căn cứ trên các tri thức được chuyển di từ MN lên MĐ, các tương đồng ánh xạ giữa các mô hình ý niệm Chứng minh hiện tượng nhiều MN cùng được huy động để cấu trúc nên một miền ý niệm đích là hiện tượng chồng lấn AD Tập hợp các MN được sử dụng để giải thích và làm rõ một MĐ tạo thành một ma trận miền

Trang 18

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.1.1 Tình hình nghiên cứu về ngôn ngữ y học và bản tin y tế ở nước ngoài

Theo khảo sát của chúng tôi, về lĩnh vực ngôn ngữ y tế nói chung, các nhà nghiên cứu đã tiếp cận theo nhiều hướng khác nhau Nhìn chung, các nghiên cứu ban đầu chủ yếu là các nghiên cứu lý thuyết, bắt đầu từ các giáo trình y khoa và từ điển chuyên ngành y khoa, các nghiên cứu chủ yếu tập trung dưới góc độ thuật ngữ chuyên ngành Sau đó là các nghiên cứu ứng dụng với các hướng tiếp cận dựa trên

các bình diện như: phân tích diễn ngôn, lý thuyết giao tiếp và hành động ngôn ngữ,

NNH xã hội và NNH tri nhận

Trên thế giới, giáo trình về y khoa khá đa dạng, được sắp xếp thành 12 loại như các giáo trình tập trung vào các thuật ngữ y khoa, các tiểu luận về y học, các câu chuyện về y đức, chăm sóc sức khỏe từng giai đoạn, từng mặt bệnh, cẩm nang

cho bác sĩ và sinh viên y khoa… Giáo trình điển hình có thể kể đến English for the Medical Professions (Beitler & Macdonald, 1982) [71], The Language of Medicine

in English (Bloom, 1982) [75], Human diseases (2003) [88] và English in Medicine: course in communication skills (2005) [99]… tập trung chủ yếu vào các kỹ năng

đọc hiểu để làm chủ các từ vựng chuyên ngành y khoa Trong khi Bloom (1982) thiết kế giáo trình với các chủ điểm chung, đơn giản như y học - lịch sử và văn hóa dân gian, các trường hợp cấp cứu y tế, phòng ngừa và chăm sóc sức khỏe công nghệ cao [75] thì Beitler & Macdonald (1982) lại tập trung vào các chuyên ngành sâu hơn như: Di truyền học, Giải phẫu và Sinh lý học… với mục đích giúp sinh viên y khoa có thể tiếp cận các văn bản chuyên ngành phức tạp hơn [71]

Về các cuốn giáo trình dùng để giảng dạy và nghiên cứu tiếng Anh chuyên

ngành y, tác giả Eric H Glendinning & Ron Howard (2007) với “Profesional English in Use Medicine” đã đề cập đến các chủ đề đa dạng bao gồm các mặt bệnh

và triệu chứng, cách phòng và điều trị bệnh cũng như giới thiệu tổng quát các từ vựng chuyên ngành liên quan đến các bộ phận và chức năng của cơ thể, đội ngũ nhân viên y tế, các nghiên cứu chuyên sâu [99]

Về từ điển, bên cạnh Mosby's Medical Dictionary 9th Edition [139], Butterworths Medical Dictionary 2nd edition (1978) [136]; Encyclopedia and dictionary of medicine, nursing, and allied health (1983) [137], Dorland’s

Illustrated Medical Dictionary [89] với ấn bản lần thứ 32 được coi là cuốn Từ điển

Trang 19

Y khoa nổi tiếng trên thế giới, cung cấp những tri thức tổng quát và chuyên sâu cho các bác sĩ, các nhà nghiên cứu, các sinh viên ngành y và tất cả những ai muốn tìm hiểu về y học Cuốn sách cũng nêu lên đầy đủ những thuật chữa bệnh truyền thống của các nền văn hóa phương Ðông và những thành tựu tiên tiến của y học phương Tây, từ lịch sử y học cổ đại đến các phân nhánh tỉ mỉ của y học hiện đại qua hơn 120.000 mục từ kết hợp với 1.500 minh họa màu được chọn lọc cẩn thận để bổ sung

và làm sáng tỏ các định nghĩa

Tiếp cận dưới góc độ thuật ngữ, trên thế giới bên cạnh các nghiên cứu đặc điểm

cấu tạo thuật ngữ ngành Y, đã có khá nhiều nghiên cứu về vấn đề chuyển dịch thuật ngữ như Pilegaard, Morten (1997) cùng các cộng sự [144], Berghammer (2006) [73], Mgr et Mgr Eva Dávidová (2011) [85], Adrian Naznean (2013) [140], Anna Browne (2016) [77], Ali Akbar Zeinali (2017) [159], Dzuganova (2017) [90]… Với nghiên cứu của mình về sự hình thành từ chuyển dịch các thuật ngữ y học, Ali Akbar Zeinali (2017) đã so sánh đối chiếu cấu tạo từ trong chuyển dịch thuật ngữ y học TA sang tiếng Ba Tư, đồng thời gợi mở ra các hướng khi dịch thuật TA y học Mgr et Mgr Eva Dávidová (2011) [85] lại đi sâu phân tích phạm vi ảnh hưởng của tiếng Latinh đối với thuật ngữ y học TA Nghiên cứu chỉ ra rằng thuật ngữ TA chuyên ngành tiêu hóa được hình thành dựa trên từ gốc, ngữ nghĩa và hình thức từ

Anna Browne (2016) [77] cho rằng để dịch được văn bản y tế, người dịch bên cạnh việc phải có khả năng ngôn ngữ tốt còn cần đến kiến thức chuyên sâu về y học và thuật ngữ y học Tuy nhiên, chỉ có một số ít những người thông thạo cả hai lĩnh vực, đáp ứng được nhu cầu thị trường dược phẩm và y tế ngày càng tăng Do đó, để tránh được những sai lầm đáng tiếc có thể xảy ra trong dịch thuật dẫn đến hậu quả nghiêm trọng, các dịch giả nên hợp tác với các chuyên gia y tế

Nghiên cứu về vị trí của TA chuyên ngành y trong TA chuyên ngành nói chung và TA khoa học quốc tế, Dzuganova (2017) [90] nhận thấy sự cần thiết phải tạo ra các thuật ngữ mới cho các khái niệm mới Bên cạnh đó, nghiên cứu còn chỉ ra

sự không cân xứng giữa thuật ngữ giải phẫu và lâm sàng, phân tích các nguồn chính

để hình thành nên thuật ngữ y tế, đặc biệt là đi sâu tìm hiểu một số ưu điểm của các

thuật ngữ y khoa có nguồn gốc từ các thuật ngữ Hy Lạp và Latinh

Trên bình diện diễn ngôn và lý thuyết giao tiếp ngôn ngữ: Công trình

“English in medical education: An intercultural approach to teaching language and values” được Peih-ying Lu & John Corbett (2012) [134] tập trung vào những phát

triển gần đây về giáo dục y tế và ngôn ngữ, cụ thể là sử dụng ngôn ngữ để giải quyết các vấn đề liên quan đến lâm sàng Peih-ying Lu & John Corbett đã biến lớp

Trang 20

học như một cơ sở y tế, giúp sinh viên y khoa hiểu được các diễn ngôn cụ thể trong một loạt các tình huống lâm sàng giữa bác sĩ với bệnh nhân và bác sĩ với các đồng nghiệp Ngoài ra giáo trình còn giúp sinh viên phát triển các kỹ năng thuyết phục,

phản biện trong một số tình huống cụ thể

Dưới góc độ lý thuyết giao tiếp, các nhà nghiên cứu như Ainsworth Vaughn

(1994) [66]; Cicourel (1981) [81]; Frankel (1990) [96]; Hein và Wodak (1987) [107]; Mishler (1984) [138]; Robins and Wolf (1988) [146]; Sarangi và Stembrouk (1998) [148]; Waitzkin (1983, 1991) [153], [154]; West (1984) [156]; West and Frankel (1991) [155]; Wodak (1996); Davidson (2000) [86]… đã dành nhiều sự quan tâm đến diễn ngôn y tế đặc biệt là diễn ngôn giữa bác sĩ và bệnh nhân, chủ yếu tập trung vào những khó khăn mà bệnh nhân và bác sĩ gặp phải khi giao tiếp với nhau Hầu hết các nghiên cứu tập trung vào một loại diễn ngôn, đó là “phỏng vấn y tế” Đây

là một loại tương tác có cấu trúc, được thực hành giữa bác sĩ và bệnh nhân, được giảng dạy trong các trường y khoa, được thiết kế giúp bác sĩ nhanh chóng tiếp cận với bệnh nhân trong chẩn đoán và điều trị Do đó, tương tác y tế là một loại điều tra bằng lời nói

và thể chất, một sự kết hợp giữa các trải nghiệm không có tổ chức với các mô hình và quy trình quen thuộc về tính dễ bị tổn thương của con người đối với bệnh tật

Tương tự, Siminoff LA, Graham GC, Gordon NH (2006) [150] ghi âm các cuộc hội chẩn của 58 bác sĩ chuyên khoa ung thư và 405 bệnh nhân ung thư vú để tìm ra mô hình giao tiếp giữa bác sĩ - bệnh nhân Kết quả cho thấy dựa vào đặc điểm của người bệnh như độ tuổi, chủng tộc, trình độ học vấn, thu nhập, có sự khác nhau

về số lượng các câu hỏi, mối quan tâm đến bệnh và bệnh nhân da trắng có nhiều mô hình giao tiếp hơn số còn lại Từ đó cần chú trọng đến việc nâng cao kỹ năng giao tiếp của các bác sĩ lâm sàng để nâng cao hiệu quả điều trị bệnh

Luận án của Berbyuk Lindström N (2008) [72] cũng cùng chia sẻ mối quan tâm đến mô hình giao tiếp giữa bác sĩ không phải người Thuỵ Điển - bệnh nhân là người Thuỵ Điển và bác sĩ không phải người Thuỵ Điển - nhân viên y tế Thuỵ Điển

để tìm ra mối quan hệ quyền lực trong tham vấn y tế đa văn hóa, đa ngôn ngữ Như vậy giao tiếp giữa bác sĩ và bệnh nhân thu hút được nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ nói chung và y tế nói riêng Đây là mối quan hệ có tính chất phức tạp bởi đó là sự tương tác của các cá nhân có vị trí không bình đẳng, thường là không tự nguyện và liên quan đến các vấn

Trang 21

nhân ung thư nói riêng, như mục đích giao tiếp y tế; phân tích các mô hình giao tiếp; các hành vi giao tiếp trong quá trình tham vấn và ảnh hưởng của hành vi giao tiếp đến kết quả điều trị bệnh Từ đó nhận thấy giao tiếp y tế đã tạo ra mối quan hệ thân thiện, gần gũi giữa bác sĩ với bệnh nhân; giúp các bác sĩ dễ dàng hơn trong việc trao đổi các thông tin lâm sàng và đưa ra các quyết định lâm sàng điều trị bệnh Bên cạnh đó Ong và cộng sự phân tích các cặp hành vi giao tiếp phổ biến trong quá trình tham vấn lâm sàng như: Hành vi công cụ (định hướng chữa bệnh) - hành vi tình cảm (định hướng chăm sóc); hành vi bằng lời nói và hành vi không bằng lời nói; hành vi riêng tư; hành vi kiểm soát cao - thấp; các từ chuyên ngành y khoa - ngôn ngữ hằng ngày

Warren J Ferguson & Lucy M Candib (2002) [95] đã đi sâu phân tích chất lượng giao tiếp và mối quan hệ của bác sĩ - bệnh nhân dựa trên các yếu tố như văn hóa, tôn giáo, chủng tộc và ngôn ngữ Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng các yếu tố trên có ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng của mối quan hệ bác sĩ - bệnh nhân Ví dụ: Bệnh nhân thuộc dân tộc thiểu số, không thành thạo TA sẽ ít nhận được sự đồng cảm từ bác sĩ do rào cản ngôn ngữ Từ đó khuyến khích bổ sung vào lực lượng y tế những bác sĩ thuộc dân tộc thiểu số để chất lượng giao tiếp cũng như quá trình khám, chữa bệnh được cải thiện hơn

Tiếp cận theo hướng tri nhận, trên thế giới đã có một số công trình nghiên cứu về medical metaphors, có thể kể đến như:

Paul Hodgkin (1985) [109] với công trình “Medicine is war: and other medical metaphors” đã cho thấy quá trình tri nhận về y học xoay quanh các AD cơ

bản như: CƠ THỂ CON NGƯỜI LÀ CỖ MÁY, Y HỌC LÀ CHIẾN TRANH, Y HỌC LÀ CÂU CHUYỆN TRINH THÁM, SỨC KHỎE LÀ HƯỚNG LÊN, ỐM ĐAU LÀ HƯỚNG XUỐNG… trong đó hình ảnh về quân sự xuất hiện ở mọi khía cạnh của ngôn ngữ, đặc biệt là y tế qua các dụ dẫn như:

He’s having a heart attack (Anh ấy bị đau tim)

Killer T cells (tế bào giết người T)

The body’s defences (đề kháng của c thể)

Van Rijn-van Tongeren, G W (1997) [152] tập trung nghiên cứu về vai trò của AD trong các văn bản y tế, đặc biệt là trong các nghiên cứu về ung thư để tìm ra các phép AD thường gặp - cụ thể là các MN nào được sử dụng để ý niệm hóa MĐ - các khái niệm y học Tác giả nhận thấy các BTAD sau thường xuất hiện: TẾ BÀO UNG THƯ LÀ CON NGƯỜI - TẾ BÀO UNG THƯ LÀ KẺ THÙ - UNG THƯ LÀ CHIẾN TRANH - HỆ GEN LÀ VĂN BẢN - TẾ BÀO LÀ MỘT BỘ MÁY… trong

đó AD về các tác nhân được sử dụng phổ biến nhất Nghiên cứu đã chỉ ra mối quan

Trang 22

hệ mật thiết giữa ADYN trong các diễn ngôn về ung thư học với một số lý thuyết y học nhất định khi phân tích sự tương ứng giữa hai miền ý niệm Thông qua sự diễn

ra tương tác giữa ba nhân tố: Chủ thể, khách thể và xã hội, Van Rijin-van Tongeren nhận ra khoa học là một quá trình phát triển không ngừng, theo chiều xoáy trôn ốc

và phép AD là một phần không thể thiếu trong các văn bản y tế và làm đơn giản hóa các kiến thức y học Nó thực sự là công cụ nhận thức và giao tiếp sống còn của bác

sĩ và bệnh nhân

Mabeck, C E., & Olesen, F (1997) [135] với công trình “Metaphorically transmitted diseases: How do Mabeck, C E., & Olesen, F patients embody medical explanations?” đã xây dựng khung giao tiếp chung giữa bệnh nhân và bác sĩ; bên

cạnh đó giúp bệnh nhân hiểu được các giải thích lâm sàng của bệnh nhờ đơn giản hóa các thuật ngữ y khoa thông qua mô hình AD CƠ THỂ CON NGƯỜI LÀ CỖ MÁY Kết quả nghiên cứu cho thấy bệnh nhân có quan niệm chung về cơ thể con người và các chức năng của cơ thể vận hành như một cỗ máy khi thường xuyên sử

dụng các từ mang tính kỹ thuật như: van tim, tuần hoàn máu, ống, khớp hình cầu, đường vận động… Khi có sự rối loạn chức năng ở một bộ phận nào đó thì các bác sĩ

chuyên khoa như các kỹ sư có thể can thiệp và sửa chữa những hỏng hóc trong hệ thống máy móc đó

Reisfield & Wilson (2004) [145] đã nghiên cứu về ph p AD trong chuyên ngành ung thư học, tập trung chủ yếu vào AD CHIẾN TRANH khi x t về mối quan

hệ bệnh nhân - bác sĩ cũng như sự trải nghiệm các giai đoạn của bệnh AD chiến tranh đã giúp đơn giản hóa những khái niệm sinh học phức tạp, giúp bệnh nhân bớt xáo trộn tâm lý khi tiếp nhận thông tin bệnh đột ngột, giúp họ kiểm soát bệnh tốt hơn Bên cạnh đó tác giả nhận thấy ph p AD này còn được các công ty dược phẩm

sử dụng để tiếp thị các tác nhân hóa trị liệu khi đưa ra những hình ảnh như một bệnh nhân ung thư vú đeo găng tay đấm bốc màu hồng có in tên thuốc với dòng chữ “ung thư vú giai đoạn đầu - đối thủ hằng ngày” Hay trong một hình ảnh khác khi quảng cáo dược phẩm liposomal doxorubicin điều trị ung thư cùng người phụ nữ cầm kiếm với khẩu hiệu “hãy chiến đấu hết sức mình” Tuy nhiên kết quả nghiên cứu cũng cho thấy việc sử dụng AD trong các diễn ngôn lâm sàng cần được điều chỉnh để phù hợp với từng bệnh nhân dựa trên nhiều khía cạnh cụ thể như văn hóa, cảm xúc của bệnh nhân, các khía cạnh cụ thể của bệnh hay tiên lượng bệnh

Thông qua ba tờ báo uy tín: Tờ The Liberty Times và The United Daily News ở Đài Loan và tờ Nhân dân Nhật báo ở Trung Quốc, Chiang & Duann (2007) đã

phân tích mô hình ý niệm BỆNH TẬT LÀ CHIẾN TRANH khi đi sâu vào nghiên cứu về bệnh SARS theo hướng phân tích của Charteris-Black (2004) Dữ liệu đã cho thấy các định hướng chính trị và tư tưởng cơ bản của báo chí được truyền tải

Trang 23

thông qua việc sử dụng mô hình AD này SARS không còn là một căn bệnh nữa

mà đã trở thành một cuộc chiến, một thảm họa dưới góc độ chính trị

Urbonait và Šeškauskien (2007) [149] khi nghiên cứu ngẫu nhiên 600 bài

báo bằng TA và tiếng Lithuanian từ năm 2000 đến năm 2005 với MN là sức khỏe trong các diễn ngôn chính trị và kinh tế đã nhận ra hai ngôn ngữ đều sử dụng AD

về sức khỏe như bệnh tật và vết thương để khái niệm hóa các vấn đề về kinh tế

và chính trị Nhóm tác giả đã đưa ra bảy BTAD sức khỏe, trong đó BT BẤT ỔN CHÍNH TRỊ LÀ BỆNH TẬT (problem is aliment/ malfunction) được xuất hiện với tần suất nhiều nhất (63-64%) Từ đó có thể nhận thấy các vấn đề về kinh tế chính trị dường như gắn liền với bệnh tật, ốm đau và những điểm yếu của cơ thể con người hơn là tình trạng tốt và cân bằng

Wiggins (2012) [157] cho biết trong nghiên cứu của mình về bệnh ung thư thường xuyên bắt gặp những thuật ngữ quân sự như: (battle, courageously fight

against cancer, win, give up the fight, lose…) (chiến đấu, can đảm chiến đấu

chống lại ung thư, chiến thắng, từ bỏ cuộc chiến, thua cuộc) Nghiên cứu nhận

ra rằng chỉ có AD với MN chiến tranh mới có thể lột tả hết được hình ảnh các

tế bào lympho chiến đấu với các tế bào “sát thủ” để giành giật sự sống cho người bệnh

Nie và cộng sự (2016) [142] đã xem x t đến cả hai khía cạnh khi sử dụng các phép AD quân sự trong y học, cụ thể là trong việc chữa trị căn bệnh thế kỷ HIV Bên cạnh việc giúp nâng cao tinh thần của bệnh nhân và các chuyên gia chăm sóc sức khỏe trong quá trình chữa bệnh, AD quân sự vô hình trung đã hạ thấp các nguy

cơ tiềm ẩn của căn bệnh thế kỷ dẫn đến việc có những người có chủ ý lây nhiễm bệnh này với mục đích “phơi nhiễm bình thường” Qua đó, cần phải cân nhắc khi sử dụng những hệ thuật ngữ quân sự trong các nghiên cứu y tế và chăm sóc bệnh nhân Bleakley, A (2017) [74] bác bỏ quan điểm cho rằng ngôn ngữ y tế là ngôn ngữ y học khách quan mà ph p AD không thể tồn tại trong môi trường khoa học như vậy Nghiên cứu đã chỉ ra cần phải nghiêm túc đánh giá lại vai trò của các ph p

AD trong việc hình thành nên một nền văn hóa y tế lành mạnh, đặc biệt là trong mối quan hệ giữa bác sĩ với bệnh nhân Qua đó việc chẩn đoán và giao tiếp với bệnh nhân cần được chú trọng

Các nghiên cứu so sánh đối chiếu ADYN trong ngôn ngữ y tế giữa hai hoặc nhiều hơn hai ngôn ngữ, trên thế giới có thể kể đến các công trình như:

Françoise Salager-Meyer (1990) [147] đã khảo sát và phân tích sự tương đồng của 130.000 thuật ngữ y học TA, tiếng Pháp và tiếng Tây Ban Nha dưới góc nhìn

AD tri nhận Nghiên cứu chỉ ra mặc dù AD tri nhận chiếm số lượng rất nhỏ trong

Trang 24

nguồn ngữ liệu nhưng lại thường đề cập đến các khái niệm quan trọng và người đọc cần phải có những kiến thức nhất định mới có thể giải mã được Các thuật ngữ y học này chủ yếu nằm trong nhóm AD cấu trúc do nguồn gốc của các thuật ngữ chủ yếu bắt nguồn từ gốc Latinh, mang tính khoa học và miêu tả cao

Alshunnag (2016) [69] trong luận án “Translating conceptual metaphor in popular biomedical texts from English to Arabic” khi khảo sát cách thức chuyển

dịch 731 BTAD trong văn bản y sinh với nguồn ngữ liệu là các bài báo trên Tạp chí khoa học học nổi tiếng Science American sang tiếng Ả Rập đã tìm ra rằng ADYN đóng một vai trò quan trọng trong việc tạo ra các lược đồ nhằm làm đơn giản hóa các kiến thức về y học trừu tượng bằng cách sử dụng các lĩnh vực cụ thể, quen thuộc hơn nhằm thu hút sự chú ý của độc giả Với việc áp dụng khung lý thuyết ADYN của Lakoff và Johnson (1980) [129], lý thuyết trường ngữ nghĩa của AD trong việc xác định MN, MĐ của Kittay và Lehrer (1981) [113] và quy trình xác định

AD (MIP) được đề xuất bởi Group (2007) [104], tác giả tập trung phân tích sự ánh

xạ của MN THỰC THỂ Y SINH qua ba góc độ: cấu trúc, bản thể và định hướng, trong đó AD cấu trúc là phạm trù chiếm ưu thế, tiếp theo là AD bản thể và ít nổi bật nhất là AD định hướng Qua số liệu thống kê cho thấy 72 ánh xạ của MN như chiến tranh, hành trình, thông tin, cạnh tranh, máy móc, thực phẩm, thực vật, thiên nhiên, thảm họa, nghệ thuật… được sử dụng để đại diện cho 4 khía cạnh chính của MĐ là bệnh tật, bộ phận cơ thể, vaccine và các nghiên cứu y sinh Bên cạnh đó, nghiên cứu còn cung cấp những hiểu biết sâu sắc khi chỉ ra những điểm tương đồng và khác biệt trong chuyển dịch các mô hình AD ở hai nền văn hóa có hệ thống ngôn ngữ và khái niệm khác nhau - tiếng Ả Rập và TA, đặc biệt là trong lĩnh vực khoa học y sinh Như vậy, dưới góc độ tri nhận, các nghiên cứu về ngôn ngữ/ thuật ngữ y tế chủ yếu dừng lại ở các diễn ngôn trực tiếp, hoặc là nghiên cứu từ điển Cũng có một số công trình tập trung nghiên cứu ADYN trong y học nhưng mới chỉ tập trung ở một

số mặt bệnh hiểm nghèo như ung thư, SARS và HIV, chưa đi sâu phân tích ở các mặt bệnh phổ biến khác

1.1.2 Tình hình nghiên cứu về ngôn ngữ y học và bản tin y tế ở trong nước Dưới góc độ lý thuyết giao tiếp, Nguyễn Thị Tuyết Mai (2019) [141] góp

phần làm tăng sự hiểu biết về các bước thoại, các dấu hiệu từ vựng và các yếu tố chủ đạo tạo thành việc triển khai các bước thoại trong các báo cáo trường hợp lâm sàng TA và TV Thông qua phương pháp định lượng, định tính và đối chiếu, kết quả cho thấy thể loại diễn ngôn của các báo cáo ca bệnh đặc trưng gồm 12 bước thoại với 22 bước tiểu thoại So với các báo cáo TA thiên về sử dụng nhiều động từ tường

Trang 25

thuật thì các báo cáo TV thường mang nhiều thông tin hơn nhưng các từ, cụm từ trong các văn bản TV lại không đa dạng và sử dụng lặp đi lặp lại

Tập trung nghiên cứu các thành ngữ TA và TV liên quan đến chủ đề sức khỏe, Trần Huy Sáng (2020) [46] đã hệ thống hóa cơ sở lý thuyết, nghĩa biểu trưng của thành ngữ, đưa ra những phương thức đối chiếu thành ngữ và lý thuyết liên quan đến chuyển dịch và chuyển dịch thành ngữ liên quan đến chủ đề sức khoẻ Trên cơ

sở nghiên cứu về cấu trúc cú pháp, phạm vi biểu hiện ngữ nghĩa, những đặc trưng tư duy của hai cộng đồng văn hóa Anh - Việt về sức khỏe trở nên sáng tỏ hơn Bên cạnh việc xác định được các thành ngữ tương đương giữa hai nhóm thành ngữ, kết quả nghiên cứu cũng đề xuất một số biện pháp chuyển dịch phù hợp các thành ngữ

có liên quan đến sức khỏe về thể chất, sức khỏe tinh thần và xã hội trong TA không

có dạng tương đương trong TV

Dưới góc độ thuật ngữ, trong Việt ngữ, có thể nhận thấy hai hướng tiếp cận

chính: Nghiên cứu các thuật ngữ Đông y và nghiên cứu các thuật ngữ Tây y

Đi sâu nghiên cứu các thuật ngữ Đông y, các tác giả đều tiếp cận dưới góc độ cấu trúc luận để tìm hiểu về đặc điểm định danh, cấu tạo hay con đường hình thành nên thuật ngữ để từ đó làm nổi bật đặc trưng định danh và cách thức biểu thị độc đáo của thuật ngữ chuyên ngành y Có thể kể tới các nghiên cứu của Nguyễn Thị Kim Anh (2017) [1] với luận văn thạc sĩ NNH đã đi vào phân tích hệ thống thuật ngữ y học cổ truyền thống qua các giáo trình y học cổ truyền và các bài giảng y học

cổ truyền bằng TV Thuật ngữ y học cổ truyền Việt Nam là từ ngữ của ngành y học

cổ truyền biểu thị các khái niệm, chỉ tên các bộ phận cơ thể, kinh mạch, biểu hiện diễn biến của bệnh và cơ thể con người Bên cạnh đó, luận văn còn nghiên cứu sâu

về đặc điểm định danh của thuật ngữ trong các khía cạnh: Con đường hình thành, kiểu ngữ nghĩa và đặc điểm cách thức biểu thị của thuật ngữ X t theo kiểu ngữ nghĩa của các thuật ngữ y học cổ truyền TV có thể khẳng định rằng, toàn bộ thuật ngữ y học cổ truyền TV là những đơn vị định danh trực tiếp Tuy nhiên, thuật ngữ y học cổ truyền còn nhiều điểm cần phải được nghiên cứu và điều chỉnh để phù hợp với sự phát triển của ngành y học cổ truyền Nguyễn Chi Lê (2019) [38] khảo sát, miêu tả, phân tích các thuật ngữ Đông y TV, trên các phương diện: Đặc điểm cấu tạo, đặc điểm ngữ nghĩa và phương thức định danh như các thuật ngữ về lý luận y học cổ truyền, đông dược, phương tễ, châm cứu - huyệt vị, các chuyên khoa y học cổ truyền: nội, ngoại, sản, nhi, lão Với nguồn tư liệu khảo sát gồm các cuốn Từ điển Đông y

đã xuất bản, luận án đã nghiên cứu phương diện cấu tạo và định danh của hệ thống thuật ngữ này để làm nổi bật tính chuyên môn, tính đặc thù, tính độc đáo của thuật ngữ Đông y trong TV về các mặt: Cách thức biểu thị, đặc điểm phân định nội dung

Trang 26

biểu đạt theo tính chuyên môn Từ đó làm cơ sở định danh của hệ thuật ngữ cho từng nhóm lĩnh vực trong hệ thuật ngữ; làm cơ sở cho những miêu tả, phân tích, nhận x t, đánh giá và kết luận của luận án; làm rõ những n t tương đồng và n t khác biệt về đặc trưng định danh của thuật ngữ Đông y TV

Những công trình nghiên cứu về thuật ngữ Tây y với hướng tiếp cận về định danh và cấu tạo ngữ nghĩa, Phí Thị Việt Hà (2017) [14] đi sâu vào đánh giá

ưu điểm và nhược điểm của hệ thống thuật ngữ phụ sản TV từ đó đề xuất phương hướng, giải pháp cụ thể nhằm chuẩn hóa theo các tiêu chí của NNH thông qua việc nghiên cứu, so sánh điểm tương đồng và khác biệt của hệ thuật ngữ phụ sản trong TA và TV dựa trên các phương diện đặc điểm cấu tạo, ngữ nghĩa và phương thức định danh Luận án tiến sĩ “Nghiên cứu thuật ngữ chỉ bệnh trong

TA và cách chuyển dịch sang TV”, Nguyễn Thị Thu Hoài (2018) [23] khi khảo sát 1.949 thuật ngữ chỉ bệnh đã tìm ra sự khác biệt lớn về tỷ lệ thuật ngữ là từ và ngữ giữa TA và TV; xác định 8 mô hình cấu tạo trong TA và 11 mô hình trong TV Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu cũng cho thấy những thuật ngữ chỉ bệnh cơ bản được chia thành hai phạm trù ngữ nghĩa: Đặc trưng của bệnh và đặc điểm cơ thể người; đồng thời đánh giá mức độ tương đương khi chuyển dịch các thuật ngữ giữa 2 ngôn ngữ Tuy vậy, luận án mới chỉ dừng lại ở việc khảo sát, nghiên cứu về thuật ngữ chỉ bệnh trong phạm vi từ điển, chưa phải là những thuật ngữ trong các văn bản y học hay trong giao tiếp của các nhân viên y tế

Cùng chung mối quan tâm về thuật ngữ Tây y nhưng với hướng tiếp cận nghiên cứu đồng đại, lịch đại với luận án “Khảo sát thuật ngữ y học tiếng Anh và cách phiên chuyển sang tiếng Việt”, Vương Thị Thu Minh (2005) [41] tìm hiểu về

cơ cấu hệ thống thuật ngữ y học TA về mặt nội dung, cấu trúc và lịch sử hình thành Qua khảo sát 9.832 thuật ngữ y học TA, tác giả cũng đề xuất một số giải pháp trong việc phiên chuyển thuật ngữ y học giữa TA sang TV nhằm đảm bảo tính chính xác, tính quốc tế và chuẩn hóa thuật ngữ y học trong TV Trong khi đó, dựa trên lý thuyết về vay mượn và tiếp xúc ngôn ngữ có chọn lọc, Lưu Trọng Tuấn (2009) [57] lại đi sâu nghiên cứu từ việc ảnh hưởng và ràng buộc văn hóa của các thuật ngữ y học Việt Nam với các thuật ngữ tương đương trong tiếng Pháp, TA và tiếng Trung Qua đó có thể nhận thấy sự tiếp xúc ngôn ngữ có chọn lọc không những củng cố vững chắc hơn hệ thống thuật ngữ y học Việt Nam mà còn phải đạt được sự phù hợp hài hòa với văn hóa người Việt

Dưới góc độ NNH chức năng hệ thống, Nguyễn Thanh Nga (2018) [42] đi sâu

nghiên cứu các nguồn liên nhân được sử dụng trong TA và TV, tập trung chủ yếu vào ngôn ngữ của bác sĩ và ý nghĩa liên nhân Nghiên cứu đã đóng góp những phát

Trang 27

hiện lớn về sự khác biệt trong cách lựa chọn từ vựng thể hiện trong các cú của thức Kết quả không những khẳng định sự cần thiết phải thay đổi lời thoại y khoa như nhiều nghiên cứu trước đó mà còn cung cấp những bằng chứng về các lợi ích trong lời thoại của bác sĩ Việt Nói một cách khác, quyền lực ẩn sau lời nói của người bác

sĩ nên cân nhắc tới những kỳ vọng, mong mỏi của người bệnh từ đó giúp các nhà giáo dục ngôn ngữ y khoa có thể tận dụng bối cảnh lý thuyết về thức và tình thái của các nguồn liên nhân để hướng dẫn các sinh viên y khoa sử dụng ngôn ngữ lịch

sự, thân mật khi giao tiếp với bệnh nhân

Nguyễn Thị Kim Luyến (2019) [39] làm sáng tỏ phương thức biểu hiện nghĩa liên nhân trong các văn bản hướng dẫn sử dụng thuốc TA thông qua các phương tiện ngữ pháp-từ vựng đặc trưng bao gồm: thức và tình thái Từ bình diện thức, hai nhóm ngôn liệu đều không sử dụng đầy đủ tất cả các phương tiện ngôn ngữ hiện thực hóa tương thích và không tương thích các chức năng lời nói Điều này cho thấy nghĩa liên nhân chưa được biểu hiện đầy đủ trên tất cả các phương tiện ngôn ngữ,

do đó phần nào làm cho thể loại văn bản này chưa thật sự đạt được mức độ tương tác, gần gũi với người đọc Từ bình diện tình thái, kết quả nghiên cứu chỉ ra cách tính tình thái được hiện thực hóa tương thích và không tương thích trong diễn ngôn hướng dẫn sử dụng thuốc TA và TV thông qua cách sử dụng phương tiện tình thái trong thể loại ngôn bản này Bên cạnh đó, luận án cũng đối chiếu liên hệ với TV trong cùng thể loại ngôn bản nhằm tìm ra những n t tương đồng và dị biệt giữa hai ngôn ngữ, giúp chúng ta dễ dàng hình dung bức tranh ngôn ngữ y khoa dành cho cộng đồng từ bình diện liên nhân

Từ phương diện ngữ vực (Register), Võ Thị Bê (2020) [2] tiến hành phân tích

bản chất và đặc điểm ngôn ngữ để tìm ra những đặc điểm nổi trội trong các văn bản

chuyên ngành dược học TA và TV, cụ thể trên hai ngữ liệu Tạp chí Nghiên cứu Dược học Anh (British Journal of Pharmaceutical Research) và Tạp chí Dược học - Bộ Y tế

Qua đó khám phá ra những điểm tương đồng và khác biệt về đặc điểm ngôn ngữ, về

phương diện Trường, Không khí, và Cách thức, cụ thể trong những đặc điểm về Hệ thống chuyển tác, Tham thể/ Chủ ngữ, Thuật ngữ, Cấu trúc/ dạng, Thức, Tình thái, Đề ngữ, Quy chiếu và Liên kết logic trong hai loại văn bản trên Kết quả của nghiên cứu đã

góp phần làm phong phú thêm phương pháp phân tích diễn ngôn trong các văn bản chuyên ngành khác trong TA và TV cũng như đóng góp vào việc nâng cao kỹ năng viết các ngôn bản khoa học chuyên ngành dược học, khả năng đọc hiểu các ngôn bản nhanh hơn và thấu đáo hơn, và dịch các văn bản thuộc chuyên ngành dược học một cách hiệu quả

Trang 28

1.1.3 Tiếp cận theo hướng tri nhận

Tại Việt Nam, một số công trình nghiên cứu đã bước đầu manh nha tìm hiểu

và phân tích ADYN liên quan đến lĩnh vực y tế nhưng mới chỉ dừng lại ở việc khái quát ADYN trong phạm trù sức khỏe và bệnh tật, chưa phân tích sâu về ngôn ngữ y

tế, đặc biệt là AD tri nhận trong các bản tin y tế

Trong luận văn “ADYN sức khỏe và bệnh tật và đặc trưng tư duy văn hóa của người Việt”, Đỗ Thị Nga (2014) [43] đã phân tích làm rõ cơ sở ánh xạ, bản chất ánh xạ của ADYN từ MN sức khỏe và bệnh tật thông qua việc tập hợp, khảo

sát các nghiên cứu sự xuất hiện, phân bố của ý niệm trong tất cả những từ ngữ

chỉ phạm trù sức khỏe và bệnh tật trong ngôn ngữ sinh hoạt tự nhiên, ngôn ngữ

nghệ thuật và ngôn ngữ báo chí Với việc chọn nguồn ngữ liệu phong phú từ các cuốn từ điển TV đã xuất bản, tác phẩm văn học hiện đại đến các bài báo điện tử

và thu thập từ lời ăn tiếng nói hằng ngày, kết hợp với hướng tiếp cận của văn hóa

xã hội, tâm lý học và NNH, luận văn không những làm sáng tỏ mối quan hệ giữa

MN - MĐ của hiện tượng chuyển di ý niệm đối với phạm trù sức khỏe và bệnh tật, khả năng hoạt động của những từ ngữ mà còn làm rõ cách thức tri nhận một

hiện tượng văn hóa của người Việt

Kết quả khảo sát trên cho thấy mặc dù ở Việt Nam có khá nhiều nghiên cứu về lĩnh vực y học nói chung và ngôn ngữ y tế nói riêng nhưng chưa có luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ hay công trình nghiên cứu toàn diện và chuyên sâu nào về ADYN trong các diễn ngôn y tế, đặc biệt là trong các bản tin y tế để khảo sát vai trò của ADYN nhằm mang các kiến thức khoa học trở nên gần gũi hơn cũng như khơi dậy mối quan tâm của người đọc trong loại văn bản đặc biệt này Chính vì vậy, trong xu

thế xã hội ngày càng phát triển, y học ngày càng tiến bộ thì việc lựa chọn đề tài Đối chiếu AD cấu trúc trong các bản tin y tế TV và TA làm tư liệu nghiên cứu trở nên

cấp thiết và mang tính khoa học

Để có căn cứ cho những nghiên cứu ở các chương 2 và 3, chúng tôi đã hệ thống hóa các lý thuyết liên quan đến đề tài bao gồm cơ sở lý luận về ADYN; NNH đối chiếu; ngôn ngữ y học và bản tin y tế nhằm xây dựng khung lý thuyết cho luận án

1.2 Cơ sở lý luận về đề tài nghiên cứu

1.2.1 Cơ sở lý luận về ẩn dụ ý niệm

1.2.1.1 Khái niệm về ẩn dụ và ẩn dụ ý niệm

Khái niệm về ẩn dụ

Có thể khẳng định, nghiên cứu và tìm hiểu về AD đóng vai trò quan trọng trong trào lưu tri nhận Dấu mốc đánh dấu cho quá trình nghiên cứu về AD là sự ra đời của

Trang 29

cuốn sách Metaphors We Live by của Lakoff và Johnson vào năm 1980 Cuốn sách đã đưa ra những quan điểm mới mẻ, góp phần làm thay đổi bước ngoặt trong tư duy nhận thức về AD Bởi vậy, trong luận án này, chúng tôi tập trung lựa chọn trình bày khái

niệm về AD theo giai đoạn: AD theo quan điểm của NNH tri nhận qua quá trình tổng

hợp các quan niệm về AD từ năm 1980 đến nay

Những năm 80 của thế kỷ XX, sự phát triển của NNH tri nhận với cột mốc khởi đầu của Lakoff & Johnson góp phần tạo ra bước ngoặt trong quan điểm, nhận thức về AD

Đối lập với quan điểm truyền thống khi xem AD là sự lệch chuẩn khỏi cách sử dụng ngôn ngữ bình thường, việc thuyết giải AD phải được thực hiện thông qua ngôn ngữ sử dụng nghĩa đen; bởi vậy, ngôn ngữ sử dụng nghĩa đen có vai trò lớn hơn so với ngôn ngữ mang tính AD thì Lakoff & Johnson [129] lại cho rằng AD là hiện tượng tri nhận hơn là một hiện tượng ngôn ngữ Những BTAD mà chúng ta bắt gặp trong các diễn ngôn là cái phản ánh AD tồn tại ở tầng bậc ý niệm Theo Lakoff

và Johnson [129], bản chất AD là cơ chế nhận thức mà thông qua nó những lĩnh vực

có tính trừu tượng được thay bằng những lĩnh vực có tính cụ thể hơn

Lakoff và Johnson cũng đã cụ thể hóa đặc điểm của AD theo quan điểm tri nhận

như sau: AD là hình thức biểu hiện của tư duy, không ph i là từ vựng (1), AD giúp khái niệm rõ ràng h n chứ không chỉ nhằm mục đích thẩm mỹ (2), AD thường không được cấu thành trên sự tư ng đồng (3), AD được sử dụng trong cuộc sống hàng ngày bởi những người bình thường chứ không chỉ bởi những người có năng lực ngôn ngữ siêu phàm (4), AD không ph i là hình thức trang trí hoa mỹ của ngôn ngữ mà là quá trình

tư duy và tri thức của con người (5)

Còn theo Trần Văn Cơ (2007) [5] thì AD tri nhận là “một trong những hình thức

ý niệm hoá, một quá trình tri nhận có chức năng biểu hiện và hình thành những ý niệm mới và không có nó thì không thể nhận được những tri thức mới… AD được xem như

là cách nhìn một đối tượng này thông qua một đối tượng khác, và với ý nghĩa đó, AD là một trong những phư ng thức biểu tượng tri thức dưới dạng ngôn ngữ” Nhờ đó mà

con người nhận biết được về thế giới vật chất, thế giới tinh thần và thế giới cảm xúc cũng như hiểu được những đặc trưng văn hoá của người bản ngữ

Từ những cách giải nghĩa trên, theo quan điểm của NNH tri nhận, có thể hiểu

AD là phương thức biểu tượng tri thức, dưới dạng ngôn ngữ

Khái niệm về ẩn dụ ý niệm

Trong cuốn sách Metaphors We Live by, Lakoff và Johnson (1980) định

nghĩa: “ADYN là sự ý niệm hóa một miền tinh thần qua một miền tinh thần khác, gọi là sự ánh xạ (mapping) có hệ thống từ một miền này sang một miền khác nhằm

Trang 30

tạo nên một mô hình tri nhận giúp lĩnh hội MĐ một cách hiệu qu h n” ADYN

được hình thành dựa trên kinh nghiệm của con người đối với thế giới, trong đó một miền (thường là miền cụ thể) được dùng để hiểu một miền khác (thường là miền trừu tượng hơn); miền thứ nhất được gọi là MN (source domain - MN), miền thứ hai được gọi là MĐ (target domain - MĐ) [120: tr.5]

Theo Kövecses (2002), ADYN là: “Một ADYN là một tập hợp mang lại tính

hệ thống các tương đồng, hay các ánh xạ, giữa hai miền của kinh nghiệm.”

NNH tri nhận cũng đã phân biệt ADYN và AD ngôn ngữ (linguistics metaphor) Kövecses đã phân biệt và chỉ rõ rằng AD ngôn ngữ chỉ là các BTAD, là dạng cụ thể của ADYN, còn ADYN có tính trừu tượng và khát quát ADYN là cơ

sở ý niệm cho tất cả những BTAD được liệt kê theo nó Các BTAD có thể rất đa dạng nhưng nếu nó chỉ được ánh xạ từ một MN duy nhất tới một MĐ tương ứng thì

đó chỉ là một ADYN Ví dụ (dẫn theo Lakoff và Johnson), ADYN LOVE IS A JOURNEY (TÌNH YÊU LÀ MỘT CUỘC HÀNH TRÌNH) có các BT ngôn ngữ

như: Look how far we’be come (hãy nhìn xem chúng ta đã đi được bao xa); We’re

at a crossroad (Chúng ta đang ở ngã ba đường); We can’t turn back now (Chúng ta không thể quay trở lại)…

Như vậy, ADYN là việc hiểu một miền ý niệm này thông qua một miền ý niệm khác ADYN được hình thành dựa trên kinh nghiệm của con người đối với thế giới ADYN là mô hình ý niệm dùng để tư duy và nó nằm trong tư duy của mỗi con người

C sở hình thành và đặc điểm của ẩn dụ ý niệm

- Cơ sở hình thành ẩn dụ ý niệm

Nếu quan điểm truyền thống cho rằng cơ sở hình thành AD là sự tương đồng giữa hai thực thể được so sánh, thì NNH tri nhận khẳng định bên cạnh sự tương đồng khách quan vốn có, ADYN còn được hình thành dựa trên kinh nghiệm của con người Cụ thể, Kövecses cho rằng có hai nền tảng chính để hình thành nên ADYN:

Thứ nhất là sự tương liên về kinh nghiệm Động lực lớn nhất thúc đẩy sự

hình thành AD là sự tương liên trong trải nghiệm của con người Khi một sự kiện xảy ra dẫn đến một sự kiện khác thì hai sự kiện này được cho là có tương liên về trải nghiệm Ví dụ (dẫn theo Kövecses), nếu đổ thêm chất lỏng vào vật chứa thì mực chất lỏng trong vật chứa tăng lên, như vậy hai sự kiện này có quan hệ tỉ lệ thuận, mối quan hệ này là nền tảng tạo nên AD NHIỀU HƠN HƯỚNG LÊN TRÊN AD này hoạt động dựa trên hai ý niệm: số lượng và chiều thẳng đứng Số lượng được thể hiện bằng thang đo NHIỀU/ ÍT, chiều thẳng đứng thể hiện bằng thang đo HƯỚNG LÊN TRÊN/ HƯỚNG XUỐNG DƯỚI Xuất phát từ trải nghiệm hàng ngày, khi số lượng gia tăng thì chiều thẳng đứng gia tăng, tạo nên ADYN NHIỀU

Trang 31

HƠN HƯỚNG LÊN TRÊN, ÍT HƠN HƯỚNG XUỐNG DƯỚI Những ví dụ tương

tự về sự tương liên giữa hai sự vật hình thành nên ADYN được tìm thấy rất phổ biến trong các ngôn ngữ

Thứ hai là sự tương đồng cấu trúc được cảm nhận ADYN cũng được hình

thành dựa trên sự tương đồng phi khách quan mà người nói cảm nhận về đối tượng

Ví dụ (dẫn theo Kövecses), trong ẩn dụ LIFE IS A GAMBLING GAME (cuộc đời

là một canh bạc), các BT ngôn ngữ I’ll take my chances (Tôi sẽ nắm lấy cơ hội của tôi), He won big (Anh ấy thắng lớn), It’s a toss-up (Đó là một trò chơi sấp ngửa) cho thấy con người khắc họa cuộc sống như một canh bạc, có may rủi, thắng thua, sấp ngửa Các hoạt động diễn ra trong cuộc sống và kết quả mà nó mang lại cũng

giống như việc thắng/ thua trong một ván bài Con người cảm nhận được sự tương đồng giữa cuộc sống và trò đánh bạc, mặc dù sự tương đồng này không mang tính khách quan và không tồn tại từ trước Sự tương đồng giữa cấu trúc của một miền ý niệm này với cấu trúc của một miền ý niệm khác là một cơ sở quan trọng để hình thành nên AD và thường được gọi là AD tương đồng cấu trúc cảm nhận

- Đặc điểm của ADYN

ADYN có 7 đặc điểm nổi bật dưới đây:

Một là, ADYN có tính đ n hướng Nghĩa là các ADYN đều mang tính một

chiều: AD ánh xạ cấu trúc từ một MN sang một MĐ chứ không có ánh xạ tương ứng theo chiều ngược lại Ví dụ, BỆNH TẬT được ý niệm hóa theo CHIẾN TRANH, nhưng không thể cấu trúc quy ước hóa CHIẾN TRANH theo BỆNH TẬT: “các loại bệnh tật, dịch bệnh” được miêu tả quy ước như “kẻ thù trong cuộc chiến” chứ “kẻ thù trong cuộc chiến” không được miêu tả thành “các loại bệnh tật, dịch bệnh” … Vậy nên, các thuật ngữ “đích” và “nguồn” mã hóa bản chất một chiều của ánh xạ

Hai là, ADYN có tính che giấu và nhấn mạnh Đặc điểm này được hiểu là khi

ý niệm đích được cấu trúc hóa theo một MN cụ thể, nó sẽ kích hoạt một khía cạnh nào đó của MĐ, đồng thời nó sẽ làm mờ những khía cạnh còn lại Ví dụ dẫn theo Lakoff và Johnson dưới đây sẽ giúp hiểu rõ hơn về đặc điểm này AD ARGUMENT IS WAR (Tranh luận là chiến tranh) nhấn mạnh đến bản chất đối

nghịch của tranh luận (Anh ta thắng cuộc tranh luận, Tôi đã không thể bảo vệ quan

điểm đó…) nhưng lại làm mờ đi khía cạnh về sự phát triển có trật tự và có tổ chức

về một chủ đề cụ thể Ngược lại, AD ARGUMENT IS A JOURNEY (Tranh luận là một cuộc hành trình) lại nhấn mạnh đến sự phát triển có trật tự và có tổ chức của cuộc tranh luận (Chúng ta sẽ nhích lên từng bước một; Chúng ta đã có được nhiều lí lẽ), đồng thời che giấu các khía cạnh mang tính đối đầu

Trang 32

Ba là, ADYN có tính hệ thống Các ADYN tương tác với nhau và tạo nên những

hệ thống AD tương đối phức tạp Ví dụ dẫn theo Lakoff và Johnson sẽ minh họa cụ thể cho đặc điểm này: AD CUỘC ĐỜI LÀ MỘT HÀNH TRÌNH bao gồm hệ thống AD TÌNH TRẠNG LÀ VỊ TRÍ (Anh ấy đang ở ngã ba cuộc đời), THAY ĐỔI LÀ CHUYỂN ĐỘNG (Anh ấy đi từ tuổi 40 sang tuổi 50 mà không hề có dấu hiệu gì của khủng hoảng trung niên), MỤC ĐÍCH LÀ ĐIỂM ĐẾN (Tôi dường như chẳng bao giờ đến được nơi tôi muốn trong đời), PHƯƠNG TIỆN LÀ LỐI ĐI (Trong đời nó, nó đi theo một con đường trái với thói thường)

Bốn là, ADYN có tính tầng bậc Các ph p đồ họa AD không tồn tại riêng biệt

mà được tổ chức theo một cấu trúc tầng bậc, trong đó các ADYN ở cấp độ thấp hơn (còn gọi là AD hạ danh) thừa hưởng cấu trúc của AD có cấp độ cao hơn (còn gọi là

AD thượng danh) Ví dụ (dẫn theo Lakoff và Johnson): TÌNH YÊU LÀ MỘT HÀNH TRÌNH và NGHỀ NGHIỆP LÀ MỘT HÀNH TRÌNH là các AD bậc dưới của CUỘC SỐNG LÀ MỘT HÀNH TRÌNH Đến lượt mình, CUỘC SỐNG LÀ MỘT HÀNH TRÌNH lại là bậc dưới của AD HÀNH ĐỘNG LÀ CHUYỂN ĐỘNG ĐƯỢC ĐỊNH HƯỚNG Cùng cấp với AD này là các ý niệm TRẠNG THÁI LÀ NƠI CHỐN, THAY ĐỔI LÀ CHUYỂN ĐỘNG, NGUYÊN NHÂN LÀ LỰC TÁC ĐỘNG, HÀNH ĐỘNG

LÀ CHUYỂN ĐỘNG TỰ ĐẨY, PHƯƠNG TIỆN LÀ ĐƯỜNG ĐẾN ĐÍCH

Năm là, ADYN có tính phổ quát Theo Lakoff và Johnson, ADYN có tính

phổ quát bởi nó phản ánh quá trình tri nhận để thu nhận hình ảnh của con người nên mặc dù có sự khác biệt văn hóa giữa các ngôn ngữ, ADYN dường như không

có sự khác biệt lớn AD được phản ánh qua lăng kính ngôn ngữ và văn hóa dân tộc, nên cấu trúc AD của những ý niệm cơ bản tương hòa với những giá trị văn hóa nền tảng nhất

Sáu là, ADYN có tính biến thiên văn hóa Đặc điểm này đã được các nhà NNH

thừa nhận trong quá trình nghiên cứu của mình Deignan và cộng sự cho rằng một

số ADYN có thể mang tính phổ quát nhưng không thể có một hệ thống ADYN và

AD ngôn ngữ hoàn toàn như nhau tồn tại ở hai nền ngôn ngữ - văn hóa Bên cạnh

đó, Boers và Kövecses cũng thừa nhận sự biến thiên văn hóa trong AD Nếu Boers khẳng định sự biến thiên văn hóa thể hiện rõ ràng trong AD cấu trúc khi MN cụ thể hoặc chi tiết hơn MĐ thì Kövecses lại chỉ ra sự biến thiên văn hóa trong ADYN theo 3 hướng: biến thiên trong phạm vi các ADYN, biến thiên theo mức độ chi tiết hóa các ADYN và biến thiên theo mức độ nhấn mạnh AD hoặc hoán dụ

B y là, ADYN có tính tư ng hòa văn hóa Nghĩa là các cấu trúc AD luôn phù

hợp với phong tục tập quán, hoạt động tinh thần hay phương thức tư duy của một cộng đồng văn hóa và phản ánh những đặc trưng đó Điều này đã được Lakoff và

Trang 33

Johnson khẳng định trong cuốn Metaphors We Live by: ADYN được hình thành

dựa trên các trải nghiệm của con người với nền văn hóa nên các cấu trúc AD cơ bản đều tương hòa với những giá trị tiêu biểu nhất của nền văn hóa đó

Các đặc điểm kể trên sẽ được vận dụng để lí giải sự tương đồng và khác biệt của ADYN trong các diễn ngôn của các bản tin y tế ở Chương 2 và 3 của luận án

1.2.1.2 Các khái niệm và thuật ngữ liên quan đến ẩn dụ ý niệm

Theo lý thuyết ADYN của ngôn ngữ học tri nhận, AD không đơn thuần là một

ph p tu từ mà còn là một công cụ tư duy, giúp ta hiểu một miền ý niệm này dựa trên một miền ý niệm khác AD không chỉ tồn tại trong văn bản hàn lâm, học thuật, văn học mà còn trong tất cả các hoạt động hằng ngày của con người nhưng vì quá gắn chặt trong cuộc sống đời thường nên người sử dụng không nhận biết đó là ẩn dụ Các ẩn dụ ý niệm trong hệ thống ý niệm của con người quả thật ảnh hưởng đến cách con người suy nghĩ, hiểu, nội suy trong các hoạt động của cuộc sống hàng ngày, vì thế “nhiều ý niệm, nhất là những ý niệm trừu tượng được cấu trúc và thể hiện dưới dạng AD”

Lý thuyết ngôn ngữ học tri nhận về ẩn dụ ý niệm là một lý thuyết phức tạp, trong

đó AD gồm nhiều thành tố tương tác với nhau, bao gồm (1) MN và MĐ (2) cơ sở trải nghiệm (3) các biểu đạt ngôn ngữ (4) các ánh xạ, yếu tố k o theo, vùng trộn và (5) các

mô hình văn hóa Nói một cách cụ thể, các ADYN bao gồm một MN và một MĐ

Ý niệm (concept) và sự ý niệm hoá (conceptualization)

Trong NNH tri nhận, các ý niệm là cơ sở cấu thành nên các mô hình tri nhận Trần Văn Cơ (2007) [5] cho rằng ý niệm được hình thành từ bên trong của ý thức,

tư duy của con người, “là đ n vị nội dung của bộ nhớ động, của từ vựng tinh thần

và của ngôn ngữ bộ não (lingua mentalis), của toàn bộ bức tranh thế giới được

ph n ánh trong tâm lý con người” Các ý niệm nảy sinh trong quá trình cấu trúc hoá

thông tin về một sự tình khách quan trong thế giới bởi cấu trúc nội tại của ý niệm bao gồm nội dung thông tin về thế giới hiện thực, thế giới tưởng tượng, mang những nét phổ quát và mặt khác chứa đựng tất cả những gì biến ý niệm trở thành sự kiện văn hoá, chứa đựng nét đặc trưng văn hoá - dân tộc Do vậy ý niệm mang tính dân tộc sâu sắc, bao gồm ba thành tố chính: thành tố khái niệm, thành tố cảm xúc - hình tượng và thành tố văn hoá

Theo Lý Toàn Thắng (2009) [50] nhờ có hoạt động tri nhận dựa trên hiểu biết và kinh nghiệm từ đời này sang đời khác mà những ý niệm được hình thành

Ý niệm không những mang tính phổ quát mà còn mang tính tương đối, mang đặc thù của mỗi nền văn hoá - dân tộc do ý niệm gắn liền với nền văn hoá và ngôn

Trang 34

ngữ của mỗi dân tộc nhất định “Bức tranh thế giới” đa dạng được hình thành dưới những lát cắt khác nhau của mỗi cộng đồng dân tộc, phản ánh một cách tri giác và ý niệm hoá thế giới nhất định Chính bởi ý niệm gắn liền với ngôn ngữ

và văn hoá mà ý niệm được chia thành hai loại: những ý niệm phổ quát và những

ý niệm đặc thù dân tộc

Xét về cấu tạo, ý niệm có cấu tạo đa chiều Ý niệm không tồn tại độc lập, riêng lẻ mà kết nối với nhau tạo thành một hệ thống ý niệm Trong mỗi hệ thống ý niệm lại bao gồm những ý niệm cơ sở và ý niệm thứ cấp Ranh giới giữa hệ thống các ý niệm đôi khi không được phân định rõ, có sự chồng lấn giữa các ý niệm

Ý niệm hóa là quá trình hình thành ý niệm Theo Nguyễn Thiện Giáp, ý niệm phản ánh các thuộc tính và bản chất của sự vật trong não bộ của con người, được hình thành từ những khái quát trừu tượng Ý niệm hóa là quá trình phát triển của nhận thức từ cảm tính sang lý tính, từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng Nó cấu trúc các phương diện trong kinh nghiệm của con người và truyền tải các nội dung ngôn ngữ

Miền (domain) - miền nguồn (source domain) - miền đích (target domain) Miền là một khái niệm quen thuộc, được sử dụng rộng rãi Đặc điểm chung nhất của khái niệm miền là xác định một khu vực, một phạm vi, một vùng đặc hữu

cụ thể trong lĩnh vực nhất định nào đó

Theo Langacker (1987), miền nghĩa là: Miền là “những thực thể tri nhận như

tr i nghiệm tinh thần, không gian trình hiện, ý niệm, hoặc phức hợp ý niệm”

Như vậy, có thể hiểu miền là tập hợp các ý niệm có liên quan đến một nội dung tinh thần như thực thể tri nhận, thuộc tính, quan hệ Các thực thể tri nhận thường được thể hiện bằng danh từ, chúng tạo thành các nhóm riêng lẻ, mỗi nhóm

sẽ gồm một số thành viên với các thuộc tính tương đồng Các thuộc tính và quan hệ tạo thành hệ thống các phương diện của miền ý niệm, được thể hiện trong ngôn ngữ bằng các từ loại phổ biến là tính từ và động từ

Với NNH tri nhận, khái niệm MN (source domain) và MĐ (target domain)

là thuật ngữ quy chiếu tới các miền ý niệm Trong đó MN được khái quát như

sau: “MN bao gồm một tập hợp các thực thể ngôn từ, các thuộc tính, các quá trình và các quan hệ, được liên kết ngữ nghĩa và dường như được lưu trữ cùng nhau trong tâm trí Chúng được thể hiện trong ngôn ngữ bằng các từ và các BT liên quan, có thể xem như tổ chức trong các nhóm tư ng tự những nhóm được

mô t là “các hệ từ vựng” hay “các trường từ vựng” bởi các nhà NNH” [87]

Trang 35

Như vậy, MN là miền ý niệm trong đó các thực thể, quan hệ, thuộc tính của

MN được ánh xạ tới MĐ giúp cụ thể hóa các thực thể, quan hệ, thuộc tính trong

MN MN có chức năng cung cấp, chuyển gán tri thức mới cho các ý niệm MĐ

MN, có thể hiểu, là một tập hợp các thực thể trực quan, dễ nhận biết đã được ý niệm hóa trong tâm trí con người

Theo Alice Deignan [87], “MĐ có xu hướng trừu tượng và rút ra cấu trúc của mình từ MN thông qua liên kết AD hay “ADYN” MĐ do đó được cho là có quan hệ giữa các thực thể, các thuộc tính và các quá trình ở MĐ được từ hóa (bằng) việc sử dụng các từ và các BT liên quan của MN Các từ và các BT liên quan đó đôi khi được gọi là “AD ngôn ngữ” hay “BTAD” để phân biệt với ADYN” Ta thấy, trái

ngược với MN, MĐ lại mang tính trừu tượng, khó nhận biết và mới mẻ Bởi thế,

MN được dùng để ánh xạ, phóng chiếu đến các MĐ khác nhau giúp con người nhận thức dễ dàng hơn khi tri nhận các khái niệm phức tạp ở MĐ

Hay, Kövecses (2002) [118] đã định nghĩa: “MN là miền ý niệm mà từ đó người

ta rút ra các BTAD để từ đó có thể hiểu một miền ý niệm khác; MĐ là miền ý niệm được hiểu thông qua cách sử dụng của MN” So sánh giữa hai miền ý niệm, có thể

thấy MN cụ thể, được khắc họa rõ ràng, dễ nhận biết hoặc đã được ý niệm hóa trong tâm trí của con người; ngược lại, MĐ lại trừu tượng, khó xác định và còn khá mới mẻ trong nhận thức và kinh nghiệm của con người

Như vậy, miền ý niệm có tính độc lập tương đối, tồn tại trong tinh thần con người, còn MN - MĐ gắn chặt với ADYN Miền ý niệm trong những trường hợp cụ thể có thể trở thành MN hoặc MĐ

Kövecses đã liệt kê 13 MN phổ biến nhất trong ADYN, bao gồm CƠ THỂ CON NGƯỜI, SỨC KHỎE VÀ BỆNH TẬT, MÁY MÓC VÀ THIẾT BỊ, TRÕ CHƠI VÀ THỂ THAO, NẤU NƯỚNG VÀ MÓN ĂN, CHUYỂN ĐỘNG VÀ ĐỊNH HƯỚNG… và 13 MĐ có xu hướng sử dụng ADYN để quy chiếu, bao gồm TÌNH CẢM, MONG MUỐN, ĐẠO ĐỨC, XÃ HỘI, CHÍNH TRỊ, KINH TẾ, CÁC QUAN HỆ CON NGƯỜI, GIAO TIẾP, THỜI GIAN, CUỘC SỐNG VÀ CÁI CHẾT, TÔN GIÁO…

Các khái niệm này là căn cứ để luận án tìm hiểu về miền ý niệm BỆNH TẬT

và THỰC THỂ Y SINH và các MN, MĐ có liên quan tới miền ý niệm này theo quan hệ AD

Ánh xạ (mapping)

Theo Kövecses (2002) [118], trong cấu trúc ADYN, ánh xạ là “một hệ thống

cố định các tư ng ứng giữa các yếu tố hợp thành MN và MĐ”

Trang 36

Còn theo Lakoff (1987) [122] “Ánh xạ (mapping) là sự phóng chiếu giữa những yếu tố tư ng ứng của MN đến các yếu tố tư ng ứng của MĐ” Tên ánh xạ đã được

Lakoff công thức hoá “DOMAIN IS SOURCE-DOMAIN or DOMAIN AS SOURCE-DOMAIN” (“MIỀN ĐÍCH là MIỀN NGUỒN hoặc MIỀN ĐÍCH như thể MIỀN NGUỒN”) Như vậy, các thuộc tính của MN được gán gh p, sao phỏng cho MĐ Từ đó, MĐ tiếp nhận một phần các thuộc tính của MN để tạo nên tri thức mới trong ý niệm

TARGET-Sơ đồ ánh xạ (mapping) trong cấu trúc ẩn dụ ý niệm là một hệ thống cố định của các tương ứng giữa các yếu tố hợp thành MN và MĐ Khi hệ thống các tương ứng này được kích hoạt từ MN, các sơ đồ ánh xạ có thể phóng chiếu sang MĐ Bởi vậy, để hiểu được một ADYN (conceptual metaphor) thì phải hiểu được hệ thống sơ đồ ánh xạ của một cặp nguồn-đích

Theo quan điểm tri nhận, chiếu xạ (ánh xạ) AD được hiểu theo nghĩa toán học, tức là ánh xạ dựa trên những điểm tương ứng chứ không chỉ là một phương thức

chuyển nghĩa dựa trên sự tương tự hay giống nhau giữa hai sự vật A và B trong mô hình AD A là B Như vậy, nếu trong MN có điểm A thì sẽ có ánh xạ A’ trong MĐ, MN

có điểm B thì có B’ trong MĐ… [118]

Ví dụ như trong mô hình AD “Bệnh tật là chiến tranh” bao gồm hai miền không

gian “nguồn” và “đích”, trong đó các n t thuộc tính từ không gian MN “Chiến tranh” được lựa chọn, chiếu xạ lên MĐ khiến MĐ “Bệnh tật” mang một số n t tri thức của

MN “chiến tranh” MĐ thâu nhận có chọn lọc và mang một số tri thức mới từ MN Qua đó, ta có thể hình dung các tương đồng ánh xạ của AD BỆNH TẬT LÀ CHIẾN TRANH thông qua lược đồ hình ảnh như sau:

Kẻ thù trong cuộc chiến  Các loại bệnh tật, dịch bệnh

Những người lính tham chiến  Đội ngũ y bác sĩ/ bệnh nhân/ các thực thể y

sinh/ liệu pháp y sinh

Vũ khí sử dụng trong cuộc chiến  Thuốc/ các liệu pháp y sinh/ hệ miễn dịch

Chiến thuật trong chiến tranh  Các phác đồ trong điều trị bệnh/ các liệu

pháp y sinh Phòng bị trong chiến tranh  Các liệu pháp y sinh trong phòng chống

dịch bệnh, cơ chế bảo vệ của hệ miễn dịch Chiến thắng trong cuộc chiến  Chiến thắng bệnh tật

Thất bại trong cuộc chiến  Thất bại trong điều trị bệnh tật

Trang 37

Ánh xạ trong ADYN có một số thuộc tính như sau:

- Thứ nhất, tính bộ phận của ánh xạ AD:

Theo Lakoff and Johnson (2003; tr.53), ánh xạ ẩn dụ mang tính bộ phận, có nghĩa là chỉ một số bình diện nhất định từ MN được kích hoạt và chiếu xạ lên MĐ, những phương diện còn lại bị ẩn, che giấu đi Hay nói cách khác, sự ánh xạ giữa A

và B chỉ mang tính bộ phận - tức là chỉ một bộ phận của ý niệm nguồn B được ánh xạ lên ý niệm đích A và chỉ một phần ý niệm đích A được bao hàm trong sự ánh xạ từ ý niệm nguồn B bởi ADYN được hình thành nên nhờ rất nhiều sự ánh xạ khác nhau Một

số ý niệm ở MN được “làm nổi bật” - tức là được sử dụng và được kích hoạt để giúp chúng ta hiểu miền ý niệm đích, những phương diện còn lại thì bị “che giấu” đi Chính vì vậy, hai không gian nguồn và đích không đồng nhất tuyệt đối

mà chỉ đồng nhất bộ phận

Ví dụ: trong ADYN TẾ BÀO LÀ HÀNG HÓA, MĐ TẾ BÀO chỉ thu nhận một số thuộc tính của MN HÀNG HÓA như: vận chuyển, mất, chiếm đoạt, sở hữu, đánh cắp, có giá trị… ngoài một số n t thuộc tính này ra, nhiều thuộc tính khác của

HÀNG HÓA không tham gia vào việc cấu trúc nghĩa của ý niệm TẾ BÀO, chẳng

hạn: niêm phong, thanh lý, hoa hồng, quẹt thẻ, chuyển kho n, tăng giá, nâng giá …

Tính bộ phận của ADYN làm cho hai không gian nguồn và đích không đồng nhất

tuyệt đối mà chỉ đồng nhất bộ phận mà thôi

- Thứ hai, tính đơn tuyến trong ánh xạ AD:

Sơ đồ ánh xạ trong AD tuân theo nguyên tắc bất biến (Lakoff, 1987) [122]; cụ thể, cấu trúc lược đồ hình ảnh của MN được phóng chiếu vào MĐ theo một phương thức nhất quán với cấu trúc có s n và cố định của MN Các sơ đồ ánh xạ không mang tính quy ước mà bắt nguồn từ sự vận động của thân thể con người trong không gian, từ các trải nghiệm cá nhân và những hiểu biết trong đời sống sinh hoạt hàng ngày của con người Ngôn ngữ học tri nhận chia sơ đồ ánh xạ thành hai loại căn cứ vào quá trình tri nhận của con người: sơ đồ ánh xạ ý niệm và sơ đồ ánh xạ hình ảnh

ADYN có tính đơn tuyến, tức là ánh xạ được cấu trúc từ MN sang MD nhưng không có chiều ngược lại Trong ADYN TẾ BÀO LÀ HÀNG HÓA, chỉ

có các thuộc tính của MN (hàng hóa) được ánh xạ sang MĐ (tế bào) chứ không

có sự cấu trúc ngược lại Ví dụ, MĐ tế bào có các thuộc tính như: sinh trưởng, sinh s n, hoạt động, giao tiếp, chu kì sống, chết… không thể ánh xạ sang cho

MN hàng hóa được

Trang 38

Theo quan điểm của các nhà NNH tri nhận, sự ánh xạ giữa MN và MĐ thường dựa trên sự tương đồng giữa hai miền “nguồn - đích”, những tương liên trong kinh nghiệm, sự tương đồng cấu trúc trong tri giác, những cội rễ sinh học và văn hóa mà hai ý niệm cùng bắt nguồn Do đó, cơ sở tri nhận của ánh xạ ADYN là kinh nghiệm hay những nền tảng kinh nghiệm Khi x t về phương diện tương quan giữa các miền

ý niệm, một miền ý niệm đích có thể là một tổ hợp miền bởi vì phải có hàng chục miền ý niệm nguồn mới giúp chúng ta hiểu được các phương diện hay các miền

“con” của nó

Thuộc tính cuối cùng của ánh xạ là ánh xạ không mang tính quy ước mà nó xuất phát từ vận động của con người trong không gian, từ các trải nghiệm cá nhân và nhận thức trong cuộc sống hằng ngày

Tóm lại, ánh xạ giúp tạo nên cấu trúc mới, lược đồ mới chưa tồn tại trước

đó trong MĐ do sự phản chiếu từ mô hình tri nhận của MN Việc xác lập được sơ

đồ ánh xạ giữa hai miền cho ph p chúng ta tìm hiểu về ADYN Sự ánh xạ từ MN đến MĐ thường có nền tảng là những tương liên trong kinh nghiệm, tương đồng cấu trúc trong tri giác, những cội rễ sinh học và văn hóa mà hai ý niệm hình thành

Lược đồ hình nh (Image schema)

Khái niệm lược đồ hình ảnh (hay còn gọi là sơ đồ hình ảnh) được các nhà NNH tri nhận như Lakoff & Johnson (2003) [129], Lakoff & Tuner (2009) [132], Kövecses (2005) [119] khái quát hoá như một miền cấu trúc tinh thần tượng trưng cho một khía cạnh cuộc sống mà thông qua đó các kiến thức hiện có cũng như những hiểu biết trong tương lai được bộc lộ

Cho đến nay, có rất nhiều nhà nghiên cứu đưa ra định nghĩa về lược đồ hình ảnh Trong khi Neisser cho rằng trong quá trình nhận thức và vận động hàng ngày, lược đồ cấu trúc cũng rất dễ thay đổi thì Lakoff (1987, tr.267) [122]

định nghĩa lược đồ hình ảnh “là các cấu trúc tư ng đối đ n gi n x y ra liên tục trong tr i nghiệm c thể hàng ngày của chúng ta… Những cấu trúc này có ý nghĩa trực tiếp, trước nhất, vì chúng được tr i nghiệm trực tiếp và lặp lại nhờ b n chất

tự nhiên của c thể và cách thức hành chức của nó trong môi trường của chúng ta” Cùng chia sẻ mối quan tâm, Evan và Green (2006, tr.300) nhận thấy lược đồ

hình ảnh bắt nguồn từ sự tương tác của con người với thế giới khách quan, là cách con người khám phá các vật thể vật lý bằng cách tiếp xúc với chúng, vì vậy, lược

đồ hình ảnh có thể được dùng như MN cho các ánh xạ AD

Trang 39

Ý nghĩa của lược đồ hình ảnh được Lakoff & Johnson (2003) [129] và Kövecses (2006) [120] nhấn mạnh vì đây chính là minh chứng cho luận điểm ánh xạ ADYN được phóng chiếu từ các miền trừu tượng đến các miền cụ thể Được khái quát từ hình ảnh tái diễn trong thực tế, các lược đồ hình ảnh làm nền cho con người tích lũy kinh nghiệm và nhận thức thế giới Khi nhìn một cảnh vật nào đó, con người tự nhiên tổ chức nó theo các lược đồ hình ảnh Bởi vậy ta có thể nhận thấy, các kinh nghiệm thân thể và kinh nghiệm không gian là cơ sở hình thành nên lược đồ hình ảnh bởi vậy nó có ý nghĩa trực tiếp với con người

Ví dụ như lược đồ “cỗ máy” hình thành từ việc chúng ta nhận thấy sự tương đồng về cơ chế cấu tạo, vận hành của máy móc xung quanh và chính cấu tạo, chức năng của cơ thể người

Lược đồ hình ảnh cung cấp nhiều ý niệm phong phú và được coi là cơ sở cho các

ý niệm khác Ví dụ như lược đồ “CON NGƯỜI” là cơ sở của ý niệm THỰC THỂ Y SINH THỰC THỂ Y SINH là một ý niệm vô ảnh nhưng khi được tạo thành từ lược đồ con người với các yếu tố “chu kì sống, tuổi thọ, sự trao đổi chất, khả năng sinh sản” cũng tương ứng với các yếu tố “chu kỳ sống, tuổi thọ, sự trao đổi chất, sự sinh sản” của

con người thì ý niệm THỰC THỂ Y SINH lại trở thành hữu ảnh

Bởi thế, các nhà ngôn ngữ học tri nhận đã đưa ra khẳng định rằng lược đồ hình ảnh trong trí não con người chính là những trải nghiệm cơ thể lặp đi lặp lại thường xuyên tạo nên những cấu trúc tri nhận Việc hình thành nên các lược

đồ hình ảnh chính là những cấu trúc xuất hiện lặp đi lặp lại trong hoạt động kinh nghiệm của con người, không phải dựa trên sự tương tự mà có cơ sở từ

các tương quan kinh nghiệm

Các cấp độ của ẩn dụ

Theo thuyết ADYN thì AD gồm hai cấp độ là AD cơ sở (primary metaphor)

và AD phái sinh (complex metaphor)

AD cơ sở xuất phát từ những trải nghiệm mang tính chủ quan của con người, phần lớn là vô thức và mang tính phổ quát Mỗi AD cơ sở có một cấu trúc tối thiểu, xuất hiện tự nhiên, tự động và vô thức thông qua kinh nghiệm hàng ngày theo nguyên lý đồng nhất AD phái sinh được hình thành bởi sự kết hợp ý niệm Những kinh nghiệm giai đoạn đầu mang tính phổ quát dẫn đến hiện tượng đồng nhất phổ quát, các hiện tượng đồng nhất này phát triển thành các ADYN quy ước (dt Trần Bá Tiến, tr.29) [56]

Trang 40

Ví dụ: Để hiểu được MĐ của ý niệm TTYS LÀ CON NGƯỜI, hàng loạt miền ý niệm nguồn có thể cần huy động đến như: HÀNH ĐỘNG CỦA TTYS

LÀ HÀNH ĐỘNG CỦA CON NGƯỜI, VÒNG ĐỜI SINH HỌC CỦA TTYS

LÀ VÒNG ĐỜI SINH HỌC CỦA CON NGƯỜI, TỐ CHẤT CỦA TTYS LÀ

TỐ CHẤT CỦA CON NGƯỜI Như vậy, dựa trên cấu trúc tri nhận cơ sở, AD giúp chúng ta hiểu và diễn đạt một khái niệm trừu tượng thông qua một khái niệm khác cụ thể hơn Đây là cơ chế quan trọng giúp chúng ta phát hiện và giải thích những lập luận phức tạp

có thể được đặc trưng hóa dưới dạng các hệ quả ẩn dụ được chia sẻ và các tương ứng chồng lấn ẩn dụ do chúng thiết lập Các cơ chế tạo nên hiện tượng chồng lấn ẩn dụ thường chia làm 2 dạng: (i) có nhiều phép ẩn dụ cùng cấu trúc nên một khái niệm duy nhất và (ii) khi thảo luận về một khái niệm, chúng ta sử dụng các khái niệm khác mà bản thân chúng được hiểu theo nghĩa ẩn dụ Từ đó dẫn đến sự chồng chéo của các ẩn dụ ý niệm

Lakoff and Johnson (2003) [129] cho rằng, các ẩn dụ khác nhau có thể cấu trúc các khía cạnh khác nhau của một khái niệm duy nhất, ví dụ, TÌNH YÊU LÀ MỘT CUỘC HÀNH TRÌNH, TÌNH YÊU LÀ CHIẾN TRANH, TÌNH YÊU LÀ MỘT LỰC LƯỢNG VẬT LÝ, TÌNH YÊU LÀ SỰ ĐIÊN RỒ Mỗi trong số này cung cấp một quan điểm về khái niệm TÌNH YÊU và cấu trúc một trong nhiều khía cạnh của khái niệm Khi một MĐ được giải thích bởi nhiều MN, tức nhiều

ph p ẩn dụ khác nhau cùng nhằm giải thích, làm rõ một ý niệm đích thì khi đó xảy

ra hiện tượng chồng lấn ẩn dụ Một tập hợp các MN cùng được huy động để làm

rõ một MĐ được gọi là Ma trận miền Cụ thể như MĐ “tranh luận” được làm rõ bởi hàng loạt ánh xạ từ các MN: hành trình, toà nhà, thùng chứa, chiến tranh… khi đó, các ý niệm TRANH LUẬN LÀ HÀNH TRÌNH, TRANH LUẬN LÀ TOÀ NHÀ, TRANH LUẬN LÀ THÙNG CHỨA, TRANH LUẬN LÀ CHIẾN TRANH “chồng” lên nhau và trộn với nhau theo cách chúng thực hiện Điều này

Ngày đăng: 02/06/2023, 10:06

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w