BAN CHAT, CHUC NANG, VAI TRÒ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
Ban chat tai chinh doanh nghigp .ecsssssssescscnssccrsnsecesesnsececsnsseenesssneeessnecssaseses 5
Tài chính doanh nghiệp đề cập đến các quan hệ kinh tế dưới dạng giá trị tiền tệ, phát sinh trong quá trình hình thành và sử dụng quỹ tiền tệ hoặc vốn của doanh nghiệp Mục tiêu chính của tài chính doanh nghiệp là đạt được lợi nhuận trong khuôn khổ pháp luật.
Nội dung những quan hệ kinh tế thuộc phạm vi tài chính đoanh nghiệp bao gồm: l
- Nếu xét trên phạm vi hoạt động, các quan hệ tài chính doanh nghiệp có thể được điển ra trên các phạm vị sau: :
Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp và nhà nước bao gồm các hình thức tài trợ cho doanh nghiệp nhà nước, cũng như các khoản thuế và lệ phí mà mọi loại hình doanh nghiệp phải nộp Những quan hệ này được quy định trong khuôn khổ pháp luật hiện hành.
Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp và các thị trường như thị trường vốn, thị trường lao động, thị trường hàng hóa và thị trường tài chính là rất quan trọng Những quan hệ này bao gồm việc mua bán và trao đổi các yếu tố cần thiết cho quá trình sản xuất, kinh doanh và tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp.
Quan hệ tài chính trong nội bộ doanh nghiệp bao gồm việc phân phối và điều hòa cơ cấu vốn kinh doanh, cũng như phân phối thu nhập giữa các thành viên hoặc cổ đông Ngoài ra, nó còn liên quan đến các quan hệ thanh toán hợp đồng lao động giữa chủ doanh nghiệp và công nhân viên chức.
- Nếu xét theo nội dung kinh tế, các quan hệ tài chính của doanh nghiệp có thê được chia thành 3 nhóm:
Các quan hệ tài chính nhằm thu hút vốn bao gồm vay vốn, hùn vốn, phát hành trái phiếu và cổ phiếu công ty, giúp doanh nghiệp tạo lập vốn kinh doanh Trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp cần mua vốn từ thị trường tài chính, với nhiều hình thức phong phú Người mua phải trả cho người bán vốn quyền sử dụng vốn trong thời gian kinh doanh.
Các quan hệ tài chính liên quan đến đầu tư và sử dụng vốn kinh doanh chủ yếu diễn ra trong nội bộ doanh nghiệp Chúng bao gồm việc phân phối để hình thành cơ cấu vốn kinh doanh hợp lý và quản lý chung các loại vốn như vốn cố định, vốn lưu động, quỹ tiền lương, quỹ khấu hao, và quỹ dự phòng tài chính, nhằm phục vụ cho hoạt động kinh doanh hiệu quả.
- mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp
Các quan hệ tài chính về phân phối thu nhập và lợi nhuận liên quan đến nhiều chủ thể và đối tượng phân phối khác nhau.
Nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc thu thuế và quản lý ngân hàng liên quan đến thanh toán lãi suất tín dụng Điều này cũng ảnh hưởng đến các cổ đông và thành viên góp vốn trong việc thanh toán cổ tức và lãi liên doanh Bên cạnh đó, trong nội bộ doanh nghiệp, việc bù đắp chi phí đầu vào và phân phối quỹ cũng là những yếu tố cần được chú trọng.
Chức năng tài chính doanh nghi€p .scuccssssceceessseeceessesesseneecesseassesseesseseses 6
Tài chính doanh nghiệp có ba chức năng chính: đầu tiên, tạo vốn để đáp ứng nhu cầu vốn cho quá trình sản xuất kinh doanh Để đảm bảo đủ vốn cho hoạt động này, tài chính doanh nghiệp cần tính toán nhu cầu vốn, lựa chọn nguồn vốn phù hợp, và tổ chức huy động cũng như sử dụng vốn một cách hiệu quả, nhằm duy trì và thúc đẩy sự phát triển bền vững trong sản xuất kinh doanh.
Nhà nước cần hỗ trợ doanh nghiệp bằng cách tạo ra một môi trường hoạt động phong phú và đa dạng, nhằm phát triển các loại hình tín dụng Điều này sẽ thu hút tối đa nguồn vốn nhàn rỗi từ các tổ chức kinh tế xã hội và dân cư, từ đó tạo ra nguồn vay dồi dào cho mọi loại hình doanh nghiệp.
2 Phân phối thu nhập bằng tiền của doanh nghiệp
Thu nhập bằng tiền của doanh nghiệp được tài chính doanh nghiệp phân phối
Doanh nghiệp đạt được thu nhập bằng tiền từ việc tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ, nhưng trước tiên phải bù đắp các chi phí sản xuất như hao mòn máy móc, trả lương cho người lao động và mua sắm nguyên liệu Phần thu nhập còn lại sẽ được sử dụng để hình thành quỹ doanh nghiệp, bảo toàn vốn hoặc trả lợi tức cổ phần Chức năng phân phối của tài chính doanh nghiệp liên quan đến việc phân phối thu nhập và luôn gắn liền với đặc điểm của hoạt động sản xuất kinh doanh và hình thức sở hữu doanh nghiệp.
_ 3 Chite nding gidm đốc( hoặc kiểm tra) bằng động tiền đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Tài chính doanh nghiệp dựa vào việc theo dõi thu chi tiền tệ và các chỉ tiêu tài chính để kiểm soát vốn sản xuất kinh doanh, tình hình sản xuất và hiệu quả hoạt động Điều này bao gồm việc phân tích tỷ trọng nguồn huy động, sử dụng vốn, tính toán chi phí đầu vào và phí lưu thông, cũng như thanh toán công nợ với ngân sách nhà nước, nhà cung cấp, tín dụng và người lao động Qua đó, quản lý có thể phát hiện những điểm mất cân đối và sơ hở trong quản lý, từ đó đưa ra quyết định kịp thời nhằm ngăn chặn tổn thất và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Ba chức năng trên có quan hệ mật thiết, hữu cơ với nhau, Chức năng tạo vốn
Vai trò của tài chính doanh nghiỆp - Ăn srseverrerre (Vi treg 7
Tài chính doanh nghiệp có các vai trò sau:
Tài chính doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc khai thác và thu hút nguồn tài chính, nhằm đảm bảo nhu cầu vốn cho các hoạt động đầu tư và kinh doanh của doanh nghiệp.
- Tài chính doanh nghiệp có vai trò trong việc sử dụng vốn, tiết kiệm và có hiệu quả
Việc sử dụng vốn một cách tiết kiệm và hiệu quả là điều kiện thiết yếu cho sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Trong nền kinh tế thị trường, các quy luật kinh tế như cạnh tranh, cung cầu và giá trị đặt ra những yêu cầu khắt khe cho doanh nghiệp Do đó, doanh nghiệp không chỉ cần sản xuất mà còn phải đảm bảo sản phẩm và dịch vụ đáp ứng nhu cầu và sự chấp nhận của thị trường Áp lực từ thị trường buộc các doanh nghiệp phải tối ưu hóa việc sử dụng vốn để duy trì sự cạnh tranh.
- Tài chính doanh nghiệp được sử dụng như một công cụ để kích thích, thúc đẩy sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Các nhà quản lý có thể áp dụng các công cụ tài chính như đầu tư, xác định lãi suất, cổ tức, và giá bán sản phẩm để thúc đẩy năng suất lao động và tiêu dùng Những biện pháp này cũng giúp thu hút vốn, từ đó góp phần vào sự tăng trưởng trong hoạt động kinh doanh.
Việc sử dụng công cụ đầu tư tài chính là một trong những biện pháp mang lại hiệu quả kinh tế cao và bền vững nhất trong các công cụ tài chính hiện có.
Đầu tư vào đổi mới công nghệ và kỹ thuật, đặc biệt là nâng cao trình độ và phúc lợi cho người lao động, sẽ tạo ra tiềm năng lớn để tăng năng suất lao động.
- Tài chính doanh nghiệp là một công cụ quan trọng để kiểm tra các hoạt động sản xuất của doanh nghiệp
Tình hình tài chính doanh nghiệp là một bức tranh phản ánh chính xác hoạt động sản xuất kinh doanh Qua các số liệu kế toán và các chỉ tiêu tài chính như hệ số thanh toán, hiệu quả sử dụng vốn, và hệ số sinh lời, nhà quản lý có thể dễ dàng nhận diện thực trạng của quá trình kinh doanh Điều này giúp phát hiện kịp thời các khuyết tật và nguyên nhân, từ đó điều chỉnh hoạt động kinh doanh để đạt được các chỉ tiêu đã đề ra.
Tổ chức tài chính doanh nghiệp BCVT ,ÔỎ 7
Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế có tên riêng, sở hữu tài sản và có trụ sở giao dịch ổn định Doanh nghiệp được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm thực hiện các hoạt động kinh doanh.
Tổ chức tài chính doanh nghiệp là quá trình lập kế hoạch các chiến lược tài chính và thiết lập hệ thống các biện pháp thực hiện nhằm đạt được các mục tiêu kinh doanh trong từng giai đoạn cụ thể.
1.1.4.2 Các loại hình tổ chức tài chính doanh nghiệp BCVT
Trong nền kinh tế thị trường, sự đa dạng của các chủ thể sở hữu tham gia vào sản xuất kinh doanh là điều tất yếu Khi kinh tế thị trường phát triển, số lượng doanh nghiệp với các hình thức tổ chức ngày càng phong phú trong mọi lĩnh vực Do đó, việc nghiên cứu và phân loại các doanh nghiệp là cần thiết để xác định phạm vi và mục tiêu quản lý tài chính phù hợp Điều này giúp nhà quản lý xây dựng các quan hệ tài chính, phương pháp tạo lập và sử dụng nguồn tài chính hiệu quả, phục vụ cho mục tiêu sản xuất kinh doanh trong từng giai đoạn cụ thể.
Dựa vào chế độ sở hữu và hình thức kinh doanh, hiện nay ở Việt Nam có các loại hình doanh nghiệp chủ yếu sau: doanh nghiệp Nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Mỗi loại hình doanh nghiệp có một cơ chế tài chính khác nhau
Công ty cổ phần là một công ty trong đó:
- Các thành viên góp vốn dưới hình thức cỗ phần để hoạt động
- Số vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau được gọi là cổ phan
- Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi sô vôn đã góp vào công ty
- Cổ đông có quyên tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp có quy định của pháp luật
- Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân, số lượng cổ đông tối thiểu là 3 và không hạn chế số lượng tối đa
Hoạt động kinh doanh của công ty cỗ phân có đặc điểm:
Công ty cổ phần là một thực thể pháp lý có tư cách pháp nhân, trong đó các thành viên góp vốn thông qua việc mua cổ phiếu Trong quá trình hoạt động, công ty có khả năng phát hành thêm cổ phiếu mới để huy động thêm vốn, nếu đáp ứng đủ các tiêu chí cần thiết.
1A at aa) my chuẩn, điều kiện theo luật định) điều đó tạo cho công ty có thé dé dàng tăng thêm vốn chủ sở hữu trong kinh doanh
Các chủ sở hữu có quyền chuyển nhượng quyền sở hữu tài sản cho người khác mà không ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của công ty Họ cũng được hưởng lợi tức cổ phần, quyền biểu quyết và quyền tham gia vào hội đồng quản trị.
Quyền phân chia lợi tức sau thuế thuộc các thành viên của công ty quyết
- Chủ sở hữu của công ty chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn trên phần vôn mà họ đã góp vào công ty
- Thời gian hoạt động lâu dài ( vĩnh cửu) Công ty cổ phần thường có quy mô lớn, chuyên môn hoá
- Đối với cổ đông: giảm thiểu rủizo
Trong lĩnh vực kinh doanh BCVT, có nhiều công ty cổ phần nổi bật như Công ty Cổ phần Dịch vụ CBVT Sài Gòn, Công ty Cổ phần Viễn thông Hà Nội (HanoiTelecom) và Công ty Cổ phần FPT Telecom.
2 Công ty trách nhiệm hữu hạn Công ty trách nhiệm hữu hạn là doanh nghiệp, trong đó a) Thành viên có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng thành viên không vượt quá năm mươi; doanh nghiệp trong phạm vi số vốn cam kết góp vào doanh nghiệp; c) Phần vốn góp của thành viên chỉ được chuyển nhượng trong trường hợp
Theo luật doanh nghiệp Việt Nam, có hai loại công ty trách nhiệm hữu hạn: công ty TNHH hai thành viên trở lên và công ty TNHH một thành viên.
Công ty TNHH có hai thành viên trở lên là một loại hình doanh nghiệp, trong đó các thành viên có thể là tổ chức hoặc cá nhân Số lượng thành viên không được vượt quá quy định, và các thành viên sẽ chịu trách nhiệm về các khoản nợ cũng như nghĩa vụ tài sản khác của công ty.
50 doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã cam kết góp vào doanh nghiệp
+ Thành viên có quyền yêu cầu công ty mua lại phần vốn góp của mình, nếu
Các thành viên có trách nhiệm đối với các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác, ngay cả khi họ đã bỏ phiếu không tán thành đối với nghị quyết của Hội đồng.
Việc xem xét và điều chỉnh các nội dung trong Điều lệ công ty là cần thiết, bao gồm quyền và nghĩa vụ của thành viên cũng như Hội đồng thành viên Ngoài ra, cần tổ chức lại công ty và thực hiện các trường hợp khác theo quy định trong Điều lệ công ty.
Yêu cầu mua lại phần vốn góp cần phải được thực hiện bằng văn bản và gửi đến công ty trong vòng 15 ngày kể từ ngày nghị quyết được thông qua theo quy định.
Nếu công ty không thực hiện việc mua lại phần vốn góp theo quy định, thành viên có quyền tự do chuyển nhượng phần vốn góp của mình cho thành viên khác hoặc cho người không phải là thành viên.
Các thành viên cần đảm bảo góp vốn đầy đủ và đúng hạn theo cam kết Bên cạnh vốn góp của các thành viên, công ty có quyền lựa chọn hình thức và phương thức huy động vốn theo quy định pháp luật, tuy nhiên không được phép phát hành cổ phiếu.
MÔI TRƯỜNG KINH DOANH CỦA TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP BCVT13
Khái niệm môi trường kinh doanh cccceeeteeerreetrereireirire 13
Trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp hoạt động chủ yếu nhằm mục tiêu sinh lời và tối đa hóa lợi nhuận Doanh nghiệp BCVT, giống như các doanh nghiệp khác, hoạt động trong một môi trường kinh doanh nhất định, bao gồm tất cả các điều kiện bên trong và bên ngoài ảnh hưởng đến hoạt động của mình.
Mồi Irường kinh doanh là một thực thể khách quan, bao gồm tất cả các chủ thể kinh doanh trên thị trường cùng với các yếu tố điều kiện và mối quan hệ tác động Các chủ thể kinh doanh cần tính đến những yếu tố này để thích ứng và vận dụng phù hợp trong toàn bộ quá trình kinh doanh, nhằm đảm bảo hoạt động bình thường và đạt hiệu quả cao cho doanh nghiệp.
Doanh nghiệp luôn bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi môi trường kinh doanh, bao gồm cả môi trường bên trong và bên ngoài Môi trường bên trong phản ánh khả năng và vị trí của doanh nghiệp trên từng thị trường, bao gồm nguồn tài chính cho đầu tư, hình thức kinh doanh, chức năng hoạt động, cũng như các cơ hội và thách thức mà doanh nghiệp phải đối mặt.
Môi trường kinh doanh bên ngoài là các yếu tô vĩ mô như: chính trị, luật pháp, kinh tế
Môi trường kinh doanh tác động mạnh mẽ đến mọi hoạt động của doanh nghiệp, trong đó có hoạt động tài chính
1.2.2 Anh hướng của môi trường kinh doanh bên ngoài đến hoạt động tài chính doanh nghiệp BCVT
Sự ổn định của nền kinh tế có ảnh hưởng trực tiếp đến doanh thu của doanh nghiệp BCVT, từ đó tác động đến nhu cầu vốn kinh doanh Những biến động trong nền kinh tế có thể gây ra rủi ro cho doanh nghiệp, buộc các nhà tài chính BCVT phải lường trước các rủi ro này Điều này ảnh hưởng đến chi phí đầu tư, chi phí lãi vay, tiền thuê nhà xưởng, máy móc thiết bị, cũng như việc tìm kiếm nguồn vốn tài trợ.
Khi nền kinh tế ổn định và tăng trưởng, doanh nghiệp cần duy trì vị trí của mình và phát triển tương ứng Sự gia tăng doanh thu dẫn đến việc tăng tài sản và các khoản thu khác Do đó, các nhà tài chính doanh nghiệp phải tìm kiếm nguồn tài trợ để mở rộng sản xuất.
Giá cả thị trường và thuế có ảnh hưởng lớn đến doanh thu và khả năng tìm kiếm lợi nhuận của doanh nghiệp Sự thay đổi về giá cả tác động đến cơ cấu tài chính, trong khi lãi suất và giá cổ phiếu ảnh hưởng đến chi phí tài chính và sự hấp dẫn của các hình thức tài trợ Mức lãi suất cũng là yếu tố quan trọng trong việc huy động vốn vay Ngoài ra, sự tăng hoặc giảm thuế trực tiếp ảnh hưởng đến quá trình kinh doanh và khả năng tiếp tục đầu tư của doanh nghiệp.
Các nhà quản lý tài chính doanh nghiệp có thể sử dụng các yếu tố trên để phân tích các hình thức tài trợ và xác định thời gian tìm kiếm nguồn vốn trên thị trường tài chính.
Sự ổn định chính trị đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra môi trường kinh doanh thuận lợi cho các doanh nghiệp BCVT, đồng thời thu hút các nhà đầu tư nước ngoài Khi có sự ổn định về chính trị, các doanh nghiệp BCVT sẽ được đảm bảo an toàn về đầu tư, quyền sở hữu và các loại tài sản khác.
Luật pháp đóng vai trò quan trọng trong việc định hình hành vi của các thành viên trong xã hội, với các quy định về hợp đồng, nhãn hiệu thương mại, bằng phát minh, cạnh tranh và tín dụng Những quy định này ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng kinh doanh và khả năng thu hút nguồn vốn của doanh nghiệp.
Chính sách kinh tế và tài chính của nhà nước đối với doanh nghiệp bao gồm các chính sách khuyến khích đầu tư, chính sách thuế, chính sách xuất nhập khẩu, chế độ khấu hao tài sản cố định và chính sách giá Những yếu tố này có tác động lớn đến các vấn đề tài chính của doanh nghiệp BCVT.
Ảnh hưởng của môi trường kinh doanh bên ngoài đến hoạt động tài chính
- Sự hoạt động của thị trường tài chính và hệ thống các tô chức tài chính trung gian:
Doanh nghiệp BCVT hoạt động gắn liền với thị trường tài chính, nơi họ có thể huy động vốn và đầu tư các khoản tài chính tạm thời Sự phát triển của thị trường tài chính đã tạo ra nhiều công cụ tài chính mới như thuê tài chính, trái phiếu và cổ phiếu, giúp doanh nghiệp BCVT trong việc huy động vốn đầu tư Hơn nữa, sự phát triển hiệu quả của các tổ chức tài chính trung gian như ngân hàng thương mại, công ty tài chính và quỹ tín dụng cũng tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp trong việc huy động vốn.
Cạnh tranh trong lĩnh vực sản phẩm và dịch vụ BCVT giữa các doanh nghiệp BCWỮT ảnh hưởng lớn đến tình hình tài chính của doanh nghiệp Điều này liên quan chặt chẽ đến khả năng duy trì và phát triển của doanh nghiệp trong một nền kinh tế luôn biến đổi Giám đốc tài chính đóng vai trò quan trọng trong việc quyết định hoạt động hay ngừng hoạt động của doanh nghiệp khi cần thiết.
Sự tiến bộ không ngừng của khoa học và công nghệ trong ngành BCVT yêu cầu các doanh nghiệp phải liên tục cải tiến kỹ thuật và ứng dụng công nghệ mới Điều này cũng đòi hỏi họ phải hoàn thiện công tác quản lý và đánh giá lại tình hình tài chính, cũng như khả năng thích ứng với thị trường Từ đó, doanh nghiệp cần đưa ra các biện pháp phù hợp để nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh.
NGUYEN TAC VA NOI DUNG CỦA TỎ CHỨC TÀI CHÍNH DOANH
KHÁI NIỆM, PHẦN LOẠI VỐN KINH DOANH -cocccccrvecree 19
Khái niệm vốn kinh đoanh <1 1131131 2113013111111 z1eE 19
Bất kỳ doanh nghiệp nào muốn hoạt động sản xuất kinh doanh đều cần một lượng vốn tiền tệ nhất định để đầu tư vào xây dựng cơ sở hạ tầng, mua nguyên vật liệu, trả lương, lãi suất và thuế, cũng như mua sắm thiết bị mới nhằm mở rộng quy mô Các khoản vốn này được gọi là vốn sản xuất kinh doanh, hay nói cách khác, là toàn bộ giá trị đầu tư cho quá trình sản xuất Mỗi loại hình doanh nghiệp sẽ có nhu cầu vốn kinh doanh khác nhau.
Trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp hướng tới mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận thông qua sản xuất và trao đổi hàng hóa, dịch vụ Để thực hiện điều này, doanh nghiệp cần một lượng vốn lớn, đa dạng về chủng loại và hình thái vật chất, được phân bổ rộng rãi trong hoạt động sản xuất kinh doanh Vốn kinh doanh được xem là tiền đề cho mọi quá trình đầu tư và sản xuất, đóng vai trò là quỹ tiền tệ đặc biệt và là tiềm lực tài chính của doanh nghiệp.
Trong nền kinh tế thị trường vốn kinh doanh được biểu hiện dưới hai hình thúc hiện vật và giá trị, có những đặc điểm sau đây:
Vốn thể hiện giá trị tổng thể của tất cả tài sản mà doanh nghiệp quản lý và sử dụng tại một thời điểm cụ thể, bao gồm cả tài sản hữu hình và vô hình.
Vốn dược cần được tích tụ và tập trung đến một mức nhất định để phát huy tác dụng hiệu quả Để đầu tư vào sản xuất kinh doanh, số vốn này phải đạt tối thiểu bằng mức vốn pháp định mà nhà nước quy định cho từng ngành nghề và lĩnh vực hoạt động.
Tiền tệ là hình thức ban đầu của vốn trong doanh nghiệp, nhưng không phải chỉ có tiền là có vốn Tiền chỉ là dạng tiềm năng của vốn, và để trở thành vốn thực sự, tiền cần được đầu tư vào sản xuất kinh doanh để tạo ra lợi nhuận.
- Mỗi đồng vốn phải được gắn với một chủ sở hữu nhất định
Vốn là một loại hàng hóa đặc biệt, chỉ cung cấp quyền sử dụng Người mua có quyền sử dụng vốn trong một khoảng thời gian nhất định và phải thanh toán cho quyền sử dụng đó trong suốt thời gian này.
Vốn kinh doanh của doanh nghiệp là tổng giá trị tài sản được thể hiện bằng tiền mà doanh nghiệp đầu tư vào hoạt động sản xuất kinh doanh với mục tiêu tạo ra lợi nhuận.
Phân loại vốn -. -5-cccccscerveerree
- Căn cứ vào hình thái biêu hiện, vốn được chia thành vốn hữu hình và vốn vô hình
- Căn cứ vào phương thức luân chuyển, vốn được chia thành hai loại: Vốn cỗ định và vôn hưu động
Vốn được phân chia thành hai loại chính: nguồn vốn chủ sở hữu và các khoản nợ phải trả Nguồn vốn chủ sở hữu bao gồm vốn điều lệ, chênh lệch đánh giá lại tài sản, quỹ đầu tư phát triển, lợi nhuận chưa phân phối và các loại vốn khác theo quy định pháp luật Trong khi đó, các khoản nợ phải trả bao gồm các khoản vay ngắn hạn và dài hạn từ cá nhân, tổ chức kinh tế, nợ ngân sách nhà nước, nợ phải trả cho khách hàng, công nhân viên, cũng như các khoản chi phí phải trả và ký quỹ.
- Căn cứ vào nội dung vật chat, vén được chia thành hai loại: vốn thuc( von vat tu, hang hod) va vén tai chinh( von tién té)
- Căn cử vào thời gian luân chuyên: Vôn dài hạn và vôn ngăn hạn (dưới | năm)
Vốn của doanh nghiệp tại thời điểm báo cáo, thường là vào ngày cuối cùng của mỗi quý hoặc cuối năm, được thể hiện rõ ràng trong bảng cân đối kế toán.
2.2 VON CO ĐỊNH CỦA DOANH NGHIỆP BCVT
2.2.1 Khái niệm về vốn cố định
Muốn tiến hành sản: xuất kinh doanh, trước hết mọi doanh nghiệp phải có tu liệu lao động
Trong ngành Bưu chính Viễn thông (BCVT), tư liệu lao động bao gồm nhiều loại thiết bị như tổng đài, thiết bị truyền dẫn, vi ba, máy chia chọn và phương tiện vận tải Những tư liệu này đóng vai trò quan trọng, tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào quá trình cung cấp dịch vụ.
Trong sản xuất hàng hóa, việc mua sắm tư liệu lao động yêu cầu doanh nghiệp phải chi một khoản tiền vốn nhất định Số vốn này sẽ được luân chuyển theo mức độ hao mòn của tư liệu lao động Trong quá trình sản xuất, tư liệu lao động giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu và có thể tham gia nhiều chu kỳ sản xuất Tuy nhiên, trong thời gian sử dụng, chúng sẽ bị hao mòn dần và chỉ cần được thay thế khi hư hỏng hoàn toàn hoặc không còn lợi ích kinh tế.
Giá trị của tư liệu lao động phụ thuộc vào mức độ hao mòn vật chất, được chuyển dịch dần vào sản phẩm và dịch vụ mới Phần giá trị chuyển dịch này trở thành một yếu tố quan trọng trong chi phí sản xuất.
VỐN CÓ ĐỊNH CỦA DOANH NGHIỆP BCVT ccccsscsrrerrsrrerree 20 .1 Khái niệm về vốn cố định . :- + ©xx+txxtrxt+x221xE711111121121121221 1 tre 20
Khái niệm, phân loại TSŒĐ - cv sssirvrttrierrrrirerrreo đt re tsret 21
Theo quy định tại thông tư 45/2013T1-BTC “ Hướng dẫn chế độ quản lý, sử dung và trích khâu hao tài sản cô định ` ngày 25/4/2013 ” của Bộ Tài chính:
Tài sản cố định hữu hình là những tư liệu lao động có hình thái vật chất, đáp ứng tiêu chuẩn của tài sản này Chúng tham gia vào nhiều chu kỳ kinh doanh nhưng vẫn giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu, bao gồm nhà cửa, công trình kiến trúc, máy móc, thiết bị và phương tiện vận tải.
Tài sản cố định vô hình là những tài sản không có hình thái vật chất, thể hiện giá trị đã được đầu tư và đáp ứng các tiêu chuẩn của loại tài sản này Chúng tham gia vào nhiều chu kỳ kinh doanh và bao gồm các chi phí liên quan trực tiếp đến đất sử dụng, chi phí về quyền phát hành, bằng phát minh, bằng sáng chế, và bản quyền tác giả.
Tài sản cố định thuê tài chính là tài sản mà doanh nghiệp thuê từ công ty cho thuê tài chính Khi hợp đồng thuê kết thúc, bên thuê có quyền mua lại tài sản hoặc tiếp tục thuê theo các điều kiện đã thỏa thuận Tổng số tiền thuê phải tương đương với giá trị tài sản tại thời điểm ký hợp đồng Tiêu chuẩn và cách nhận biết tài sản cố định là yếu tố quan trọng trong quản lý tài sản của doanh nghiệp.
- Tài sản cỗ định hữu hình:
Tư liệu lao động là tài sản hữu hình có cấu trúc độc lập hoặc là hệ thống gồm nhiều bộ phận liên kết, thực hiện chức năng nhất định Để được coi là tài sản cố định, tư liệu lao động phải đáp ứng ba tiêu chí: (a) chắc chắn mang lại lợi ích kinh tế trong tương lai; (b) có thời gian sử dụng từ một năm trở lên; và (c) giá trị nguyên gia tài sản phải được xác định tin cậy, tối thiểu 30.000.000 đồng.
Trong một hệ thống gồm nhiều bộ phận tài sản riêng lẻ liên kết với nhau, mỗi bộ phận có thời gian sử dụng khác nhau Mặc dù một bộ phận có thể thực hiện chức năng chính của hệ thống, yêu cầu quản lý tài sản cố định đòi hỏi phải quản lý riêng từng bộ phận Nếu mỗi bộ phận tài sản thỏa mãn đồng thời ba tiêu chuẩn của tài sản cố định, chúng sẽ được coi là tài sản cố định hữu hình độc lập.
- Tiêu chuẩn và nhận biết tài sản có định vô hình:
Mọi khoản chi phí thực tế của doanh nghiệp phải đáp ứng đồng thời ba tiêu chuẩn quy định và không hình thành tài sản cố định hữu hình sẽ được coi là chi phí hợp lệ.
Các khoản chi phí không đáp ứng đồng thời cả ba tiêu chuẩn sẽ được hạch toán trực tiếp hoặc phân bổ vào chi phí kinh doanh của doanh nghiệp.
Các chi phí phát sinh trong giai đoạn triển khai được ghi nhận là tài sản cố định vô hình nếu thỏa mãn bảy điều kiện sau: (a) tính khả thi về mặt kỹ thuật để hoàn thành và đưa tài sản vào sử dụng; (b) doanh nghiệp có kế hoạch hoàn thành tài sản để sử dụng hoặc bán; (c) khả năng sử dụng hoặc bán tài sản vô hình; (d) tài sản phải tạo ra lợi ích kinh tế trong tương lai; (đ) có đủ nguồn lực kỹ thuật, tài chính và các nguồn lực khác để hoàn tất giai đoạn triển khai; (e) khả năng xác định chắc chắn toàn bộ chi phí trong giai đoạn triển khai; (g) ước tính đáp ứng tiêu chuẩn về thời gian sử dụng và giá trị theo quy định cho tài sản cố định vô hình.
Chi phí thành lập doanh nghiệp bao gồm các khoản như chi phí đào tạo nhân viên, chi phí quảng cáo trước khi thành lập, chi phí nghiên cứu, chi phí chuyển địa điểm, và chi phí mua sắm tài liệu kỹ thuật, bằng sáng chế, giấy phép chuyển giao công nghệ, và nhãn hiệu thương mại Những chi phí này không được coi là tài sản cố định vô hình mà sẽ được phân bổ dần vào chi phí kinh doanh trong thời gian tối đa 3 năm theo quy định của Luật thuế TNDN.
Tài sản cố định trong lĩnh vực Bưu chính và Viễn thông bao gồm các thiết bị chuyển mạch, thiết bị truyền dẫn, mạng ngoại vi như tổng đài, viba, vệ tinh, cùng với các công trình thông tin và bộ phận thu phát như cột antena và trạm BTS Ngoài ra, còn có các phương tiện vận chuyển, máy móc thiết bị bưu chính như máy chia chọn, băng chuyển, và nhà cửa phục vụ sản xuất.
2.2.2.2 Phân loại tài sản cỗ định
Tuỳ theo mục đích nghiên cứu, TSCĐ thường được phân loại theo các tiêu thức sau:
- Theo quyên sở hữu chìa ra: TSCĐ tự có, TSCĐ thuê tài chính
- Theo mục đích sử dụng của tài sản cỗ định:
Tài sản cố định dùng cho mục đích kinh doanh là những tài sản mà doanh nghiệp quản lý và sử dụng cho hoạt động kinh doanh Đối với tài sản cố định hữu hình, doanh nghiệp tiến hành phân loại theo các tiêu chí nhất định.
Nhà và vật kiến trúc là tài sản cố định của doanh nghiệp, được hình thành qua quá trình thi công xây dựng Chúng bao gồm trụ sở làm việc, nhà kho, hàng rào, tháp nước, sân bãi và các công trình trang trí cho nhà cửa.
Máy móc và thiết bị là tập hợp tất cả các loại máy móc và thiết bị được sử dụng trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, bao gồm máy móc chuyên dụng, thiết bị công tác, dây chuyền công nghệ và các máy móc đơn lẻ.
Phương tiện vận tải và thiết bị truyền dẫn bao gồm nhiều loại hình như vận tải đường sắt, đường thủy, đường bộ, và đường không, cùng với các thiết bị như hệ thống thông tin, hệ thống điện, đường ống nước, và băng tải.
Thiết bị và dụng cụ quản lý là những công cụ thiết yếu hỗ trợ doanh nghiệp trong việc quản lý hoạt động kinh doanh, bao gồm máy vi tính phục vụ quản lý, thiết bị điện tử, dụng cụ đo lường, kiểm tra chất lượng, cũng như máy hút âm, hút bụi và các thiết bị chống mối mọt.
Nguyên tắc quản lý tài sản cố định: cc cttttrhgheirrerrrerirriee 24 ”? „046 neo nh
Mỗi tài sản cố định (TSCĐ) trong doanh nghiệp cần có bộ hồ sơ riêng, bao gồm biên bản giao nhận, hợp đồng, hóa đơn mua và các chứng từ liên quan TSCĐ phải được phân loại, đánh số và gắn thẻ riêng, đồng thời được theo dõi chi tiết theo từng đối tượng phí và phản ánh trong sổ theo dõi TSCĐ.
- Mỗi TSCĐ phải được quản lý theo nguyên giá, số ) hao mòn luỹ kế và giá trị còn lại trên số sách kế toán:
Giá trị còn lại của tài sản cố định (TSCĐ) được tính bằng nguyên giá trừ đi số hao mòn luỹ kế Đối với những TSCĐ không còn sử dụng và chờ thanh lý nhưng chưa hết khấu hao, doanh nghiệp cần thực hiện quản lý, theo dõi và bảo quản theo quy định hiện hành, đồng thời trích khấu hao theo quy định.
Doanh nghiệp cần quản lý các tài sản cố định đã khấu hao hết nhưng vẫn tiếp tục tham gia vào hoạt động kinh doanh như những tài sản cố định thông thường.
2.2.4.1 Hao mòn và khẩu hao TSCĐ
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, tài sản cố định (TSCĐ) trải qua sự hao mòn hữu hình và vô hình, dẫn đến việc giá trị của chúng dần được chuyển dịch vào sản phẩm hoàn thành.
Hao mòn hữu hình là quá trình giảm giá trị sử dụng của tài sản cố định (TSCĐ) do tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh và tác động của bào mòn tự nhiên.
- Hao mòn vô hình là sự giảm thuần tuý về mặt giá trị của TSCĐ do tiến bộ kỹ thuật
Hao mòn tài sản cố định là sự giảm giá trị sử dụng và giá trị của tài sản do tham gia vào hoạt động kinh doanh, bào mòn tự nhiên và tiến bộ kỹ thuật trong quá trình hoạt động của tài sản cố định.
Khấu hao TSCĐ là quá trình tính toán và phân bổ hệ thống nguyên giá của tài sản cố định vào chi phí sản xuất, kinh doanh trong suốt thời gian trích khấu hao của tài sản đó.
Số tiền khấu hao TSCĐ phản ánh giá trị hao mòn của tài sản cố định, đóng vai trò quan trọng trong chi phí sản xuất kinh doanh và ảnh hưởng đến giá thành sản phẩm, dịch vụ, được thể hiện dưới dạng tiền tệ.
2.2.4.2 Nguyên tắc trích khẩu hao TSCĐ:
1 Tất cả TSCĐ hiện có của doanh nghiệp đều phải trích khấu hao, trừ những TSCD sau đây:
_ 7 ISCD da khẩu hao hết giá trị nhưng vẫn dang ử dụng vào hoạt động sản xuát kinh doanh
- 1 SCD chưa khẩu hao hết bị mất
- TSCĐ khác do doanh nghiệp quản lý mà không thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp (trừ TSCĐ thuê tài chỉnh)
_- TSCĐ không được quản lý, theo đối, hạch toản trong số sách kế toán của doanh nghiệp
TSCĐ được sử dụng trong các hoạt động phúc lợi nhằm phục vụ người lao động của doanh nghiệp, ngoại trừ những TSCĐ phục vụ trực tiếp cho người lao động làm việc tại doanh nghiệp như nhà nghỉ giữa ca, nhà ăn, nhà thay quần áo, nhà vệ sinh, bể chứa nước sạch, nhà để xe, phòng hoặc trạm y tế, xe đưa đón, cơ sở đào tạo, dạy nghề, và nhà ở do doanh nghiệp đầu tư xây dựng.
TSCĐ bao gồm nhà và đất ở khi mua lại từ nhà nước với quyền sử dụng đất lâu dài Trong trường hợp này, giá trị quyền sử dụng đất sẽ không bị tính khấu hao.
TSCĐ được chuyển giao từ nguồn viện trợ không hoàn lại cho doanh nghiệp nhằm phục vụ cho nghiên cứu khoa học.
- TSCĐ vô hình là quyền sử dụng đất
Các khoản chi phí khấu hao tài sản cố định được xem là hợp lý khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp, theo quy định của các văn bản pháp luật liên quan đến thuế thu nhập doanh nghiệp.
2 Trường hợp TSCĐ sử dụng trong các hoạt động phúc lợi phục vụ cho người lao động của doanh nghiệp có tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh thì doanh nghiệp căn cứ vào thời gian và tính chất sử dụng các tài sản cố định này để thực hiện tính và trích khấu hao vào chỉ phí kinh đoanh của doanh nghiệp và thông báo cho cơ quan thuế trực tiếp quản lý để theo dõi, quan ly
3 TSCD chưa khấu hao hết bị mất, bị hư hỏng mà không thể sửa chữa, khắc phục được, doanh nghiệp xác định nguyên nhân, trách nhiệm bồi thường của tập thê, cá nhân gây ra Chênh lệch giữa giá trị còn lại của tài sản với tiền bồi thường và giá trị thu hôi được (nếu có), doanh nghiệp dùng Quỹ dự phòng tài chính để bù dap
Khi Quỹ dự phòng tài chính không đủ để bù đắp, phần chênh lệch thiếu sẽ được tính vào chi phí hợp lý của doanh nghiệp trong quá trình xác định thu nhập doanh nghiệp.
4 Doanh nghiệp cho thuê TSCĐ hoạt động phải trích khấu hao đối với TSCĐ cho thuê