1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng kiểm toán viên của kiểm toán nhà nước luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh

118 0 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng kiểm toán viên của kiểm toán nhà nước
Người hướng dẫn PGS.TS Nguyễn Hồng Thái
Trường học Trường Đại học Giao thông Vận tải
Chuyên ngành Quản trị kinh doanh
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2014
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 118
Dung lượng 1,38 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hỗ trợ, phục vụ đắc lực cho hoạt động của Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp trong thực hiện chức năng giám sát và quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, các địa phương và từng

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIAO THÔNG VẬN TẢI

HOÀNG BỔNG

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO

CHẤT LƯỢNG KIỂM TOÁN VIÊN CỦA KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC

Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh

Mã số : 60.34.01.02

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH

CÁN BỘ HƯỚNG DẪN: PGS.TS NGUYỄN HỒNG THÁI

TP HỒ CHÍ MINH - 2014

Trang 2

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ KIỂM TOÁN VIÊN KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC 3

1.1 Khái quát về kiểm toán 3

1.1.1 Khái niệm về kiểm toán 3

1.1.2 Vai trò, chức năng của Kiểm toán Nhà nước 4

1.2 Chất lượng hoạt động kiểm toán 8

1.2.1 Khái niệm chất lượng hoạt động kiểm toán 8

1.2.2 Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng hoạt động kiểm toán: 12

1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động kiểm toán: 13

1.3 Tiêu chuẩn, yêu cầu về chất lượng nhân lực Kiểm toán Nhà nước 16

1.4 Nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng nhân lực Kiểm toán Nhà nước 22

1.4.1 Các nhân tố bên trong 22

1.4.2 Các yếu tố bên ngoài 25

1.5 Kinh nghiệm của các nước về yêu cầu hoạt động kiểm toán và nguồn nhân lực kiểm toán 27

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ KIỂM TOÁN VIÊN CỦA KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2006 ĐẾN NAY 29

2.1 Tổng quan điều kiện kinh tế - xã hội Việt Nam 29

2.1.1 Tăng trưởng kinh tế 29

2.1.2 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế 30

2.1.3 Chất lượng tăng trưởng kinh tế 31

2.1.4 Xuất khẩu 32

2.1.5 Nhập khẩu 32

2.1.6 Đầu tư toàn xã hội 32

Trang 3

2.1.7 Dân số 33

2.1.8 Giáo dục 33

2.1.9 Hệ thống y tế 34

2.1.10 Hệ thống giao thông đường bộ 35

2.1.11 Lực lượng lao động 35

2.1.12 Việc làm 36

2.2 Tổng quan về Kiểm toán Nhà nước Việt Nam 36

2.2.1 Quá trình hình thành và phát triển của Kiểm toán Nhà nước Việt Nam 36

2.2.2 Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm toán Nhà nước Việt Nam 41

2.2.3 Cơ cấu tổ chức của Kiểm toán Nhà nước Việt Nam 43

2.3 Thực trạng về hoạt động của Kiểm toán Nhà nước giai đoạn 2006 đến nay 44

2.3.1 Kết quả hoạt động kiểm toán Nhà nước từ 2006-2013 44

2.3.2 Đánh giá chung về hoạt động kiểm toán Nhà nước từ 2006-2013 51

2.4 Thực trạng về đội ngũ kiểm toán viên của Kiểm toán Nhà nước 55

2.4.1 Khái quát chung về vị trí, chức năng và kiểm toán viên nhà nước 55

2.4.2 Thực trạng đội ngũ kiểm toán viên nhà nước 58

2.5 Đánh giá chung về chất lượng đội ngũ kiểm toán viên của Kiểm toán Nhà nước Việt Nam 62

2.5.1 Ưu điểm 63

2.5.2 Tồn tại và nguyên nhân 64

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ KIỂM TOÁN VIÊN KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC VIỆT NAM ĐỂN NĂM 2020 67

3.1 Chiến lược phát triển kiểm toán Nhà nước đến năm 2020 67

3.1.1 Quan điểm phát triển Kiểm toán Nhà nước 67

3.1.2 Mục tiêu phát triển KTNN đến năm 2020 68

3.1.3 Nội dung cơ bản của Chiến lược phát triển KTNN đến năm 2020 69

Trang 4

3.2 Những thách thức và giải pháp cho việc nâng cao chất lượng kiểm toán của KTNN trong điều kiện hội nhập 81 3.3 Các giải pháp nâng cao chất lượng kiểm toán viên Kiểm toán Nhà nước đến năm 2020 84 3.3.1 Nâng cao chất lượng hệ thống Kiểm toán Nhà nước Việt Nam đến năm

2020 84 3.3.2 Nâng cao chất lượng nhân lực kiểm toán viên Kiểm toán Nhà nước Việt Nam đến năm 2020 87

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 109 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 111

Trang 5

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

ĐTTXH Tổng vốn đầu tư toàn xã hội

KTVCC Kiểm toán viên cao cấp

KTVC Kiểm toán viên chính

KTVDB Kiểm toán viên dự bị

KHKT Kế hoạch kiểm toán

KSCL Kiểm soát chất lượng

KSCLKT Kiểm soát chất lượng kiểm toán HĐKT

KSNB

Hoạt động kiểm toán Kiểm soát nội bộ

Trang 6

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 2.1: Tăng trưởng kinh tế thời kỳ 2002-2011 30

Biểu đồ 2.2: Đóng góp vào tăng trưởng kinh tế giai đoạn 1990-2010 31

Biểu đồ 2.3: Số lượng cuộc kiểm toán từ khi có Luật KTNN (2006-2013) 47

Biểu đồ 2.4: Tổng hợp kế quả kiểm toán về xử lý tài chính từ 2006 - 2013 49

Biểu đồ 2.5: Tổng hợp kết quả kiểm toán về xử lý tài chính từ 1994-2013 50

Biểu đồ 2.6: Tổng hợp kết quả kiểm toán về xử lý tài chính từ 2006-2013 50

Biểu đồ 2.7: Số lượng công chức Kiểm toán Nhà nước theo từng năm 59

Biểu đồ 2.8: Cơ cấu công chức theo ngạch 60

Biểu đồ 2.9: Cơ cấu công chức theo trình độ đào tạo 60

Biểu đồ 2.10: Cơ cấu công chức theo chuyên ngành đào tạo 61

Trang 7

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, SƠ ĐỒ

Hình 1.1: Chương trình FIA-CAT 21 Hình 3.1: Mục tiêu chiến lược về tổ chức và nhân lực Kiểm toán Nhà nước 68

Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức Kiểm toán Nhà nước 40

Trang 8

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Để phát triển KTNN trở thành một công cụ hữu hiệu của Nhà nước trong kiểm tra, giám sát, quản lý và sử dụng ngân sách, tiền và tài sản nhà nước; xây dựng KTNN có trình độ chuyên nghiệp cao, từng bước hiện đại, trở thành cơ quan kiểm tra tài chính công có trách nhiệm và uy tín, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, phù hợp các thông lệ và chuẩn mực quốc tế Hỗ trợ, phục vụ đắc lực cho hoạt động của Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp trong thực hiện chức năng giám sát và quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, các địa phương và từng bước xây dựng cơ quan KTNN chuyên nghiệp, hiện đại, phát triển hợp lý về số lượng và nâng cao về chất lượng, tinh gọn về bộ máy, tiết kiệm kinh phí, hoạt động hiệu quả Ứng dụng rộng rãi công nghệ thông tin hiện đại trong quản lý và hoạt động kiểm toán

Như vậy để có được đội ngũ cán bộ kiểm toán viên Nhà nước đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế, phù hợp các nguyên tắc, thông lệ quốc tế,

việc lựa chọn đề tài "Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng kiểm toán viên của Kiểm toán Nhà Nước” có ý nghĩa thực tiễn thiết thực

2 Đối tƣợng nghiên cứu

Phân tích, đánh giá thực trạng đội ngũ kiểm toán viên Nhà Nước của Kiểm toán Nhà nước và các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng nhân lực kiểm toán viên Nhà nước Đồng thời xác định nhu cầu phát triển của đội ngũ kiểm toán viên của Kiểm toán Nhà nước, nhằm đề xuất giải pháp nhằm đáp ứng yêu cầu về số lượng, chất lượng đội ngũ kiểm toán viên của Kiểm toán Nhà nước hiện tại cũng như trong tương lai

Trang 9

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận liên quan đến chất lượng kiểm toán viên của Kiểm toán Nhà nước Việt Nam

- Đánh giá thực trạng chất lượng kiểm toán viên của Kiểm toán Nhà nước Việt Nam giai đoạn từ 2006 đến nay

- Đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ kiểm toán viên của Kiểm toán Nhà nước Việt Nam từ nay đến 2020

4 Phương pháp nghiên cứu

Trên cơ sở phương pháp luận chung duy vật biện chứng và duy vật lịch

sử Luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu khác như: Phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp, so sánh, tổng kết thực tiễn

5 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được kết cấu gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về chất lượng đội ngũ kiểm toán viên Kiểm toán

Nhà nước

Chương 2: Thực trạng chất lượng đội ngũ kiểm toán viên Kiểm toán Nhà

nước Việt Nam giai đoạn 2006 đến nay

Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ kiểm toán viên Kiểm

toán Nhà nước Việt Nam đến 2020

Trang 10

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ KIỂM TOÁN VIÊN KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC

1.1 Khái quát về kiểm toán

1.1.1 Khái niệm về kiểm toán

“Kiểm toán” là thuật ngữ nghề nghiệp và là hoạt động nghiệp vụ đã xuất hiện

từ lâu trên thế giới và đuợc chấp nhận ở Việt Nam từ những năm đầu đổi mới Nói

về kiểm toán sẽ là sự đề cập đến một lĩnh vực khá rộng, bởi nó song song tồn tại đối với tất cả mọi loại hình kinh doanh, ngành nghề và lĩnh vực kinh doanh đặc biệt là trong nền kinh tế thị trường Tuy nhiên trong khuôn khổ luận văn này tôi chỉ đề cập đến loại hình kiểm toán nhà nước, bởi đây là loại hình kiểm toán tuy ra đời sau nhưng lại có vai trò qua trọng đối vói sự phát triển kinh tế, nó cũng mang đầy đủ nhất các sắc thái của “kiểm toán” Đặc biệt, đối với kiểm toán nhà nước vấn đề kiểm soát chất lượng luôn là một bài toán khó nhưng bắt buộc các công ty kiểm toán, các nhà hoạch định chính sách phải tìm ra lời giải

Thực tế, có rất nhiều tiêu thức khách nhau để phân loại kiểm toán tuy nhiên cách thức thông dụng nhất là phân loại theo tổ chức bộ máy, bao gồm: kiểm toán nhà nước, kiểm toán nội bộ và kiểm toán độc lập Trong đó, kiểm toán độc lập được xem là hoạt động đặc trưng của nền kinh tế thị trường Theo Liên đoàn kế toán quốc

tế (Internation Federation of Acountants) thì: “Kiểm toán là việc kiểm tra và trình bày ý kiến của mình về các bảng khai tài chính” Nghị định số 105/2004/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 30/03/2004 ghi rõ: “Kiểm toán là việc kiểm tra và xác nhận của KTV và các doanh nghiệp kiểm toán về tính trung thực, hợp lý của các tài liệu, số liệu kế toán và báo cáo tài chính của các doanh nghiệp, tổ chức (gọi chung

là đơn vị được kiểm toán) khi có yêu cầu của đơn vị này”

Như vậy, kiểm toán là một hoạt động kiểm tra nhằm xác minh tính trung thực và hợp lý của các tài liệu, số liệu kế toán, báo cáo tài chính trong những tổ chức, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp nhằm bảo đảm việc tuân thủ các chuẩn mực và quy định pháp luật hiện hành Và người làm công việc này thường được gọi là kiểm toán viên

Trang 11

- Kiểm toán viên Nhà nước là công dân Việt Nam làm trong ngành KTNN, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan thuộc Kiếm toán Nhà nước Việt Nam; trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước

1.1.2 Vai trò, chức năng của Kiểm toán Nhà nước

- Thứ nhất, phát triển KTNN trở thành công cụ của Nhà nước pháp quyền XHCN, nhà nước “Của dân, do dân và vì dân” Cần khẳng định: KTNN là 1 bộ

phận trong hệ thống tổ chức của Nhà nước pháp quyền, thực hiện quyền lực của nhân dân thông qua hoạt động kiểm tra, kiểm soát và giám sát việc sử dụng NSNN, tài sản công là những đồng tiền được đóng góp từ mồ hội công sức của dân cần có

sự thống nhất về nhận thức, quan điểm về sự phân công nhiệm vụ và quyền hạn giữa các cơ quan hành pháp, tư pháp và lập pháp trong hoạt động kinh tế, tài chính

để tạo ra sự đồng thuận và sự ủng hộ, hợp tác cũng như việc giám sát của các ngành, các cấp và toàn xã hội đối với hoạt động kiểm tra, kiểm soát chi tiêu NSNN, đấu tranh chống tệ tham nhũng, lãng phí trong các cơ quan công quyền

- Thứ hai, minh bạch và công khai về tài chính là một trong các tiền đề, điều kiện quan trọng để hội nhập kinh tế với khu vực và thế giới Theo những quy

tắc về minh bạch tài chính quốc gia của Quỹ tiền tệ thế giới, mỗi quốc gia cần có một Cơ quan Kiểm toán Quốc gia hoặc một tổ chức tương đương để kiểm tra, xác nhận tính đúng đắn, hợp pháp của một số liệu và chính sách tài chính trước khi công

bố KTNN là cơ quan kiểm tra tài chính độc lập của một Quốc gia, chịu trách nhiệm đánh giá độ trung thực của báo cáo tài chính; tính kinh tế và hiệu quả hoạt động quản lý; nếu những thông tin kiểm toán được công bố công khai rộng rãi sẽ làm tăng thêm niềm tin của các nhà đầu tư trong và ngoài nước, đồng thời tạo điều kiện

để xã hội và người dân được quyền tham gia giám sát Bởi vậy cần thể chế hóa chi tiết qui định về công khai kết quả kiểm toán và kết quả thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm toán (trừ những bí mật nhà nước qui định)

- Thứ ba, KTNN là một công cụ kiểm tra, kiểm soát có hiệu quả, điều cơ bản nhất là phải đảm bảo được tính độc lập trong hoạt động KTNN Tính độc lập

là vấn đề cốt lõi của hoạt động KTNN, được hiểu trên hai góc độ: Kiểm toán phải được hoàn thành độc lập, khách quan trong khi thực hiện nhiệm vụ và được đảm bảo sự độc lập thông qua các quy định, chế tài để tránh sự tác động trực tiếp hay gián tiếp Điều này có nghĩa: hoạt động của KTNN phải được chế định trong đạo

Trang 12

luật gốc là Hiến pháp, điều này cũng phù hợp với Tuyên bố Lima tại Hội nghị lần thứ IX của Tổ chức Quốc tế các cơ quan Kiểm toán tối cao (INTOSAI): “Cơ quan kiểm toán tối cao chỉ có thể hoàn thành nhiệm vụ của mình một cách khách quan và hiệu quả khi nó độc lập với đơn vị được kiểm toán và được đảm bảo chống lại các ảnh hưởng từ bên ngoài”

- Thứ tư, KTNN không chỉ dừng lại ở kiểm toán báo cáo tài chính và kiểm toán tuân thủ mà cần triển khai và đẩy mạnh loại hình kiểm toán hoạt động Qua

kiểm toán hoạt động sẽ có điều kiện xác định tính kinh tế, hiệu quả và hiệu lực trong hoạt động thu – chi tài chính nhà nước và những thất thoát do chi sai mục đích, sai chế độ cũng như khuất tất trong quyết định đầu tư hoặc thực hiện chương trình, dự án… Đồng thời, cần thiết triển khai kiểm toán trách nhiệm kinh tế đối với cán bộ lãnh đạo và người đứng đầu các Doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước hoặc Nhà nước nắm cổ phần chi phối Thực tế cho thấy đây là một trong những biện pháp phòng chống gian lận và tham nhũng rất có hiệu quả Kết quả kiểm toán các hoạt động kinh tế của đơn vị trong nhiệm kỳ của cán bộ lãnh đạo được các cấp quản

lý lấy làm cơ sở để đánh giá, bố trí và sử dụng cán bộ, thậm chí cách chức, bãi miễn hoặc truy tố trước pháp luật nếu cán bộ đó có sai phạm

- Thứ năm, chức năng của KTNN là kiểm toán đối với mọi cơ quan tổ chức quản lý, sử dụng ngân sách, tiền và tài sản nhà nước; nhưng trên thực tế do

hạn chế về nhân lực nên hàng năm chỉ mới tiến hành kiểm toán được khoảng trên 30% số NSNN cấp tinh thành phố, báo cáo tài chính của khoảng 20% số bộ, ngành

ở Trung ương và cũng mới chỉ thực hiện thẩm định, kiểm tra một sô nội dung của báo cáo quyết toán NSNN… Bản thân KTNN vẫn chưa thể tự trang trải toàn bộ kinh phí hoạt động, vẫn có trường hợp phải nhờ vả vào các đơn vị được kiểm toán

về phương tiện đi lại, về chỗ nghỉ trong quá trình kiểm toán… Điều đó ít nhiều ảnh hưởng đến việc đảm bảo yêu cầu độc lập và khách quan trong hoạt động kiểm toán

Để nâng cao chất lượng kiểm toán, đảm bảo thi hành đầy đủ các qui định của Luật KTNN đòi hỏi phải bổ xung thêm cán bộ, kiểm toán viên, nhất là những chuyên gia giỏi ở các lĩnh vực mà KTNN có trách nhiệm kiểm toán Đồng thời, Nhà nước cần đảm bảo kinh phí đầy đủ cho các hoạt động kiểm toán, giảm dần và tiến tới độc lập cơ bản kinh phí, hạn chế tối đa việc nhờ vả các đơn vị được kiểm toán

Trang 13

- Thứ sáu, cần đảm bảo và tôn trọng tối đa tính độc lập của KTNN, đặc

biệt là trong quyết định kế hoạch kiểm toán và tiến hành các hoạt động kiểm toán Tính độc lập là vấn đè cốt lõi và xương sống của hoạt động kiểm toán, được hiểu theo cả hai khía cạnh: Kiểm toán phải hoàn thành độc lập, khách quan, vô tư trong khi thực hiện nhiệm vụ và phải đảm bảo sự độc lập bằng các qui định, các chế tài để tránh mọi sự tác động trực tiếp hoặc gián tiếp Khi tiến hành hoạt động nghiệp vụ, kiểm toán có thể tiếp cận đày đủ các bằng chứng và nguồn gốc thông tin; vô tư và khách quan trong thu thập xem xét, đánh giá thông tin, từ đó có những kết luận, xác nhận tin cậy về thực trạng hoạt động kinh tế tài chính, về sự đầy đủ và chính xác của thông tin Hoạt động kiểm toán và kết quả kiểm toán làm yên lòng những người

sử dụng thông tin kế toán, sử dụng kết luận của kiểm toán Đó là những kết luận có bằng chứng được đánh giá Hộ đồng Dân tộc và các Ủy ban Quốc hội, Ban Kinh tế Ngân sách, các ban của hội đồng nhân dân hoàn toàn yên tâm và có căn cứ pháp lý

để thảo luận, đưa ra nghị quyết về những vấn đề kinh tế - tài chính Tất nhiên các kết luận của kiểm toán cần được đánh giá là không có dấu hiệu thiên vị, không phiến diện thiếu căn cứ, thiếu khách quan hoặc mang tính chủ quan võ đoán… Cần

có cơ chế đảm bảo và kiểm tra tính độc lập, khách quan của từng kiểm toán viên trong mỗi cuộc kiểm toán

- Thứ bảy, đảm bảo độ tin cậy của thông tin do kiểm toán xác nhận và cung cấp Để Quốc hội có căn cứ thảo luận và quyết định, thực hiện các hoạt động

giám sát đòi hỏi phải có đủ những tư liệu thông tin tối thiểu cần thiết Thông tin cung cấp cho Quốc hội phải minh bạch và có độ tin cậy cao Trước hết là các thông tin về chiến lược và nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, định hướng tài chính ngân sách, những đánh giá về chính sách tài chính, ngân sách trung hạn, nguồn thu và nhiệm vụ chi Tăng cường tính minh bạch của ngân sách trong trong giai đoạn lập

dự toán, đặc biệt là các cơ sở dữ liệu và tiêu chí dùng cho việc dự tính các nguồn thu và nhiệm vụ chi Sớm chuyển sang áp dụng kế toán dồn tích thay cho phương pháp kế toán thực thu thực xuất quỹ hiện nay, phản ảnh xác thực hơn tình hình tài chính quốc gia và ngân sách nhà nước theo nguyên tắc thừa nhận quyền và nghĩa vụ ngân sách gắn với năm ngân sách, hoàn toàn không phải là số thực nhập và thực xuất quỹ Số liệu cung cấp cho Quốc hội phải có xác nhận và đánh giá của cơ quan KTNN, phải đạt độ tin cậy cao nhất có thể

Trang 14

Với chức năng cơ bản là kiểm toán ngân sách, tiền và tài sản nhà nước đối với các bộ, ngành Trung ương, các địa phương để có thể đưa ra được những đánh giá về tính kinh tế, hiệu lực, hiệu quả trong kiểm toán hoạt động các đơn vị quản lý tài chính công, KTNN thực hiện chức năng như sau:

- Đánh giá tình hình và tìm ra những sai sót trong báo cáo quyết toán ngân sách (xác nhận tính đúng đắn, trung thực của báo cáo quyết toán NSNN đối với niên

độ được kiểm toán);

- Đánh giá việc tuân thủ pháp luật, chính sách, chế độ quản lý tài chính - kế toán, chế độ quản lý đầu tư và xây dựng; việc quản lý và sử dụng tài sản công (quản

lý, sử dụng đất đai, trụ sở làm việc tại các đơn vị được kiểm toán);

- Đánh giá tính kinh tế, hiệu lực và hiệu quả trong quản lý, sử dụng ngân sách, tiền và tài sản nhà nước, trong đó đi sâu đánh giá tính hiệu lực, hiệu quả việc triển khai thực hiện các Nghị quyết của Quốc hội, Chính phủ về chỉ đạo, điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán NSNN;

- Phát hiện kịp thời hành vi tham nhũng, lãng phí và sai phạm trong quản lý,

sử dụng ngân sách, tiền và tài sản nhà nước tại các đơn vị sử dụng; xác định rõ trách nhiệm của tập thể, cá nhân, kiến nghị xử lý vi phạm theo quy định của pháp luật;

- Kiến nghị với đơn vị chấn chỉnh công tác quản lý tài chính - kế toán, hoạt động của đơn vị và biện pháp khắc phục những tồn tại được phát hiện qua kiểm toán; kiến nghị cấp có thẩm quyền xử lý vi phạm, sửa đổi, bổ sung cơ chế, chính sách liên quan đến quản lý, sử dụng ngân sách, tiền và tài sản nhằm bảo đảm các nguồn lực tài chính công được sử dụng tiết kiệm, hiệu quả

Để có thể đánh giá được tính kinh tế, hiệu lực và hiệu quả trong quản lý, sử dụng ngân sách, tiền và tài sản nhà nước, kiểm toán viên phải tiến hành kiểm toán các hoạt động quản lý và sử dụng ngân sách, tiền và tài sản nhà nước có phù hợp với các nguyên tắc, chính sách, tiêu chuẩn, định mức của Nhà nước hay không? Đánh giá hiệu quả sử dụng các nguồn lực bao gồm cả việc kiểm tra các hệ thống thông tin, mức độ hoạt động và hệ thống giám sát mà đơn vị áp dụng để đạt được mục tiêu đề ra và cuối cùng là so sánh kết quả thực tế đạt được với kết quả dự kiến

sẽ mang lại ứng với từng nguồn kinh phí

Để thực hiện chức năng trên kiểm toán viên kiểm toán nhà nước thực hiện

Trang 15

các nhiệm vụ sau đây:

1 Phân tích mục tiêu, giới hạn, tài liệu để lên kế hoạch các công việc cần phải làm

2 Xác định số lượng và thứ tự các bước cần thực hiện để xây dựng một chương trình kiểm toán thích hợp

3 Thu thập thông tin bằng các phương pháp kiểm toán như kiểm toán cân đối, đối chiếu trực tiếp, đối chiếu logic, kiểm kê, điều tra

4 Ghi chép đầy đủ những nhận định về các con số, sự kiện, tài liệu

5 Sau quá trình điều tra, phân tích, kiểm toán viên đưa ra những kết luận khái quát về báo cáo tài chính của tổ chức, doanh nghiệp

Trong quy trình thực hiện kiểm toán chất lượng hoạt động kiểm toán, phương pháp kiểm toán được áp dụng để nhận diện và đánh giá rủi ro là một phần quan trọng của mỗi cuộc kiểm toán, mỗi hoạt động kiểm toán thực hiện quy trình kiểm soát riêng song vẫn phải đảm bảo nguyên tắc chung khi đánh giá chất lượng kiểm toán

1.2 Chất lƣợng hoạt động kiểm toán

Với vị trí và vai trò thiết yếu trong nền kinh tế thị trường, vấn đề kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán cũng được đặt ở một mức độ cấp thiết tương xứng Đây là vấn đề nóng hổi, rất được quan tâm của giớ đầu tư nói riêng, những người sử dụng thông tin nói chung cũng là vấn đề sống còn mà mỗi công ty kiểm toán trên con đường phát triển của mình phải đặt ra

1.2.1 Khái niệm chất lƣợng hoạt động kiểm toán

Đối với bất kỳ một nghành nghề, lĩnh vực hoạt động nào thì yếu tố chất lượng luôn là cái đích cần phải nhắm tới trong bối cảnh cạnh tranh như hiện nay Chất lượng sẽ phản ánh những giá trị, lợi ích mà sản phẩm hàng hóa, dịch vụ đó đem lại cho người tiêu dùng Đây là một phạm trù khá phức tạp được nhìn nhận theo nhiều góc độ và phụ thuộc rất nhiều vào trình độ của nền kinh tế

Theo Từ điển Tiếng Việt thì: “Chất lượng là cái tạo nên phẩm chất, giá trị của con người, một sự vật, sự việc” Theo Từ điển Kinh tế: “Chất lượng là tất cả các đặc tính của hàng hóa hay dịch vụ đáp ứng yêu cầu của người mua hoặc khách hàng Vật liệu tạo thành sản phẩm, thiết kế và kỹ thuật của sản phẩm, hoàn chỉnh sản phẩm

Trang 16

và uy tín là những đặc tính quan trọng của chất lượng” Theo định nghĩa của Tiêu chuẩn Việt Nam 5200-ISO9000 thì: “Chất lượng là mức độ phù hợp của sản phẩm hoặc dịch vụ thỏa mãn các yêu cầu đề ra hoặc định trước của người mua”

Quan điểm chất lượng rất đa dạng nhưng tựu chung lại có thể hiểu đó là sự thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng với những điều kiện nhất định, mà ở đây chính là chi phí hợp lý

Kiểm toán, về bản chất cũng là một ngành cung cấp dịch vụ do vậy việc theo đuổi chất lượng là một điều cần thiết Tuy nhiên, để có được sự nhìn nhận đúng đắn nhất về khía niệm chất lượng hoạt động kiểm toán, cần phải đứng trên nhiều góc độ khác nhau Theo cách thức và quan điểm chung về chất lượng như các định nghĩa

đã nêu, tác giả Ngô Đức Long đã tiến hành điều tra tại các công ty kiểm toán đang hoạt động ở Việt Nam với tư cách là nhà cung cấp dịch vụ và các khách hàng với tư cách là đối tượng sử dụng dịch vụ, cho thấy các quan điểm về chất lượng kiểm toán hiện nay như sau:

- Các quan điểm về chất lượng kiểm toán từ phía các đối tượng sử dụng dịch

vụ kiểm toán

Theo kết quả điều tra 54 đối tượng khách hàng, cho thấy các quan điểm về chất lượng của họ đều tập trung vào các vấn đề như sau: 98% trong số các khách hàng được phỏng vấn đều cho rằng chất lượng kiểm toán thể hiện việc tuân thủ theo đúng chuẩn mực kiểm toán, 85% khách hàng cho rằng chất lượng kiểm toán thể hiện ở việc các KTV có nhiều ý kiến tư vấn, góp ý cho khách hàng trong quá trình kiểm toán, 44% khách hàng cho rằng chất lượng kiểm toán là việc tính phí kiểm toán ở mức thấp và hợp lý, 63% khách hàng cho rằng chất lượng kiểm toán là việc KTV đáp ứng được sự mong đợi của khách hàng, 85% khách hàng cho rằng chất lượng kiểm toán thể hiện ở tính chuyên nghiệp của KTV

Cũng theo kết quả điều tra trên thì đa số các khách hàng đều cho rằng mong muốn của họ đối với KTV là có được ý kiến chính xác, trung thực, khách quan về các thông tin tài chính đã được kiểm toán, đồng thời trong những trường hợp cần thiết, đưa ra các hướng dẫn giúp khách hàng lập được báo cáo tài chính phù hợp với các chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành đồng thời nâng cao hiệu quả công tác quản lý của họ Các khách hàng cho rằng giá phí kiểm toán không thể hiện chất

Trang 17

lượng kiểm toán, tuy nhiên cũng không muốn việc để có được ý kiến kiểm toán mà phải bỏ ra khoản chi phí với bất cứ giá nào

Một số khách hàng mà chủ yếu là các doanh nghiệp nhà nước và các doanh nghiệp ngoài quốc doanh mong muốn rằng, kiểm toán sẽ là sự đảm bảo chắc chắn rằng mọi sai sót, gian lận hoặc bất cứ điểm bất hợp lý nào trong công tác kế toán đều được phát hiện và báo cáo lại Ban giám đốc, đồng thời đưa ra phương án sửa đổi chỉnh lý hoặc tiến hành các bước kiểm tra bổ sung nhằm đưa ra ý kiến chấp nhận toàn bộ đối với báo cáo tài chính

Do vậy có thể khái quát quan niệm về chất lượng kiểm toán theo góc độ của khách hàng gồm các nội dung là: (1) Chất lượng kiểm toán thể hiện ở sự tuân thủ theo đúng chuẩn mực kiểm toán; (2) là sự thoả mãn nhu cầu của khách hàng về dịch

vụ mà họ được cung cấp trong đó rõ nét nhất là những ý kiến giúp khách hàng thực hiện hiệu quả công tác quản lý; (3) Chi phí cho dịch vụ kiểm toán thấp một cách hợp lý và (4) thể hiện ở tính chuyên nghiệp của KTV

- Quan điểm của các công ty kiểm toán về chất lượng kiểm toán

Kết quả điều tra tại 5 công ty kiểm toán quốc tế và các công ty kiểm toán lớn

là doanh nghiệp nhà nước cùng một số đại diện các công ty kiểm toán tư nhân cho thấy các quan điểm về chất lượng kiểm toán đều thống nhất và tập trung vào các nội dung sau:

- Chất lượng kiểm toán là việc thoả mãn mong muốn của khách hàng và không trái pháp luật

- Chất lượng kiểm toán là việc hoạt động kiểm toán tuân theo đúng chuẩn mực kiểm toán

- Cuộc kiểm toán phải đem lại lợi nhuận cho công ty

- Chất lượng kiểm toán là việc đồng thời đảm bảo mục tiêu là đưa ra ý kiến

về báo cáo tài chính và mang lại các lợi ích bổ sung cho khách hàng

Cũng giống như các quan điểm của các khách hàng, tất cả các công ty kiểm toán được hỏi đều khẳng định rằng chất lượng kiểm toán phải là sự tuân thủ các chuẩn mực kiểm toán, thoả mãn các mong muốn của khách hàng Tuy nhiên lợi nhuận là bản chất của hoạt động kinh doanh, do vậy các công ty kiểm toán lại cho rằng cuộc kiểm toán có chất lượng thì phải là mang lại lợi nhuận cho công ty

Trang 18

Ngược lại về phía người tiêu dùng thì chất lượng phải thể hiện mối quan hệ tỷ lệ giữa chi phí bỏ ra để thoả mãn nhu cầu đó, theo đó giá phí kiểm toán phải thấp một cách hợp lý Về hình thức thì dường như 2 quan điểm này mâu thuẫn nhau, nhưng trong thực tiễn thì các yêu cầu đó có quan hệ chặt chẽ với nhau, là tiền đề cho sự phát triển Các công ty kiểm toán lấy lợi ích, sự phát triển của khách hàng làm mục tiêu phục vụ, theo đó quan niệm chất lượng kiểm toán cần phải mang lại lợi nhuận cho công ty là vấn đề đặt ra cho mục tiêu quản lý của bản thân các công ty kiểm toán nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh

- Dưới góc độ của người làm công tác quản lý hoạt động kiểm toán

Chất lượng kiểm toán được thể hiện tại Chuẩn mực kiểm toán số 220 của Kiểm toán độc lập - Kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán và Chuẩn mực kiểm toán số 40 của Kiểm toán Nhà nước - Kiểm soát chất lượng kiểm toán “Chất

lượng hoạt động kiểm toán là mức độ thoả mãn của các đối tượng sử dụng kết quả kiểm toán về tính khách quan và độ tin cậy vào ý kiến kiểm toán của KTV; đồng thời thoả mãn mong muốn của đơn vị được kiểm toán về những ý kiến đóng góp của KTV, nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh, trong thời gian định trước với giá phí hợp lý” Theo tôi, khái niệm này chỉ giới hạn trong phạm vi ý kiến kiểm

toán, là kết quả của hoạt động kiểm toán mà không tính đến quá trình thực hiện kiểm toán Thực tế, kiểm toán là một ngành khoa học độc lập, một nghề nghiệp được thừa nhận trong xã hội đồng thời cũng là một ngành cung cấp dịch vụ trong nền kinh tế thị trường Hoạt động kiểm toán và kết quả hoạt động kiểm toán có những ảnh hưởng nhất định đối với nền kinh tế Do vậy, cần phải thừa nhận rằng, chất lượng hoạt động kiểm toán là cái làm nên phẩm chất, giá trị của hoạt động kiểm toán

Kết hợp giữa mục đích, ý nghĩa của kiểm toán trên cơ sở nhìn nhận trên mọi góc độ, có thể đưa ra một định nghĩa chung nhất về chất lượng kiểm toán như sau:

“Chất lượng kiểm toán là mức độ thoả mãn về tính khách quan và độ tin cậy vào ý kiến kiểm toán của những đối tượng sử dụng dịch vụ kiểm toán, đồng thời thoả mãn về mong muốn có được những ý kiến đóng góp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý tài chính, kế toán của đơn vị được kiểm toán với thời gian định trước và giá phí thích hợp” (Theo tác giả Ngô Đức Long)

Trang 19

1.2.2 Các chỉ tiêu đánh giá chất lƣợng hoạt động kiểm toán:

Trên cơ sở thống nhất định nghĩa chất lượng kiểm toán như đã nêu ở mục trên, các chỉ tiêu dùng để đánh giá chất lượng hoạt động kiểm toán như sau:

- Mức độ thoả mãn về tính khách quan và độ tin cậy vào ý kiến kiểm toán của những người sử dụng kết quả kiểm toán

Tính khách quan, độc lập của KTV là điều kiện trước hết để đảm bảo ý nghĩa

và giá trị sử dụng của dịch vụ kiểm toán độc lập Những người sử dụng kết quả kiểm toán chỉ thật sự hài lòng và thoả mãn khi họ tin tưởng rằng ý kiến kiểm toán đưa ra dựa trên các cơ sở đó: (i) ý kiến kiểm toán được đưa ra bởi chuyên gia kiểm toán có đủ năng lực, trình độ chuyên môn; (ii) tính độc lập, khách quan của ý kiến kiểm toán Để đánh giá được chỉ tiêu này, người ta xem xét tính tuân thủ các chuẩn mực nghề nghiệp của KTV và của công ty kiểm toán, điều này thể hiện khá rõ qua tính chuyên nghiệp của KTV trong quá trình thực hiện công việc kiểm toán, bao gồm các khía cạnh sau: đảm bảo tính độc lập, khách quan và chính trực; kiến thức,

kỹ năng kinh nhiệm của KTV; các phương pháp thu thập và đánh giá bằng chứng kiểm toán; công tác giám sát, quản lý cuộc kiểm toán; các thủ tục soát xét, phát hành báo cáo kiểm toán; các khía cạnh khác

- Mức độ thoả mãn về sự đóng góp của KTV nhằm nâng cao hiệu quả quản

lý tài chính của đơn vị được kiểm toán theo đúng chế độ chính sách của nhà nước cũng như các qui định riêng của đơn vị

Đối với các nhà quản lý đơn vị được kiểm toán, việc phát hiện và ngăn ngừa các sai sót trong quản lý tài chính, kế toán không phải lúc nào cũng hoàn hoả và kiểm soát được toàn bộ Trách nhiệm của các KTV ngoài việc đảm bảo BCTC đó không có sai sót trọng yếu thì phải chỉ ra những hạn chế yếu kém của hệ thống KSNB, ảnh hưởng của những hạn chế đó cũng như các giải pháp hoàn thiện nâng cao hiệu quả hoạt động SXKD của đơn vị được kiểm toán Đây chính là giá trị gia tăng mà dịch vụ kiểm toán độc lập đưa lại cho những khách hàng của mình

Mức độ thoả mãn của các nhà quản lý đơn vị đối với những đóng góp của kiểm toán không cụ thể hoá được bằng số lượng bởi có thể có hoặc không có các phát hiện và kiến nghị góp ý hoàn thiện hệ thống kiểm soát của đơn vị mà chỉ có thể đánh giá ở sự hài lòng và đánh giá cao của các nhà quản lý doanh nghiệp về tính

Trang 20

chuyên nghiệp và trách nhiệm của KTV trong quá trình kiểm toán

- Báo cáo kiểm toán được lập và phát hành theo đúng thời gian đã đề ra trong thư hẹn kiểm toán và chí phí cho dịch vụ kiểm toán ở mức độ phù hợp

Một trong các yêu cầu của thông tin tài chính là tính kịp thời, các thông tin không được cung cấp đúng lúc sẽ trở nên không có giá trị sử dụng, đồng thời có thể gây nhiều khó khăn trong việc đưa ra các quyết định quản lý hoặc bỏ lỡ các cơ hội kinh doanh Mặc dù kiểm toán không phải là kênh cung cấp thông riêng biệt, nhưng

nó là một khâu thẩm định trong hệ thống cung cấp thông tin Do vậy mọi chậm trễ trong quá trình kiểm toán do nguyên nhân của việc tổ chức, giám sát quản lý cuộc kiểm toán thiếu hiệu quả hoặc bất cứ lý do gì khác từ phía công ty kiểm toán dẫn đến sự chậm trễ không theo đúng kế hoạch đặt ra trong hợp đồng kiểm toán/hay Thư hẹn kiểm toán đều làm ảnh hưởng đến uy tín và giá trị của dịch vụ của công ty kiểm toán

Về giá phí kiểm toán, đây cũng là chỉ tiêu quan trọng đánh giá chất lượng kiểm toán Phí dịch vụ kiểm toán xác định trên cơ sở thời gian cần thiết để các KTV thực hiện công việc kiểm toán và đơn giá giờ công làm việc của KTV Việc xác định

và giảm thiểu thời gian kiểm toán mà vẫn đảm bảo thu thập được đầy đủ các bằng chứng kiểm toán thích hợp sẽ là điều kiện để giảm thiểu giá dịch vụ cho khách hàng

Đó chính là sự thể hiện và là một trong các chỉ tiêu đánh giá chất lượng kiểm toán

Chất lượng là khái niệm tương đối, biến đổi theo thời gian, không gian, theo

sự phát triển của nhu cầu xã hội và sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật Ở nước ta, kiểm toán độc lập hình thành và phát triển chưa lâu, hành lang pháp lý đang từng bước hoàn thiện (các chuẩn mực kiểm toán đã và đang tiếp tục được nghiên cứu và công bố) và sự hiểu biết về kiểm toán của các đơn vị được kiểm toán còn hạn chế

Do vậy sự đánh giá về chất lượng kiểm toán vẫn còn nhiều bất cập và thiếu cơ sở theo đó lý luận về chất lượng kiểm toán cần tiếp tục nâng cao và hoàn thiện

1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động kiểm toán:

Hoạt động kiểm toán độc lập thực chất là hoạt động cung cấp dịch vụ do vậy

nó cũng chịu những ảnh hưởng từ các nhân tố bên trong doanh nghiệp và nhân tố bên ngoài của nền kinh tế, có thể khái quất lại như sau:

Nhóm các yếu tố bên trong: Là các yếu tố trong phạm vi của công ty kiểm

Trang 21

toán Đây là các yếu tố cơ bản quyết định đến chất lượng kiểm toán bao gồm:

- Yếu tố con người:

Đối với hoạt động kiểm toán, yếu tố con người (bao gồm cả các cấp quản lý)

là yếu tố chính, cơ bản nhất tạo nên giá trị của dịch vụ Kiểm toán là quá trình các KTV thu thập và đánh giá bằng chứng kiểm toán để đưa ra ý kiến của mình Trong quá trình này cần đến sự nhạy cảm và những đánh giá mang tính chủ quan của KTV Do vậy có thể thấy, chất lượng kiểm toán phụ thuộc lớn vào chất lượng của đội ngũ KTV (nhân viên kiểm toán và các cấp quản lý của công ty kiểm toán)

- Yếu tố kỹ thuật:

Để cụ thể hoá các chuẩn mực chuyên môn, các công ty kiểm toán thiết kế riêng cho mình hệ thống các qui trình kỹ thuật, các bước và phương pháp thu thập bằng chứng kiểm toán, để dựa vào đó KTV tiến hành thực hiện công việc được giao Hệ thống các yếu tố kỹ thuật này sẽ đảm bảo cho các KTV thực hiện công việc một cách khoa học, thu thập được đầy đủ các bằng chứng kiểm toán thích hợp với chi phí và thời gian hợp lý, hạn chế thấp nhất rủi ro kiểm toán Trong hệ thống các yếu tố kỹ thuật có thể kể đến sự hỗ trợ của các phần mềm máy tính được các chuyên gia thiết lập áp dụng cho một số các thủ tục kiểm toán như giúp các KTV có được số liệu phân tích, đánh giá hoặc đưa ra kết quả lựa chọn phương pháp chọn mẫu, và các ứng dụng khác Với phương pháp khoa học trong quá trình thu thập bằng chứng kiểm toán, KTV thể hiện cho đơn vị được kiểm toán thấy được tính chuyên nghiệp, mặt khác hạn chế thấp nhất sự ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của đơn vị trong quá trình kiểm toán, tạo lòng tin nơi khách hàng Có thể nói yếu tố

kỹ thuật như là công nghệ của quá trình kiểm toán

- Các yếu tố về điều kiện phương tiện làm việc: Đây là những yếu tố quan

trọng giúp các KTV thực hiện tốt công việc của mình một cách hiệu quả Các yếu tố

Trang 22

này có thể kể như: máy tính, fax, mạng máy tính nội bộ, phương tiện liên lạc… Mặc

dù không tham gia trực tiếp tạo nên chất lượng kiểm toán nhưng những yếu tố này

có tác động tích cực trong chính sách thu hút nhân viên của công ty, mặt khác yếu

tố này cũng làm tăng thêm hình ảnh chuyên nghiệp của công ty kiểm toán trước khách hàng, tạo niềm tin nơi khách hàng về tính chuyên nghiệp của kiểm toán

Nhóm các yếu tố bên ngoài: Là những yếu tố bên ngoài công ty kiểm toán

có ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động kiểm toán, bao gồm:

- Nhu cầu của nền kinh tế:

Không có sản phẩm dịch vụ nào cung cấp cho thị trường lại không nhằm đáp ứng nhu cầu nào đó của nền kinh tế Do vậy ở bất cứ trình độ nào, với mục đích sử dụng gì chất lượng sản phẩm, dịch vụ bao giờ cũng bị chi phối, bị ràng buộc bởi hoàn cảnh, điều kiện và nhu cầu nhất định của nền kinh tế Ảnh hưởng của nhu cầu của nền kinh tế đối với chất lượng kiểm toán thể hiện qua:

Đòi hỏi của thị trường: Ở những thị trường khác nhau có những đòi hỏi

khác nhau và đối tượng khác nhau thì yêu cầu khác nhau… Mặc dù kiểm toán cho đối tượng nào đi chăng nữa thì công việc kiểm toán cũng phải tuân theo pháp luật

và các chuẩn mực nghề nghiệp Tuy nhiên các điều kiện riêng của từng đối tượng này là không giống nhau, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài khác với doanh nghiệp nhà nước và khác với công ty cổ phần, Luật pháp điều chỉnh đối với các đối tượng này không giống nhau, hệ thống quản lý, kiểm soát nội bộ của họ cũng rất khác nhau và mục đích sử dụng kiểm toán cũng không thống nhất Điều này thực sự

sẽ ảnh hưởng đến chất lượng kiểm toán

Trình độ kinh tế, xã hội: Muốn có được sản phẩm có chất lượng phải dựa

trên cơ sở phát triển của nền kinh tế, xã hội Thực tế không thể đánh giá hoặc so sánh chất lượng kiểm toán ở Việt nam với chất lượng kiểm toán ở các nước phát triển như Anh, Hoa Kỳ, Pháp,… Bởi hệ thống lý luận về kiểm toán, hệ thống về qui trình kỹ thuật nghiệp vụ của Việt Nam vẫn khác nhiều so với các nước đó hay về đội ngũ chuyên gia kiểm toán ở Việt Nam vẫn chưa được đào tạo đầy đủ và cơ bản như các nước Tất cả những điều này đều ảnh hưởng đến chất lượng kiểm toán Do vậy, vấn đề nâng cao chất lượng kiểm toán cần phải xem xét trong quá trình phát triển chung của nền kinh tế

Trang 23

- Cơ chế quản lý kinh tế:

Bất cứ hoạt động kinh tế nào, dưới chế độ nào đều chịu tác động, chi phối bởi cơ chế quản lý kinh tế nhất định Cơ chế quản lý kinh tế tác động đối với chất lượng kiểm toán thể hiện ở qua các nội dung sau:

nhu cầu về kiểm toán kéo theo những ảnh hưởng đến chất lượng kiểm toán Ví dụ

về chủ trương cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước hoặc qui định khi công bố báo cáo tài chính phải được kiểm toán xác nhận đã tạo ra thị trường lớn về nhu cầu kiểm toán Hoặc định hướng phát triển dịch vụ kiểm toán của Đảng cũng tạo ra nhiều cơ hội cho sự phát triển của hoạt động này

Các chính sách kinh tế: Chính sách kinh tế có tác động rõ nét đến chất lượng

kiểm toán Trên cơ sơ xác định mục tiêu phát triển kiểm toán, Nhà nước đã có hàng loạt các biện pháp đảm bảo cho sự phát triển như việc đầu tư nghiên cứu các chuẩn mực kiểm toán, kế toán Đây là những nỗ lực lớn nhằm phát triển hoạt động kiểm toán

và đảm bảo chất lượng kiểm toán Ngược lại cũng có những chính sách làm hạn chế khả năng nâng cao chất lượng Cụ thể như việc qui định về khung giá phí kiểm toán hoặc cơ chế tiền lương của các KTV trong các công ty kiểm toán là doanh nghiệp nhà nước làm ảnh hưởng lớn đến chất lượng làm việc, nghiên cứu của KTV,…

- Tổ chức quản lý chất lượng: Hình thành cơ chế quản lý chất lượng trong cơ

chế chung của quản lý kinh tế Cơ chế quản lý chất lượng sẽ đảm bảo sự hài hoà giữa lợi ích của công chúng đối với kiểm toán và sự phát triển của hoạt động kiểm toán Cơ chế kiểm quản lý chất lượng hữu hiệu sẽ đảm bảo cho sự phát triển có chất lượng và hiệu quả của hoạt động kiểm toán Tổ chức quản lý chất lượng có thể là các tổ chức nghề nghiệp độc lập, ví dụ ở Việt Nam hiện nay có Hiệp hội kiểm toán viên hành nghề Việt Nam (VACPA) chính thức hoạt động tư năm 2006 Đây chính

là một trong những bước đi quan trọng của Chính phủ nhằm tăng cường kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán ở nước ta

1.3 Tiêu chuẩn, yêu cầu về chất lượng nhân lực Kiểm toán Nhà nước

Bản chất cũng như mục tiêu của kiểm toán là thẩm định và xác nhận mức độ tin cậy của thông tin KTV là chủ thể của một cuộc kiểm toán, thực hiện tất cả các công việc trong một quy trình kiểm toán nhằm đặt được mục tiêu trên đưa ra ý kiến

Trang 24

xác nhận cho các thông tin được kiểm toán Đồng thời KTV phải chịu trách nhiệm cho ý kiến của mình về chất lượng thông tin được kiểm toán đối với các đối tượng sử dụng thông tin đã kiểm toán Do đó, KTV và yêu cầu với KTV là một yếu tố quan trọng và không thể thay thế KTV phải tuân thủ các nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp kiểm toán như: Độc lập, chính trực, khách quan, có năng lực chuyên môn và tính thận trọng, tính bí mật tư cách nghề nghiệp, tuân thủ chuẩn mực chuyên môn Đây là những nguyên tắc mang tính bắt buộc bởi nó ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng hiệu quả của cuộc kiểm toán cũng như uy tín của KTV, công ty/cơ quan kiểm toán

Vì vậy, KTV phải luôn phát huy tối đa vai trò và trách nhiệm của mình trong các hoạt động kiểm toán cũng như các hoạt động khác liên quan KTV phải luôn thể hiện: là vị quan tòa công minh của quá khứ; là người dẫn dắt thông thạo cho hiện tai; là người cố vấn sáng suốt cho tương lai

Việt Nam đang trong quá trình chuyển đổi mạnh mẽ nền kinh tế theo xu hướng hội nhập toàn cầu nên việc xây dựng một đội ngũ những người hành nghề kế toán, kiểm toán chuyên nghiệp là nhân tố thiết yếu Xuất phát từ đặc điểm trên, trong điều kiện hoàn cảnh kinh tế xã hội hiện nay và xét đến xu hướng hội nhập và phát triển trong tương lai, một KTV cần đảm bảo các yêu cầu sau:

Thứ nhất: Yêu cầu về đào tạo nghề nghiệp

KTV phải có một quá trình đào tạo tương đối bài bản về lý luận kiểm toán cũng như thực hành kiểm toán Quá trình đào tạo KTV phải được thực hiện thường xuyên, liên tục trong suốt quá trình học trong Trường Đại học đến quá trình hành nghề kiểm toán Việc đào tạo phải hướng tới mục tiêu là: đào tạo lý luận kiểm toán và hành nghề kiểm toán; đào tạo kỹ năng cần thiết cho kiểm toán cũng như đạo đức, thái độ nghề nghiệp kiểm toán

Nguyên tắc cơ bản chi phối cuộc kiểm toán yêu cầu kiểm toán viên phải thực

hiện công việc với đầy đủ chuyên môn cần thiết Để đảm bảo thu thập được các bằng chứng kiểm toán đầy đủ và thích hợp, kiểm toán viên phải:

 Có chuyên môn nghiệp vụ vững vàng và hiểu biết về lĩnh vực kinh doanh của khách hàng;

 Có kỹ năng, kinh nghiệm về kiểm toán;

 Hiểu biết về pháp luật

Trang 25

Để đạt được các yêu cầu trên, các kiểm toán viên trước hết phải đạt được trình

độ chuyên môn vững vàng về kế toán, kiểm toán, hiểu biết về chế độ chính sách tài chính, kế toán và luật pháp, đồng thời đồng thời để trở thành kiểm toán viên và có thể thực hiện công việc độc lập cần phải được các kiểm toán viên có kinh nghiệm kèm cặp, hướng dẫn trong các cuộc kiểm toán thực tế Mặt khác các kiểm toán viên phải có nghĩa vụ duy trì kỹ năng, trình độ nghiệp vụ trong suốt quá trình hành nghề, luôn cập nhật các thông tin về chính sánh kế toán, tài chính liên quan đến lĩnh vực kiểm toán Về mặt pháp lý các kiểm toán viên chỉ được hành nghề khi đã đăng ký với cơ quan có thẩm quyền và ở Việt Nam là Bộ Tài chính sau khi đã trúng tuyển

kỳ thi cấp quốc gia về cấp chứng chỉ kiểm toán viên

Thứ hai: Yêu cầu về tính độc lập

Yêu cầu này được xem như là điều kiện cần để đạt được mục tiêu của hoạt

động kiểm toán, độc lập là nguyên tắc hành nghề cơ bản của kiêm toán viên Kết quả kiểm toán sẽ không có giá trị khi những người sử dụng kết quả kiểm toán tin rằng cuộc kiểm toán thiếu tính độc lập cho dù cuộc kiểm toán được thực hiện bởi người có trình độ cao đến đâu

Yêu cầu về tính độc lập đòi hỏi sự trung thực và trách nhiệm của kiểm toán viên đối với những người sử dụng kết quả kiểm toán, đồng thời các kiểm toán viên không bị ràng buộc trong việc tiếp xúc với các tài liệu và báo cáo của doanh nghiệp Trong quá trình kiểm toán, kiểm toán viên phải thực sự không bị chi phối hoặc tác động bởi bất kỳ lợi ích vật chất hoặc tính thần nào làm ảnh hưởng đến sự trung thực khách quan và độc lập nghề nghiệp của mình Mọi câu hỏi về tình hình kinh doanh hoặc các sử lý kế toán trong các giao dịch của doanh nghiệp cần được trả lời đầy đủ

và đảm bảo rằng kiểm toán viên không bị hạn chế trong việc thu thập các bằng chứng kiểm toán

Để đảm bảo yêu cầu này, ngoài mặt chủ quan về tư chất đạo đức của kiểm toán viên cần duy trì và đảm bảo tính độc lập trong quá trình kiểm toán, pháp luật yêu cầu các kiểm toán viên không được thực hiện kiểm toán cho các khách hàng mà kiểm toán viên có quan hệ gia đình, họ hàng hoặc quyền lợi về mặt kinh tế

Thứ ba: Yêu cầu về đạo đức nghề nghiệp

Con người luôn là nhân tố quan trọng và mang tính quyết định trong các hoạt

Trang 26

động kinh tế, xã hội Đặc biệt trong lĩnh vực dịch vụ kiểm toán, khi mà sản phẩm của hoạt động này không có khuôn mẫu định sẵn và phụ thuộc vào tính chủ quan của kiểm toán viên Điều quan trọng là kiểm toán viên phải luôn duy trì được tính độc lập, khách quan khi tiến hành công việc cũng như khi xem xét, đánh giá các bằng chứng kiểm toán làm cơ sở để đưa ra ý kiến về báo cáo tài chính Kiểm toán viên phải là có lương tâm nghề nghiệp, luôn làm việc với sự thận trọng cao nhất với tinh thần làm việc chuyên cần Trong quá trình kiểm toán phải đảm bảo thằng thắn trung thực và có chính kiến rõ ràng Đồng thời kiểm toán viên phải công bằng, tôn trọng sự thật và không được thành kiến thiên vị

Kiểm toán viên phải thường xuyên rèn luyện tính cẩn thận một cách thoả đáng tất cả các kỹ năng và sự siêng năng cần thiết khi thực hiện nhiệm vụ của mình Mọi

sự bất cẩn đều có thể dẫn đến những rủi ro kiểm toán, theo đó gây ảnh hưởng đến các đối tượng sử dụng báo cáo kiểm toán và trách nhiệm pháp lý của kiểm toán viên

Kiểm toán viên phải tôn trọng bí mật của những thông tin thu thập được trong quá trình kiểm toán, không được tiết lộ bất kỳ một thông tin kinh tế nào liên quan đến khách hàng cho người thứ ba khi chưa được phép của người có thẩm quyền trừ khi có nghĩa vụ phải công khai theo yêu cầu của pháp luật hoặc trong phạm vi quyền hạn nghề nghiệp của mình

Kiểm toán viên phải tôn trong pháp luật Tính tôn trọng pháp luật thể hiện trách nhiệm của kiểm toán viên đối với các đối tượng sử dụng báo cáo kiểm toán Kiểm toán viên phải chấp hành đúng các chế độ, thể lệ, nguyên tắc và luật pháp của Nhà nước và những nguyên tắc, chuẩn mực kiểm toán được thừa nhận Ý kiến nhận xét của kiểm toán viên có giá trị pháp lý và các kiểm toán viên chịu trách nhiệm trước pháp luật về nhận xét đánh giá, xác nhận của mình

Để đảm bảo có thể cung cấp các dịch vụ có chất lượng cao nhất cho xã hội, KTV cần phải tuân thủ các yêu cầu có tính nguyên tắc về đạo đức nghề nghiệp KTV phải luôn duy trì được tính độc lập, trung thực, khách quan trong quá trình kiểm toán KTV phải có lương tâm nghề nghiệp, luôn làm việc với sự thận trọng cao nhất với tinh thần làm việc chuyên cần KTV phải tôn trọng bí mật của những thông tin thu thập được trong quá trình kiểm toán KTV phải tôn trọng pháp luật

Trang 27

phải chấp hành đúng các chế độ, thể lệ, nguyên tắc và luật pháp của Nhà nước và những nguyên tắc, chuẩn mực kiểm toán được thừa nhận

 Kiến thức vững vàng về tài chính kế toán: công việc của kiểm toán viên không chỉ đơn thuần là kiểm tra kế toán mà còn tư vấn cho khách hàng, đưa ra các giải pháp tối ưu về tài chính, kế toán cho khách hàng Kiểm toán viên còn phải nắm vững ngành nghề kinh doanh mà khách hàng đang theo đuổi

 Chịu áp lực cao: nghề kiểm toán đòi hỏi kiểm toán viên phải hết mình vì công việc, sẵn sàng đi công tác xa nhà cả tháng Đến “mùa kiểm toán”, đối với công

ty kiểm toán độc lập thường từ tháng 12 năm trước đến tháng 4 năm sau thì các kiểm toán viên thường xuyên phải thức thâu đêm để làm việc Có một thực tế không thể phủ nhận hầu hết nữ giới sau khi lập gia đình sẽ chọn một nghề khác để có thời gian hơn cho gia đình và chãm sóc con cái

 Trung thực: Nghề kiểm toán rất cần đức tính trung thực bởi vì môi trường làm việc có rất nhiều cám dỗ; doanh nghiệp muốn che giấu sai phạm, muốn số liệu

kế toán đẹp, dẫn đến việc đưa ra những đề nghị tế nhị Trong những hoàn cảnh như thế, nếu kiểm toán viên không vững vàng sẽ dễ dàng bị lôi kéo

 Chăm chỉ: Những tác nhân có khả năng ảnh hưởng đến công việc kiểm toán tại các công ty rất nhiều, báo cáo tài chính, cần hoàn thành thủ tục kiểm toán trong một thời gian nhất định… Vì vậy, kiểm toán viên cần rất chuyên tâm vào hoàn thành hết khối lượng công việc trong một thời gian ngắn

Độc lập ở mọi khía cạnh trong kiểm toán là nguyên tắc hành nghề cơ bản của KTV KTV phải thực sự không bị chi phối bởi bất kỳ lợi ích vật chất hoặc tinh thần nào làm ảnh hưởng đến sự trung thực khách quan và độc lập nghề nghiệp của mình Mọi câu hỏi về tình hình kinh doanh hoặc các xử lý kiểm toán trong các giao dịch của doanh nghiệp cần được trả lời đầy đủ và đảm bảo rằng KTV không bị rằng buộc, hạn chế trong việc thu thập các bằng chứng kiểm toán và ý kiến nhận xét của mình

Thứ tƣ: Yêu cầu về năng lực nghiệp vụ

Nguyên tắc cơ bản chi phối cuộc kiểm toán yêu cầu KTV phải thực hiện công việc với đầy đủ chuyên môn cần thiết KTV phải có năng lực chuyên môn về

tổ chức cũng như việc thực hành các công việc kiểm toán

Hiện nay, kiểm toán đang là một ngành nghề được rất nhiều bạn trẻ quan tâm

Trang 28

và hướng đến Đây vừa là một ngành nghề trong xã hội, nhưng bên cạnh đó, nó cũng là một ngành khoa học được nghiên cứu trong khối ngành Kinh tế và Quản trị kinh doanh Hiện nay, việc đào tạo chuyên môn của nghề kiểm toán được phân chia theo hai hướng cơ bản: đào tạo hàn lâm (học và giảng dạy trong các trường đại học)

và đào tạo nghề nghiệp (do các công ty và hiệp hội nghề nghiệp thực hiện với các cấp độ khác nhau) Với chương trình đào tạo nghề nghiệp, loại hình quan trọng nhất

là đào tạo lấy chứng chỉ nghề nghiệp Trong bài viết này, chúng tôi xin giới thiệu một số các chứng chỉ tiêu biểu nhất của nghề kiểm toán:

- Chương trình nền tảng Kế toán Quốc tế - FIA là hệ thống các chương trình đào tạo và bằng cấp ở giai đoạn cơ bản trong lĩnh vực Tài chính, Kế toán và Kiểm toán do Hiệp hội Kế toán Công chứng Anh - ACCA cấp bằng Các bằng cấp trong chương trình nền tảng Kế toán Quốc tế ACCA cung cấp cho bạn kiến thức và kỹ năng một cách bài bản và hệ thống, giúp bạn dễ dàng đáp ứng bất cứ yêu cầu công việc nào trong lĩnh vực Kế toán, Kiểm toán Chương trình bao gồm các bằng cấp sau:

 Chứng chỉ sơ cấp về Kế toán Tài chính và Kế toán Quản trị

 Chứng chỉ Trung cấp về Kế toán Tài chính và Kế toán Quản trị

 Chứng chỉ Diploma về Kế toán và Kinh doanh

 Chứng chỉ Kế toán viên quốc tế CAT

Hình 1.1: Chương trình FIA-CAT Thứ năm: Yêu cầu về thái độ nghề nghiệp

Trong quá trình thực hiện kiểm toán, KTV luôn phải tỏ thái độ lắng nghe, cầu thị và thận trọng trong công việc Với thái độ nhã nhặn, ứng xử khôn khéo tế nhị sẽ làm cho môi trường kiểm toán thoải mái, thân thiện đảm bảo cho việc thu thập thông tin, bằng chứng kiểm toán để đưa ra kết luận phù hợp Cần tránh sự cứng nhắc, cố chấp, áp đặt trong kiểm toán

Trang 29

Thứ sáu: Yêu cầu về kỹ năng nghề nghiệp

Ngoài năng lực chuyên môn cần có để đảm bảo cho yêu cầu kiểm toán, KTV cần có các kỹ năng sau: Kỹ năng sử dụng thành thạo các phương tiện, điều kiện phục vụ cho kiểm toán; Kỹ năng tự tổ chức công việc, đánh giá sự phù hợp của các công việc cần thực hiện trong quá trình kiểm toán; Kỹ năng làm việc theo nhóm; Kỹ năng phát hiện và giải quyết vấn đề; Kỹ năng ứng xử, giao tiếp, thỏa thuận các vấn đề; Kỹ năng thu thập thông tin; Kỹ năng thuyết trình vấn đề bằng miệng và bằng văn bản; Kỹ năng vận dụng các kiến thức chuyên môn và chuẩn mực chuyên môn cho công việc kiểm toán; Kỹ năng phân tích và tư duy lô gic; Kỹ năng xét đoán nghề nghiệp; Kỹ năng về khả năng kiềm chế cảm xúc, nhạy cảm nghề nghiệp Các

kỹ năng này là những yếu tố góp phần làm nên chất lượng và tính kinh tế trong kiểm toán

1.4 Nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng nhân lực Kiểm toán Nhà nước

luôn chú trọng đến việc không ngừng nâng cao chất lượng và hiệu quả của các cuộc kiểm toán và đạo đức nghề nghiệp của đội ngũ KTV Nhà nước Muốn thực thi được các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng cần phải xem xét và đánh giá được các nhân tố tác động ảnh hưởng đến chất lượng kiểm toán

Theo kết quả của nhiều nghiên cứu đã công bố, có nhiều nhân tố tác động, ảnh hưởng trực tiếp, gián tiếp đến chất lượng KTNN, trong đó có các nhân tố chủ yếu sau:

1.4.1 Các nhân tố bên trong

(1) Tuyển dụng công chức kiểm toán viên Kiểm toán Nhà nước

Tuyển dụng công chức là khâu quan trọng quyết định chất lượng đội ngũ công chức Nếu công tác tuyển dụng được thực hiện tốt thì sẽ tuyển được những người thực sự có năng lực, phẩm chất bổ sung cho lực lượng công chức Ngược lại, nếu công tác tuyển dụng không được quan tâm đúng mức thì sẽ không lựa chọn được những người đủ năng lực và phẩm chất bổ sung cho lực lượng này

(2) Đào tạo, bồi dưỡng công chức kiểm toán viên Kiểm toán Nhà nước

Bàn về vai trò của công tác đào tạo, tác giả người Anh, Alvin Toffer, đã viết: Con người nào không được đào tạo, con người đó sẽ bị xã hội loại bỏ Dân tộc nào

Trang 30

không được đào tạo, dân tộc đó sẽ bị đào thải Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng từng nói: Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu và không có giáo dục, không có cán bộ thì không nói gì đến nền kinh tế, văn hóa Chính vì vậy, có thể nói giáo dục – đào tạo là con đường cơ bản để nâng cao kiến thức toàn diện và trình độ lành nghề cho nguồn nhân lực, là chìa khoá để con người mở cửa tương lai đi vào các ngành, các lĩnh vực

Đào tạo, bồi dưỡng quyết định trực tiếp tới chất lượng công chức hành chính nhà nước Công tác đào tạo, bồi dưỡng được tiến hành một cách liên tục, nhằm trang bị kiến thức để người công chức có đủ năng lực, tự tin thực hiện tốt nhiệm vụ được giao và đáp ứng được yêu cầu của công việc

(3) Sử dụng đội ngũ công chức kiểm toán viên Kiểm toán Nhà nước

Sử dụng đội ngũ công chức là một khâu rất quan trọng trong công tác quản lý cán bộ, công chức của Đảng và Nhà nước ta Việc sử dụng đội ngũ công chức hành chính nhà nước phải xuất phát từ mục tiêu lâu dài, đem lại hiệu quả, đáp ứng yêu cầu của công vụ; phục vụ nhiệm vụ chính trị của cơ quan, đơn vị và địa phương Bởi vậy, trong sử dụng phải đảm bảo thực sự dân chủ, phát huy trí tuệ tập thể, tránh lãng phí chất xám

(4) Phân tích công việc của Kiểm toán Nhà nước

Phân tích công việc là quá trình thu thập thông tin và phân tích đánh giá về công việc trong các cơ quan của Kiểm toán Nhà nước, là cơ sở cơ sở cho việc tuyển dụng công chức và đánh giá mức độ hoàn thành công việc của công chức, giúp cho việc hoạch định chính sách về đào tạo, nâng cao chất lượng công chức, là một trong những cơ sở để xếp hạng công việc và thực hiện thù lao lao động công bằng, hợp lý Nếu không thực hiện hoặc thực hiện không tốt việc phân tích công việc trong các cơ quan hành chính nhà nước thì sẽ là một trong những nguyên nhân dẫn tới hàng loạt các vấn đề bất cập nảy sinh trong quản lý như: đánh giá không hợp lý, thiếu công bằng; mâu thuẫn nội bộ; sự phối hợp giữa các cá nhân và bộ phận trong một tổ chức không tốt; giảm sút động lực lao động của công chức…

(5) Đánh giá thực hiện công việc của công chức kiểm toán viên Kiểm toán Nhà nước

Đánh giá thực hiện công việc của công chức kiểm toán viên Kiểm toán Nhà nước đóng vai trò quan trọng trong quản trị nguồn nhân lực nói chung và trong nâng

Trang 31

cao chất lượng công chức kiểm toán viên Kiểm toán Nhà nước nói riêng Đánh giá

mức độ hoàn thành công việc không chỉ là cấp trên đánh giá cấp dưới mà còn là việc tự đánh giá mức độ hoàn thành công việc của từng công chức và sự đánh giá của cấp dưới đối với cấp trên Đánh giá thực hiện công việc nhằm xác định kết quả làm việc cụ thể của từng cá nhân công chức trong việc thực hiện nhiệm vụ được giao Đồng thời, xác định nhu cầu đào tạo và phát triển công chức, nội dung đào tạo

và những vấn đề khác Phân tích và đánh giá thực hiện công việc còn là cơ sở cho việc tuyển chọn, bố trí, sử dụng công chức Bên cạnh đó còn là cơ sở cho việc trả thù lao lao động, xếp loại công chức và tạo động lực cho công chức phát triển

(6) Tạo động lực cho đội ngũ công chức kiểm toán viên Kiểm toán Nhà nước

Việc tạo động lực cho người lao động là việc làm rất cần thiết nhằm tạo sự gắn bó, ràng buộc lợi ích (hay là tạo sự trung thành) giữa người lao động với doanh nghiệp, cơ quan tổ chức Tạo động lực cho công chức được hình thành trong quá trình làm việc Để tạo động lực cho công chức trong thi hành công vụ, chúng ta cần thực hiện hiệu quả một số nội dung sau:

- Bố trí công việc phù hợp với khả năng, trình độ của công chức Đây là việc làm rất quan trọng, bởi vì công chức có được bố trí đúng khả năng, trình độ thì họ mới có điều kiện phát huy khả năng để hoàn thành nhiệm vụ được giao, để nhận được thù lao xứng đáng với công sức họ bỏ ra Từ đó, tạo nên sự thoải mái trong lao động, tạo động lực cho công chức hăng say làm việc và là tiền đề nảy sinh sáng tạo trong công việc

- Việc đánh giá đúng, công bằng kết quả công việc được giao của công chức

là một việc rất quan trọng Đây là việc làm không chỉ giúp cho việc trả công lao động hợp lý mà còn là vấn đề tạo động lực cho công chức Vì khi công chức được đánh giá đúng kết quả thực hiện công việc của mình, thì họ sẽ rất phấn khởi và đem hết khả năng để cống hiến cho công việc

- Đổi mới cơ bản chính sách đãi ngộ về vật chất đối với công chức hành chính nhà nước Căn cứ vào từng loại công chức, vào trình độ, số lượng, chất lượng

và hiệu quả công tác của mỗi người mà đảm bảo các chế độ tiền lương, phụ cấp, điều kiện và phương tiện làm việc, nhà ở đối với công chức Tiền lương của công chức hành chính nhà nước phải thật sự trở thành bộ phận cơ bản trong thu nhập của

Trang 32

họ Tiền lương phải đủ đảm bảo tái sản xuất mở rộng sức lao động của công chức Chính sách tiền lương đúng là việc làm không thể thiếu trong việc tạo động lực cho công chức làm việc

1.4.2 Các yếu tố bên ngoài

a Môi trường kinh tế, xã hội

Môi trường kinh tế - xã hội ảnh hưởng lớn đến chất lượng nguồn nhân lực như cơ cấu ngành nghề, phân bố lao động, giới tính, độ tuổi và nhất là chính sách kinh tế vĩ mô như tiền lương, thu nhập, các chế độ chính sách đãi ngộ khác Chính sách xã hội, việc làm ổn định tạo tâm lý lao động, làm việc ổn định, lâu dài, tự tin cho đội ngũ công chức Ngược lại, chính sách thay đổi, giá cả biến động trong khi thu nhập, tiền lương được tăng không theo kịp sự lạm phát, mất giá của đồng tiền, chính sách không nhất quán tạo ra tâm lý bất ổn, không yên tâm làm việc của đội ngũ công chức, viên chức

b Yếu tố khoa học, công nghệ và thông tin

Sự phát triển của khoa học, công nghệ đã tạo ra nhiều ngành, nghề đòi hỏi trình độ chuyên môn kỹ thuật cao, đứng trước hoặc đối mặt với nhiều thách thức trong việc thu hút và gắn bó đội ngũ công chức, viên chức có trình độ chuyên môn nghiệp vụ giỏi, tay nghề cao gặp nhiều khó khăn do chế độ tiền lương, chế độ đãi ngộ không theo kịp các thành phần kinh tế bên ngoài nên đã xảy ra hiện tượng

“chảy máu chất xám” như các chuyên gia, kỹ sư, cử nhân giỏi bỏ cơ quan nhà nước

ra làm việc cho các liên doanh, tổ chức kinh tế nước ngoài tại Việt Nam hoặc ra định cư tại nước ngoài Tác động của kinh tế các nước láng giềng, khu vực (ASEAN, GMS, châu Á…), thế giới (như tăng trưởng kinh tế, khủng hoảng tài chính vừa qua) cũng ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng của đội ngũ công chức, viên chức

c Yếu tố chính trị

Bao gồm các mục tiêu đường lối chính trị đối ngoại của Nhà nước trong mỗi thời kỳ nhất định Đường lối chính trị của nước ta hiện nay tương đối ổn định, vững vàng và có đường lối phát triển theo nền kinh tế thị trường, định hướng XHCN, các mục tiêu KTXH gắn với lợi ích của nhân dân, của người lao động Sự gia nhập khối ASEAN, bình thường hoá quan hệ với Mỹ, gia nhập AFTA và là thành viên thứ 150

Trang 33

của WTO….là những điều kiện thuận lợi để các thành phần kinh tế tiếp thu những thành tựu khoa học công nghệ, kỹ năng quản trị, quản trị nhân lực của nước ngoài góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Tuy vậy, đây cũng là những thách thức lớn đối với các thành phần kinh tế của Việt Nam khi phải cạnh tranh bình đẳng với các doanh nghiệp nước ngoài trong đó có cạnh tranh về nguồn lao động có chất lượng cao Thực tế hiện nay cho thấy sự hấp dẫn về tiền lương, thưởng, chế độ đãi ngộ, đào tạo… đã tạo ra sức hút rất lớn một bộ phận công chức, viên chức trong các

cơ quan đơn vị nhà nước, đặc biệt là đội ngũ công chức, viên chức có thâm niên công tác, có trình độ chuyên môn cao hoặc chuyên gia giỏi chuyển ra bên ngoài ngành làm việc

d Yếu tố giáo dục đào tạo

Yếu tố này bao gồm số lượng, chất lượng và cơ cấu hệ thống đào tạo, các hình thức và phương thức đào tạo, chi phí đào tạo và sử dụng kết quả của đào tạo Xét trên góc độ xã hội, các yếu tố này trực tiếp tác động tới chất lượng nguồn nhân lực của cả xã hội nói chung và tới chất lượng nguồn nhân lực trong mỗi doanh

nghiệp, chất lượng của công chức kiểm toán viên Kiểm toán Nhà nước Nó tác động

rất lớn tới kỹ năng, trình độ chuyên môn, tay nghề và trình độ văn hoá của người lao động Không phải ngẫu nhiên mà hiện nay Đảng và Nhà nước luôn xác định “giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu” và chi phí cho giáo dục và đào tạo ngày một tăng, các trường trung học chuyên nghiệp và dạy nghề được mở ngày càng nhiều

e Yếu tố pháp luật

Bao gồm quy định của pháp luật tại Bộ luật lao động, Luật công chức, Luật viên chức, các văn bản pháp luật có liên quan đến vấn đề lao động, sử dụng lao động; Luật bảo hiểm xã hội, Luật bảo hiểm y tế Đây là yếu tố cơ sở pháp lý cho các doanh nghiệp giải quyết tốt các mối quan hệ giữa người lao động, là tiền đề cho các doanh nghiệp xây dựng các tiêu chuẩn pháp lý khi hình thành, củng cố và phát triển

và thu hút nguồn nhân lực Luật bảo hiểm xã hội, Luật bảo hiểm y tế có hiệu lực thực hiện dần dần tạo ra sự công bằng trong việc đóng và thụ hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế của người lao động giữa các thành phần kinh tế; từ đó việc thu hút, cạnh tranh về lao động có trình độ, chất lượng cao giữa các cơ quan,

doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế ngày càng gay gắt hơn

Trang 34

1.5 Kinh nghiệm của các nước về yêu cầu hoạt động kiểm toán và nguồn nhân lực kiểm toán

Chất lượng nhân lực kiểm toán phụ thuộc vào chức năng nhiệm vụ và yêu cầu kiểm soát chất lượng kiểm toán Hiện nay các thông lệ và chuẩn mực kiểm toán quốc tế và Việt Nam quy định cho kiểm soát chất lượng HĐKT tuy có những điểm khác nhau nhưng thống nhất với nhau về những nguyên tắc kiểm soát chất lượng sau:

- Nguyên tắc đồng nghiệp: Việc KSCL hoạt động kiểm toán do chính các

nhà chuyên nghiệp thực hiện Theo đó, mục đích đầu tiên của kiểm soát là giúp các nhà chuyên nghiệp hoàn thiện hơn chất lượng công việc của họ

- Nguyên tắc toàn thể: Tất cả các nhà chuyên nghiệp được các tổ chức nghề

nghiệp thừa nhận, trong đó có công ty kế toán kiểm toán đều phải kiểm soát chất lượng

- Nguyên tắc phù hợp: Việc KSCL hoạt động kiểm toán phải phù hợp với

bản chất của chương trình mà đơn vị thực hiện và tầm cỡ của đơn vị

- Nguyên tắc điều hoà: Việc kiểm soát chất lượng kết hợp sẽ được áp dụng

đối với các đơn vị, đồng thời phải chịu sự kiểm soát chất lượng của tổ chức Hiệp hội kế toán và công ty kiểm toán

- Nguyên tắc bí mật: KTV phải tuyệt đối giữ bí mật nghề nghiệp Khi kiểm

soát kết thúc phải chuyển cho hội đồng có thẩm quyền toàn bộ tài liệu liên quan đến đơn vị bị kiểm soát Hội đồng này phải đảm bảo bí mật tuyệt đối cho các thông tin

mà họ nắm giữ

Ở phần lớn các nước có nền kinh tế phát triển, các cơ quan chức năng Nhà nước không trực tiếp quản lý hoạt động kiểm toán của các tổ chức kiểm toán độc lập mà giao cho Hiệp hội nghề nghiệp đảm trách nhiệm vụ này

Tại Hoa Kỳ, các chuẩn mực kiểm toán do Ủy ban Chuẩn mực kiểm toán thuộc Viện kế toán viên công chứng Hoa Kỳ (American Institute of Certified Public Accountant - AICPA) ban hành AICPA đã ban hành chuẩn mực kiểm toán số 25 (SAS 25, AU 161) yêu cầu mỗi công ty kiểm toán phải xây dựng các chính sách và quy trình kiểm soát chất lượng riêng cho mình tùy theo quy mô và bản chất dịch vụ của công ty

Tại Anh và Ireland, các tổ chức kiểm toán phải thực hiện chương trình kiểm soát tuân thủ kiểm toán hàng năm Việc kiểm soát này nhằm mục đích đảm bảo các

Trang 35

tổ chức kiểm toán đã tuân thủ các văn bản chỉ đạo kiểm toán của Viện KTV chuyên nghiệp Anh và xứ Wales

Tại Trung Quốc, hệ thống kiểm soát chéo đã được áp dụng và thực thi Các công ty phải được kiểm soát ít nhất mỗi năm một lần Công ty kiểm soát được lựa chọn do công ty bị kiểm soát chỉ định hoặc do Viện kế toán viên công chứng Trung Quốc gửi đến một đội ngũ kiểm soát

Tại Việt Nam, trước kia Bộ Tài chính đảm nhận việc kiếm soát chất lượng kiểm toán Điều này gây ra nhiều hạn chế đối với công tác kiểm soát chất lượng do thiếu tính chuyên nghiệp và chuyên môn hóa Tuy nhiên hiện nay, công tác kiểm soát chất lượng đã giao cho Hiệp hội nghề nghiệp thực hiện nên hứa hẹn công tác kiểm soát chất lượng HĐKT sẽ có nhiều ý nghĩa hơn

Về mặt chính sách, ngày 14/3/2003 Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 220

về Kiểm soát chất lượng HĐKT (Phụ lục) đã ra đời và ngày 15/7/2014 KTNN đã ban hành Chuẩn mực số 40 về Kiểm soát chất lượng kiểm toán Nhà nước đã có quy định về kiểm soát chất lượng HĐKT để KTNN, các công ty kiểm toán nghiên cứu

và xây dựng quy trình kiểm soát chất lượng cho mình để phù hợp với điều kiện của từng cơ quan/công ty Hàng năm, Bộ Tài chính thông báo cho các công ty kiểm toán

để kiểm soát chất lượng định kỳ Tuy nhiên, việc kiểm soát chỉ ở mức sơ bộ, chưa khái quát được hết chất lượng HĐKT Đồng thời, kết quả kiểm soát vẫn chưa được

sử dụng hiệu quả để nâng cao chất lượng dịch vụ cung cấp

Tóm lại, việc xây dựng chất lượng kiểm toán là cần thiết Nó không chỉ

giúp kiểm toán viên có tính trách nhiệm về mặt nghề nghiệp đối với công việc mà

nó giúp KTNN đảm bảo và nâng cao vai trò vị trí trong quản lý nguồn NSNN, đồng thời góp phần nâng cao chất lượng kiểm toán của KTNN Xây dựng một đội ngũ kiểm toán viên KTNN chất lượng như thế nào phụ thuộc vào đặc điểm điều kiện Việt Nam trong môi trường hội nhập kinh tế thế giới

Trang 36

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ KIỂM TOÁN VIÊN CỦA KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2006 ĐẾN NAY

2.1 Tổng quan điều kiện kinh tế - xã hội Việt Nam

Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng xác định Chiến lược phát

triển kinh tế - xã hội 2001-2010 của nước ta với mục tiêu tổng quát là: Đưa nước ta

ra khỏi tình trạng kém phát triển; nâng cao rõ rệt đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần của nhân dân, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại Nguồn lực con người, năng lực khoa học và công nghệ, kết cấu hạ tầng, tiềm lực kinh tế, quốc phòng, an ninh được tăng cường; thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được hình thành về cơ bản;

vị thế của nước ta trên trường quốc tế được nâng cao Trong 10 năm thực hiện

Chiến lược, với nỗ lực cao của cả hệ thống chính trị và sự đồng thuận, nhất trí của toàn dân, chúng ta đã tranh thủ được thời cơ, thuận lợi, vượt qua khó khăn, thách thức nên tình hình kinh tế-xã hội nước ta đã có những biến đổi quan trọng, đạt được nhiều thành tựu mới có thể khái quát bằng một số chỉ tiêu dưới đây

2.1.1 Tăng trưởng kinh tế

Tăng trưởng GDP trong 5 năm 2007-2011 sau khi Việt Nam gia nhập WTO chỉ đạt 6,5%/năm, không đạt mục tiêu kế hoạch 7,5-8%, thấp hơn 5 năm 2002-2006 (7,8%) và giai đoạn khủng hoảng tài chính Đông Á 1996-2000 (7,0%), nhưng vẫn tương đối cao so với nhiều nước trên thế giới trong bối cảnh khủng hoảng tài chính

và suy thoái kinh tế toàn cầu Trong giai đoạn 2007 đến giữa 2008, các chỉ tiêu kinh

tế đạt ở mức cao, tăng trưởng GDP năm 2007 đạt 8,5%, cao nhất so với 10 năm trước đó Đó là nhờ các yếu tố bên ngoài thuận lợi và các yếu tố tích cực trong nước (môi trường kinh doanh được cải thiện mạnh mẽ (ở mức độ nhất định nhờ thực thi các cam kết hội nhập), môi trường chính trị ổn định, tâm lý phấn khởi và kỳ vọng của các nhà đầu tư)

Tuy nhiên, từ giữa năm 2008 đến nay tốc độ tăng trưởng kinh tế chậm lại và thấp hơn nhiều so với 5 năm trước khi gia nhập WTO, tốc độ tăng trưởng bình quân (2008-2011) 6,1%/năm, năm 2009 chỉ đạt 5,3%)

Trang 37

Biểu đồ 2.1: Tăng trưởng kinh tế thời kỳ 2002-2011

Đơn vị: %

(Nguồn: Kiểm toán Nhà nước)

Từ đầu năm 2011 đến nay, Chính phủ đã kiên định với mục tiêu ổn định kinh

tế vĩ mô cùng với các biện pháp an sinh xã hội Tăng trưởng kinh tế tăng trở lại trong năm 2010 (6,8%), nhưng lại giảm trong năm 2011 (5,9%), cho thấy mức độ phục hồi chưa vững chắc do nền kinh tế thế giới còn phải đối mặt với nhiều thách thức mới, còn những khó khăn nội tại của kinh tế Việt Nam vẫn chưa được khắc phục 1 cách triệt để Nhìn lại thời kỳ khủng hoảng tài chính châu Á trong thập niên trước, khi Việt Nam chưa mở cửa và hội nhập sâu rộng như hiện nay, tăng trưởng GDP bị sụt giảm với mức độ sâu hơn từ 8,2% năm 1997 xuống 5,8% năm 1998 và 4,8% năm 1999

2.1.2 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Trong 5 năm sau khi gia nhập WTO, cơ cấu GDP chuyển dịch không rõ nét

và không theo xu hướng từ nông nghiệp sang công nghiệp, xây dựng cơ bản và dịch

vụ như đã đặt ra trong Kế hoạch 2006-2010 Đến năm 2011, tỷ trọng khu vực nông nghiệp tăng 1,7 điểm phần trăm so với năm 2007, trong khi đó hai khu vực công nghiệp, xây dựng và dịch vụ đều giảm xuống tương ứng là 1,2 điểm phần trăm và 0,5 điểm phần trăm Chỉ tiêu kế hoạch nông nghiệp chiếm 15-16% GDP, công nghệp, xây dựng 43-44% và dịch vụ 40-41% vào năm 2010 đã không đạt được Nguyên nhân của việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế không như mong muốn chủ yếu

là do hai ngành công nghiệp, xây dựng và dịch vụ tăng trưởng thấp hơn kế hoạch

Trang 38

2.1.3 Chất lượng tăng trưởng kinh tế

Một trong những thước đo về chất lượng tăng trưởng kinh tế là năng suất các yếu tố tổng hợp (TFP) Đặc biệt trong giai đoạn 2007-2010, hiệu quả tăng trưởng kinh tế suy giảm mạnh, khi TFP chỉ đóng góp 0,4 điểm phần trăm cho tăng trưởng

so với con số 2,6 điểm phần trăm bình quân hàng năm trong giai đoạn (2007-2011); riêng năm 2009 và 2010 TFP đóng góp âm cho tăng trưởng (-0,1 và -2,0 điểm phần trăm) Nền kinh tế trong giai đoạn (2007-2011) dựa vào vốn ở mức độ lớn nhất để tăng trưởng (4,8 so với 3,5 điểm phần trăm bình quân hàng năm), trong khi đó tăng trưởng lại thấp hơn

Biểu đồ 2.2: Đóng góp vào tăng trưởng kinh tế giai đoạn 1990-2010

Đơn vị: điểm %

(Nguồn: Kiểm toán Nhà nước)

Một số chỉ tiêu khác liên quan đến hiệu quả tăng trưởng kinh tế như tỷ lệ vốn tăng thêm trên sản lượng đầu ra (ICOR), tỷ lệ vốn đầu tư toàn xã hội (ĐTTXH) so với GDP cũng cho thấy xu hướng nói trên

Năng suất lao động (NSLĐ) là 1 trong các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả nền kinh tế NSLĐ ở Việt Nam tăng chậm, và trong giai đoạn (2007-2011) lại tăng thấp hơn nhiều so với giai đoạn (2002-2006), 3,4% so với 5% hàng năm Tăng NSLĐ là vấn đề cần quan tâm đặc biệt nếu Việt Nam muốn thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình và tăng cường khả năng cạnh tranh của nền kinh tế So với các nước trên thế giới, NSLĐ của Việt Nam còn thấp Tính theo USD năm 1990, NSLĐ của Việt Nam năm 2010 chỉ đạt gần 5,9 nghìn USD, bằng 13,2% của Nhật Bản, 23,3% của Ma-lai-xi-a, 12% của Xin-ga-po, 13,3% của Hàn Quốc, 46,5% của Trung Quốc, 37% của Thái Lan và 69,9% của Phi-lip-pin

Trang 39

2.1.4 Xuất khẩu

Trong giai đoạn 2007-2011, xuất khẩu biến động mạnh hơn so với giai đoạn trước đó Tăng trưởng xuất khẩu khá cao trong năm 2007 và 2008, tương ứng là 21,9%, và 29,1% Sau khi giảm 8,9% vào năm 2009 do tác động của khủng hoảng tài chính thế giới, xuất khẩu tăng trở lại ở mức 25,5% năm 2010 và 34,2% năm

2011 Trong cả giai đoạn 2007-2011, xuất khẩu đã tăng 2,4 lần, từ 39,8 tỷ USD lên 96,9 tỷ USD Tốc độ tăng trưởng xuất khẩu bình quân đạt 19,5%/năm, cao hơn chỉ tiêu 16%/năm trong kế hoạch 5 năm 2006-2010 Tuy nhiên, mức tăng này thấp hơn

so với (2007-2011), tăng hơn 2,6 lần, bình quân 21,5%/năm Xuất khẩu tiếp tục tăng

so với GDP, và tỷ lệ này đạt tới 79,0% vào năm 2011 (so với mức 65,2% năm 2006) Trong thời kỳ 2007-2010, tỷ lệ đóng góp bình quân của xuất khẩu vào tăng trưởng kinh tế đạt tới 113,2%, cao hơn nhiều so với tiêu dùng (89,4%) và tích lũy tài sản (66,4%) Như vậy, ngay cả trong bối cảnh kinh tế nhiều biến động, Việt Nam

đã tận dụng được tiềm năng xuất khẩu, và chuyển hóa những tiềm năng ấy thành thu nhập cho dân cư

2.1.5 Nhập khẩu

Nhập khẩu từ năm 2007 đã có những biến động mạnh hơn Tăng trưởng nhập khẩu đạt tới 40% năm 2007 và 28,6% năm 2008 Do tác động của suy thoái kinh tế thế giới, nhập khẩu giảm 13,3% năm 2009 Tuy nhiên, nhập khẩu đã nhanh chóng phục hồi, và tăng 20% vào năm 2010 và 25,9% vào năm 2011 Trong giai đoạn 2007-2011, nhập khẩu tăng 2,4 lần, từ 44,9 tỷ USD lên 106,7 tỷ USD Tốc độ tăng nhập khẩu trung bình trong giai đoạn là 18,9%/năm Tỷ lệ nhập khẩu so với GDP đạt đỉnh khoảng 88,6% vào năm 2008, sau đó giảm xuống còn 72,0% vào năm

2009, rồi lại tăng lên 87,1% vào năm 2011 Nhìn chung, mức độ tăng nhập khẩu thấp hơn giai đoạn (2007-2011) (nhập khẩu tăng 2,8 lần và tốc độ tăng nhập khẩu bình quân 22,6%/năm) Tính theo tỷ lệ kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa trên GDP, độ mở thương mại của Việt Nam đã tăng gần như liên tục, từ 130,4% năm

2005 lên 157,4% vào năm 2008 Sau khi sụt giảm vào năm 2009, độ mở thương mại tăng trở lại kể từ năm 2010 và đạt tới 166,1% vào năm 2011

2.1.6 Đầu tƣ toàn xã hội

Tính bình quân, tổng vốn đầu tư toàn xã hội (ĐTTXH) giai đoạn 2007-2011

Trang 40

chỉ tăng 8,3%/năm (theo giá so sánh 1994), thấp hơn đáng kể so với mức 13,4%/năm giai đoạn 2002-2006 Tổng vốn ĐTTXH đã tăng mạnh trong năm đầu tiên gia nhập WTO nhờ vốn FDI tăng kỷ lục (93,4%), khu vực ngoài Nhà nước cũng tăng cao nhất trong nhiều năm (26,9%) Năm 2007 cũng là năm tổng dư nợ tín dụng của nền kinh tế tăng kỷ lục ở mức 53,9% theo giá thực tế Một trong những nguyên nhân ĐTTXH năm 2008 tăng thấp hơn là do chính sách thắt chặt đầu tư của khu vực kinh tế Nhà nước nhằm đối phó với tình hình lạm phát cao (giảm 2,5%) và những khó khăn của khu vực kinh tế ngoài Nhà nước (giảm 3,5%) FDI vẫn tăng 36,1% nhờ những thuận lợi về môi trường đầu tư sau khi Việt Nam gia nhập WTO Năm 2009, mặc dù Chính phủ áp dụng các biện pháp kích thích kinh tế, trong đó có kích cầu đầu tư (đầu tư của khu vực Nhà nước tăng 34,6%), nhưng do FDI giảm (-8,6%), nên tổng vốn ĐTTXH chỉ tăng 11,4% Năm 2011, Chính phủ thực hiện chủ trương ưu tiên tập trung kiềm chế lạm phát, bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, trong đó

có các biện pháp cắt giảm, điều chuyển vốn đầu tư của Nhà nước, thắt chặt tín dụng Vốn ĐTTXH từ mức tăng trưởng 7,8% năm 2010 đã tăng trưởng âm (-9,3%) vào năm 2011, điều chưa từng có trong vòng 20 năm qua ở nước ta Tỷ lệ vốn ĐTTXH

so với GDP tăng nhanh từ 37,2% năm 2002 lên mức kỷ lục 46,5% vào năm 2007 và duy trì ở mức trên 40% trong 4 năm đầu gia nhập WTO, sụt giảm mạnh xuống 34,6% vào năm 2011, thấp hơn so với chỉ tiêu kế hoạch (40%) Tuy nhiên, hiệu quả đầu tư sau 5 năm gia nhập WTO chưa được cải thiện so với giai đoạn trước

2.1.7 Dân số

Trong suốt thập kỷ qua, phân bố dân số biến động nhẹ theo hướng giảm ở các vùng miền núi phía Bắc, Đồng bằng sông hồng, Bắc Trung bộ và duyên hải miền Trung và đồng bằng sông Cửu Long; trong khi đó vùng Tây Nguyên tăng nhẹ,

từ 5,6% tổng dân số năm 2001 lên 6,0% năm 2010; còn Đông Nam bộ có xu thế tăng tương đối nhanh từ 13,9% lên 16,8% Tuy nhiên, không có đột biến về di dân (2007-2011) Di dân tự do vào vùng Tây nguyên để khai khẩn đất rừng và gia tăng việc làm phi nông nghiệp ở Đông Nam bộ là những nguyên nhân chính dẫn đến hiện tượng trên

2.1.8 Giáo dục

Nghị quyết Đại hội X của Đảng tiếp tục khẳng định giáo dục và đào tạo cùng

Ngày đăng: 31/05/2023, 10:41

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Bộ Tài chính (2006), Hệ thống kế toán doanh nghiệp, Nhà xuất bản Tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống kế toán doanh nghiệp
Tác giả: Bộ Tài chính
Nhà XB: Nhà xuất bản Tài chính
Năm: 2006
[2]. Bộ Tài chính (2013), 37 chuẩn mực kiểm toán Việt Nam mới nhất năm 2013, nxb Tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 37 chuẩn mực kiểm toán Việt Nam mới nhất năm 2013
Tác giả: Bộ Tài chính
Nhà XB: nxb Tài chính
Năm: 2013
[3]. Chính phủ (2000), Nghị định của Chính phủ về chế độ kiểm toán và văn bản hướng dẫn thi hành, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định của Chính phủ về chế độ kiểm toán và văn bản hướng dẫn thi hành
Tác giả: Chính phủ
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2000
[4]. Đặng Ngọc Hữu, Những chuẩn mực và nguyên tắc kiểm toán quốc tế (Tài liệu dịch), Công ty kiểm toán Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những chuẩn mực và nguyên tắc kiểm toán quốc tế (Tài liệu dịch)
[5]. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2008), Luật cán bộ công chức, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật cán bộ công chức
Tác giả: Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2008
[6]. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2005), Luật Kiểm toán Nhà Nước, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Kiểm toán Nhà Nước
Tác giả: Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 2005
[7]. Ngô Đức Long (1998), “Về chất lượng kiểm toán”, Tạp chí kế toán (14) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về chất lượng kiểm toán”, "Tạp chí kế toán
Tác giả: Ngô Đức Long
Năm: 1998
[8]. Nguyễn Trọng Điều (2003), “Nâng cao phẩm chất năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế”, Tạp chí Cộng sản (18) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao phẩm chất năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế
Tác giả: Nguyễn Trọng Điều
Nhà XB: Tạp chí Cộng sản
Năm: 2003
[9]. Thịnh Văn Vinh (2001), “Tự kiểm soát chất lượng dịch vụ”, Tạp chí kế toán (24) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tự kiểm soát chất lượng dịch vụ”, "Tạp chí kế toán
Tác giả: Thịnh Văn Vinh
Năm: 2001
[10]. Trần Xuân Cầu, Mai Quốc Chánh (2008), Giáo trình kinh tế nguồn nhân lực, Nxb Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình kinh tế nguồn nhân lực
Tác giả: Trần Xuân Cầu, Mai Quốc Chánh
Nhà XB: Nxb Đại học Kinh tế quốc dân
Năm: 2008
[11]. Ủy ban thường vụ Quốc hội (2010), Nghị quyết số 927/2010/UBTVQH12 về việc ban hành Chiến lược phát triển Kiểm toán Nhà nước đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 927/2010/UBTVQH12 về việc ban hành Chiến lược phát triển Kiểm toán Nhà nước đến năm 2020
Tác giả: Ủy ban thường vụ Quốc hội
Năm: 2010
[12]. Võ Thị Bích Hồng (2001), “Kinh nghiệm kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán độc lập”, Tạp chí kế toán (29) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán độc lập”, "Tạp chí kế toán
Tác giả: Võ Thị Bích Hồng
Năm: 2001
[13]. Vương Đình Huệ (2007), Định hướng chiến lược và những giải pháp xây dựng, phát triển hệ thống kiểm toán ở VN trong thời kỳ công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước, Đề tài khoa học cấp Nhà nước, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định hướng chiến lược và những giải pháp xây dựng, phát triển hệ thống kiểm toán ở VN trong thời kỳ công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước
Tác giả: Vương Đình Huệ
Năm: 2007
[14]. Alvin A.Aens  James K. Loebbecke, Kiểm toán, Nhà xuất bản Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiểm toán
Tác giả: Alvin A. Aens, James K. Loebbecke
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống kê
[15]. Guidelines for internal control standards for the public sector, http://www.intosai.org/Level3/Guidelines/3InternalCongtrStand/3GuICSPubSec e.pdf Link

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w