Luận văn “Ứng dụng công nghệ thi công hầm TBM trong việc xây dựng đườnghầm Metro ở Thành phố Hồ Chí Minh” đã được thực hiện từ tháng ../2011 đến 11/2012 với mục đích nghiên cứu đưa ra đư
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIAO THÔNG VẬN TẢI
Trang 2Luận văn “Ứng dụng công nghệ thi công hầm TBM trong việc xây dựng đường
hầm Metro ở Thành phố Hồ Chí Minh” đã được thực hiện từ tháng /2011 đến
11/2012 với mục đích nghiên cứu đưa ra được phương pháp tính toán, lựa chọn
giải pháp thi công đường hầm Metro hợp lý ở khu vực thành phố Hồ Chí Minh
Đề tài cũng đưa ra một số khuyến cáo về cơ sở lựa chọn chiều sâu đặt hầm, ảnh
hưởng đến các công trình lân cận Luận văn cũng đưa ra ví dụ mô phỏng, tính
toán một số dự án tại khu vực thành phố Hồ Chí Minh với số liệu địa chất, thủy
văn được thu thập đáng tin cậy
Luận văn được hoàn thiện với sự giúp đỡ, hướng dẫn tận tình của PGS.TS
Trần Đức Nhiệm, Chủ nhiệm Bộ môn Cầu Hầm, Trường Đại Học Giao Thông
Vận Tải
Tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS Trần Đức Nhiệm và quý Thầy Cô Khoa
Công trình, Trường Đại Học Giao Thông Vận tải, bạn bè đồng nghiệp đã cung
cấp tài liệu, giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận văn
Tôi cũng không quên gửi lời cảm ơn đến mọi người trong gia đình đã hỗ trợ,
tạo động lực, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và thực hiện luận văn
Do thời gian thực hiện luận văn có hạn nên không tránh khỏi những hạn chế và
thiếu sót; Rất mong nhận được sự cảm thông và đóng góp xây dựng của Quý
Thầy Cô giáo và bạn bè đồng nghiệp để luận văn hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn!
Võ Văn Nam
Lớp Cao học Cầu Hầm K18
Formatted: Indent: First line: 0.2", Space Before: 6 pt
Trang 3MỤC LỤC
Chương 0 Mở đầu
Chương 1 Tổng quan
1.1 Hiện trạng giao thông đô thị ở thành phố Hồ Chí Minh
1.2 Tổng quan về các công nghệ thi công xây dựng đường hầm giao
thông đô thị
1.2.1.3 Giới thiệu về công nghệ thi công hầm bằng TBM
1.3.1 Giới thiệu chung
1.3.2 Cấu tạo khiên
2.5 Điều tra thu thập số liệu hạ tầng hiện trạng
Chương 3: Tính toán thiết kế đường hầm đô thị đặt sâu thi công bằng công
nghệ TBM:
Formatted: Outline numbered + Level: 3 + Numbering
Style: 1, 2, 3, … + Start at: 1 + Alignment: Left + Aligned at: 1" + Indent at: 1.5"
Formatted: Justified, Space Before: 6 pt, Outline numbered
Trang 43.2.3.3 Trình tự và nội dung thi công đoạn tuyến hầm bằng công nghệ
TBM
3.4 Xây dựng mô hình phân tích kết cấu hầm thi công bằng công nghệ
TBM
3.2.1.3.4.1 Mô hình tính toán theo JSCE - 1996
3.4.2 Xây dựng mô hình tính toán theo phương pháp PTHH
3.4.2.1 Thiết lập áp lực cân bằng bề mặt gương đào
3.4.2.2 Thiết lập mất mát hướng tâm trong quá trình đào bằng
máy TBM3.4.2.3 Thiết lập môi trường khô trong hầm
3.4.2.4 Tính toán mô hình 3D bằng chương trình Plaxis 3D
3.6.2 Cơ sở ,căn cứ để chọn loại khiên TBM
3.6.3 Căn cứ điều kiện địa chất khu vực Tp.Hồ Chí Minh chọn phương
Formatted: Normal, Justified, Space Before: 6 pt, Line
spacing: Multiple 1.15 li, Outline numbered + Level: 4 + Numbering Style: 1, 2, 3, … + Start at: 1 + Alignment: Left + Aligned at: 0.75" + Indent at: 1.5"
Formatted: Justified, Space Before: 6 pt, Line spacing:
Multiple 1.15 li, Outline numbered + Level: 2 + Numbering Style: 1, 2, 3, … + Start at: 1 + Alignment: Left + Aligned at: 0.25" + Indent at: 0.75"
Formatted: Font: 14 pt, Not Bold, Not Italic
Formatted: Justified, Space Before: 6 pt, Line spacing:
Multiple 1.15 li
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Phân loại hầm ở Việt Nam theo tiêu chí kiểu/loại hầm
Bảng 2.1 Đặc tính địa chất công trình của lớp A
Bảng 2.2 Đặc tính địa chất công trình của lớp B
Bảng 2.3 Đặc tính địa chất công trình của lớp C
Bảng 2.4 Đặc tính địa chất công trình của lớp D
Bảng 2.5 Đặc tính địa chất công trình của lớp E
Bảng 3.2 Bảng tra hệ số ứng suất tập trung
Bảng 3.3 Bảng phân loại tải trọng tác dụng lên hầm
Bảng 5.1 Một số đường hầm xây dựng trên thế giới bằng phương phá
p khiên đào 85
Bảng 5.2 Bảng phân loại khiên áp dụng trong các địa tầng thích ứng
Bảng 6.1 Bảng quan hệ hệ số kiên cố – bề dày vòm
theo khoảngcách xây dựng hầm 2
Bảng 6.6 Bảng tổng hợp kết quả chuyển vị và nội lực hầm trên hầm
1
theo khoảngcách xây dựng hầm 2
Formatted: Justified, Space Before: 6 pt, Line spacing:
Multiple 1.15 li
Formatted: Justified, Indent: Left: 0.3", First line: 0.33",
Space Before: 6 pt, Line spacing: Multiple 1.15 li
Formatted: Justified, Space Before: 6 pt, Line spacing:
Multiple 1.15 li
Formatted: Justified, Space Before: 6 pt, Line spacing:
Multiple 1.15 li, Tab stops: Not at 6.45"
Trang 6Hình 1.3 Phương php khin đo p dụng cho hầm qua sơng Thames (Anh)
H́nh 1.4 Phương pháp khin đào chia gương
Hình 1.5 Ổn định mặt gương đào bằng bentonit
Hình 1.6 Khiên cân bằng áp lực đất
Hình 1.7 Khiên thi công nhiều tim
Hình 1.8 Chi tiết khiên đào
Hình 1.16 Khiên đào kiểu ngang
Hình 1.17 Giếng đứng bố trí lắp đặt máy đào TBM
Hình 1.18 Ảnh mô tả hoạt động của máy đào TBM
Hình 1.19 Khiên hầm đôi
Formatted: Font: 14 pt, Italic Formatted: Font: 14 pt Formatted: Font: 14 pt, Italic
Formatted: Font: 14 pt, Italic
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
I Tính cấp thiết của đề tài
Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm kinh tế lớn của cả nước nói chung và khu vực miền nam nói riêng, với tốc độ phát triển kinh tế nhanh và mạnh, thu hút sự đầu tư của các doanh nghiệp trong và ngoài nước.Chính điều này góp phần làm gia tăng mật độ dân số, gây sức ép trực tiếp lên hạ tầng giao thông hiện có của thành phố
Những năm gần đây vấn nạn kẹt xe ở thành phố Hồ Chí Minh đang ngày càng trở nên nhức nhối, là mối quan tâm của các cấp các ngành.Giải pháp nào để giải quyết vấn đề này đã được các cấp , ngành liên quan nghiên cứu cụ thể Đưa giao thông vào lòng đất là một trong nhiều giải pháp nhằm giải quyết vấn nạn trên.Và các tuyến đường sắt – metro được thiết kế và chuẩn bị đi vào thi công đã và đang cụ thể hóa giải pháp trên
Biện pháp thi công các tuyến Metro đi ngầm là một trong nhiều khó khăn cần được giải quyết nếu lựa chọn giải pháp trên
Việc xây dựng công trình ngầm phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện địa chất và địahình của khu vực xây dựng nên việc áp dụng các biện pháp thi công cũng như tínhtoán mang tính khu vực. Để có phương pháp tính toán và biện phá
p thi công phùhợp nhất với khu vực xây dựng thì cần phải có các nghiên cứ
u cụ thể. Do đó việc
nghiên cứu cách tính toán và biện pháp thi công phù hợp với
điều kiện địa hình, địa chất là một việc làm cần thiết
Tiếp cận vấn đề thông qua hồ sơ đã được phê duyệt của dự án, từ đó tổng hợp
số liệu, tính toán, so sánh đưa ra kết luận
Với những tuyến hầm đặt sâu, qua các khu vực nội thành đông dân cư,
Trang 8tiến và phù hợp là thực sự có ý nghĩa về mặt nghiên cứu khoa học và mang tính thực tiễn cao
nghệ TBM trong xây dựng đường hầm metro ở khu vựa thành phố Hồ Chí Minh” là thực sự cần thiết
II Kết cấu của luận văn:
Gồm phần mở đầu , 3 chương và phần kết luận kiến nghị, với nội dung chi tiết như sau:
1.3 Giới thiệu về công nghệ thi công hầm bằng TBM
1.3.1 Giới thiệu chung
1.3.2 Cấu tạo khiên
1.3.3 Tổ hợp khiên đào TBM
Chương 2: Điều tra thu thập số liệu của đoạn tuyến
2.1 Điều tra thu thập số liệu địa chất
2.2 Điều tra thu thập số liệu thủy văn
2.3 Điều tra thu thập số liệu hạ tầng hiện trạng
Chương 3: Xử lý số liệu
3.1 Kiểm tra tính phù hợp với điều kiện địa chất
3.2 Kiểm tra tính phù hợp với điều kiện thủy văn
3.3 Những vấn đề cần khắc phục
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Trang 91.1 Hiện trạng giao thông đô thị ở thành phố Hồ Chí Minh và quy hoạch
phát triển mạng lưới đường sắt đô thị
1.1.1 Tình hình giao thông đô thị
1.1.1.1 Giao thông đường bộ
Mạng lưới giao thông đường bộ thành phố bao gồm các trục quốc lộ do trung ương quản lý và các đường tỉnh, đường liên tỉnh, đường nội đô do thành phố quản lý Tổng chiều dài đường các cấp hạng khoảng 3000km Đất dành cho giao thông rất thấp lại không đều trên địa bàn toàn thành phố:
Ở các quận thuộc vùng Sài Gòn-Chợ Lớn cũ như quận 1, quận 3, quận 5 diện tích đất dành cho giao thông trên diện tích đất đô thị đạt khoảng 17,4-21,4% song cũng chỉ đạt 0,31km/1000 dân do mật độ dân số quá cao
Ở các quận cũ khác như quận 4, quận 6, quận 8, quận 10, quận 11, quận Bình Thạnh, quận Phú Nhuận, quận Tân Bình diện tích đất dành cho giao thông trên diện tích đất đô thị chỉ đạt khoảng 5,2-15,0% ; 0,24 km/1000 dân là quá thấp
Ở các quận mới như quận 2, quận 7, quận 9, quận 12 và các huyện ngoại thành diện tích đất dành cho giao thông còn thấp hơn nữa chỉ chiếm khoảng 0,2-3,1%, 0,84 km/1000 dân
Tình trạng kỹ thuật của mạng lưới đường trên các khu vực cũng có sự chênh lệch lớn: các đường ở các quận cũ hình thành khá rõ mạng ô bàn cờ thuận lợi cho giao thông, mặt đường thảm nhựa êm thuận, hệ thống thoát nước, chiếu sáng, vỉa hè, cây xanh hoàn chỉnh; các đường ở các quận mới có mặt đường thấp so với mực nước triều, vỉa hè hẹp, không có cây xanh; các đường ở các huyện ngoại thành phần lớn mới chỉ được láng nhựa, tiêu chuẩn hình học thấp Phần lớn các đường đều hẹp: chỉ có khoảng 14% số đường có lòng đường rộng trên 12m để có thể tổ chức vận chuyển hành khách bằng xe buýt được thuận lợi; 51% số đường có lòng đường rộng từ 7m đến 12m chỉ có thể cho các xe ô tô con trong đó có xe Micro-buýt lưu thông; 35% số đường còn lại có lòng đường rộng dưới 7m chỉ đủ cho xe hai bánh lưu thông
Hệ thống các vành đai đã được hoạch định nhưng hầu hết chưa được xây dựng, các trục hướng tâm đã và đang được cải tạo, nâng cấp tuy nhiên vẫn
Trang 10là giao cắt đồng mức; năng lực thông qua của các nút thấp Hiện chỉ có 9 nút đang được xây dựng là nút giao khác mức
Hệ thống bến-bãi đỗ xe ở thành phố Hồ Chí Minh gồm có:
5 bến xe ô tô liên tỉnh chính: bến xe Miền Đông, bến xe Miền Tây, bến xe Chợ Lớn, bến xe Ngã 4 Ga và bến xe Quận 8 với tổng diện tích khoảng 15,08 ha, công suất phục vụ 27,9 triệu hành khách/năm;
1 bến xe buýt chính bố trí ở khu vực chợ Bến Thành với diện tích 0,22 ha
và các điểm đầu cuối tuyến nằm trong các bến xe Miền Đông, bến xe Miền Tây, bến xe Chợ Lớn, bến xe An Sương, khuôn viên trường Đại học Nông Lâm - Thủ Đức, các khu vui chơi giải trí Đầm Sen, Suối Tiên
3 bãi đỗ xe tải bố trí ở vành đai 2 với tổng diện tích 3,8 ha, trong đó có 1
bãi đậu xe sẽ chuyển công năng;
7 bãi đỗ xe taxi với tổng diện tích khoảng 3,2 ha;
6 bến kỹ thuật dành cho xe buýt với tổng diện tích khoảng 8 ha ở quận Gò Vấp, quận Tân Bình, quận 11, huyện Hóc Môn
Nhìn chung, số lượng và diện tích bến - bãi còn ít chỉ chiếm khoảng 0,1% diện tích đô thị Các bến xe liên tỉnh do tập trung ở trong nội đô, có vị trí không phù hợp, bị hạn chế về mặt bằng nên làm phức tạp thêm cho giao thông
đô thị; hệ thống bến-bãi chuyên nghiệp chưa hình thành
1.1.1.2 Giao thông đường sắt
Tại thành phố Hồ Chí Minh hiện chỉ có một tuyến đường sắt quốc gia
Bắc-Nam vào đến ga Sài Gòn (tại Hòa Hưng) Trong khi trước đây thời pháp thuộc có 4 tuyến đường sắt vào thành phố: Sài Gòn - Hà Nội, Sài Gòn - Mỹ Tho, Sài Gòn - Lái Thiêu - Thủ Dầu Một - Lộc Ninh và Sài Gòn – GòVấp - Hóc Môn với ga trung tâm là ga Sài Gòn cũ (trước chợ Bến Thành); ngoài ra còn có 2 tuyến chuyên dụng nối ray tới cảng Sài Gòn và Tân Cảng
Tuyến đường sắt quốc gia Bắc - Nam vào thành phố giao cắt cùng mức với
14 đường phố gây ra ùn tắc và mất an toàn giao thông
Thiết bị thông tin đang được hiện đại hóa thay dây trần bằng cáp quang, tổng đài kỹ thuật số Thiết bị tín hiệu trong ga được trang bị loại ghi hộp khóa
Trang 11điện, đài khống chế tín hiệu đèn mầu Thiết bị tín hiệu khu gian dùng loại đóng đường bán tự động
Nhà máy toa xe Dĩ An là nơi đại tu và sản xuất toa xe khách và hàng Chí Hòa là ga khách kỹ thuật phục vụ cho ga khách Sài Gòn Trong đó, xí nghiệp đầu máy Sài Gòn là nơi vận dụng, bảo trì đầu máy diesel tàu khách, tàu hàng,
xí nghiệp toa xe khách Sài Gòn là nơi vận dụng và bảo trì toa xe khách, do mặt bằng chật hẹp nên phải sử dụng cả ga Sài Gòn để chứa xe
Đường sắt là phương thức vận chuyển khối lượng lớn, trước giải phóng đã từng chở công nhân đi làm tại các đô thị vệ tinh liền kề (khu công nghiệp Biên Hòa) Hiện nay, dịch vụ này không được thực hiện vì những nguyên nhân sau:
Đường sắt khu vực thành phố Hồ Chí Minh chưa tạo thành mạng; Chỉ có một tuyến đường sắt quốc gia Bắc - Nam còn các tuyến đường sắt cũ nối
ra các đô thị vệ tinh như Sài Gòn - Mỹ Tho, Sài Gòn - Lái Thiêu - Thủ Dầu Một - Lộc Ninh và Sài Gòn – Gò Vấp - Hóc Môn được xây dựng thời pháp thuộc bị phá hủy trong thời gian chiến tranh đến nay vẫn chưa được khôi phục
Tuyến đường sắt quốc gia Bắc-Nam vẫn chỉ là đường đơn; đoạn trong nội
thành bị giao cắt cùng mức với 14 đường phố tạo ra sự xung đột nguy hiểm với giao thông đường phố khi chạy tàu với tần xuất cao;
Trong ga đều là ke khách thấp lên xuống tàu khó khăn, thời gian bị kéo dài;
Chưa có toa xe thích hợp với việc vận chuyển khách đô thị;
Cự ly giữa các ga, trạm khách quá dài, không thuận tiện cho vận chuyển khách đô thị; Để chạy tàu nội-ngoại ô, cần bố trí trong nội thành khoảng 1-
2 km/trạm khách; ở ngoại thành khoảng 2-3km/trạm;
Hệ thống bán và soát vé chưa phù hợp: chưa trang bị máy bán vé tự động, chưa bán vé tháng, soát vé rườm rà;
Chưa nối mạng xe buýt ở các ga đầu, cuối để tổ chức vận chuyển khách
“từ cửa đến cửa” nên chưa thu hút được khách
1.1.1.3 Hệ thống vận tải công cộng
Trang 12Hồ Chí Minh như sau: phương tiện công cộng khoảng 3,2%, 96,8% còn lại là dùng phương tiện cá nhân trong đó chủ yếu là xe 2 bánh
nhưng hiện chưa có giao thông bánh sắt đô thị Năm 1976 toàn thành phố có khoảng 1000 xe buýt các loại đáp ứng 10% nhu cầu đi lại cho khoảng 3 triệu dân thành phố lúc đó Năm 2004 toàn thành phố có 2840 xe buýt các loại song chỉ đáp ứng 3,2% nhu cầu đi lại Điều này phản ánh sự suy giảm nghiêm trọng của vận tải hành khách công cộng Nguyên nhân chủ yếu là do kết cấu
hạ tầng không theo kịp với tốc độ phát triển kinh tế-xã hội và vận tải hành khách công cộng chưa được quan tâm một cách đúng mức
Mạng xe buýt hiện nay do 1 doanh nghiệp nhà nước (21% số xe), 1 doanh nghiệp liên doanh (2% số xe), 2 công ty TNHH (3% số xe) và 29 hợp tác xã (74% số xe) quản lý, điều hành Các doanh nghiệp này hoạt động dưới sự giám sát của trung tâm quản lý và điều hành vận tải hành khách công cộng
thuộc sở Giao thông công chính
Nhìn chung cách quản lý này chưa gắn chặt lợi nhuận kinh doanh với trách nhiệm phục vụ của doanh nghiệp cũng như chưa tạo được một cơ chế phối hợp hoạt động giữa các doanh nghiệp với nhau
Hệ thống xe buýt hiện chưa hình thành mạng liên hoàn, hầu hết các tuyến hoạt động đơn độc Vì vậy, việc chuyển tuyến gây bất tiện cho hành khách Cuối năm 2004 toàn thành phố có 144 tuyến xe buýt (gồm các tuyến xe buýt thử nghiệm, xe buýt thường, các tuyến đưa rước công nhân, học sinh, sinh viên) với tổng chiều dài các tuyến là 2.793 km, chiều dài bình quân của tuyến
là 19,4 km Nếu so với diện tích toàn thành phố là 2095 km2, mật độ tuyến là 1,3 km/km2; so với diện tích nội đô (là 494 km2 ) của 19 quận hiện nay thì mật độ mạng đạt trên 5 km/km2, cao hơn so với tiêu chuẩn để mạng xe buýt hoạt động có hiệu quả là 4 km/km2 Chỉ số phủ mạng xe buýt (chỉ tính các đường có lòng đường rộng từ 7m trở lên) là 1,15 km/km cho thấy có nhiều sự trùng lặp tuyến Ngoài ra, do có tới 35% mạng lưới đường rộng dưới 7m cũng làm giảm mức độ bao phủ thực tế của mạng, giảm hiệu quả khai thác
Năm 2002 toàn thành phố có 2100 xe buýt các loại, đến năm 2004 đã tăng lên 2840 xe, trong đó có 1400 xe buýt từ 26 đến trên 39 chỗ, 1440 xe còn lại
Trang 13Thành phần kinh tế Số đơn vị Phương tiện
Song song với việc tăng số lượng, chất lượng xe buýt cũng được cải thiện
nhiều so với năm 2002 Những xe buýt không đúng tiêu chuẩn theo Nghị định
92/CP đã được thay thế Dự án 1.300 xe do thành phố hỗ trợ lãi suất đã giúp
các đơn vị khai thác vận tải hành khách công cộng giảm được khó khăn trong
việc đổi mới, nâng cao chất lượng phương tiện
Vừa do cản trở của các phương tiện giao thông khác lưu thông trên cùng
làn, vừa do chưa đủ số đầu xe đáp ứng tiêu chuẩn kỹ thuật-an toàn, vừa do cơ
chế quản lý-điều hành chưa phù hợp nên các tuyến xe buýt không đảm bảo
được tần suất và thời gian chạy xe theo biểu đồ vận hành; việc trung chuyển
giữa các tuyến cũng chưa tiên lợi mà đây lại là những yếu tố sống còn của
giao thông công cộng
Giá vé xe buýt ở những tuyến do Nhà nước quản lý được đánh giá là rẻ so
với các phương tiện giao thông khác hiện có như: Taxi, xe máy, xích lô Yếu
tố này cũng đã giúp duy trì một số lượng ổn định hành khách đảm bảo hoạt
động tối thiểu của hệ thống
Nhận xét:
Hệ thống vận tải hành khách công cộng thành phố Hồ Chí Minh hiện
chưa hình thành và phát triển đồng bộ với quy mô dân số, thiếu hẳn hệ thống
vận chuyển bánh sắt Nguyên nhân chủ yếu là do kết cấu hạ tầng không theo
kịp với tốc độ phát triển kinh tế-xã hội và vận tải hành khách công cộng chưa
được quan tâm một cách đúng mức
Trang 141.1.2 Qui hoạch mạng lưới metro thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2020
Qui hoạch phát triển GTVT Thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2020 đã được Bộ Xây dựng thẩm định và trình Chính phủ phê duyệt (tờ trình số 44/TTr-BXD ngày 11/08/2006) Ngày 22/01/2007 Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt “Qui hoạch phát triển GTVT Thành phố Hồ Chí Minh đến năm
2020 và tầm nhìn sau năm 2020” tại quyết định số 101/QĐ-TTg
Theo đó dự án Đường sắt đô thị thành phố Hồ Chí Minh, tuyến Bến Thành - Suối Tiên là tuyến số 1 trong hệ thống 6 tuyến tàu điện ngầm (mêtro) của Tp.Hồ Chí Minh, bao gồm:
Tuyến số 1: Bến Thành - Suối Tiên
Trang 15Hình 1.1 Bản đồ qui hoạch mạng lưới Metro tại TP Hồ Chí Minh
Tuyến số 2: Bến xe Tây Ninh - Trường Chinh - Tham Lương - Cách mạng tháng Tám - Bến Thành - Thủ Thiêm
Tuyến số 3: Quốc lộ 13 - Bến xe miền Đông - Xô Viết Nghệ Tĩnh - Nguyễn Thị Minh Khai - Trần Phú - Hùng Vương - Hồng Bàng - Cây
Gõ
Tuyến số 4: Cầu Bến Cát - đường Thống Nhất - đường 26/3 - Nguyễn Oanh - Nguyễn Kiệm - Phan Đình Phùng - Hai Bà Trưng - Bến Thành - Nguyễn Thái Học - Khánh Hội - Lê Văn Lương - Nguyễn Văn Linh
Tuyến số 5: Bến xe Cần Giuộc mới - Quốc lộ 50 - Tùng Thiên Vương -
Lý Thường Kiệt - Hoàng Văn Thụ - Phan Đăng Lưu - Bạch Đằng - Điện Biên Phủ - cầu Sài Gòn
Tuyến số 6: Bà Quẹo - Âu Cơ - Luỹ Bán Bích - Tân Hoá - vòng xoay Phú Lâm
1.2 Tổng quan về các công nghệ thi công xây dựng đường hầm giao thông
đô thị
Có thể phân loại thi công xây dựng đường hầm theo hai nhóm phương pháp gồm nhóm phương pháp thi công lộ thiên, nhóm phương pháp thi đào kín/ngầm
1.2.1 Nhóm phương pháp thi công lộ thiên :
Nhóm các phương pháp thi công lộ thiên bao gồm các phương pháp sau đây:
Phương pháp đào hố móng
Phương pháp dùng vì kéo di động
Phương pháp thi công tường trong đất
Trang 16với hệ thống chống vách đến độ sâu cần thiết đặt hầm Sau đó tiến hành lắp đặt các cấu kiện BTCT định hình sẵn hoặc đổ bê tông toàn khối tại chỗ, xây dựng kết cấu chống thấm rồi lấp đất trở lại, khôi phục mặt đất tự nhiên hoặc xây dựng những công trình ngầm trên mặt đất như đường xá, vỉa hè… Để chống đỡ vách hố móng thẳng đứng dùng cọc cừ hoặc cọc cừ kết hợp với neo Phương pháp thi công dùng hố móng đặc trưng bằng việc cơ giới hóa cao quá trình thi công, cho khả năng áp dụng các kết cấu kiểu công nghiệp hóa, các máy làm đất và các thiết bị nâng hạ có công suất lớn Tuy nhiên trong điều kiện thành phố có công trình xây dựng dày đặc, mật độ giao thông lớn không phải lúc nào cũng áp dụng phương pháp cũng có hiệu quả Việc đào các hố móng rộng kéo dài trên đoạn 100m-150m sẽ dẫn đến phá hoại giao thông đường phố trong suốt thời kỳ xây dựng, gây khó khăn cho cuộc sống bình thường của đô thị Khi thi công hầm bằng phương pháp hố móng thường đòi hỏi chi phí lớn về kim loại, gỗ gia cố tạm Ví dụ để gia cố hố móng sâu 6 -
b Phương pháp dùng vì kéo di động
Để cơ giới hóa tối đa công tác đào, xúc đất và xây dựng vỏ hầm trong điều kiện thành phố có thể sử dụng vì chống di động bằng kim loại có tiết diện hở Vì chống di chuyển bằng cách đẩy kích khiên lên vỏ hầm lắp ghép (hoặc vách đào) phía sau.Việc sử dụng vì chống di động cho phép:
Không cần sử dụng vì chống tạm và giảm nhẹ khó khăn khi xây dựng vì chống tạm
Giảm khối lượng công tác đất khi đào hố móng và lấp trở lại sau khi xây dựng xong kết cấu (do giảm khe hở thi công giữa kết cấu và vách hố móng)
Giảm chiều dài của đoạn thi công có phá hoại do điều kiện bề mặt xuống đến 30-40m
Nâng cao mức độ cơ giới hóa, giảm khó khăn trong thi công
Nâng cao tốc độ xây dựng hầm
Giảm tiếng ồn và chấn động
Trang 17 Giảm nguy hiểm do chuyển vị, biến dạng bề mặt, nhà cửa và những công trình dọc theo tuyến hầm
Việc thi công có sử dụng vì chống di động có thể tiến hành trong bất cứ loại đất không cứng nào, loại trừ bùn và cát chảy Khi có mực nước ngầm cao phương pháp này cũng có thể áp dụng cùng với việc hạ mực nước ngầm nhân tạo
c Phương pháp tường trong đất
Khi bố trí công trình ngầm đặt nông, gần các công trình nhà cửa cũng như trong điều kiện giao thông thành phố dày đặc có thể áp dụng phương pháp tường trong đất
Đầu tiên ở những chỗ sẽ xây dựng tường của công trình ngầm, người ta đào hào và gia cố nó theo từng bước, rộng 0,6 - 0,8m, sâu đến 18 - 20m trong
đó sẽ xây dựng kết cấu tường của công trình ngầm Sau đó tiến hành đào hố móng đến cao độ nóc công trình rồi đặt tấm trần đã xây xong được bảo vệ bằng phòng nước rồi lấp đất trở lại, khôi phục các công trình trên mặt đất như mặt đường, vỉa hè Dưới sự bảo vệ của tường và trần đã tiến hành đào đất trong lõi, xây dựng tấm đáy và các vách ngăn …
Việc xây dựng các kết cấu tường công trình ngầm có thể từ BTCT toàn khối hoặc áp dụng công nghệ tường lắp ghép trong đất tạo điểu kiện giảm bớt khối lượng công tác đất, giảm chi phí bê tông cốt thép, tiết kiệm thời gian và giá thành xây dựng
Phương pháp tường trong đất có ưu điểm hơn phương pháp hố móng là không đòi hỏi dùng tường cừ, đảm bảo ổn định cho nhà cửa và các công trình bên cạnh Phương pháp này có thể áp dụng trong đất không cứng dạng bất kỳ (kể cả đất rời lẫn đất sét chặt) trừ loại đất bùn chảy, đất có lỗ rỗng lớn hoặc có kaster
Phương pháp này có hiệu quả nhất khi chiều sâu hố đào lớn hơn 5 - 6m
Trang 18trong các vùng có chứa nước sâu 6- 40m và nó đặc biệt có hiệu quả khi xây
dựng hầm trong môi trường đất có phát sinh tình trạng cát chảy, bùn chảy
hoặc khi làm đường xe điện, ôtô điện qua đáy sông, hồ
Về nguyên tắc phương pháp này cũng thuộc quy trình thi công đào lộ
thiên rồi lấp phủ nhưng để tăng tốc độ làm kết cấu vỏ hầm, hạn chế biến dạng,
lún sụt đất ở hai bên tuyến hầm và giảm ảnh hưởng của nước ngầm đối với
thời gian xây dựng và chất lượng kết cấu vỏ hầm, người ta đúc sẵn những
khoang hầm bằng BTCT rồi dùng hệ thống thiết bị chuyên dùng hạ xuống hố
đào
Phương pháp hạ đoạn đã được các nước trên thế giới áp dụng nhiều
Trong tương lai ở Việt Nam có thể áp dụng để thi công Metro qua sông Hồng
hoặc những công trình ngầm qua những nơi có chiều sâu nước ngầm lớn, đất
yếu không ổn định Gần đây nhất là dự án vượt sông Sài Gòn bằng đường
hầm Hàm Nghi qua Thủ Thiêm do công ty Anh Quốc Maunsell thiết kế đã áp
dụng phương pháp hạ đoạn để thi công phần hầm qua sông
1.2.2 Nhóm phương pháp thi công kín/ngầm
Các phương pháp thi công ngầm bao gồm: phương pháp đào thông
thường (NATM, chống trước đào sau, v.v…) và phương pháp đào bằng máy
(khiên đào, kích ép)
Nói chung, ngày nay, các phương pháp thi công ngầm có thể áp dụng
thi công trong điều kiện khối đất và ở độ sâu bất kỳ Phương pháp đào
ngầm có một số nhược điểm chung là không gian thi công hạn chế, các
công tác phụ phục vụ thi công phức tạp, nguy cơ rủi ro cao, chi phí thi
công và giá thành xây dựng lớn hơn so với các phương án thi công lộ
thiên Tuy nhiên, với phương pháp lộ thiên, khi độ sâu công trình ngầm
càng tăng, giá thành xây dựng càng lớn Trung bình khi độ sâu công
trình ngầm tăng 1m thì giá thành tăng khoảng 5 - 15% Vì vậy, các
phương pháp thi công ngầm bắt buộc phải được áp dụng trong các
trường hợp: khi CTN xây dựng trong khu vực không cho phép giải tỏa
bề mặt hoặc công trình ngầm đặt ở độ sâu lớn làm tăng giá thành thi
công theo phương pháp lộ thiên
1.3 Giới thiệu về công nghệ đào hầm và công nghệ TBM Formatted: List Paragraph, Space Before: 6 pt, Outlinenumbered + Level: 3 + Numbering Style: 1, 2, 3, … + Start
Trang 19Hầm là công trình được xây dựng trong lòng đất hoặc dưới
nay việc sử dụng công trình hầm rất phổ biến trên thế giới trong nhiều lĩnh
vực khác nhau của nền kinh tế, tuỳ theo mục đích sử dụng, phạm vi và
phương pháp xây dựng ta có những loại hầm thích hợp
Thời thượng cổ con người đã biết đào các hầm ngầm đặc biệt để khai thác
quặng mỏ và than đá Người La Mã đã xây dựng các đường hầm ngầm thủy
lợi đến nay vẫn còn tốt Gắn liền với sự phát triển, của thiết bị và phương tiện
sản xuất, con đường hầm hiện đại đầu tiên là đường hầm Malpas qua kênh
đào Midi dài 173m được xây dựng ở Pháp vào năm 1679 – 1681 Đường hầm
càng phát triển khi vận chuyển đường sắt càng phát triển để vượt qua các
chướng ngại vật như núi, đèo
Vào thế kỉ XX ở các thủ đô lớn trên thế giới đã xây dựng mạng lưới tàu điện
ngầm đô thị hiện đại, đặc biệt là ở Maxcơva
Một số đường hầm tiêu biểu trên thế giới qua các thời kỳ như sau:
· Năm 1826–1830 xây dựng đường hầm đường sắt dài 119m ở Anh
· Năm 1935 xây dựng đường tàu điện ngầm ở Matxocova
· Năm 1857–1871 xây dựng đường hầm Monxenis dài 12.8km nối Pháp và Ý
· Năm 1872 – 1882 đường hầm Xen–Gotan dài 14482m nối Ý với Thụy Sỹ
· Đường hầm ôtô dài nhất là Xen-gatarskui l = 16320 xây dựng xong 1980
· Năm 1982 ở Nhật xây dựng xong đường hầm Dai –Shimizu dài 22 km
· Năm 1988, sau 20 năm, xây dựng đã hoàn thành con đường hầm đường sắt
Sei-kan dưới biển nối liền hai hòn đảo ở Nhật dài 53,85 km trong đó 23,3km
nằm cách dưới đáy biển 100m, đây là con đường hầm dài nhất thế giới hiện
nay
· Đến tháng 1-1988 chiều dài đường hầm Matxcơva là 224 km với 135
ga(bến) Năm 2005, hệ thống xe điện ngầm của Nga kỷ niệm 70 năm thành
Formatted: Space Before: 6 pt, Adjust space between Latin
and Asian text, Adjust space between Asian text and numbers
Trang 20năm 1994 Công trình được đánh giá là kỳ quan kỹ thuật ngầm giữa Anh và
Pháp
· Năm 1995 trung Quốc đã xây dựng hầm đường bộ Tần Lĩnh dài 19,45km đã
tạo một bước đột phá mới về kĩ thuật xây dựng đường hầm
Tại Việt nam, trước Cách mạng Tháng Tám 1945, năm 1930 có xây
dựng hầm giao thông thủy Rú Cóc (ở xã Nam Sơn huyện Anh Sơn tỉnh Nghệ
sang hạ lưu sông Lam để tránh đi qua đập nước Đô Lương Ngành đường sắt
có một số hầm ngầm ở miền Trung, điển hình là hầm Phước Tượng trên đèo
Hải Vân thuộc Thừa Thiên Huế
Trong chiến tranh chống Pháp, chống Mỹ hầm được xây dựng nhiều song chủ
yếu là hầm ngắn, nhằm phục vụ quốc phòng làm kho tàng, công sự…
Trong chiến tranh chống Pháp, chống Mỹ hầm được xây dựng nhiều
song chủ
yếu là hầm ngắn, nhằm phục vụ quốc phòng làm kho tàng, công sự…
Sau ngày thống nhất đất nước 1975, đầu tiên xây dựng hầm Dốc Xây trên
QL1A
ở phía Nam tỉnh Ninh Bình dài khoảng 100m
Tháng 5/2002 Việt Nam đã khánh thành hầm Aroàng I trên đường Hồ Chí
Minh
dài 453m và tiếp tục xây dựng hầm Aroàng II
Hầm đường bộ đèo Hải Vân khẩu độ 12,85m cao 11m dài hơn 6,7km
khánh thành vào ngày 02/06/2005 là một trong những dự án giao thông quan
trọng áp dụng khoa học công nghệ tiên tiến của nước ta trong công cuộc xây
Chiều dài của hầm là 1.490m, gồm phần dìm dài 370m, phần hầm đào
lấp 680m và đường dẫn hai đầu hầm 540m Tiết diện hữu dụng của hầm đủ để
bố trí sáu làn xe và hai đường thoát hiểm hai bên rộng 2x2m cùng các thiết bị
Formatted: Space Before: 6 pt, Don't adjust space between
Latin and Asian text, Don't adjust space between Asian text and numbers
Formatted: Font: (Default) Times New Roman, 14 pt
Formatted: Font: (Default) Times New Roman, 14 pt
Formatted: Justified, Indent: First line: 0.5", Space Before:
6 pt
Formatted: Space Before: 6 pt, Don't adjust space between
Latin and Asian text, Don't adjust space between Asian text and numbers
Formatted: Indent: First line: 0.5", Space Before: 6 pt,
Don't adjust space between Latin and Asian text, Don't adjust space between Asian text and numbers
Formatted: Font: (Default) Times New Roman, 14 pt
Trang 21thông tin liên lạc, thông gió, chiếu sáng, thoát nước đảm bảo an toàn cho
các phương tiện xe cơ giới, kể cả xe gắn máy lưu thông theo tốc độ thiết kế
Lĩnh vực khoan hầm đã có một lịch sử phát triển lâu đời, và vào những
năm cuối thế kỷ 20 công nghệ thi công hầm đã có một bước phát triển nhảy
vọt khi máy khoan hầm toàn tiết diện TBM (Tunnel Boring Machine) ra đời
và được sử dụng rộng rãi
Đường hầm thi công theo phương pháp khiên đào đầu tiên do ông Marc
năm 1825 (mặc dù vậy đến năm 1943 đường hầm mới được mở) Brunel được
cho là đã lấy cảm hứng từ hình ảnh con hà Teredo navalis, một loài động vật
thân mềm rất có hiệu quả trong việc đào ăn qua gỗ chìm trong nước mà ông ta
quan sát được khi làm việc tại xưởng đóng tàu Khiên đào do Maudslay, Sons
& Field, của Lambeth,London chế tạo, cũng là người đã chế tạo ra máy bơm
hơi nước để thoát nước đường hầm
Hình 1.2 Khiên bản quyền của Brunel (1860)
Brunel lần đầu tiên dùng kết cấu chắn này trên công trình đường hầm ở
sông Thames Luân Đôn Cỗ máy khiên hình chữ nhật có diện tích
Formatted: Font: (Default) Times New Roman, 14 pt Formatted: Justified, Space Before: 6 pt, Line spacing:
Multiple 1.15 li
Formatted: Centered, Space Before: 6 pt, Line spacing:
Multiple 1.15 li
Formatted: Justified, Space Before: 6 pt, Line spacing:
Multiple 1.15 li, Tab stops: Not at 2.08"
Trang 22Trong thời gian đầu của phương pháp khiên, khiên đào có chức năng
bảo vệ cho các lao động thủ công làm công tác đào hầm, dần dần phát triển
thay thế bằng các đốt tường hầm chế tạo sẵn Khiên đào cũng đã được chia
thành các mặt thi công với các phần chồng lên nhau để mỗi công nhân có thể
đào một cách thuận tiện nhất
Hình 1.3 Phương pháp khiên đào áp dụng cho hầm qua sông Thames (Anh)
Thiết kế ban đầu của Brunel về căn bản đã được Peter W Barlow cải tiến
trong quá trình thi công đường ngầm Tower dưới sông Thames ở trung tâm
London năm 1870 Có lẽ cải tiến quan trọng nhất mang tính quyết định trong
thiết kế của Barlow là nó có tiết diện hình tròn (không giống như của Brunel
có tiết diện hình chữ nhật) làm cho việc thi công đơn giản hơn và có khả năng
chống đỡ tốt hơn trọng lượng đất xung quanh
Năm 1869, công trình sư Janes Heary Grethead dùng kết cấu khiên hình tròn
lại một lần nữa xây dựng đường hầm dưới lòng sông Thames, lớp vỏ hầm lần
đầu tiên dùng ống gang Chiều dài đường hầm dài 402m, đường kính ngoài
2.18m, đường hầm về cơ bản đào trong vùng đất sét Cho nên về mặt khống
chế nước ngầm không gặp khó khăn gì, kết cấu khiên ống tròn trở thành dạng
hình phổ biến cho các khiên sau này.Năm 1874, Greathead phát hiện trong
tầng địa chất tính thẩm thấu mạnh rất khó sử dụng khí nén đỡ bề mặt của
đường hầm, do đó lại sử dụng kết cấu chắn có thể lỏng chống đỡ bề mặt làm
việc của hầm Dùng dòng chảy lỏng với hình thức vữa bùn để thải đất
Formatted: Justified, Space Before: 6 pt, Line spacing:
Multiple 1.15 li
Formatted: Justified, Indent: First line: 0", Space Before: 6
pt, Line spacing: Multiple 1.15 li, Tab stops: Not at 2.08"
Formatted: Font: (Default) Times New Roman, 14 pt
Trang 23Hình 1.4.Phương pháp khiên đào chia gương
Năm 1886, Greathead khi thi công đường ngầm ở Luân Đôn đã sử dụng
kết hợp giải pháp khí nén với kết cấu khiên đào Thi công trong điều kiện khí
nén đã làm nên một tiến bộ to lớn trong việc đào đường hầm trong tầng chịu
áp lực nước, đã lấp được lỗ hỗng trong thi công hầm trên phạm vi thế giới số
lượng sử dụng phương pháp đào bằng kết cấu khiên tăng lên nhanh chóng
Thiết kế của Barlow đã được James Henry Greathead mở rộng và cải
tiến thêm để xây dựng City & South London railway (ngày nay là một phần
của tuyến đường ngầm phía Bắc London) vào năm 1884 Cho tới ngày nay,
hầu hết các khiên đào vẫn dựa theo khiên của Greathead một cách chặt chẽ
Một tiến bộ kỹ thuật khác của phương pháp khiên sau khi Brunel phát minh là
đã dùng máy móc đào thay cho nhân công Bản quyền khiên về cơ giới hóa
đầu tiên được công nhận năm 1876 cho John Dickinson Bruton và George
Brunton người Anh Cỗ máy khiên này có mâm dao xoay hình nửa quả cầu do
một số tấm tạo thành, đất đào ra rơi vào trong gầu hướng tâm trên mâm dao
Gầu đưa vật liệu vào băng chuyền chuyển về phía sau khiên rồi vận chuyển
đi
Năm 1896, Price xin đăng ký bản quyền Năm 1897, cỗ máy này đã
được sử dụng thành công ở tầng đất sét Luân Đôn, lần đầu tiên nó tổ hợp 2
loại kết cấu khiên Greathead và kết cấu khiên mâm dao xoay Bánh xe cắt
được tổ hợp từ 4 cánh nan hoa trên đó có lắp công cụ cắt và gọt Trên bánh
Formatted: Font: 14 pt, Not Italic Formatted: Justified, Space Before: 6 pt, Line spacing:
Multiple 1.15 li, Tab stops: Not at 2.08"
Formatted: Font: (Default) Times New Roman, 14 pt
Formatted: Font: (Default) Times New Roman, 14 pt
Trang 24Hình 1.5 Ổn định mặt gương đào bằng bentonit
Lĩnh vực khoan hầm đã có nhiều bước tiến dài, và vào những năm cuối
thế kỷ 20 công nghệ thi công hầm đã có một bước phát triển nhảy vọt khi máy
khoan hầm toàn tiết diện TBM (Tunnel Boring Machine) ra đời và được sử
dụng rộng rãi
Vào đầu thế kỉ XX, phương pháp thi công bằng khiên đã được đẩy
mạnh ở các nước Mĩ, Anh, Đức, Liên Xô, Pháp Chỉ trong thập kỉ 30-40 tại
các nước ấy đã dùng khiên xây dựng nhiều tuyến đường hầm Metro, đường
hầm ô tô qua sông với đường kính từ 3.0-9.5m
Năm 1960, Schneidereit đề ra dùng vữa sét bentonite để đỡ bề mặt
công tác
Năm 1963, lần đầu tiên công ty Sato Kogyo Nhật Bản đã phát minh ra
khiên cân bằng áp lực đất
Formatted: Font: 14 pt, Not Italic
Formatted: Justified, Indent: First line: 0", Space Before: 6
pt
Formatted: Justified, Space Before: 6 pt, Don't adjust space
between Latin and Asian text, Don't adjust space between Asian text and numbers
Trang 25Hình 1.6 Khiên cân bằng áp lực đất
Lúc bấy giờ công ty Sato Kogyo đang tìm phương pháp đào hầm trong
lớp đất mềm xốp dưới mực nước ngầm Do máy đào khiên khí nén và dung
dịch vữa đã sử dụng thành công ở Nhật Bản, việc phát minh ra khiên cân bằng
áp lực đất làm người ta rất kinh ngạc Phát minh ra khiên cân bằng áp lực đất
là vì ở Nhật Bản trong nhiều thành phố lớn có quy định và pháp luật nghiêm
ngặt đối với môi trường Cho đến nay kỹ thuật đường hầm khiên đào được
phát triển vượt bậc ở Nhật Bản và Nhật Bản đã chế tạo hơn 2000 cỗ máy
khiên đào và trình độ kỹ thuật hầm khiên đứng vào hàng đầu thế giới
Tháng 5-1987 công trình đường hầm eo biển Anh – Pháp khởi công, cự
ly tim hai hầm đường sắt là 30m, đường kính trong hầm là 7.6m, đường kính
trong của đường hầm bổ trợ trung gian là 4.8m Đường hầm xuyên qua chỗ
hẹp nhất của eo biển Cự ly giữa phía bắc núi Castle của vùng Folkestone
nước Anh đến Coquelles của Pháp là 50.5km có gần 37km đường hầm hoàn
toàn nằm dưới đáy eo biển
Hình 1.7 khiên thi công nhiều tim
Thi công tuyến đường hầm này đã dùng tổng cộng 11 máy khiên Bên phía
Pháp dùng 5, Anh dùng 6 cỗ máy Sai số của khiên đào đường hầm phụ trợ
chỉ có 350mm (chiều ngang) và 60mm (chiều đứng) Công trình đường hầm
này hoàn thành vào giữa năm 1991
Năm 1989, công trình đường hầm dùng khiên dung dịch vữa lớn nhất của
Formatted: Justified, Space Before: 6 pt, Don't adjust space
between Latin and Asian text, Don't adjust space between Asian text and numbers
Formatted: Font: (Default) Times New Roman, 14 pt
Formatted: Font: (Default) Times New Roman, 14 pt
Formatted: Font: (Default) Times New Roman, 14 pt
Formatted: Justified, Indent: First line: 0", Space Before: 6
pt, Don't adjust space between Latin and Asian text, Don't adjust space between Asian text and numbers
Formatted: Justified, Space Before: 6 pt, Line spacing:
Multiple 1.15 li
Trang 26tuyến số 7 đường sắt ngầm dài 107m ở thành phố Osaka Tháng 11 trong năm
hoàn thành và sử dụng
Tháng 11-2001, đường hầm lớn nhất thế giới Groene Hart bắt đầu đào,
là nhánh của đường sắt cao tốc Lu than – A-mi-cithan : nó xuyên qua một
vùng thiên nhiên xanh, lưới sông ngòi dày đặc, xe cộ qua lại nhộn nhịp, tổng
chiều dài là 7156.018m, đường kính ngoài là 14.3m, đường kính trong là
13.3m, bề dày tấm vỏ hầm 0.6m Dùng khiên cân bằng vữa sét đường kính
14.87m thi công, đây là cỗ máy lớn nhất trong lịch sử
Tài liệu ghi chép tiến độ thi công : ngày tốt nhất là 22m, tuần tốt nhất
(7 ngày) là 118m, liên tục tốt nhất là 4 tuần với 438m
Thiết bị đào hầm TBM thời điểm này không còn là một thiết bị đơn lẻ
mà thực sự có thể ví như một công xưởng sản xuất Thiết bị TBM loại nhỏ có
đường kính 5m có tổng trọng lượng lên tới 720 tấn và có tổng chiều dài
140m Máy khoan TBM lớn nhất được chế tạo năm 2005 có đường kính lên
đến 15m được sử dụng cho dự án ngầm ở Marid ( Tây Ban Nha)
1.3.2 Cấu tạo của khiên :
Có rất nhiều chủng loại khiên, xét về công năng của khiên trong thi
công thì cấu tạo cơ bản như sau
Hình 1.8 chi tiết khiên đào
(1) động cơ điện dùng cho mâm dao, (2) vít tải, (3) động cơ điện dùng
cho vít tải, (4)băng chuyền, (5) kích của van, (6) máy lắp tấm ống hầm, (7)
giá đỡ mâm dao, (8) tấmngăn cách, (9) cửa ra vào khẩn cấp
1.3.2.1 Vỏ khiên : Gồm 3 bộ phận
Formatted: Justified, Indent: First line: 0.5", Space Before:
6 pt, Line spacing: Multiple 1.15 li
Formatted: Font: (Default) Times New Roman, 14 pt
Formatted: Justified, Space Before: 6 pt, Don't adjust space
between Latin and Asian text, Don't adjust space between Asian text and numbers
Formatted: Font: 14 pt
Formatted: List Paragraph, Justified, Space Before: 6 pt,
Trang 27Vành miệng cắt : là bộ phận đào và chặn đất, nằm ở đầu mút phía trước khiên,
khi thi công, đầu tiên cắt chui vào đất và yểm hộ cho công tác đào
Một phần vành miệng cắt tại phía trước có gắn miệng lưỡi để giảm bớt rung
động địa tầng khi khoan Vành miệng cắt đảm bảo sự ổn định của bề mặt
công tác và làm đường thông cho đất cát sau khi được khoan đào vận chuyển
ra phía sau Do đó khi dùng khiên kiểu đào cơ giới, áp lực đất, dung dịch vữa
áp lực, cần căn cứ vào trạng thái đất, cát đào ra mà định
Trong khiên có khí nén cục bộ, dung dịch vữa áp lực, cân bằng áp lực đất, do
áp lực trong miệng cắt cao hơn áp lực thông thường trong hầm Cho nên ở
vành miệng cắt còn cần đặt bản ngăn kín và cửa ván ra vào cho người
Formatted: Justified, Space Before: 6 pt, Line spacing:
Multiple 1.15 li
Formatted: Justified, Indent: First line: 0", Space Before: 6
pt, Don't adjust space between Latin and Asian text, Don't adjust space between Asian text and numbers
Formatted: Font: (Default) Times New Roman, 14 pt
Trang 28thông thường là kết cấu hình tròn có độ cứng rất tốt Áp lực địa tầng, toàn bộ
phản lực của kích và lực cản miệng cắt tiến vào đất mặt trước, tải trọng lắp
ráp vỏ hầm đều do vòng đỡ chịu đựng Phía ngoài vòng đỡ có lắp kích khiên,
khoảng giữa có lắp đặt máy lắp ráp và thiết bị thủy lực, thiết bị động lực, sàn
thao tác điều khiển Khi áp lực vòng miệng cắt lớn lhơn áp lực bình thường,
trong vòng đỡ cần bố trí khoang người đi tăng, giảm áp
Đuôi khiên : thường cấu thành bởi tấm thép vỏ ngoài khiên kéo dài, chủ yếu
dùng để bảo vệ cho công tác lắp ghép các tấm vỏ hầm Cuối đoạn đuôi khiên
có trang bị làm kín, để ngăn nước, đất và vật liệu bơm vào trong khiên từ
khoảng giữa của đuôi khiên và vỏ hầm Khi trang bị làm kín đuôi khiên bị hư
hỏng hoặc mất tác dụng trong lúc đang thi công cần phải thỏa mãn các hạng
mục công việc nói trên
Hình 1.10 Thiết bị bịt kín sau đuôi khiên
1 Phiến ống vỏ hầm; 2 Đuôi khiên; 3 Tấm thép; 4 Cao su tổng hợp;
5 Cao su cloropren; 6 Keo bọt; 7 Cao su ammonium
Cơ cấu đẩy tiến khiên :
Động lực đẩy tiến của khiên khi đào dựa vào cơ cấu đẩy tiến được tạo thành
bởi hệ thống thủy lực dẫn động nhiều kích cùng làm việc
Máy lắp ghép tấm ống :
Máy lắp ghép tấm ống thường dùng thủy lực làm động lực, để có lắp ghép
tấm ống vỏ hầm vào vị trí cần thiết một cách an toàn, nhanh chóng, máy lắp
ghép sau khi đã kẹp lấy tấm ống lên còn phải có khả năng đưa ra kéo vào theo
đường kính, dịch ngang trước sau và quay 360o
Bộ đảm bảo độ tròn :
Formatted: Justified, Space Before: 6 pt, Don't adjust space
between Latin and Asian text, Don't adjust space between Asian text and numbers
Formatted: Font: 14 pt, Not Bold, Italic
Formatted: Font: 14 pt, Italic Formatted: Justified, Space Before: 6 pt, Line spacing:
Formatted: Justified, Space Before: 6 pt, Don't adjust space
between Latin and Asian text, Don't adjust space between Asian text and numbers
Formatted: Font: (Default) Times New Roman, 14 pt Formatted: Font: 14 pt
Formatted: Justified, Space Before: 6 pt, Line spacing:
Trang 29Khi khiên tiến về phía trước, ống vỏ hầm thoát ra khỏi đuôi kiên, dưới tác
dụng của tự trọng và áp lực đất sẽ sinh ra biến dạng Khi lượng biến dạng này
rất lớn thì phần ống đã ghép xong và phần ống đang lắp ghép sẽ sinh ra cao
thấp khác nhau làm cho việc lắp bulông hướng dọc sẽ khó khăn
Để khắc phục hiện tượng ống ghép có cao độ không bằng nhau, cần phải làm
cho ống ghép đảm bảo độ tròn, thiết bị làm việc này là bộ đảm bảo độ tròn
Phía trên và dưới có giá đỡhình vòng cung, giá này trên dầm rút ra khỏi thân
xe động lực là có thể trượt được Khi một vành ống ghép xong thì đưa bộ đảm
bảo độ tròn đến chỗ đó, kích trên cột đỡ sẽ làm cho mặt cung của giá đỡ ép sát
vào mặt tấm ống, sau đó khiên có thể tiến về phía trước Sau khi khiên tiến
lên, dưới tác dụng của bộ đảm bảo độ tròn, vành tròn không dễ sinh ra biến
dạng mà đảm bảo trạng thái tròn
Hình 1.11 Máy lắp ráp hình vành tròn
1 Mâm quay; 2 Bánh quay che chống; 3 Cánh tay co duỗi hướng đường
kính;
4 Cánh tay co duỗi dọc hướng; 5 Cánh tay nâng; 6 Móc cẩu; 7 Khối cân
Formatted: Font: (Default) Times New Roman, 14 pt Formatted: Justified, Space Before: 6 pt, Don't adjust space
between Latin and Asian text, Don't adjust space between Asian text and numbers
Formatted: Font: (Default) Times New Roman, 14 pt Formatted: Font: (Default) Times New Roman, 14 pt
Formatted: Font: (Default) Times New Roman, 14 pt
Formatted: Justified, Space Before: 6 pt, Line spacing:
Multiple 1.15 li
Trang 30Hình 1.12 Tổ hợp TBM
Thiết bị vận chuyển: thông thường là hệ băng tải kết hợp xe goòng Đất đá vụn từ máng trượt đổ vào băng tải rồi chuyển lên các xe goòng để đưa ra khỏi đường hầm
Khung máy: là kết cấu thép chịu lực, các thiết bị đều được lắp đặt trên khung máy
Thiết bị di chuyển máy: Là hệ thống các xi lanh thuỷ lực cỡ lớn Khi máy di chuyển, các chân đỡ máy co vào, xi lanh thuỷ lực tỳ vào thành vỏ hầm phía sau đẩy toàn bộ máy tiến về phía trước
Nguồn động lực: bao gồm nhiều động cơ điện có công suất lớn cung cấp năng lượng cho các cơ cấu khác nhau của máy
Thiết bị nâng: ở phía sau khung máy Sau khi máy tiến lên phía trước, thiết bị này sẽ tiến hành lắp vỏ hầm ngay sau đó
Thiết bị điều khiển: đặt trong buồng lái ở trung tâm của máy sẽ điều khiển tất
cả các chức năng bao gồm cả tốc độ và hướng đào Các camera sẽ cung cấp đầy đủ cho người lái tình hình hoạt động của máy
Thiết bị phụ: Cung cấp nước, khí nén, chiếu sáng … cho tổ hợp máy TBM
Trang 31khiển có đầy đủ thông tin về điều kiện địa chất trước khi điều khiển máy
khoan TBM làm việc
Khoan hầm toàn tiết diện sử dụng thiết bị TBM mang lại hiệu quả cao, đáp
ứng được các yêu cầu về môi trường và đảm bảo an toàn cho công nhân Khi
sử dụng thiết bị TBM sẽ tiết kệm hơn các phương pháp khoan nổ thông
thường cả về thời gian lẫn chi phí
Đặc biệt TBM không làm phá vỡ cấu trúc lớp đất xung quanh nên có thể sử
dụng lớp đất này kết hợp với vỏ hầm để tăng khả năng chịu lực Chính vì vậy
máy khoan TBM rất thích hợp cho thi công các hầm trong thành phố, đô thị
Tuy nhiên, giá thành một tổ hợp máy TBM là không rẻ, và di chuyển máy
Hình 1.13 Máy TBM đường kính lớn ở Nhật Bản Formatted: Font: 14 pt, Italic
Trang 33Hình 1.14 khiên đào TBM ở Đức
Hình 1.15 Khiên đào chữ nhật
Trang 34Hình 1.16 Khiên đào kiểu ngang
Hình 1.17 Giếng đứng bố trí lắp đặt máy đào TBM
Trang 35Hình 1.18.ảnh mô tả hoạt động của máy đào TBM
Hình 1.19 khiên hầm đôi
Trang 36Thành phố Hồ Chí Minh nằm trong khu vực có mật độ xây dựng trên
mặt cao, điều kiện địa chất yếu, mặt bằng thi công chật hẹp với mật độ dân cư
dày đặc Việc xây dựng hầm bằng các phương pháp đào lộ thiên rất khó khả
thi do chúng gây các ảnh hưởng đến công trình lân cận và công tác giải phóng
mặt bằng rất phức tạp Phương pháp truyền thống không thể đáp ứng được
tiến độ đặt ra Trong các phương pháp đào hầm thì thi công bằng cơ giới
(TBM, SM) đang được phát triển mạnh, đặc biệt là thiết bị khiên đào hay
TBM trong nền đất yếu Đây chính là các công nghệ đào hầm tiên tiến có khả
năng áp dụng rộng rãi trong xây dựng hầm và công trình ngầm đô thị, đặc biệt
là qua những nơi có đặc điểm địa chất tương đối yếu và những vị trí không
thể xây dựng lộ thiên ở các đô thị lớn
đường hầm metro phụ thuộc vào phương pháp và công nghệ thi công Với
cũng khác nhau
Vì vậy cần nghiên cứu cơ sở lý thuyết lựa chọn phương pháp tính toán
biến dạng lún bề mặt khi thi công đường hầm metro bằng máy đào tổ hợp
TBM ở khu vực thành phố Hồ Chí Minh
Formatted: Justified, Indent: First line: 0.5", Space Before:
6 pt, After: 0 pt
Trang 37Chương II Các điều kiện tự nhiên – xã hội và việc xây dựng các tuyến
Metro ở thành phố Hồ Chí Minh
2.1 Khái quát
2.2 Giới thiệu các dự án xây dựng các tuyến Metro ở thành phố Hồ
Chí Minh
2.2.1 Tuyến Metro số 01 – Bến Thành – Suối Tiên
Hình 2.1 Bình đồ tuyến metro số 1, Bến Thành – Suối Tiên
2.2.2 Tuyến Metro số 02 – Bến Thành – Tham Lương
2.3 Các điều kiện tự nhiên khu vực thành phố Hồ Chí Minh
Trong khuôn khổ giới hạn thời gian và phạm vi luận văn thạc sĩ, tác giả thu
thập các số liệu địa chất, thủy văn, khí hậu…của khu vực thành phố Hồ Chí
Minh thông qua các báo cáo khảo sát của một số dự án có số liệu thí nghiệm
đầy đủ và có độ tin cậy cao để đưa vào nghiên cứu như :
- Tuyến metro số 01, Bến Thành – Suối Tiên
- Tuyến metro số 02, Bến Thành – Tham Lương
Formatted: Font: Italic Formatted: Font: (Default) Times New Roman Formatted: Font: (Default) Times New Roman Formatted: Font: (Default) Times New Roman Formatted: Font: (Default) Times New Roman Formatted: Font: (Default) Times New Roman Formatted: Font: (Default) Times New Roman Formatted: Font: (Default) Times New Roman Formatted: Font: (Default) Times New Roman Formatted: Font: (Default) Times New Roman Formatted: Font: (Default) Times New Roman Formatted: Font: (Default) Times New Roman Formatted: Font: (Default) Times New Roman Formatted: Font: (Default) Times New Roman Formatted: Font: (Default) Times New Roman Formatted: Font: (Default) Times New Roman Formatted: Font: (Default) Times New Roman Formatted: Font: (Default) Times New Roman Formatted: Font: (Default) Times New Roman Formatted: Font: (Default) Times New Roman Formatted: Font: (Default) Times New Roman Formatted: Font: (Default) Times New Roman Formatted: Font: (Default) Times New Roman Formatted: Font: (Default) Times New Roman Formatted: Font: (Default) Times New Roman Formatted: Font: (Default) Times New Roman Formatted: Font: (Default) Times New Roman Formatted: Font: (Default) Times New Roman Formatted: Font: (Default) Times New Roman
Trang 382.2.3.2.3.1 Đặc điểm khí hậu:
Nằm trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, điều kiện khí tượng thuỷ văn trong khu vực mang các nét đặc trưng khí hậu vùng nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, hàng năm có hai mùa rõ rệt là mùa khô mùa mưa; khí hậu có tính ổn định cao, sự thay đổi giữa các năm nhỏ, hầu như không có bão lụt hoặc chỉ bị ảnh hưởng nhẹ, không đáng kể
1) Nhiệt độ:
Nhiệt độ không khí ít thay đổi giữa các tháng trong năm, biên độ dao động
Nguồn: Trạm khí tượng Tân Sơn Nhất-2005
Qua kết quả quan trắc nhiều năm tại Trạm khí tượng Tân Sơn Nhất cho thấy:
thấp Tháng nóng nhất và tháng lạnh nhất có nhiệt độ chênh lệch nhau không nhiều
Độ ẩm không khí rất cao, vào các tháng mùa mưa độ ẩm không khí lên đến
Trang 39Độ ẩm không khí là yếu tố quan trọng ảnh hưởng lên quá trình phân hủy các chất hữu cơ, chuyển hóa các chất ô nhiễm và là yếu tố vi khí hậu ảnh hưởng lên sức khỏe con người Độ ẩm không khí theo dõi tại Trạm khí tượng Tân Sơn Nhất được đưa ra trong Bảng 2.2
Bảng 2.2 Độ ẩm tương đối trung bình tháng và năm tại TP Hồ Chí Minh
Độ ẩm tương đối trung bình các tháng và năm (%) TB
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 nă
m
71 70 70 72 76 82 83 83 84 84 80 74 77
Nguồn : Trạm khí tượng Tân Sơn Nhất- 2005
Kết quả quan trắc nhiều năm tại Trạm khí tượng Tân Sơn Nhất cho thấy độ
ẩm không khí trung bình năm tại TP.HCM là 77% Độ ẩm không khí cao nhất
là 84% và thấp nhất là 70% Độ ẩm không khí biến đổi theo mùa và theo vùng
- thời kỳ ẩm trùng vào mùa mưa, thời kỳ hanh khô trùng với mùa khô Độ ẩm trung bình cao ở các tháng từ VI đến tháng XI khoảng 82 - 84% Các tháng còn lại có độ ẩm trung bình thấp hơn, khoảng 70 - 74%
Lượng bốc hơi hằng năm tương đối lớn, lượng bốc hơi lớn trong cc thng
ma khơ, bình qun trong cc thng nắng: 5 – 6 mm/ ngy
Lượng bốc hơi:
Lượng bốc hơi hằng năm tương đối lớn, lượng bốc hơi lớn trong cc thng
ma khơ, bình qun trong cc thng nắng: 5 – 6 mm/ ngy
Lượng bốc hơi:
Lượng bốc hơi hằng năm tương đối lớn, lượng bốc hơi lớn trong cc thng
ma khơ, bình qun trong cc thng nắng: 5 – 6 mm/ ngy
Lượng bốc hơi:
Trang 40 Lượng mưa vào mùa mưa chiếm 95% lượng mưa cả năm
Lượng mưa vào mùa khô chiếm 5% lượng mưa cả năm
Số ngày mưa trung bình năm: 154 ngày
Số ngày mưa trung bình tháng: 22 ngày (mùa mưa từ tháng tư đến tháng 11)
Lượng mưa bình quân năm: 1979 mm
Cường độ mưa: được thống kê với chuỗi số liệu từ 1953 đến 1989, một biểu đồ mưa được xây dựng cho khu vực thành phố Hồ Chí Minh biểu thị mối tương quan giữa cường độ mưa và thời gian mưa theo các tần suất khác nhau Biểu đồ này được sử dụng đưa vào tính toán
phát tán trong không khí Chất lượng nước mưa phụ thuộc vào chất lượng không khí trong không gian rộng Mưa còn pha loãng các chất ô nhiễm trong nước và cuốn theo các chất ô nhiễm trên mặt đất xuống các nguồn
nước Lượng mưa trong khu vực được đưa ra trong
7) Bảng 2.3 Lượng mưa trung bình tháng trong khu vực TP Hồ Chí Minh
Lượng mưa trung bình nhiều năm được ghi nhận tại Trạm này như sau: