Cùng với xu thế phát triển đô thị hóa đang diễn ra trong cả nước, TP Thủ Dầu Một là một thành phố có nhịp độ tăng trưởng kinh tế, đời sống nhân dân được cải thiện nhanh chóng, kéo theo c
TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ AN TOÀN GIAO THÔNG
Khái niệm về TNGT
Quan điểm 1: TNGT là việc xảy ra ngoài ý muốn chủ quan của người điều khiển phương tiện giao thông khi đang di chuyển trên đường giao thông
Vi phạm các quy định an toàn giao thông đã dẫn đến thiệt hại về người và tài sản, theo thông tin từ Từ điển bách khoa toàn thư về nghiệp vụ công an năm 1995.
Theo quan điểm này, việc nhìn nhận về tai nạn giao thông (TNGT) còn hạn hẹp do nhiều yếu tố như lỗi của người đi bộ, chất lượng đường và chướng ngại vật TNGT không chỉ là sự cố ngoài ý muốn của người điều khiển phương tiện mà còn là sự kiện bất ngờ, ảnh hưởng đến cả nạn nhân và những người xung quanh.
TNGT được định nghĩa là tai nạn xảy ra khi các phương tiện giao thông tham gia hoạt động công cộng, trên các đường chuyên dùng hoặc trong khu vực giao thông công cộng như bến xe, bến cảng, và nhà ga Những tai nạn này thường là kết quả của việc vi phạm luật lệ giao thông vận tải, dẫn đến thiệt hại về tính mạng, sức khỏe con người hoặc tài sản (Theo Hướng dẫn quy trình điều tra xử lý TNGT – Quyết định 600/C11-QĐ ngày 23-05-1994 của Tổng cục Cảnh sát Nhân dân)
TNGT được định nghĩa là sự kiện xảy ra khi các phương tiện tham gia giao thông hoạt động trên đường công cộng, dẫn đến thiệt hại về tính mạng, sức khỏe hoặc tài sản của con người.
Quan điểm này cho rằng tai nạn giao thông (TNGT) không phải là sự kiện bất ngờ Theo lý luận và thực tiễn, TNGT chỉ được tính từ thời điểm gây ra thiệt hại về tính mạng, sức khỏe con người và tài sản, xâm hại các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ.
Quan điểm 4 định nghĩa tai nạn giao thông (TNGT) là sự cố ngẫu nhiên, hiếm gặp, xảy ra do nhiều yếu tố khi một hoặc nhiều người tham gia giao thông trên đường công cộng và được cảnh sát ghi nhận Định nghĩa này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc "được cảnh sát ghi nhận", vì sau khi xử lý hậu quả TNGT, cảnh sát sẽ cung cấp dữ liệu về thiệt hại con người, tài sản cho cơ quan bảo hiểm, cũng như nguyên nhân gây ra TNGT do lỗi con người cho các cơ quan quản lý, thiết kế, thi công và bảo trì đường.
Từ nhiều góc độ khác nhau, các quan điểm về TNGT được đưa ra nhằm xây dựng một định nghĩa tổng quát và thống nhất, tuy nhiên vẫn còn nhiều bất cập cần được giải quyết.
Với góc độ là một kỹ sư giao thông, tôi muốn chia sẻ quan điểm của mình về tai nạn giao thông (TNGT) TNGT là sự kiện bất ngờ, xảy ra ngoài ý muốn của con người khi tham gia giao thông trên các tuyến đường công cộng Những tai nạn này thường do vi phạm quy định an toàn giao thông hoặc do gặp phải tình huống bất ngờ mà không kịp phòng tránh, dẫn đến thiệt hại về tính mạng, sức khỏe và tài sản, và được ghi nhận bởi cơ quan chức năng.
Đặc tính cơ bản của TNGT
Theo một số giáo trình giảng dạy về TNGT cũng đưa ra được các đặc tính cơ bản của TNGT như sau:
TNGT là một loại tội phạm trong xã hội, được thực hiện qua các hành vi của con người, có thể vi phạm hoặc không vi phạm Luật giao thông đường bộ Những hành vi này thường dẫn đến hậu quả nghiêm trọng, ảnh hưởng đến tính mạng, sức khỏe con người và tài sản của nhà nước và nhân dân Hậu quả gây thiệt hại cho con người và tài sản là yếu tố bắt buộc trong vụ TNGT, có mối quan hệ nhân quả với hành vi gây ra tội phạm Việc xem xét hậu quả là cơ sở để xác định sự tồn tại của vụ TNGT, xác định chủ thể gây ra tội phạm, tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi, từ đó quyết định có cần truy cứu trách nhiệm hình sự hay xử phạt hành chính hay không Các yếu tố như địa điểm, thời gian, người tham gia và hậu quả kinh tế cũng cần được xem xét kỹ lưỡng.
TNGT trực tiếp ảnh hưởng đến các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ, bao gồm quan hệ nhân thân, tính mạng, sức khỏe và sở hữu tài sản Những quan hệ này không chỉ được bảo vệ bởi pháp luật hành chính (luật giao thông) mà còn được luật hình sự bảo vệ trong các trường hợp đặc biệt, khi người tham gia giao thông vi phạm quy định an toàn giao thông gây ra hậu quả nghiêm trọng Do đó, người gây TNGT không chỉ phải chịu trách nhiệm dân sự mà còn phải đối mặt với trách nhiệm hình sự.
Chủ thể thực hiện hành vi cuối cùng trong vụ tai nạn giao thông (TNGT) là các đối tượng tham gia giao thông, và hậu quả của vụ TNGT thường do các hoạt động cụ thể của họ gây ra Nhiều vụ TNGT xảy ra do nguyên nhân khách quan và chủ quan đan xen, ảnh hưởng đến việc hình thành các vụ tai nạn Do đó, việc xác định lỗi của các bên liên quan, đặc biệt là chủ thể thực hiện hành vi cuối cùng, là rất quan trọng để xác định tính chất của vụ TNGT và ai là người có lỗi Tuy nhiên, nhiều người thường nhầm lẫn giữa người thực hiện hành vi cuối cùng và người có lỗi, dẫn đến phân tích sai quá trình diễn biến vụ TNGT và quy trách nhiệm không chính xác cho các bên liên quan.
TNGT là sự kiện ngẫu nhiên, không có động cơ hay mục đích cụ thể từ người gây ra Khác với thiên tai, TNGT luôn liên quan đến các hành vi có ý thức của những người tham gia Nguyên nhân chủ yếu của TNGT thường xuất phát từ sự cẩu thả của người tham gia giao thông và các yếu tố kỹ thuật của đường sá.
Các đặc tính cơ bản của tai nạn giao thông (TNGT) có mối quan hệ chặt chẽ, tạo thành một cấu trúc ổn định phản ánh rõ nét các dấu hiệu và tính chất của TNGT Tuy nhiên, do ảnh hưởng của các yếu tố tự nhiên và xã hội, mỗi vụ TNGT lại có những biểu hiện khác nhau với nguyên nhân, điều kiện và hậu quả riêng TNGT có thể được phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau, như theo chủ đề gây tai nạn (vị thành niên, tập thể, cá nhân), theo tính chất và loại đường (nút giao, điểm đen, đường vào cầu, đường đèo), và theo loại phương tiện (ô tô, mô tô) Hiện nay, việc phân loại TNGT được thực hiện theo quy định của Thông tư 02/Thông tư liên tịch giữa Viện Kiểm sát Nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao và Bộ Nội vụ, ngày 7/11/1995, trong đó TNGT được chia thành 3 loại: tai nạn nhẹ, tai nạn nghiêm trọng.
TN đặc biệt nghiêm trọng.
Tình hình TNGT trên thế giới trong những năm gần đây
TNGT đã trở thành một mối đe dọa nghiêm trọng đối với cuộc sống con người Mặc dù những ứng dụng khoa học kỹ thuật hiện đại trong ngành giao thông vận tải mang lại nhiều lợi ích, nhưng loài người vẫn phải đối mặt với nguy cơ TNGT xảy ra liên tục trên khắp các con đường, không chỉ ở Việt Nam mà còn trên toàn thế giới.
Theo Báo cáo về an toàn giao thông đường bộ toàn cầu năm 2015 của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), công bố vào ngày 19/10 tại Geneva, Thụy Sĩ, có 1,25 triệu người chết và 50 triệu người bị thương tật suốt đời do tai nạn giao thông đường bộ trong năm 2015, con số này tương đương với dữ liệu năm 2007.
Trong giai đoạn 2010-2013, số người chết do tai nạn giao thông đường bộ trên toàn cầu không giảm, với tai nạn giao thông đứng thứ tám trong số các nguyên nhân gây tử vong Đặc biệt, tai nạn giao thông là nguyên nhân hàng đầu gây ra cái chết cho giới trẻ trong độ tuổi từ 15-29.
Trên toàn cầu, mỗi ngày có hơn 3.000 người chết do tai nạn giao thông, trong đó có hơn 500 trẻ em, chủ yếu ở các nước có thu nhập thấp và trung bình Điều này tương đương với việc cứ 30 giây lại có một người thiệt mạng và 3 phút lại có một trẻ em tử vong Đáng chú ý, 59% nạn nhân là người trong độ tuổi 15-44, với 77% là nam giới Ngoài ra, 27% số người tử vong là người đi bộ và đi xe đạp, con số này ở một số quốc gia còn vượt quá 75% Thực trạng này cho thấy các chính sách giao thông hiện tại đã ưu tiên cho xe cơ giới, bỏ qua nhu cầu của người đi bộ.
Theo thống kê của WHO, 79 quốc gia đã giảm số người chết do tai nạn giao thông (TNGT) nhờ vào việc áp dụng pháp luật toàn diện liên quan đến 5 yếu tố nguy cơ chính: lái xe khi say rượu, tốc độ cao, không sử dụng mũ bảo hiểm, không thắt dây an toàn và thiếu thiết bị an toàn cho trẻ em, cũng như lái xe không tập trung Tuy nhiên, tại 68 quốc gia khác, số người chết do TNGT vẫn tiếp tục gia tăng.
Nguy cơ tử vong do tai nạn giao thông (TNGT) xe hơi ở châu Phi là cao nhất, với 24,1 ca tử vong trên 100.000 người, trong đó Nam Phi dẫn đầu thế giới về số vụ TNGT nghiêm trọng, đặc biệt là các vụ xe hơi rơi xuống sông Trung bình, mỗi năm, Nam Phi ghi nhận khoảng 500.000 vụ TNGT, khiến hơn 10.000 người thiệt mạng Tỷ lệ tử vong do TNGT cũng cao tại một số quốc gia có thu nhập trung bình như Mexico, Campuchia, Lào, Bờ Biển Ngà, Tanzania và Ecuador.
Trong khi ở các quốc gia Châu Phi có tỷ lệ trung bình là 26,6 người chết/100.000 dân.Còn ở Châu Âu là khu vực có nguy cơ thấp nhất với 9,3/100.000 người.
Hình 1.1: Tỷ lệ số người chết/100.000 dân ở các nước phát triển trên thế giới
[Nguồn:Trang Web của WHO]
Theo WHO, hàng năm tại Nga có hơn 2.000 người thiệt mạng và hơn 18.000 người bị thương do tai nạn giao thông liên quan đến lái xe say rượu Tại Châu Mỹ, con số thiệt mạng lên tới 134.000 người, chiếm hơn 10% tổng số ca tử vong toàn cầu, trong đó Mỹ dẫn đầu với 44.000 người, tiếp theo là Brazil, Mexico và Venezuela.
Hội Chữ thập đỏ Quốc tế và Hội Lưỡi liềm đỏ đã cảnh báo rằng tai nạn giao thông (TNGT) đang trở thành một hiểm họa nghiêm trọng, với tỷ lệ tăng 10% hàng năm, đặc biệt cao ở các nước đang phát triển so với các nước công nghiệp Một trong những nguyên nhân chính dẫn đến TNGT là sự tham gia đa dạng của nhiều loại phương tiện giao thông trên đường Tại châu Phi, châu Mỹ Latinh và vùng Caribe, phần lớn nạn nhân là người đi bộ, trong khi ở một số nước châu Á như Trung Quốc và Hàn Quốc, tình hình cũng không khả quan.
Việt Nam và Thái Lan ghi nhận nạn nhân chủ yếu là những người đi xe hai bánh Mặc dù Trung Quốc chỉ chiếm 1,9% số phương tiện giao thông toàn cầu, nhưng lại chiếm khoảng 15% số vụ tai nạn giao thông, dẫn đến hơn 100.000 người thiệt mạng Tại Ấn Độ, cứ 6 phút lại có 1 người tử vong do tai nạn giao thông, và dự đoán đến năm 2020, tỷ lệ này sẽ tăng lên 3/1, tức là cứ 3 phút lại có 1 người chết.
Theo báo cáo của WHO, 59 quốc gia đã giới hạn tốc độ phương tiện giao thông ở đô thị tối đa 50 Km/h Có 89 quốc gia áp dụng luật nghiêm ngặt về lái xe khi say rượu, với ngưỡng cồn trong máu không vượt quá 0,05 g/dl Ngoài ra, 90 quốc gia quy định việc đội mũ bảo hiểm, 111 quốc gia có luật về thắt dây an toàn, và 96 quốc gia có quy định về thiết bị an toàn cho trẻ em Tình trạng tai nạn giao thông đang đe dọa tương lai của thế hệ trẻ tại các nước đang phát triển.
Theo dự báo của WHO, tai nạn giao thông đường bộ (TNGTĐB) sẽ trở thành nguyên nhân đứng thứ năm gây tử vong, chiếm 3,6% tổng số ca tử vong, tăng từ 2,2% vào năm 2004 Hiệp hội An toàn Giao thông toàn cầu dự đoán số người chết và bị thương do TNGTĐB sẽ tăng khoảng 65% trong 20 năm tới, chủ yếu ở các quốc gia đang phát triển Nếu không có các biện pháp hạn chế hợp lý, TNGT sẽ trở thành nguyên nhân thứ ba của gánh nặng bệnh tật và thương tích toàn cầu vào năm 2020.
Tình hình ATGT ở Việt Nam
1.4.1 Tình hình TNGT nói chung Ở Việt Nam, TNGT đã gây ra những mất mát về con người không gì có thể bù đắp được Con cái mất bố mẹ, bố mẹ mất con, gia đình, họ hàng, bạn bè mất đi người thân thương của mình, số liệu thống kê của UBATGTQG cho thấy, 5 năm qua (2011-2015) có hơn 50.000 người chết vì TNGT, bình quân mỗi năm có mười nghìn người chết Cụ thể, mỗi ngày có 30 gia đình mất người thân, 200 gia đình chịu những tổn thất về vật chất và tinh thần do phải chịu những dằn vặt tinh thần suốt cuộc đời
TNGT cũng gây tổn thất về vật chất kinh tế Bình quân mỗi năm, nước ta mất 2 tỷ USD (tương đương 40.000 tỷ đồng) để khắc phục hậu quả TNGT
Số tiền trên có thể xây dựng được 10 bệnh viện đạt cấp tỉnh, 1.123 trường học, 6.400 căn nhà tình nghĩa trên cả nước
Tỉ lệ TNGT theo loại hình giao thông năm 2015 Đường bộ Đường sắt Đường thủy nội địa
Hình 1.2 : Tỉ lệ TNGT theo loại hình giao thông năm 2015
[ Nguồn : Trong báo cáo của Ủy ban ATGT Quốc Gia năm 2015]
Theo hình 1.2 cho thấy hầu hết số vụ TNGT ở Việt Nam trong năm
2015 là TNGTĐB, chiếm 97,81%, đứng thứ hai là TNGT đường sắt 1,77% tổng số TNGT, còn lại là TNGT đường thủy nội địa chiếm 04,2%.(Không kể TNGT hàng hải)
Sau 10 năm (từ năm 2006 - 2015) số người chết vì TNGT đã giảm xuống dưới con số 10.000 người Tình hình trật tự ATGT bước đầu được thiết lập lại, vượt mục tiêu giảm TN, ùn tắc giao thông trong năm 2014 mà Quốc hội đã đề ra TNGT đã có chuyển biến tích cực, giảm sâu cả 3 tiêu chí về số vụ, số người chết, bị thương, đặc biệt trong lĩnh vực giao thông đường bộ
Tuy nhiên, các vụ TN đặc biệt nghiêm trọng năm 2015 so với cùng kỳ
Mặc dù số vụ tai nạn giao thông (TNGT) đã giảm vào năm 2014, nhưng tính chất và mức độ nghiêm trọng vẫn còn cao, với số người chết và bị thương vẫn ở mức đáng lo ngại Các nguyên nhân chính gây ra TNGT bao gồm việc lái xe sau khi uống rượu bia, vi phạm tốc độ quy định, lấn làn, lấn luồng, và không tuân thủ hoặc thậm chí chống lại người thi hành công vụ, vẫn diễn ra phổ biến.
1.4.2 Tình hình TNGTĐB ở Việt Nam Ở Việt Nam hiện nay, tình hình đảm bảo TTATGT đường bộ và ATGT đô thị đang phải đối mặt với 2 vấn đề nghiêm trọng, đó là tình trạng TNGT ngày càng gia tăng trên các tuyến QL và tình trạng ùn tắc giao thông ngày càng trở nên trầm trọng hơn trong giao thông đô thị, đặc biệt tại các TP lớn ở Việt Nam như: Hà Nội, Nam Định, Nghệ An, Đà nẵng, Đồng Nai, Bình Dương và TP Hồ Chí Minh
Việt Nam đã ban hành đầy đủ các quy định an toàn giao thông đường bộ, nhưng việc thực hiện còn chưa nghiêm Mặc dù đường sá ngày càng mở rộng và phương tiện ngày càng hiện đại, tai nạn giao thông (TNGT) vẫn gia tăng Nguyên nhân chính là do tốc độ, khi đường tốt và xe hiện đại khiến người lái xe chạy nhanh hơn, dẫn đến mất kiểm soát tốc độ Điều này càng nghiêm trọng hơn khi tình trạng giao thông ở Việt Nam vẫn còn nhiều dòng xe hỗn hợp.
Số vụ TNGTĐB cả nước:
Từ biểu đồ hình 1.3 dưới đây cho thấy TNGTĐB ở nước ta trong hơn
10 năm từ 2000 đến 2011 chia ra làm các giai đoạn:
TNGT ĐB cả nước từ năm 2000-2011
Số vụ TNGTĐB Số người chết Số người bị thương
Hình 1.3: TNGTĐB cả nước từ năm 2000 – 2011
[Nguồn : Số liệu thu thập trên trang web của cục thống kê]
Từ năm 2000 đến 2002, tai nạn giao thông đường bộ (TNGTĐB) đã gia tăng liên tục trên cả ba tiêu chí: số vụ, số người chết và số người bị thương, với tỷ lệ tăng cao Trong ba năm này, số vụ TNGTĐB và số người bị thương đã tăng 1.2 lần, trong khi số người chết tăng đặc biệt 1.66 lần.
Từ năm 2003 đến 2009, số vụ tai nạn giao thông đường bộ (TNGTĐB) đã giảm đáng kể, với số vụ năm 2009 giảm 43% so với năm 2003 Số người bị thương cũng giảm 63%, tuy nhiên, số người chết chỉ giảm 6,4% Những con số này phản ánh những kết quả tích cực từ chính sách an toàn giao thông (ATGT) và các chương trình hành động được thực hiện trong giai đoạn này.
Từ năm 2009 đến 2011, số vụ tai nạn giao thông đường bộ có xu hướng tăng nhẹ, với 325 vụ tăng (tương đương 2,8%) vào năm 2011 so với năm 2009 Hệ quả là số người chết tăng 9,4% và số người bị thương tăng 21,3%.
Phân tích số liệu từ biểu đồ hình 1.3 cho thấy, trong giai đoạn 2002 - 2011, số người chết do tai nạn giao thông tương đối ổn định, trong khi số vụ và số người bị thương giảm nhanh Theo báo cáo của UBATGTQG, năm 2010, cả nước ghi nhận 13.713 vụ tai nạn giao thông đường bộ, dẫn đến 11.060 người chết và 10.306 người bị thương, với tỷ lệ 0,93 So với các quốc gia có thống kê tốt như Hà Lan, Anh, Đức, Pháp, Úc và Singapore, tỷ lệ người bị thương thường gấp 15 đến 70 lần số người chết, cho thấy số liệu về chấn thương trong các vụ tai nạn giao thông tại Việt Nam chưa được thu thập và thống kê đầy đủ.
Hình 1.4: Tổng hợp TNGT cả nước năm 2010
[Nguồn : Hình ảnh thu thập trên mạng internet ]
Tỷ lệ TNGTĐB trên 100.000 dân cả nước:
Theo dữ liệu từ WHO, tỷ lệ tử vong trên 100.000 dân của Việt Nam là 24,7, cao hơn nhiều so với các nước trong khu vực châu Á và gấp 4 đến 5 lần so với các nước phát triển như Đức, Đan Mạch, Tây Ban Nha và Nhật Bản, nơi tỷ lệ này chỉ dao động từ 3 đến 7 ca tử vong trên 100.000 dân.
Hình 1.5: Tỷ lệ số người chết/100.000 dân ở các nước Châu Á
[Nguồn:Số liệu của tổ chức WHO]
Tỷ lệ người chết và bị thương/10.000 vụ TNGTĐB trong cả nước[15]:
Hình 1.6: Biểu đồ so sánh về số người chết và bị thương trong 10.000 vụ
[Nguồn: Cuốn sách chuyên đề “GTVT, phát triển bền vững và hội nhập” của
Viện Khoa học và Công nghệ GTVT]
Số người chết và bị thương trong 10.000 vụ
Theo một nghiên cứu toàn cầu, Việt Nam hiện đang nằm trong số các quốc gia có tỷ lệ người chết và bị thương cao nhất do tai nạn giao thông Cụ thể, trung bình cứ 10.000 vụ tai nạn giao thông đường bộ xảy ra, số người chết và bị thương ở Mỹ là 66, ở Kenya là 1.786, trong khi ở Việt Nam con số này lên tới 3.181 người.
Trong chương 1, học viên đã tổng hợp các khái niệm về tai nạn giao thông (TNGT) và đưa ra định nghĩa riêng về TNGT, đồng thời làm rõ những đặc tính cơ bản của nó.
Theo báo cáo của WHO công bố vào ngày 19/10/2015 tại Geneve, Thụy Sĩ, trong năm 2015, có 1,25 triệu người trên toàn thế giới đã thiệt mạng và 50 triệu người khác bị thương tật suốt đời do tai nạn giao thông.
Tình hình an toàn giao thông (ATGT) ở Việt Nam trong năm 2015 cho thấy, tai nạn giao thông đường bộ (TNGTĐB) chiếm 97,81% tổng số vụ tai nạn, trong khi tai nạn đường sắt và đường thủy nội địa lần lượt chiếm 1,77% và 0,42% Phân tích dữ liệu từ năm 2000 đến 2011 cho thấy số người chết do tai nạn giao thông luôn cao hơn số người bị thương So với các quốc gia có thống kê tốt như Hà Lan, Anh, Đức, Pháp, Úc và Singapore, tỷ lệ người bị thương ở những nước này cao gấp 15 đến 70 lần so với số người chết, cho thấy rằng số liệu về chấn thương trong các vụ TNGT ở Việt Nam chưa được thu thập và thống kê đầy đủ.
CƠ SỞ HẠ TẦNG GIAO THÔNG VÀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ GIAO THÔNG TRÊN ĐỊA BÀN TP THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
Cơ sở hạ tầng giao thông của TP Thủ Dầu Một
2.1.1 Hiện trạng hạ tầng giao thông TP Thủ Dầu Một
Thành phố Thủ Dầu Một, thuộc tỉnh Bình Dương, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, có vị trí thuận lợi cho việc giao lưu với các huyện, thị trong tỉnh và cả nước qua quốc lộ 13, chỉ cách Thành phố Hồ Chí Minh 30km.
Ngày 2 tháng 5 năm 2012, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 11/NQ-CP thành lập thành phố Thủ Dầu Một thuộc tỉnh Bình Dương, trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên, dân số và các đơn vị hành chính trực thuộc của thị xã Thủ Dầu Một đồng thời chính thức hoạt động vào ngày 1 tháng 7 năm 2012 Hiện Thủ Dầu Một đang là đô thị loại II Có vị trí địa lý như sau :
Phía Đông giáp thị xã Tân Uyên
Phía Tây giáp huyện Củ Chi thuộc thành phố Hồ Chí Minh
Phía Nam giáp thị xã Thuận An
Phía Bắc giáp thị xã Bến Cát.
Hình 2.1 Vị trí thành phố Thủ Dầu Một người, mật độ dân số 2285 người/km 2 (thống kê năm 2014), trong đó có 14 đơn vị hành chính, gồm 14 phường:
● Phường Phú Cường ● Phường Định Hòa
● Phường Hiệp Thành ● Phường Chánh Nghĩa
● Phường Phú Thọ ● Phường Phú Hòa
● Phường Phú Lợi ● Phường Tương Bình Hiệp
● Phường Hiệp An ● Phường Phú Tân
● Phường Chánh Mỹ ● Phường Hòa Phú
● Phường Phú Mỹ ● Phường Tân An Trên địa bàn TP Thủ Dầu Một hiện có 2 loại đường giao thông thông dụng là: đường bộ, đường thủy nội địa
Tính đến ngày 27/01/2015, TP Thủ Dầu Một sở hữu 15 cầu với tổng chiều dài 294,8m Tổng chiều dài mạng lưới đường bộ trên địa bàn TP Thủ Dầu Một đạt 420,17 Km.
Mạng lưới đường tại Bình Dương bao gồm Quốc lộ dài 11,0 Km, 100% là đường BTN, và đường Tỉnh dài 20,8 Km cũng 100% BTN Đường Đô thị có tổng chiều dài 115,934 Km, trong đó BTN chiếm 35,36%, đá dăm nhựa 37,44%, và BTXM cùng cấp phối chiếm 27,20% Đường Xã dài 333,458 Km, 100% là BTXM và cấp phối Quốc lộ 13 là tuyến đường chính kết nối thành phố Thủ Dầu Một với các khu vực khác trong tỉnh Bình Dương và thành phố Hồ Chí Minh Tuyến đường này, được gọi là đại lộ Bình Dương, dài 11 Km, rộng 36m với 6 làn xe và 2 lề đường, là trục giao thông chính của Thủ Dầu Một, kết nối tất cả các đường chính với Quốc lộ 13, phục vụ cho cả giao thông địa phương và quá cảnh.
Hệ thống đường tỉnh lộ: Có 4 đường chính cấp tỉnh nối trung tâm
Thành phố với những khu vực còn lại của tỉnh gồm các đường:
Đường ĐT 742 bắt đầu từ Ngã ba Sao Quỳ giáp ĐT 747A và được chia thành nhiều đoạn qua Thành phố Thủ Dầu Một Đoạn đường này, được gọi là đường Huỳnh Văn Lũy, có mặt đường nhựa bê tông trải đều 2 chiều, mỗi chiều rộng 6.5m, cùng với lề đường mỗi bên rộng khoảng 3m.
Đường ĐT 743 đoạn qua Thành phố Thủ Dầu Một có tên là đường Phú Lợi (Ngã 4 Chợ Đình đến ranh Thuận An): đường này rộng
16m, với mặt đường trải nhựa bê tông 8m trên 2 tuyến, và mỗi lề đường rộng 3m
Đường ĐT744, đoạn nội thị mang tên đường Nguyễn Chí Thanh, kéo dài từ ngã ba Suối Giữa giao với Quốc lộ 13 đến cầu Ông Cộ Đường đã được đầu tư với mặt đường rộng 16,5m (bao gồm 7,5m + 1,5m + 7,5m) và vỉa hè rộng 4,25m ở cả hai bên Mặt đường được làm bằng bê tông nhựa nóng, kèm theo hệ thống thoát nước, cây xanh và chiếu sáng được bố trí hoàn chỉnh.
Đường ĐT745 bắt đầu từ ngã 4 Phú Văn và kéo dài đến mũi dùi (QL13) Đoạn đường chạy qua thành phố Thủ Dầu Một từ ngã 4 Phú Văn đến ngã 4 Gò Đậu được gọi là đường Cách Mạng Tháng Tám Mặt đường được trải nhựa với độ rộng từ 9-12m, và lề đường mỗi bên rộng 3m.
Đường ĐT741 kết nối với Quốc lộ 13 tại ranh giới phía Bắc của thị xã từ ngã tư Cây Me Đoạn qua Thành phố Thủ Dầu Một được gọi là đường Nguyễn Văn Thành, hiện có mặt cắt rộng 12m với mặt đường trải nhựa rộng 10m, bao gồm 2 làn đường Hiện tại, đường đang được nâng cấp thành đường 3 làn xe.
Hệ thống đường nội thị tại Thủ Dầu Một là mạng lưới đường cấp 2 quan trọng, bao gồm các tuyến đường như đường Phú Cường và đường Đoàn Trần Nghiệp với mặt đường rộng 9m, đóng vai trò kết nối huyết mạch giữa Phú Lợi và Bạch Đằng, góp phần hoàn thiện mạng lưới giao thông chính của thành phố.
Đường Thích Quảng Đức (mặt đường rộng 9m) song song với đường Yersin, cũng nối Phú Lợi với trung tâm thành phố
Đường Huỳnh Văn Cù, với mặt đường rộng 12m, đóng vai trò quan trọng như trục lộ chính phía Bắc trung tâm thành phố, đồng thời là lối đi chính dẫn đến cây cầu duy nhất bắc qua sông Sài Gòn.
Đường 30/4 và đường Lê Hồng Phong, với mặt đường rộng 12m, là những trục đường chính đi qua trung tâm thành phố, kết nối các tuyến đường quan trọng ở phía Đông Nam.
Mạng lưới giao thông hiện tại của những đường chính và đường địa phương ở Thủ Dầu Một được trình bày trong hình dưới đây:
Hình 2.2 Mạng lưới giao thông TP Thủ Dầu Một
2.1.1.2 Về đường thủy nội địa
Thành phố Thủ Dầu Một có 3 bến đò phục vụ khách ngang sông Sài Gòn, kết nối từ bờ trái (Thành phố Thủ Dầu Một) sang bờ phải (huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh).
Bến đò Phú Cường – phường Phú Cường
Bến đò Bà Lụa – phường Phú Thọ
Bến Sỏi (Tám Tắc) – phường Tân An
Hình 2.3 : Bến đó Phú Cường
Các thuyền hoạt động tại các bến này đều được kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường, đồng thời được trang bị đầy đủ áo phao và phao cứu sinh, nhằm đảm bảo an toàn cho hành khách trong trường hợp có sự cố xảy ra.
2.1.2 Quy hoạch hạ tầng kỹ thuật giao thông TP Thủ Dầu Một
Trong những năm qua, kết cấu hạ tầng giao thông đô thị tại Thủ Dầu Một đã được cải thiện đáng kể với nhiều con đường mới được xây dựng và chất lượng đường đô thị ngày càng tốt hơn Hầu hết các tuyến đường chính đã được rải nhựa, nâng cấp và xây dựng đồng bộ với hệ thống thoát nước, hè đường, chiếu sáng và cây xanh Nhiều dự án giao thông đô thị đã được triển khai, bao gồm cải tạo, nâng cấp và xây mới các trục giao vành đai, góp phần nâng cao năng lực giao thông tại đô thị Giao thông công cộng cũng đang được hình thành và phát triển, với các tuyến phục vụ nhu cầu đi lại của người dân, trở thành phương tiện không thể thiếu trong cuộc sống hàng ngày.
Hình 2.4: Quy hoạch hạ tầng kỹ thuật giao thông TP TDM đến năm 2020
[Nguồn: Báo cáo của trung tâm nghiên cứu phát triển GTVT]
Quy hoạch phát triển giao thông của TP Thủ Dầu Một đến năm 2020 sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển thương mại và dịch vụ Việc nâng cấp và mở rộng các tuyến giao thông liên tỉnh củng cố vị trí đầu mối giao thông trong tỉnh, thúc đẩy lưu thông hàng hóa Đồng thời, sự phát triển và mở rộng các tuyến giao thông nội thị cũng góp phần quan trọng vào hoạt động thương mại của TP.
Công tác quản lý phương tiện giao thông trên địa bàn tỉnh Bình Dương
2.2.1 Tình hình quản lý và đăng ký mới phương tiện cơ giới đường bộ
Bảng 2.1: Bảng thống kê số lượng và tình hình tăng trưởng phương tiện cơ giới trên địa bàn tỉnh Bình Dương từ năm 2012 – 2015
Từ năm 2012 đến cuối năm 2015, Phòng CSGT tỉnh Bình Dương quản lý tổng cộng 84.898 ôtô và 964.366 môtô, chưa kể số lượng lớn phương tiện do Quân đội và các cơ quan Trung ương quản lý Mỗi năm, số lượng ô tô tăng trung bình 14,27% và môtô tăng 6,97% Đến cuối năm 2015, dân số tỉnh Bình Dương gần 2 triệu người, tương đương với 1,7 người/phương tiện.
Năm Ôtô các loại gia tăng so với năm trước
(Tổng số xe đang quản lý)
Môtô các loại gia tăng so với năm trước (Tổng số xe đang quản lý) Chiếc Tăng Tỷ lệ (%) Chiếc Tăng Tỷ lệ (%)
Trung bình tăng hàng năm 9.234 14,27% 58.096 6,97% trong những nguyên nhân chính của việc ùn tắc giao thông cũng như tiềm ẩn về TNGT.
2.2.2 Tình hình đăng kiểm phương tiện cơ giới đường bộ
Hiện nay Trung tâm đăng kiểm xe cơ giới (61-01S) đóng trên địa bàn
TP Thủ Dầu Một thuộc sự quản lý toàn diện của Sở GTVT tỉnh Bình Dương và nhận chỉ đạo chuyên môn từ Cục Đăng kiểm Việt Nam.
Trung tâm đã được chứng nhận hệ thống quản lý chất lượng về an toàn (VNQC) từ Cục Đăng kiểm Việt Nam, đáp ứng các yêu cầu của ISO 9001:2008 trong lĩnh vực kiểm tra an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường cho các phương tiện cơ giới đường bộ Hiện tại, trung tâm đang hoạt động với một cơ sở.
Hình 2.5 : Trung tâm đăng kiểm xe cơ giới 61-01S
Hoạt động kiểm định xe cơ giới đã ổn định và đáp ứng yêu cầu quản lý chất lượng phương tiện Từ năm 2011 đến năm 2015, tổng số lượt kiểm định đạt 116.645 phương tiện, với tỷ lệ trung bình hằng năm tăng 6,49% Trong đó, có 87.199 lượt phương tiện đạt tiêu chuẩn lần đầu, tương ứng với tỷ lệ đạt lần đầu trung bình hằng năm là 74,72%.
Số lượt phương vào tiện kiểm định
Tỷ lệ tăng trưởng hằng năm %
Số lượng đạt yêu cầu lần đầu
Tỷ lệ đạt lần đầu %
Số lượng không đạt yêu cầu lần đầu
Tỷ lệ không đạt lần đầu %
Theo thống kê từ bảng 2.2, lưu lượng xe vào đăng kiểm tại Trung tâm có xu hướng giảm hàng năm Để nâng cao chất lượng phương tiện, Sở GTVT tỉnh Bình Dương đã chỉ đạo tổ chức tập huấn cho đăng kiểm viên và nhân viên phục vụ theo các quy định mới, đồng thời cải tiến chất lượng kiểm định theo tiêu chuẩn ISO 9001:2008 Kết quả kiểm tra định kỳ cho thấy tỷ lệ phương tiện không đạt lần đầu cần kiểm định lại chiếm trung bình 25,28%.
Theo số liệu trong năm 2015, có 23.284 phương tiện kiểm tra thì có 5.594 phương tiện không đạt lần đầu chủ yếu trong đó :
- Hệ thống phanh có: 3.181/5.594 (chiếm 56,86%) phương tiện không đạt
- Hệ thống lái có: 1.231/5.594 (chiếm 22,01%) phương tiện không đạt
- Hệ thống khí xả có: 2.495/5.594 (chiếm 44,60%) phương tiện không đạt
Tỷ lệ xe không đạt tiêu chuẩn lưu thông vẫn còn cao, cho thấy nguy cơ rủi ro và tiềm ẩn mất an toàn giao thông khi những phương tiện này tham gia giao thông.
2.2.3 Tình hình quản lý vận tải hành khách công cộng
Hoạt động vận tải hành khách công cộng tại TP Thủ Dầu Một chủ yếu bao gồm taxi và xe buýt Các loại hình vận tải này đóng vai trò quan trọng trong việc đáp ứng nhu cầu di chuyển của người dân.
Sở Giao thông Vận tải Bình Dương trực tiếp quản lý
Hiện nay, TP có 5 tuyến xe buýt liên tỉnh và 7 tuyến xe buýt nội tỉnh, phục vụ khoảng 15.000 hành khách mỗi ngày Đặc biệt, có một tuyến xe buýt liên vận quốc tế từ Bình Dương đến Phnôm Pênh.
Tại TP, hiện có 4 hãng taxi hoạt động gồm Vinasun, Mai Linh, Thắng Lợi và Thanh Lễ Để khuyến khích người dân sử dụng phương tiện vận tải công cộng, đặc biệt là xe buýt, các biện pháp hỗ trợ đang được triển khai.
Sở GTVT tỉnh Bình Dương đang thực hiện Đề án đổi mới quản lý vận tải nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ và giảm tai nạn giao thông Đề xuất trình Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành cơ chế khuyến khích phát triển vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt Dự án hệ thống xe buýt nhanh - Bus Rapid Transit (BRT) đã hoàn thành phản biện và đang chờ phê duyệt để triển khai vào cuối năm 2016, với tổng vốn đầu tư 1.827 tỷ đồng và đề xuất vay vốn ODA của Nhật Đây là loại hình giao thông đô thị phổ biến tại nhiều thành phố lớn trên thế giới.
Trong giai đoạn 2016 - 2020, tình trạng ách tắc giao thông sẽ trở nên nghiêm trọng hơn Việc phát triển hệ thống BRT sẽ giúp giảm thiểu tai nạn giao thông, tình trạng tắc nghẽn và vấn đề thiếu chỗ đậu xe tại thành phố.
Công tác, đào tạo cấp GPLX trên địa bàn tỉnh Bình Dương
Hiện nay, tỉnh Bình Dương có 13 cơ sở đào tạo lái xe
Bảng 2.3: Bảng thống kê các trung tâm dạy lái xe ô tô và mô tô trên địa bàn tỉnh Bình Dương
STT TÊN TRƯỜNG DẠY LÁI XE Ô TÔ & MÔ TÔ
1 Trung tâm đào tạo sát hạch lái xe Bình Dương
2 Trường trung cấp nghề Bình Dương
3 Trung tâm đào tạo lái xe Sóng Thần
4 Trung tâm đào tạo sát hạch lái xe An Cư
5 Trung tâm kỹ năng thực hành cơ giới GTVT Thuận An
6 Trường cao đẳng nghề công nghệ và nông lâm Nam Bộ
7 Phân hiệu cao đẳng nghề đường sắt phía Nam
8 Trung tâm dịch vụ việc làm Bình Dương
9 Trung tâm dạy nghề tư thục Bình Dương
10 Trường trung cấp nghề kỹ thuật và nghiệp vụ công đoàn
11 Trường trung cấp nghề Tân Uyên
12 Công ty cổ phần kỹ thuật vận tải và phát triển làng nghề
13 Trung tâm giáo dục quốc phòng an ninh sinh viên
[Nguồn : Báo cáo của Sở Giao thông tỉnh Bình Dương]
Nhu cầu học lái xe ô tô tại Bình Dương đang gia tăng, và công tác đào tạo tại các trung tâm đã đi vào nề nếp, không có phản ánh tiêu cực trong việc cấp GPLX Tuy nhiên, việc đầu tư vào trang thiết bị giảng dạy, mô hình học cụ, và sân bãi tập lái vẫn chưa đáp ứng đủ yêu cầu, cùng với việc củng cố và chuẩn hóa trình độ giáo viên thực hành để nâng cao chất lượng đào tạo lái xe.
Hệ thống điều hành công tác ATGT trên địa bàn tỉnh Bình Dương 30 1 Cơ cấu tổ chức hệ thống điều hành của Ban ATGT tỉnh Bình Dương 30 2 Vị trí, chức năng của Ban ATGT tỉnh
2.4.1 Cơ cấu tổ chức hệ thống điều hành của Ban ATGT tỉnh Bình Dương
Các thành viên và cơ quan Ban ATGT tỉnh bao gồm:
- Ông Trần Thanh Liêm, Chủ tịch UBND tỉnh, Trưởng ban
- Ông Trần Bá Luận, Giám đốc Sở GTVT, Phó Trưởng ban Thường trực
- Ông Võ Văn Phúc, Phó Giám đốc Công an tỉnh, Phó Trưởng ban Các thành viên gồm: Đại diện văn phòng UBND tỉnh, các Sở GTVT,
Sở Xây dựng, Sở Tài chính, Sở Tư pháp, Sở Văn hóa-Thể thao-Du lịch, Bộ chỉ huy quân sự tỉnh, Ủy ban mặt trận tỉnh, Đài Phát thanh truyền hình tỉnh, Văn phòng ban ATGT tỉnh, Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh, Sở Y tế tỉnh, Phòng Cảnh sát giao thông tỉnh, và Thanh Tra GTVT đều là các cơ quan tham gia với vai trò Ủy viên trong công tác quản lý và phát triển tỉnh.
Hệ thống này đã hỗ trợ việc triển khai các Nghị định, thông tư và chỉ thị từ Trung ương và Bộ đến tất cả các khu vực trong tỉnh Bình Dương.
Cơ cấu tổ chức Ban An toàn giao thông (ATGT) tỉnh Bình Dương đã được kiện toàn, đóng góp tích cực vào việc kiềm chế sự gia tăng tai nạn giao thông (TNGT) Tuy nhiên, nguồn nhân lực trong công tác quản lý ATGT hiện nay chủ yếu là kiêm nhiệm, dẫn đến hiệu quả hoạt động của tổ chức ATGT các cấp chưa được phát huy tối đa.
2.4.2 Vị trí, chức năng của Ban ATGT tỉnh
Ban ATGT cấp tỉnh là cơ quan liên ngành hỗ trợ Chủ tịch UBND tỉnh trong việc chỉ đạo và phối hợp thực hiện các biện pháp đảm bảo an toàn giao thông (TTATGT) tại Bình Dương.
2.4.3 Nhiệm vụ, quyền hạn của Ban ATGT tỉnh
Chủ tịch UBND tỉnh đã quyết định thành lập Ban An toàn giao thông (ATGT) cấp tỉnh, trong đó các uỷ viên là thủ trưởng của các cơ quan thành viên Ban ATGT sẽ chịu trách nhiệm về an toàn giao thông, bao gồm quản lý tầng giao thông, phương tiện, người điều khiển phương tiện và công tác thanh tra giao thông.
Công an TP có trách nhiệm chỉ đạo lực lượng CSGT thực hiện cưỡng chế các quy định pháp luật về an toàn giao thông, xử lý các vụ tai nạn giao thông và thu thập dữ liệu liên quan đến tình hình tai nạn giao thông tại địa phương.
Văn phòng Ban ATGT cấp tỉnh là cơ quan chuyên trách tư vấn cho UBND về các chủ trương và biện pháp chỉ đạo nhằm tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật liên quan đến đảm bảo trật tự an toàn giao thông (TTATGT) trên địa bàn tỉnh.
Chỉ đạo và tổ chức thực hiện nhiệm vụ phối hợp giữa các ngành và các cấp nhằm kiểm tra, đôn đốc các địa phương và đơn vị thực hiện các quy định về bảo vệ trật tự an toàn giao thông (TTATGT).
Phối hợp với các ngành, các cấp và chính quyền địa phương để tổ chức tuyên truyền giáo dục, nhằm phổ biến rộng rãi các quy định pháp luật về an toàn giao thông đến mọi tầng lớp nhân dân.
Tổ chức triển khai các dự án và biện pháp nhằm đảm bảo an toàn giao thông (TTATGT) Cần báo cáo khẩn cấp lên Ủy ban An toàn Giao thông Quốc gia (UBATGTQG) về các tai nạn nghiêm trọng xảy ra trên địa bàn, đặc biệt là những vụ làm chết tại chỗ 3 người trở lên Đồng thời, cần khắc phục hậu quả của các vụ tai nạn giao thông (TNGT), xác định nguyên nhân và đề xuất các biện pháp kịp thời để ngăn chặn TNGT xảy ra trong tương lai.
Theo dõi và tổng hợp tình hình an toàn giao thông (TTATGT) trên địa bàn thành phố Tổ chức sơ kết và tổng kết tình hình TTATGT Đề xuất khen thưởng cho các tổ chức và cá nhân có thành tích xuất sắc trong việc đảm bảo TTATGT theo quy định.
Trong chương này, học viên đã trình bày về cơ sở hạ tầng giao thông và công tác quản lý giao thông tại TP Thủ Dầu Một và tỉnh Bình Dương, bao gồm các nội dung chính sau:
Hiện trạng giao thông TP Thủ Dầu Một bao gồm ba loại hình: đường bộ, đường sắt và đường thủy nội địa Mạng lưới đường bộ được thể hiện qua các hệ thống như đường quốc lộ, đường tỉnh và đường nội thị, với các con đường chính đặc trưng của TP Bên cạnh đó, có những định hướng quy hoạch hạ tầng kỹ thuật cho TP Thủ Dầu Một đến năm 2020.
Công tác quản lý phương tiện giao thông tại tỉnh Bình Dương bao gồm việc quản lý và đăng ký mới phương tiện cơ giới đường bộ, tình hình đăng kiểm phương tiện, quản lý vận tải hành khách công cộng, và đào tạo cấp giấy phép lái xe.
Hệ thống điều hành công tác an toàn giao thông (ATGT) tại tỉnh Bình Dương được tổ chức với cơ cấu rõ ràng, xác định vị trí, chức năng và nhiệm vụ quyền hạn của Ban ATGT tỉnh.
TÌNH HÌNH TAI NẠN GIAO THÔNG TRÊN ĐỊA BÀN TP THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
Tình hình TNGT trên địa bàn TP Thủ Dầu Một
3.1.1 Tình hình TNGT đường bộ
Bảng 3.1 : Bảng thống kê số vụ TNGT đường bộ ở TP TDM từ 2013 – 2015
[Nguồn : Báo cáo của Ban ATGT tỉnh Bình Dương]
Số vụ tai nạn giao thông
Số người bị thương Đặc biệt nghiêm trọng
Nghiêm trọng Ít nghiêm trọng, va chạm
Từ bảng 3.1, có thể thấy rằng trong giai đoạn 2013 - 2015, tình hình tai nạn giao thông (TNGT) tại TP Thủ Dầu Một đã có sự giảm sút rõ rệt ở cả ba tiêu chí: số vụ tai nạn, số người chết và số người bị thương.
Hình 3.1 : Một vụ TNGT ngày 05/04/2015 tại QL13, đoạn giao lộ ngã tư Sở
Sao phường Hiệp An, TP Thủ Dầu Một
Từ năm 2013 đến năm 2015, trên địa bàn thành phố đã xảy ra 2.304 vụ tai nạn giao thông đường bộ, dẫn đến 159 người tử vong và 1.989 người bị thương.
Phương tiện gây TNGT : mô tô, xe gắn máy chiếm 75,6%, ôtô các loại chiếm 17,67%, còn lại các phương tiện khác
Tuyến đường xảy ra TNGT trong đô thị chiếm gần 78%, Quốc lộ chiếm khoảng 17% và các ĐT và các đường giao thông nông thôn chiếm 5 %
Thời gian xảy ra TNGT cao nhất từ 12 giờ đến 18 giờ chiếm gần
33%, từ 18 giờ đến 24 giờ chiếm khoảng 42%
Đối tượng gây TNGT dẫn đến hậu quả nghiêm trọng là nam giới chiếm khoảng 89%
Độ tuổi bị TNGT từ 18 – 55 chiếm khoảng 95%
Các nguyên nhân gây TNGT chủ yếu:
+ Vi phạm tốc độ chiếm khoảng 32%
+ Chuyển hướng sai quy định chiếm gần 23%
+ Đi không đứng phần đường chiếm 10%
+ Và các nguyên nhân khác…
3.1.2 Phân tích các nguyên nhân gây TNGTĐB trên địa bàn TP TDM a Phân tích theo nguyên nhân do gia tăng của phương tiện giao thông
Từ bảng 2.1 chương 2 trang 25: Bảng thống kê số lượng và tình hình tăng trưởng phương tiện cơ giới trên địa bàn tỉnh Bình Dương từ năm 2012 –
2015, ta vẽ được biểu đồ hình 3.2
Sự gia tăng của phương tiện qua các năm 2012 - 2015
Hình 3.2 : Biểu đồ sự gia tăng phương tiện giao thông từ năm 2012 - 2015 [Nguồn : Báo cáo tổng kết ATGT của Ban ATGT tỉnh Bình Dương]
Biểu đồ hình 3.2 cho thấy sự gia tăng nhanh chóng về số lượng xe máy và ôtô trong 4 năm từ 2012 đến cuối năm 2015 Cụ thể, tổng số xe mô tô và xe máy đang quản lý đạt 964.366 xe, tăng 174.289 xe so với 790.077 xe vào năm 2012, tương ứng với mức tăng gần 1,22 lần.
2015 là 84.898 so với năm 2012 là 57.159 xe tăng 27.739 xe (tăng khoảng 1,5 lần)
Sự gia tăng phương tiện giao thông đã dẫn đến tình trạng gia tăng nhanh chóng số lượng người chết do tai nạn giao thông (TNGT), đồng thời ùn tắc giao thông trở thành một vấn đề nghiêm trọng trong xã hội Hệ quả của tình trạng này còn kéo theo vấn đề ô nhiễm môi trường ngày càng trầm trọng Phân tích nguyên nhân gây ra TNGT là cần thiết để tìm ra giải pháp hiệu quả.
Bảng 3.2: Bảng thống kê tổng các vụ TN theo nguyên nhân gây TNGT trên địa bàn TP TDM từ năm 2013 – 2015
Nguyên nhân 2013 2014 2015 Tổng Tỷ lệ
Không chấp hành biển BHĐB 11 0 25 36 1,56%
Tránh vượt sai quy định 5 125 9 139 6,02% Không nhường đường 120 31 120 271 11,74%
Chạy quá tốc độ 467 249 211 927 40,15% Đi không đúng phần đường 121 45 66 232 10,05%
[Nguồn : Báo cáo tổng kết ATGT của Ban ATGT tỉnh Bình Dương]
Các nguyên nhân chính dẫn đến tai nạn giao thông (TNGT) bao gồm chạy quá tốc độ, chuyển hướng không đúng, không nhường đường, đi không đúng phần đường và tránh vượt sai quy định, tất cả đều vi phạm quy tắc giao thông Theo thống kê, gần 70% tai nạn giao thông đường bộ (TNGTĐB) do môtô và xe máy gây ra, chủ yếu do lỗi của người điều khiển phương tiện.
Chạy quá tốc độ Chuyển hướng Không nhường đường Đi không đúng phần đường
Tránh vượt sai quy định
Bộ hành Không chấp hành biển BHĐB
Số vụ tai nạn theo nguyên nhân
Hình 3.3 : Biểu đồ tổng số vụ TN theo nguyên nhân gây TNGT năm 2013 -
Các tai nạn giao thông chủ yếu xảy ra giữa môtô với môtô, môtô với xe đạp, và môtô với người đi bộ Việc hạn chế lưu thông bằng xe máy và khuyến khích sử dụng phương tiện công cộng là giải pháp hiệu quả để giảm thiểu tai nạn giao thông đường bộ Phân tích theo tuyến đường cũng là một yếu tố quan trọng trong việc xác định nguyên nhân gây tai nạn.
Tổng số vụ TNGT được thống kê bao gồm số vụ TN từ năm 2011-2015 theo tuyến đường gây TNGT được thể hiện trên biểu đồ hình 3.4
Hình 3.4 : Biểu đồ tổng số vụ TN theo tuyến đường gây TNGT năm 2011 -
Theo báo cáo của Ban ATGT tỉnh Bình Dương, từ năm 2011 đến 2015, số vụ tai nạn giao thông (TNGT) trong khu vực nội thành đạt 3.615 vụ, chiếm 78,96% tổng số vụ TNGT thường xảy ra vào các dịp lễ, tết và giờ cao điểm, đặc biệt trên các tuyến đường như Lê Hồng Phong, Cách Mạng Tháng 8, 30/4 và BS Yersin Nguyên nhân chính dẫn đến các vụ TNGT nghiêm trọng là do sự chủ quan của người điều khiển phương tiện, bao gồm việc chạy quá tốc độ, thiếu chú ý quan sát, vượt sai quy định và sử dụng rượu bia khi lái xe.
Tuyến QL13 thường xuyên xảy ra tai nạn giao thông do sự tham gia của nhiều loại phương tiện cơ giới, bao gồm xe khách và ô tô tải, đặc biệt là tại các khu công nghiệp Sự đa dạng này tạo ra tình trạng hỗn loạn và gia tăng nguy cơ tai nạn tại các điểm giao thông quan trọng ở TP Thủ Dầu Một Phân tích theo thời gian cho thấy sự gia tăng tần suất tai nạn giao thông trong khu vực này.
Phân tích tình hình TNGT trong hai năm 2014- 2015 cho thấy :
Quốc lộ Nội thành Tỉnh lộ
Hình 3.5 : Biểu đồ số vụ TN theo thời gian gây TNGT năm 2014 – 2015
[Nguồn : Báo cáo của Ban ATGT tỉnh Bình Dương]
Qua biểu đồ hình 3.5 cho thấy, 02 khoảng thời gian xảy ra TNGT nhiều nhất là từ 12h – 18h và 18h – 24h, chiếm tỷ lệ cao nhất
Khoảng thời gian từ 12h đến 18h là thời điểm hoạt động cao nhất trong ngày, với giờ cao điểm từ 16h30 đến 18h Tại thời điểm này, ùn tắc giao thông thường xảy ra do mọi người vội vàng trở về nhà sau một ngày làm việc Thêm vào đó, sự chuyển giao giữa ngày và đêm khiến cho việc điều khiển phương tiện cơ giới trở nên khó khăn, dẫn đến tình trạng lúng túng và xử lý tình huống kém Do đó, tai nạn giao thông rất dễ xảy ra trong khoảng thời gian này.
Khoảng thời gian từ 18h đến 24h là thời điểm mà nồng độ cồn được sử dụng cao nhất, đặc biệt là ở thanh, thiếu niên tham gia giao thông Họ thường có hành vi lái xe lạng lách, đánh võng và chạy quá tốc độ, dẫn đến nguy cơ tai nạn giao thông (TNGT) gia tăng Do đó, việc lạm dụng nồng độ cồn và vi phạm tốc độ có thể gây ra TNGT bất cứ lúc nào.
Theo phân tích biểu đồ hình 3.6, trong khoảng thời gian từ tháng 01/2014 đến tháng 12/2015, tỷ lệ tai nạn giao thông (TNGT) liên quan đến giới tính cho thấy nam giới chiếm 91,40% trong số các đối tượng gây ra TNGT nghiêm trọng.
TNGT chủ yếu xảy ra ở người đi xe gắn máy, cho thấy họ thường vi phạm pháp luật khi tham gia giao thông Các nguyên nhân chính dẫn đến tai nạn bao gồm chạy quá tốc độ, say rượu bia, chở quá số người quy định và vượt sai quy định Do đó, công tác xử lý vi phạm an toàn giao thông cần tập trung vào nhóm đối tượng này, đồng thời cần tăng cường tuyên truyền và giáo dục pháp luật để nâng cao ý thức của họ.
Hình 3.6 : Biểu đồ tỷ lệ giới tính Nam - Nữ gây TNGT năm 2014- 2015
[Nguồn : Báo cáo của Ban ATGT tỉnh Bình Dương] f Phân tích theo độ tuổi gây TNGT
Tỷ lệ giới tính Nam - Nữ gây TNGT năm 2014 - 2015
Hình 3.7: Độ tuổi gây TNGT năm 2014-2015
[Nguồn : Báo cáo của Ban ATGT tỉnh Bình Dương]
Theo số liệu thống kê số liệu trên biều đô hình 3.7 của Ban ATGT tỉnh Bình Dương, từ năm 2014 - 2015 đối tượng gây TNGTĐB trong TP cho thấy:
Trong độ tuổi dưới 18, tỷ lệ người sử dụng mô tô trái phép chiếm khoảng 2-3% Đây là nhóm đối tượng chưa có Giấy phép lái xe (GPLX) và thường mượn xe mà không có kiến thức hay ý thức về an toàn giao thông (ATGT) Đặc biệt, phần lớn là học sinh cấp ba và thanh thiếu niên không có việc làm, dẫn đến việc vi phạm Luật giao thông đường bộ.
Trong độ tuổi từ 18 đến 27, tỷ lệ gây tai nạn giao thông (TNGT) chiếm hơn 30% tổng số vụ tai nạn đường bộ Đây là nhóm tuổi lao động trẻ, bao gồm sinh viên, thanh niên học nghề và công nhân Đối tượng này thường chưa nắm vững luật giao thông và thiếu kinh nghiệm lái xe, dẫn đến việc nhiều người mới lái có xu hướng chạy quá tốc độ và phóng nhanh vượt ẩu.
< 18 tuổi 18 - 27 tuổi 27 - 55 tuổi > 55 tuổi khỏi hàng và hay vượt đèn đỏ, nhưng lại thiếu kỹ năng giải quyết tình huống trên đường nên dễ gây TNGT
Trong độ tuổi từ 27 đến 55, nhóm này chiếm khoảng 70% và có tỷ lệ gây tai nạn giao thông (TNGT) cao nhất Nguyên nhân chủ yếu là do đây là độ tuổi lao động chính, tham gia giao thông với tần suất lớn Ngoài ra, việc sử dụng rượu bia và chạy quá tốc độ cũng phổ biến trong nhóm này, đa số là người lao động tự do.
Dự báo về tình hình tăng trưởng phương tiện giao thông, TNGT và trên địa bàn TP Thủ Dầu Một trong thời gian tới
Trong những năm tới, cơ sở hạ tầng giao thông sẽ tiếp tục được cải tạo và nâng cấp, với việc xây dựng thêm các đường tránh xa trung tâm thành phố và các khu công nghiệp Điều này sẽ giúp giảm mật độ phương tiện và người tham gia giao thông Công tác tổ chức giao thông sẽ được củng cố và sắp xếp khoa học nhằm phục vụ cho các hoạt động xã hội và phát triển kinh tế - xã hội Tuy nhiên, tình hình an toàn giao thông trong những năm tới vẫn sẽ tiếp tục phức tạp.
Sự phát triển kinh tế và gia tăng dân số, cùng với số lượng phương tiện gia tăng không tương xứng với hạ tầng, đang ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình an toàn giao thông Theo thống kê, phát triển hạ tầng giao thông chỉ chiếm 2-3%, trong khi dân số tăng gần 2% mỗi năm và phương tiện cơ giới đường bộ tại TP dự kiến tăng trung bình 13,2%/năm đối với ô tô và trên 11%/năm đối với mô tô Mục tiêu của TP là đạt từ 1 đến 1,2 triệu dân, dẫn đến áp lực giao thông ngày càng lớn.
Chương này trình bày tình hình tai nạn giao thông (TNGT) trên địa bàn TP Thủ Dầu Một từ năm 2013 đến 2015, tập trung vào TNGT đường bộ Dựa trên số liệu từ Ban An toàn giao thông tỉnh Bình Dương, nghiên cứu đã phân tích các nguyên nhân gây ra TNGT đường bộ, trong đó nguyên nhân chủ yếu là do người điều khiển phương tiện không tuân thủ quy định, như chạy quá tốc độ, chuyển hướng không đúng, không nhường đường, và đi sai phần đường Đặc biệt, nam giới chiếm hơn 90% trong các vụ TNGT, thường xảy ra tại các tuyến đường chính và nút giao thông.
Học viên dự báo rằng tình hình tăng trưởng phương tiện giao thông và tai nạn giao thông (TNGT) tại TP Thủ Dầu Một trong thời gian tới sẽ diễn biến phức tạp Nguyên nhân chính là do sự gia tăng dân số và số lượng phương tiện cơ giới đường bộ.