Chương 1: Lý luận chung về kế toán nguyên vật liệu trong các doanh nghiệp 8 1.1 Khái niệm, đặc điểm của nguyên vật liệu trong các doanh nghiệp 8 1.2 Yêu cầu của việc quản lý nguyên vật liệu trong quá trình sản xuất kinh doanh 9 1.3 Nhiệm vụ của kế toán nguyên vật liệu trong các doanh nghiệp sản xuất . 10 1.4 Phân loại và các phương pháp tính giá nguyên vật liệu trong các doanh nghiệp 12 1.5 Kế toán nguyên vật liệu 19 1.6 Hình thức ghi sổ kế toán NVL trong các doanh nghiệp 35 Chương 2: Thực trạng kế toán nguyên vật liệu tại công ty cổ phần bia hà nội – quảng bình 38 2.1 Tổng quan về Công ty cổ phần bia Hà Nội – Quảng Bình 38 2.2 Tổ chức công tác kế toán của Công ty Cổ phần Bia Hà Nội - Quảng Bình 46 2.3 Thực tế công tác kế toán nguyên vật liệu tại công ty cổ phần bia Hà Nội – Quảng Bình 51 2.3.1. Đặc điểm và phân loại nguyên vật liệu của Công ty Cổ phần Bia Hà Nội - Quảng Bình 51 2.3.2. Tính giá nguyên vật liệu nhập kho và xuất kho 52 2.3.3. Kế toán chi tiết nguyên vật liệu 53 2.3.4. Kế toán tổng hợp vật liệu 65 Chương 3: hoàn thiện kế toán nguyên vật liệu tại Công ty Cổ phần Bia Hà Nội - Quảng Bình 78 3.1 Đánh giá thực trạng về kế toán nguyên vật liệu tại Công ty Cổ phần Bia Hà Nội - Quảng Bình 78 3.1.1. Những ưu điểm 79 3.1.2. Những tồn tại 80 3.2. Hoàn thiện kế toán nguyên vật liệu tại Công ty Cổ phần Bia Hà Nội - Quảng Bình 82 3.2.1. Kiến nghị về chứng từ kế toán 82 3.2.2. Kiến nghị về tài khoản 83 3.2.3. Kiến nghị về sổ kế toán 83 3.2.4. Kiến nghị về báo cáo kế toán 86 3.2.5. Các kiến nghị khác 87 Kết luận.
Trang 1MụC LụC
MụC LụC 1
DANH MụC BIểU BảNG SƠ Đồ 3
Danh mục ký hiệu Các chữ viết tắt 5
Lời mở đầu 6
Chương 1: Lý luận chung về kế toán nguyên vật liệu trong các doanh nghiệp 8
1.1 Khái niệm, đặc điểm của nguyên vật liệu trong các doanh nghiệp 8
1.2 Yêu cầu của việc quản lý nguyên vật liệu trong quá trình sản xuất kinh doanh 9
1.3 Nhiệm vụ của kế toán nguyên vật liệu trong các doanh nghiệp sản xuất 10 1.4 Phân loại và các phương pháp tính giá nguyên vật liệu trong các doanh nghiệp 12
1.5 Kế toán nguyên vật liệu 19
1.6 Hình thức ghi sổ kế toán NVL trong các doanh nghiệp 35
Chương 2: Thực trạng kế toán nguyên vật liệu tại công ty cổ phần bia hà nội – quảng bình 38
2.1 Tổng quan về Công ty cổ phần bia Hà Nội – Quảng Bình 38
2.2 Tổ chức công tác kế toán của Công ty Cổ phần Bia Hà Nội - Quảng Bình .46
2.3 Thực tế công tác kế toán nguyên vật liệu tại công ty cổ phần bia Hà Nội – Quảng Bình 51
2.3.1 Đặc điểm và phân loại nguyên vật liệu của Công ty Cổ phần Bia Hà Nội - Quảng Bình 51
2.3.2 Tính giá nguyên vật liệu nhập kho và xuất kho 52
2.3.3 Kế toán chi tiết nguyên vật liệu 53
2.3.4 Kế toán tổng hợp vật liệu 65
Chương 3: hoàn thiện kế toán nguyên vật liệu tại Công ty Cổ phần Bia Hà Nội - Quảng Bình 78
Trang 23.1 Đánh giá thực trạng về kế toán nguyên vật liệu tại Công ty Cổ phần Bia
Hà Nội - Quảng Bình 78
3.1.1 Những ưu điểm 79
3.1.2 Những tồn tại 80
3.2 Hoàn thiện kế toán nguyên vật liệu tại Công ty Cổ phần Bia Hà Nội - Quảng Bình 82
3.2.1 Kiến nghị về chứng từ kế toán 82
3.2.2 Kiến nghị về tài khoản 83
3.2.3 Kiến nghị về sổ kế toán 83
3.2.4 Kiến nghị về báo cáo kế toán 86
3.2.5 Các kiến nghị khác 87
Kết luận 89
Danh mục tài liệu tham khảo 90
Trang 3DANH MụC BIểU BảNG SƠ Đồ
Sơ đồ1: Quy trình kế toán chi tiết NVL theo phương pháp thẻ song
song
Sơ đồ 2: Quy trình kế toán chi tiết NVL theo phương pháp sổ đối chiếu
luân chuyển
Sơ đồ 3: Quy trình kế toán chi tiết NVL theo phương pháp sổ số dư
Sơ đồ 4: Quá trình kế toán tổng hợp NVL theo phương pháp kê khai
Sơ đồ 9: Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh
Sơ đồ 10: Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý của Công ty
Sơ đồ 11: Sơ đồ quy trình công nghệ sản xuất Bia Hà Nội - Quảng Bình
Sơ đồ 12: Sơ đồ tổ chức bộ máy kế toán của Công ty
Sơ đồ 13: Sơ đồ trình tự ghi sổ kế toán theo hình thức kế toán Nhật ký
- Chứng từ
Sơ đồ 14: Sơ đồ trình tự ghi sổ kế toán nguyên vật liệu theo hình thức
chứng từ ghi sổ
Biểu số 1: Hóa đơn
Biểu số 2: Phiếu kiểm tra chất lượng hàng hóa
Trang 4Biểu số 3: Phiếu nhập kho
Biểu số 4: Phiếu xuất kho
Biểu số 6: Sổ chi tiết nhập vật tư
Biểu số 7: Sổ chi tiết xuất vật tư
Biểu số 8: Bảng tổng hợp nhập, xuất, tồn vật tư
Biểu số 9: Bảng kê chi tiết nhập vật tư
Biểu số 15: Bảng kê chi tiết xuất vật tư
Biểu số 16: Bảng phân bổ nguyên vật liệu
Biểu số 17: Bảng kê số 4
Biểu số 18: Bảng kê số 5
Biểu số 19: Nhật ký - Chứng từ số 7
Biểu số 20: Sổ cái TK 152
Biểu số 21: Sổ chi tiết vật liệu
Biểu số 22: Sổ danh điểm vật liệu
Trang 5Danh mục ký hiệu các chữ viết tắt
Trang 6Lời mở đầu
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế quốc dân thì sự phát triển củacác doanh nghiệp sản xuất là nhân quan trọng tố thúc đẩy sự phát triển chungcủa nền kinh tế Để tồn tại và phát triển trong nền kinh tinh tế thị trường, cácdoanh nghiệp đã không ngừng cải tiến và áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật
và công nghệ mới vào sản xuất nhằm tăng năng suất lao động, nâng cao chấtlượng sản phẩm Cùng với việc đưa tiến bộ khoa học vào sản xuất, các doanhnghiệp còn phải chú trọng trong công tác quản lý kinh tế, trong đó công tác tếtoán với tư cách là công cụ quản lý kinh tế ngày càng được củng cố và nângcao nhằm khai thác tối đa sức mạnh và sự hoàn thiện của nó
Trong các doanh nghiệp, sản xuất nguyên vật liệu là cơ sở vật chất chủyếu để hình thành nên sản phẩm mới Vì vậy, chất lượng của sản phẩm sẽphụ thuộc phần lớn vào nguyên vật liệu chính sẽ sản xuất sản phẩm Hơn nữa,nguyên vật liệu là một trong những yếu tố không thể thiếu được trong bất kỳquá trình sản xuất nào, chúng đóng một vai trò rất quan trọng, chiếm tỉ lệ lớntrong toàn bộ chi phí của doanh nghiệp Chính vì vậy, nghiên cứu để hợp lýhóa công tác kế toán nguyên vật liệu là một trong những nhiệm vụ quan trọnghàng đầu của doanh nghiệp sản xuất và của những người làm công tác kếtoán
Xuất phát từ ý nghĩa trên, là một sinh viên thực tập tại Công ty Cổ phầnBia Hà Nội - Quảng Bình, nhận thức vai trò của kế toán đặc biệt là kế toánnguyên vật liệu đối với doanh nghiệp sản xuất nói chung và của Công ty nóiriêng, với những kiến thức đã được trang bị ở nhà trường và tình hình thựctiễn của Công ty cùng với sự hướng dẫn tận tình của thầy giáo hướng dẫn và
sự giúp đỡ của các cô, chú, anh chị trong phòng kế toán của Công ty Cổ phầnBia Hà Nội - Quảng Bình, em đã chọn luận văn tốt nghiệp:
Trang 7Hoàn thiện kế toán nguyên vật liệu tại Công ty Cổ phần Bia Hà Nội Quảng Bình"
-Nội dung đề tài gồm 3 chương:
- Chương 1: Lý luận chung về kế toán nguyên vật liệu trong các doanh
Trang 8Chương 1
Lý luận chung về kế toán nguyên vật liệu trong các doanh
nghiệp1.1 Khái niệm, đặc điểm của nguyên vật liệu trong các doanh nghiệp
Để tiến hành sản xuất kinh doanh thì đối tượng lao động là yếu tốkhông thể thiếu được, biểu hiện cụ thể của nó dưới dạng vật hoá là các loạivật liệu
Đối tượng lao động chỉ trở thành vật liệu khi có lao động của con ngườitác động vào.Chính vì vậy không phải bất cứ đối tượng lao động nào cũng làvật liệu Ví dụ: Quặng sắt không phải là vật liệu nhưng khi khai thác qua chếbiến thì lại trở thành vật liệu
Nói tóm lại: Vật liệu là đối tượng lao động được thay đổi do lao động
có ích của con người tác động vào nó Vật liệu là đối tượng lao động được biểu hiện dưới hình thái vật chất, là một trong ba yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất, là cơ sở cấu thành nên thực thể sản phẩm.
Đặc điểm của nguyên vật liệu
Nguyên vật liệu là đối tượng lao động thể hiện dưới dạng vật hoá, trongcác doanh nghiệp nguyên vật liệu được sử dụng phục vụ cho việc sản xuất,chế tạo sản phẩm hoặc thực hiện lao vụ dịch vụ hay sử dụng cho bán hàng,quản lý doanh nghiệp.Nguyên vật liệu cho tham gia vào 1 chu kỳ sản xuấtkinh doanh Khi tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh chúng bị tiêu haotoàn bộ hoặc bị thay đổi hình thái vật chất ban đầu để tạo thành hình thái vậtchất của sản phẩm Nguyên vật liệu thuộc tài sản lưu động, giá trị nguyên vậtliệu thuộc vốn lưu động dự trữ và thường chiếm tỷ trọng lớn trong chi phí sảnxuất cũng như trong giá thành sản phẩm
Trang 91.2 Yêu cầu của việc quản lý nguyên vật liệu trong quá trình sản xuất kinh doanh.
Quản lý vật liệu là yêu cầu khách quan của mọi nền sản xuất xã hội.Trong điều kiện như hiện nay, nền sản xuất ngày càng mở rộng và phát triểntrên cơ sở đáp ứng đầy đủ nhu cầu phục vụ xã hội Sản phẩm tiêu thụ nhiềuthì lợi nhuận đem lại càng cao, việc sử dụng vật liệu một cách tiết kiệm hợp lý
có hiệu quả ngày càng được coi trọng
Trước hết phải quản lý chặt chẽ quá trình thu mua, vận chuyển bảoquản, sử dụng vật liệu là một trong những yếu tố đảm bảo cho quá trình sảnxuất kinh doanh của doanh nghiệp được tiến hành một cách thuận lợi vànhanh chóng Qua đó tạo điều kiện tốt cho việc thực hiện tiết kiệm chi phí sảnxuất hạ giá thành sản phẩm, không ngừng nâng cao chất lượng của sản phẩm,hàng hoá là cơ sở tăng lợi nhuận của doanh nghiệp
Ngoài ra, quản lý vật liệu chặt chẽ tránh mất mát hư hỏng, giảm bớtnhững rủi ro thiệt hại xảy ra trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp, góp phần nâng cao hiệu quả quá trình sản xuất kinh doanh
Mặt khác, quản lý vật liệu còn là điều kiện tốt để xác định hiệu quả sảnxuất kinh doanh và đánh giá tài sản của một đơn vị một cách đầy đủ, xác thực,đảm bảo tính trung thực khách quan của số liệu, thông tin trình bày trên báocáo tài chính Với những ý nghĩa đó, việc quản lý vật liệu trong các doanhnghiệp sản xuất phải đảm bảo các yêu cầu sau:
- Trong khâu thu mua: Phải quản lý về mọi mặt khối lượng, quy cách,
đúng chủng loại và chất lượng, giá mua và chi phí thu mua của vật liệu phảiđược phản ánh đầy đủ và chính xác, kế hoạch thu mua vật liệu phải đúng tiến
độ thời gian, phù hợp với kề hoạch sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
- Trong khâu bảo quản: Để tránh mất mát hư hỏng, hao hụt, đảm bảo
an toàn vật liệu, việc tổ chức tốt kho tàng bến bãi thực hiện đúng chế độ bảo
Trang 10quản đối với từng loại vật liệu cũng ảnh hưởng không nhỏ tới quá trình sảnxuất và kết quả kinh doanh.
-Trong khâu sử dung vật liệu: Phải thực hiện tốt định mức tiêu hao,
sử dụng hợp lý tiết kiệm trên cơ sở các định mức và dự toán chi nhằm pháthuy hiệu quả sử dụng vật liệu, nâng cao chất lượng và có ý nghĩa quan trọngtrong việc hạ thấp giá thành sản phẩm tăng thu nhập tăng tích luỹ cho doanhnghiêp.Đồng thời phải thường xuyên hoặc định kỳ phân tích tình hình thựchiện định mức tiêu hao vật liệu trong sản xuất, đó cũng là cơ sở làm tăng thêmsản phẩm cho xã hội Do vậy trong khâu sử dụng cần phải tổ chức tốt việc ghichép phản ánh tình hình xuất dùng và sử dụng vật liệu trong sản xuất kinhdoanh
- Trong khâu dự trữ: Để đảm bảo cho quá trình kinh doanh được diễn
ra bình thường, không bị ngừng trệ hoặc gây tình trạng ứ đọng vốn do dự trữquá nhiều, đòi hỏi các doanh nghiệp phải xác định được định mức dự trữ tối
đa, tối thiểu
Tóm lại: Vật liệu là yếu tố quan trọng trong quá trình tạo ra sản phẩm,
muốn sản phẩm đạt tiêu chuẩn, chất lượng cao và tạo được uy tín trên thịtrường thì nhất thiết phải tổ chức tốt việc quản lý vật liệu
1.3 Nhiệm vụ của kế toán nguyên vật liệu trong các doanh nghiệp sản xuất
Một trong những nhiệm vụ hàng đầu của công tác quản lý kinh tế là tiếtkiệm lao động xã hội
Trong doanh nghiệp sản xuất thì phải tiết kiệm triệt để các loại chi phínhằm hạ giá thành sản phẩm
Như phần trên đã nêu: Vật liệu là khoản mục chi phí chiếm tỷ trọng lớnnhất, ngoài ra còn là bộ phận quan trọng trong giá thành sản phẩm của doanhnghiệp Do vậy việc quản lý và sử dụng vật liệu là một trong những nhân tốquyết định sự thành công của công tác quản lý kinh doanh
Trang 11Ngày nay trong điều kiện kinh tế thị trường, việc cạnh tranh gay gắtgiữa các doanh nghiệp là điều không thể tránh khỏi.Trong cuộc tranh đua này
ai biết cách tổ chức quản lý,bố trí sắp xếp công việc nhịp nhàng theo mộtguồng máy, không để một bộ phận nào phải dừng thì doanh nghiệp đó sẽđứng vững và phát triển
Vật liệu là những yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất, nếu quản lý và
sử dụng tốt sẽ tạo cho các yếu tố đầu ra những cơ hội tốt để tiêu thụ.Vì vậytrong suốt quá trình luân chuyển, việc giảm đốc chặt chẽ số lượng vât lệu muavào, xuất dùng để đảm bảo cho chất lượng sản phẩm theo đúng yêu cầu về kỹthuật, giá trị đề ra đòi hỏi cán bộ kế toán vật liệu phải thực hiện những nhiệm
vụ sau:
Thứ nhất: Tổ chức ghi chép, phản ánh tổng hợp số liệu về tình hình
thu mua vận chuyển, bảo quản, tình hình nhập xuất tồn kho vật liệu về mặt sốlượng, chủng loại, giá cả, thời hạn nhằm cung cấp đày đủ, kịp thời chủng loạivật liệu cho quá trình sản xuất, kiểm tra giá cả của vật liệu và tính đúng giáthành thực tế của vật liệu mua vào
Thứ hai: áp dụng đòi hỏi đúng đắn các phương pháp hạch toán ban đầu
về vật liệu, mở các sổ thẻ kế toán chi tiết để ghi chép, phân loại tổng hợp sốliệu về thực hiện có và tình hình biến động tăng giảm trong quá trình sản xuấtkinh doanh, tính toán đúng trị giá vốn vật liệu xuất dùng, cung cấp số kiệu kịpthời để tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
Thứ ba: Kiểm tra việc chấp hành chế độ bảo quản dự trữ và sử dụng
vật liệu, kiểm tra tiến độ thực hiện kế hoạch mua vật liệu, kiểm tra việc thựchiện kế hoạch giá thành vật liệu mua vào, kiểm tra việc tuân thủ các định mứctiêu hao vật liệu dùng vào sản xuất
Thứ tư: Tham gia kiểm kê đánh giá lại vật liệu tồn kho theo đúng chế
độ nhà nước quy định, lập báo cáo về vật liệu phục vụ cho công tác quản lý và
Trang 12lãnh đạo, tiến hành phân tích kinh tế tình hình thu mua bảo quản, dự trữ và sửdụng vật liệu nhằm đưa ra đầy đủ các thông tin cần thiết cho quá trình quảnlý.
Như vậy công tác kế toán vật liệu sẽ góp phần thúc đẩy cung ứng kịpthời đồng bộ vật liệu cần thiết cho sản xuất, nâng cao hiệu quả sử dụng
1.4 Phân loại và các phương pháp tính giá nguyên vật liệu trong các doanh nghiệp
1.4.1 Phân loại nguyên vật liệu
Trong các doanh nghiệp sản xuất, nguyên vật liệu được sử dụng vớikhối lượng lớn, bao gồm nhiều loại khác nhau, vai trò công cụ kinh tế tínhnăng lý hoá khác nhau và biến động thường xuyên liên tục hàng ngày trongquá trình sản xuất Để quản lý được vật liệu một cách chặt chẽ, khoa học, hợp
lý thì phải phân loại vật liệu theo những tiêu thức nhất định
Tuy nhiên việc phân loại cũng tuỳ thuộc vào từng loại hình trong doanhnghiệp và từng ngành sản xuất khác nhau Song nhìn chung trong các doanhnghiệp sản xuất việc phân loại vật liệu được phân chia theo các tiêu thức sau:
* Theo nội dung kinh tế, vai trò của chúng trong quá trình sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp vật liệu được chia thành các loại sau:
+ Nguyên vật liệu chính(bao gồm cả nửa thành phẩm mua ngoài)
Nguyên vật liệu chính là đối tượng lao động chủ yếu cấu thành nên thực thểchính của sản phẩm như thép, sắt trong các doanh nghiệp chế tạo máy, cơkhí , xây dựng cơ bản, bông trong các nhà máy sợi, vải trong các nhà máymay…Đối với nửa thành phẩm mua ngoài với mục đích là tiếp tục quá trìnhsản xuất ra sản phẩm hàng hoá Ví dụ như sợi mua ngoài trong các doanhnghiệp dệt cũng được coi là nguyên vật liệu chính
+Vật liệu phụ là những đối tượng lao động nhưng nó không phải là cơ
sở vật chất chủ yếu hình thành nên sản phẩm mới Vật liệu phụ chỉ có tác
Trang 13dụng trong quá trình sản xuất chế tạo sản phẩm Ví dụ như làm tăng chấtlượng nguyên vật liệu chính và sản phẩm, phục vụ cho công tác quản lý, phục
vụ sản xuất, phục vụ cho nhu cầu công nghệ, cho việc bảo quản bao gói sảnphẩm như các loại thuốc nhuộm, thuốc tẩy, sơn, dầu nhờn…
+ Nhiên liệu: Bao gồm các loại ở thể lỏng, khí, rắn như xăng dầu, than
củi,hơi đốt, cung cấp năng lượng cho các phương tiện vận chuyển, máy mócthiết bị phục vụ cho công nghệ sản xuất sản phẩm trong quá trình sản xuấtkinh doanh
+ Phụ tùng thay thế: Là vật tư được sử dụng cho hoạt động sửa chữa,
bảo dưỡng TSCĐ
+ Thiết bị xây dựng cơ bản: Bao gồm các loại thiết bị, phương tiện
lắp đặt vào các công trình cơ bản của doanh nghiệp
+ Phế liệu: Là các loại vật liệu loại ra trong quá trình sản xuất sản
phẩm như gỗ, thép, sắt vụn hoặc phế liệu thu hồi trong quá trình thanh lýTSCĐ
Từ cách phân loại này giúp cho kế toán vận dụng tốt các tài khoảntổng hợp, tài khoản cấp 1, cấp 2, để tổ chức hạch toán quản lý vật liệu mộtcách khoa học, chặt chẽ và có hiệu quả
* Theo nguồn hình thành, vật liệu có thể chia thành:
+ Vật liệu mua ngoài
* Theo quyền sở hữu có thể chia vật liệu thành:
+ Vật liệu tự có: Toàn bộ vật liệu thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp
Trang 14+ Vật liệu của bên ngoài: Vật liệu nhận gia công,chế biến hoặc giữ hộ.
* Theo mục đích sử dụng của vật liệu, vật liệu của doanh nghiệp đượcchia thành:
+ Nguyên vật liệu trực tiếp: Dùng cho sản xuất, chế tạo sản phẩm.+ Nguyên vật liệu dùng cho các nhu cầu khác: Phục vụ, quản lý ở cácphân xưởng, tổ, đội sản xuất, cho nhu cầu bán hàng, quản lý doanh nghiệp
1.4.2 Các phương pháp tính giá nguyên vật liệu
Đánh giá vật liệu là dùng thước đo tiền tệ để biểu hiện giá trị vật liệu theo những nguyên tắc nhất định Về kế toán Nhập- Xuất – Tồn kho vật liệu phải phản ánh theo trị giá vốn thực tế( giá thành thực tế của vật liệu nhập kho)
1.4.2.1 Tính giá vật liệu theo giá thành thực tế của vật liệu nhập kho
Nguyên vật liệu của doanh nghiệp thường được nhập từ nhiều nguồn khác nhau, tuỳ theo từng nguồn nhập mà giá vốn thực tế của vật liệu được xácđịnh như sau:
* Đối với vật liệu mua ngoài nhập kho
Thuế nhậpkhẩu phảinộp(nếu có) -
CKTMgiảm giáhàngmua(nếucó)
+
Chiphí thumua
Chú ý: Trường hợp doanh nghiệp áp dụng phương pháp khấu trừ thuế thì
giá mua là giá không có thuế GTGT, trường hợp Doanh nghiệp áp dụngphương pháp trực tiếp thuế thì giá mua bao gồm cả thuế GTGT
* Đối với nguyên vật liệu nhận góp liên doanh liên kết
* Đối với nguyên vật liệu được tài trợ, biếu tặng
* Đối với nguyên vật liệu tự chế biến
Trang 15* Đối với nguyên vật liệu thuê ngoài gia công chế biến
Giá thực
tế NVL =
Giá thực tế của
VL Xuất khothuê ngoài chếbiến
+
Tiền côngphải trả chongười nhậnchế biến
+
Chi phí vậnchuyển,bốc dỡbảo quản khi đi
* Phế liệu được đánh giá theo giá ước tính(giá thực tế có thể sử dụng được)
1.4.2.2 Tính giá nguyên vật liệu xuất kho
Đơn giá nguyên vật liệu nhập kho ở các lần nhập thường khác nhau nênkhi xuất dùng vật liệu kế toán phải tính chính xác trị giá vốn thực tế của vậtliệu xuất kho sử dụng cho các mục đích khác nhau Việc tính toán trị giá thực
tế của vật liệu xuất kho có thể được tính theo nhiều phương pháp, tuỳ theođiều kiện vận dụng của từng doanh nghiệp để có thể lựa chọn phương pháptính cho phù hợp
* Tính giá theo phương pháp giá thực tế đích danh
Phương pháp này thường được áp dụng đối với các loại vật liệu có giátrị cao, đặc chủng và bảo quản theo từng lô vật liệu nhập kho.Giá vật liệu xuấtkho được căn cứ vào đơn giá của vật liệu nhập kho theo từng lô không quantâm đến thời gian nhập
Ưu điểm: Đây là phương pháp lý tưởng nhất bởi giá trị hàng tồn khophản ánh đúng giá trị của nó
Nhược điểm: Công việc tính toán phức tạp, đòi hỏi phải hạch toán đầy
đủ, chi tiết, tỉ mỉ
Trang 16Phương pháp này thích hợp với những doanh nghiệp có những loạinguyên vật liệu có đặc điểm riêng, giá trị lớn, có điều kiện bảo quản riêngtừng lô nguyên vật liệu nhập kho.
* Tính theo phương pháp nhập trước- xuất trước
Theo phương pháp này, NVL được tính giá thực tế xuất kho trên cơ sởgiả định là lô hàng nào nhập trước thì xuất trước, xuất hết số nhập trước mớiđến số nhập sau theo giá thực tế của từng lô hàng xuất Như vậy giá trị vậtliệu tồn kho sẽ được tính gần với giá trị hiện tại vì được tính theo giá của lầnnhập kho mới nhất
Các doanh nghiệp có thể tính ngược lại bằng cách tính trị giá vốn hàngcòn lại theo đơn giá nhập sau xuất sau rồi dùng quan hệ cân đối vật liệu luânchuyển trong kỳ để tính trị giá vốn vật liệu xuất dùng trong kỳ
Ưu điểm của phương pháp này là đơn giản, dễ làm, luôn cập nhật đượcthông tin về tình hình nhập- xuất nguyên vật liệu trong kỳ một cách gần đúngvới luồng nhập xuất trong thực tế Đặc biệt khi giá cả có xu hướng tăng thì ápdụng phương pháp này, doanh nghiệp có số lãi nhiều hơn so với khi sử dụngphương pháp khác, do giá vốn hàng bán bao gồm những vật tư, hàng hoá muavào từ trước với giá thấp
Nhược điểm là làm cho doanh thu hiện tại không phù hợp với chi phíhiện tại bởi vì doanh thu hiện tại được tạo bởi giá trị vật tư đã được mua vào
từ đó rất lâu
Phương pháp này thích hợp với những doanh nghiệp có ít doanh điểmNVL, số lần nhập mổi loại không nhiều, việc sử dụng NVL đòi hỏi cao vềmặt chất lượng và thời hạn dự trữ
* Tính theo phương pháp nhập sau xuất trước
Trang 17Theo phương pháp này người ta giả thiết lô hàng nào nhập sau sẽ đượcxuất trước, hàng thuộc lô hàng nào thì lấy đơn giá mua thực tế hoặc giá thànhsản phẩm xuất thực tế của lô hàng đó để tính.
Ưu điểm của phương pháp này là đơn giản, dễ làm, luôn cập nhật vềgiá trị nhập xuất kho nguyên vật liệu, và nó làm cho những khoản doanh thuhiện tại phù hợp với những khoản chi phí hiện tại bởi doanh thu hiện tại tạo rabởi giá trị của vật tư mua ngay gần đó Đặc biệt khi giá cả thị trường có xuhướng tăng lên, phương pháp này sẽ giúp cho các doanh nghiệp giam đượcthuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp cho Nhà nước bởi lúc đó giá trị hànghoá tồn kho cuối kỳ sẽ là thấp nhất và giá vốn hàng bán tăng lên do đó giảmlợi nhuận dẫn tới thuế thu nhập giảm
Nhược điểm của phương pháp này là giá trị hàng tồn kho được phảnánh thấp hơn giá trị thực tế do đó vốn lưu động của doanh nghiệp cũng đượcphản ánh thấp hơn thực tế Điều này làm cho khả năng thanh toán của doanhnghiệp bị nhìn nhận là kém hơn so với khả năng thực tế Phương pháp này cóthể áp dụng ở những doanh nghiệp ít danh điểm vật liêụ, giá cả nguyên vậtliệu khá ổn định, tần số nhập, xuất mổi loại không nhiều
* Tính theo phương pháp hệ số giá
Do nguyên vật liệu có nhiều chủng loại, thường xuyên tăng giảm trongquá trình sản xuất kinh doanh mà yêu cầu công tác kế toán nguyên vật liệuphải phản ánh kịp thời tình hình biến động và số hiện có của nguyên vật liệu.Nên trong kế toán chi tiết nguyên vật liệu tồn kho có thể đánh giá theo giáhạch toán
Khi áp dụng phương pháp này toàn bộ vật liệu biến động trong kỳ tínhtheo giá hạch toán(giá kế hoạch hoặc một loại giá ổn định trong kỳ) Cuối kỳ
kế toán sẽ tiến hành điều chỉnh từ giá hách toán sang giá thực tế theo côngthức:
Trang 18NVL tồn đầu kỳ +
Trị giá hạch toánNVLnhập trong kỳ
Sau đó tính ra trị giá thực tế xuất kho:
Tuỳ thuộc vào từng đặc điểm, yêu cầu và trình độ quản lý của doanh nghiệp mà hệ số giá có thể tính riêng cho từng thứ, từng nhóm hoặc từng loại vật liệu của doanh nghiệp
Việc sử dụng giá cả hạch toán của vật liệu trong công tác kế toán hàng ngày sẽ giảm nhẹ công việc tính toán giá NVL nhập, xuất, tồn kho, song việc tính trị giá vốn vật liệu xuất kho không đảm bảo chính xác nếu như việc xây dựng giá hạch toán không hợp lý
* Tính theo phương pháp giá thực tế bình quân
+ Phương pháp tính giá bình quân của cả kỳ dự trữ
Trị giá thực tế NVLnhập kho trong kỳ
Số lượng NVLtồn kho đầu kỳ +
Số lượng NVL nhậpkho trong kỳPhương pháp này có ưu điểm là tính toán đơn giản, dễ làm, tính toán giá trị của NVL xuất sử dụng trong kỳ tương đối chính xác Tuy nhiên, lại có nhược điểm là công việc tính toán dồn vào cuối kỳ, gây ảnh hưởng đến công tác quyết toán nói chung
+ Phương pháp tính giá bình quân cuối kỳ trước
Trang 19Nội dung chính của phương pháp này là lấy giá thực tế bình quân của mổi loại NVL tồn kho ở cuối kỳ trước làm đơn giá tính giá trị xuất kho của NVL đó trong kỳ.
Giá đơn vị bình quân
Trị giá thực tế NVL tồn kho cuối kỳ trước
Số lượng NVL tồn kho cuối kỳ trướcGiá thực tế NVL
xuất trong kỳ =
Số lượng NVL xuất
Giá đơn vị bìnhquân cuối kỳ trướcPhương pháp này, mặc dù khá đơn giản và phản ánh kịp thời tình hình biến động của NVL trong kỳ Tuy nhiên không chính xác vì không tính đến
sự biến động của giá cả NVL kỳ này
+ Phương pháp tính giá bình quân sau mổi lần nhập
Theo phương pháp này, sau mổi lần nhập kho NVL, tính lại giá thực tế NVL bình quân sau mổi lần nhập kho và từ đó xác định giá trị NVL xuất sử dụng sau lần nhập đó
+
Trị giá thực tế NVLnhập giữa lần xuấttrước và lần xuất này
Số lượng NVL tồncuối lần xuất trước +
Số lượng NVL nhậpkho giữa lần xuấttrước và lần xuất này
Trị giá thực tế NVL
xuất sử dụng =
Số lượng NVLxuất sử dụng x
Giá đơn vịbình quânPhương pháp này có ưu điểm là khắc phục được nhược điểm của haiphương pháp trên, tính toán vừa chính xác vừa kịp thời giá trị của NVL xuấttrong kỳ Tuy nhiên phải tính toán nhiều lần, tốn công sức, không phù hợp với
kế toán bằng tay Thích hợp với doanh nghiệp sử dụng chương trình kế toánmáy và số lần nhập NVL trong kỳ không nhiều
Trang 20Chính vì mỗi phương pháp tính giá thực tế vật liệu xuất kho nêu trênđều có nội dung, ưu nhược điểm và những điều kiện áp dụng phù hợp nhấtđịnh nên doanh nghiệp phải căn cứ vào đặc điểm hoạt động SXKD, khả năngtrình độ của cán bộ kế toán cũng như yêu cầu quản lý để đảm bảo nguyên tắcnhất quán trong công tác kế toán.
1.5 Kế toán nguyên vật liệu
1.5.1 Kế toán chi tiết nguyên vật liệu trong các doanh nghiệp
Như chúng ta đã biết, NVL trong các doanh nghiệp gồm nhiều thứ,nhiều chủng loại, quy cách, phẩm chất khác nhau được thu mua từ nhiềunguồn với giá cả khác nhau Đồng thời số lượng từng thứ NVL xuất dùngtrong kỳ cho các đơn vị sử dụng cũng khác nhau Do vậy kế toán chi tiết NVL
là việc ghi chép hàng ngày tình hình biến động về số lượng, giá trị, chất lượngcủa từng thứ, từng loại NVL theo từng kho hàng của doanh nghiệp Kế toánchi tiết NVL được tiến hành ở kho và ở phòng kế toán
1.5.1.1 Chứng từ sử dụng
Theo chế độ chứng từ kế toán của Bộ tài chính quy định bao gồm:
- Phiếu nhập kho
- Phiếu xuất kho
- Phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ
- Biên bản kiểm kê vật tư, sản phẩm hàng hoá
Trang 21hoạt động, thành phần kinh tế, hình thức sở hữu khác nhau, tuỳ thuộc vào nộidung nghiệp vụ cụ thể.
Ngoài các chứng từ buộc phải sử dụng thống nhất theo quy định củaNhà nước, các doanh nghiệp có thể sử dụng thêm các chứng từ kế toán hướngdẫn như: Phiếu xuất vật tư theo hạn mức, biên bản kiểm nghiệm vật tư, phiếubáo vật tư còn lại cuối kỳ và các chứng từ khác
Các chứng từ kế toán phải được lập kịp thời, đầy đủ, đúng quy định củaNhà nước và phải được Nhà nứoc luân chuyển theo trình tự thời gian do kếtoán trưởng quy định phục vụ tốt cho ghi chép kế toán tổng hợp và các bộphận liên quan
1.5.1.2 Sổ kế toán chi tiết nguyên vật liệu
Tuỳ thuộc vào phương pháp kế toán chi tiết NVL áp dụng trong doanh nghiệp mà sử dụng các sổ(thẻ) kế toán chi tiết sau:
- Sổ(thẻ) kho
- Sổ(thẻ) chi tiết vật liệu
- Sổ đối chiếu luân chuyển
- Sổ số dư
1.5.1.3 Các phương pháp kế toán chi tiết NVL trong doanh nghiệp
Kế toán chi tiết NVL là công viêc phức tạp, có khối lượng ghi chép lớn
do nghiệp vụ liên quan đến vật liệu phát sinh thường xuyên Kế toán chi tiếtNVL đòi hỏi phải phản ánh kịp thời chính xác tình hình nhập xuất tồn sốlượng, chất lượng, thứ tự của từng thứ vật liệu, từng kho và từng nguồn phụtrách vật chất
Trong thực tế, hiện nay có ba phương pháp kế toán chi tiết NVL sau:
a) Phương pháp thẻ song song
* Nguyên tắc ghi sổ
Trang 22+ ở kho: Thủ kho ghi chép sự biến động nhập xuất tồn của NVL trên thẻ kho,
thẻ kho được mở cho từng loại NVL
+ ở phòng kế toán: Kế toán theo dõi sự biến động nhập xuất tồn cả về giá trị
và hiện vật trên sổ chi tiết NVL
* Trình tự kế toán như sau:
+ ở kho: Thủ kho căn cứ vào phiếu nhập, phiếu xuất vật tư để thực hiện việc
nhập, xuất NVL Sau đó mới căn cứ vào phiếu nhập kho, phiếu xuất kho đểvào thẻ kho cho từng loại NVL và sau mỗi nghiệp vụ nhập hoặc xuất tính ra
số tồn kho trên thẻ Mỗi chứng từ được ghi một dòng Thủ kho có nhiệm vụthường xuyên đối chiếu giữa số tồn kho thực tế và số tồn trên thẻ kho để đảmbảo sổ sách và hiện vật luôn khớp nhau Sau khi ghi xong thẻ kho, định kỳhàng ngày hoặc 3-5 ngày chuyển chứng từ cho phòng kế toán để kế toán ghi
sổ kế toán
+ ở phòng kế toán: Định kỳ sau khi nhận được chứng từ do thủ kho chuyển
lên, kế toán NVL phải kiểm tra chứng từ, đối chiếu các chứng từ nhập xuấtkho với các chứng từ có liên quan( như hoá đơn mua hàng, hợp đồng vậnchuyển…) ghi đơn giá tính thành tiền cho từng chứng từ( phiếu nhập kho,phiếu xuất kho) sau đó vào sổ chi tiết NVL cả về giá trị và hiện vật Cuối kỳ,sau khi ghi chép toàn bộ các nghiệp vụ, kế toán phải tính toàn bộ số nhập,xuất, tồn cho từng danh điểm NVL về cả hiện vật và giá trị Sau đó tiến hànhđối chiếu với thẻ kho của thủ kho về số lượng Trên cơ sở đó kế toán tiếnhành lập bảng kê nhập, xuất, tồn kho NVL, sau đó tiến hành đối chiếu với kếtoán tổng hợp về mặt giá trị
Trang 23Sơ đồ 1: Quy trình kế toán chi tiết NVL theo phương pháp thẻ song song
Ghi chú: Quan hệ đối chiếu
Ghi hàng ngày
Ghi cuối kỳ
Ưu điểm: Phương pháp này đơn giản, dễ kiểm tra đối chiếu số liệu, đảm
bảo sự chính xác của thông tin, có thể cung cấp thông tin thường xuyên cả vềgiá trị và hiện vật của từng loại NVL nhập, xuất, tồn
Nhược điểm: Việc ghi chép giữa kho và phòng kế toán còn trùng lặp về
chỉ tiêu số lượng Ngoài ra việc kiểm tra chỉ tiêu đối chiếu chủ yếu tiến hànhvào cuối kỳ, do vậy hạn chế khả năng kịp thời của kế toán
Phạm vi áp dụng: Thích hợp ở các doanh nghiệp ít chủng loại nguyên
vật liệu, khối lượng nhập, xuất ít , phát sinh không thường xuyên, áp dụng với
kế toán được chuyên môn hoá và đã sử dụng kế toán máy vi tính
b) Phương pháp sổ đối chiếu luân chuyển
Bảng tổng hợp nhập xuất, tồn NVL
Kế toán tổng hợp
Trang 24+ ở phòng kế toán: Kế toán nguyên vật liệu theo dõi sự biến động nhập, xuất,
tồn của NVL cả về giá trị và hiện vật trên sổ đối chiếu luân chuyển Sổ nàyđược mở cho cả năm, mỗi loại NVL ghi một dòng
*Trình tự kế toán
+ ở kho: Trình tự ghi chép giống như phương pháp thẻ song song.
+ ở phòng kế toán: Kế toán NVL hàng ngày hoặc đầu kỳ sau khi nhận được
chứng từ trong kho chuyển đến ghi đơn giá, thành tiền Sau đó tiến hành phânloại chứng từ làm hai loại phiếu nhập và phiếu xuất rồi lên bảng kê nhập, xuấtNVL Cuối kỳ, dựa trên số liệu của bảng kê nhập và bảng kê xuất NVL vào sổđối chiếu luân chuyển cho từng loại nguyên vật liệu cả về hiện vật và giá trị.Mỗi loại NVL ghi trên một dòng, sau đó tính ra số tồn cả về hiện vật và giá trịcho từng loại NVL trên sổ đối chiếu luân chuyển Kế toán NVL lập kế hoạchđối chiếu với thủ kho về hiện vật với kế toán tổng hợp về giá trị Nếu cóchênh lệch do nhầm lẫn, phải tiến hành tìm nguyên nhân và điều chỉnh
Trang 25Sơ đồ 2 : Quy trình kế toán chi tiết NVL theo phương pháp sổ đối chiếu luân
chuyển.
Ghi chú: Ghi hàng ngày
Quan hệ đối chiếuGhi cuối kỳ
Ưu điểm: Phương pháp này đơn giản, dễ làm, khối lượng ghi chép có
giảm bớt so với phương pháp ghi thẻ song song
Nhược điểm: Việc ghi sổ vẫn trùng lặp giữa kho và phòng kế toán về
chỉ tiêu số lượng, việc kiểm tra đối chiếu số lượng giữa kho và phòng kế toánchỉ được tiến hành vào cuối kỳ, vì vậy hạn chế khả năng của kế toán Mặtkhác công tác kế toán thường dồn vào cuối kỳ nên việc lập báo cáo không kịpthời Do đó nếu có sai sót khó có thể phát hiện được
Phạm vi ứng dụng: Thích hợp với các doanh nghiệp có chủng loại NVL
phong phú đa dạng, mật độ nhập, xuất không nhiều, hệ thống kho tàng phântán, lao động kế toán không đủ để thực hịên ghi chép, theo dõi tình hình nhậpxuất hàng ngày Phương pháp này thường được áp dụng trong trường hơpdoanh nghiệp áp dụng kế toán hàng tồn kho theo phương pháp giá hạch toán
Bảng kê xuất
Bảng kê nhập
Kế toán tổng hợp
Trang 26c) Phương pháp sổ số dư
Phương pháp sổ số dư là phương pháp tổ chức kê toán chi tiết hàng tồnkho khi doanh nghiệp kế toán hàng tồn kho theo giá hạch toán Đặc điểm nổibật của phương pháp này là kết hợp chặt chẽ việc hạch toán nghiệp vụ của thủkho với việc ghi chép của phòng kế toán Trên cơ sở đó, ở kho chỉ hạch toán
về mặt số lượng và phòng kế toán chỉ hạch toán về mặt giá trị của NVL, xoá
bỏ việc ghi chép trùng lặp giữa kho và phòng kế toán, tạo điều kiện thực hiệnkiểm tra thường xuyên và có hệ thống của kế toán đối với thủ kho, đảm bảo
số liệu kế toán chính xác, kịp thời
Theo phương pháp này công việc kế toán được tiến hành như sau:
* Nguyên tắc ghi chép
+ ở kho: Thủ kho chỉ ghi chép sự biến động nhập, xuất, tồn của NVL về hiện
vật trên thẻ kho Cuối kỳ lấy số liệu trên thẻ kho vào sổ số dư và giao chophòng kế toán
+ ở phòng kế toán: Kế toán NVL chỉ theo dõi sự biến động nhập, xuất, tồn
của NVL về mặt giá trị trên bảng kê luỹ kế nhập, xuất, tồn
*Trình tự kế toán
+ ở kho: Ngoài những công việc giống hai phương pháp trên Định kỳ sau
khi ghi thẻ song, thủ kho phải tập hợp toàn bộ chứng từ nhập, xuất kho NVLphát sinh trong ngày ( hoặc trong kỳ ) theo từng nhóm NVL nhất định Căn cứvào kết quả phân loại chứng từ, lập phiếu giao nhận chứng từ trong đó kê rõ
số lượng, số hiệu các chứng từ của từng NVL, lập riêng cho phiếu nhập kho
và phiếu xuất kho Phiếu này sau khi lập xong được tính kèm với các tậpphiếu nhập kho và xuất kho để giao cho kế toán Cuối kỳ, thủ kho tính ra sốtồn trên thẻ kho trên từng nhóm NVL, lấy số tồn cuối kỳ ghi trên thẻ kho vào
sổ số dư về mặt hiện vật rồi chuyển sổ số dư cho kế toán NVL
Trang 27Sổ số dư do kế toán lập cho từng kho, mở theo năm Trên sổ số dư,NVL được sắp xếp theo từng thứ, nhóm, loại.
+ ở phòng kế toán: Hàng ngày hoặc định kỳ sau khi nhận được chứng từ
nhập, xuất NVL và phiếu giao nhận chứng từ do thủ kho chuyển đến, kế toántiến hành kiểm tra đối chiếu với các chứng từ liên quan Sau đó ghi đơn giácho từng chứng từ Tổng cộng số tiền của các chứng từ nhập, xuất kho theotừng nhóm NVL và ghi vào cột số tiền trên phiếu giao nhận chứng từ Căn cứvào phiếu giao nhận chứng từ đã được tính giá, kế toán ghi vào bảng luỹ kếnhập, xuất, tồn cho từng khoảng thời gian tương ứng Cuối kỳ tính ra số tồncuối kỳ của từng loại NVL trên bảng kê luỹ kế nhập, xuất, tồn và sau khi nhận
sổ số dư do thủ kho chuyển đến, kê toán NVL tính thành tiền cho từng loạiNVL tồn kho và tính ra tổng giá trị tồn kho trên sổ số dư
Số tồn kho cuối kỳ trên bảng luỹ kế nhập, xuất, tồn được tiến hành đốichiếu với cột số tiền trên sổ số dư và với bảng kê tính giá NVL của kế toántổng hợp ( nếu doanh nghiệp sử dụng giá hạch toán)
Sơ đồ 3 : Quy trình kế toán chi tiết NVL theo phương pháp sổ số dư
NVL
Phiếu giao nhận chứng từ xuất
Bản giao nhận chứng từ nhập
Kế toán tổng hợp
Sổ số dư
Trang 28Ghi chú:
Ghi hàng ngàyQuan hệ đối chiếuGhi cuối kỳ
Ưu điểm: Phương pháp này tránh được sự ghi chép trùng lặp giữa kho
và phòng kế toán, giảm bớt khôí lượng ghi chép kế toán, công việc được tiếnhành đều trong tháng Kế toán thực hiện việc kiểm tra thường xuyên đối vớiviệc ghi chép của thủ kho trên thẻ kho và kiểm tra thường xuyên việc bảoquản hàng trong kho của thủ kho Có thể cung cấp thông tin kịp thời chongười quản lý về giá trị NVL nhập, xuất, tồn
Nhược điểm: Do kế toán chỉ theo dõi về mặt giá trị, nên muốn biết số
hiện có và tình hình tăng giảm của từng thứ NVL về hiện vật phải xem số liệutrên thẻ, gây khó khăn cho việc đối chiếu, kiểm tra sai sót, nếu có nhầm lẫn,sai sót thường khó phát hiện
Phạm vi ứng dụng: Phương pháp này thích hợp với các doanh nghiệp
có quy mô sản xuất lớn, nhiều chủng loại NVL, mật độ nhập xuất cao, trình
độ nhân viên kế toán cao Phương pháp này chỉ sử dụng khi kế toán chi tiếtNVL tồn kho theo giá hạch toán
Theo xu hướng hiện nay, phương pháp thẻ song song ngày càng được
áp dụng phổ biến Trong điều kiện công tác kế toán ngày càng hiện đại hoá,các doanh nghiệp sản xuất đang dần dần chuyển từ kế toán thủ công sang kếtoán trên máy, các phần kế toán trên máy giúp kế toán có thể sử lý một khốilượng công việc khổng lồ trong thời gian ngắn Điều đó khắc phục đượcnhược điểm khối lượng ghi chép lớn của phương pháp thẻ song song Đồng
Trang 29thời có ưu điểm trong việc ghi chép đơn giản, rõ ràng, dễ kiểm tra, dễ đốichiếu, phương pháp thẻ song song rất phù hợp với kế toán máy Chính vì thếphương pháp thẻ song song trở thành xu hướng áp dụng phổ biến của cácdoanh nghiệp hiện nay vì phần lớn các doanh nghiệp ghi chép kế toán chi tiếtvật liệu theo giá thực tế.
1.5.2 Kế toán tổng hợp nguyên vất liệu trong các doanh nghiệp
Vật liệu là tài sản lưu động thuộc nhóm hàng tồn kho của doanhnghiệp Việc mở các tài khoản tổng hợp, ghi chép sổ kế toán và xác định giátrị hàng tồn kho, giá trị hàng bán ra hoặc xuất dùng trong kỳ phụ thuộc vàoviệc doanh nghiệp áp dụng kế toán hàng tồn kho theo phương pháp kê khaithường xuyên hay phương pháp kiểm kê định ky Việc vận dụng phương phápnào phải được thực hiện nhất quán trong niên độ kế toán
1.5.2.1 Kế toán tổng hợp nguyên vật liệu theo phương pháp kê khai
thường xuyên
a) Đặc điểm của phương pháp kê khai thường xuyên
Phương pháp kê khai thường xuyên hàng tồn kho là phương pháp ghichép phản ánh thường xuyên liên tục tình hình nhập xuát tồn kho của các loạihàng tồn kho nói chung và NVL nói riêng trên các TK và sổ kế toán tổng hợptrên cơ sở các chứng từ nhập xuất
Trong một niên độ kế toán thường có từ một đén hai lần doanh nghiệp
tổ chức kiểm tra, đối chiếu thực tế giữa số thực tế có trong kho với sổ kế toán,
để điều chỉnh xử lý kết quả kiểm kê cho phù hợp
Điều kiện áp dụng: Được áp dụng rộng rãi cho mọi loại hình doanhnghiệp có quy mô khác nhau
b) Tài khoản kế toán sử dụng
Để kế toán tổng hợp NVL kế toán sử dụng tài khoản chủ yếu sau:
Tài khoản 152: Nguyên vật liệu
Trang 30Tài khoản này dùng để phán ánh giá trị hiện có và tình hình biến động cácloại NVL theo giá thực tế Kết cấu TK 152 như sau:
+ Trị giá NVL được giảm giá hoặc trả lại người bán
+ Trị giá NVL thiếu hụt phát hiện khi kiểm kê
Dư nợ: Giá thực tế NVL tồn kho.
TK 152 có thể mở thành các tài khoản cấp 2 để kế toán chi tiết theotừng loại, nhóm, thứ NVL tuỳ theo yêu cầu quản lý của doanh nghiệp, thôngthường các doanh nghiệp chi tiết TK này theo vai trò và công dụng của NVLnhư:
TK 151: Hàng mua đang đi trên đường
Tài khoản này dùng để phản ánh giá trị các loại vật tư, hàng hoá màdoanh nghiệp đã mua đã chấp nhận thanh toán với người bán nhưng chưa vềnhập kho doanh nghiệp và tình hình hàng về
TK 151 có kết cấu như sau:
Bên nợ:
Trang 31+ Giá trị hàng hoá vật tư đang đi đường
Bên có:
+ Giá trị hàng hoá, vật tư đang đi đường đã về nhập kho hoặc chuyểngiao cho các đối tượng sử dụng hay khách hàng
Dư nợ: Giá trị hàng đi đường chưa về nhập kho.
Ngoài ra kế toán NVL còn dụng một số TK khác có liên quan như: TK
111, 112, 141, 154, 159, 222, 241, 331, 411, 621, 627, 641, 642
Quá trình kế toán tổng hợp NVL theo phương pháp kê khai thường xuyên có thể khái quát theo sơ đồ sau:
Trang 32Sơ đồ 4: Kế toán tổng hợp NVL theo phương pháp kê khai thường xuyên
TK 111, 112, 311, 331 TK 152 TK 621, 627, 641, 642
Giá mua, chi phí NVL nhập kho Giá trị NVL xuất kho sử dụng
trong doanh nghiệp
TK 133
GTGT
đầu vào TK 154 Gtt NVL xuất để gia công
TK 151 Chế biến
Hàng đi đường Hàng mua đang nhập kho
đi đường
TK 154 TK 221, 222, 223, 228 Xuất NVL để góp vốn đầu tư
Nhập kho NVL tự chế hoặc gia công 811 3387, 711
TK 221, 222, 223, 228 Xuất NVL trả vốn góp đầu tư
Nhận lại vốn góp đầu tư bằng
Trang 331.5.2.2 Kế toán tổng hợp NVL theo phương pháp kiểm kê định kỳ
a) Đặc điểm của phương pháp kiểm kê định kỳ
Phương pháp kiểm kê định kỳ là phương pháp kế toán căn cứ vào kếtquả kiểm kê thực tế để phán ánh giá trị hàng tồn kho cuối kỳ trên sổ kế toán tổng hợp và từ đó tính ra giá trị vật tư, hàng hoá đã xuất trong kỳ theo công thức:
Trị giá vật tư
hàng xuất kho =
Tổng giá trị vật
tư hàng hoámua vào trongkỳ
+
Trị giá vật tưhàng hoá tồnđầu kỳ
-Trị giá vật tưhàng hoá tồncuối kỳTheo phương pháp này, mọi biến động vật tư hàng hoá không theodõi, phản ánh trên các tài khoản hàng tồn kho Giá trị vật tư hàng hoá mua vànhập kho được phản ánh trên một tài khoản riêng ( Tài khoản: Mua hàng)
Công tác kiểm kê vật tư hàng hoá được tiến hành cuối mổi kỳ hạchtoán để xác định giá trị vật tư hàng hoá tồn kho thực tế, trên cơ sở đó kế toánphản ánh vào các tài khoản hàng tồn kho Như vậy, khi áp dụng phương phápnày, các tài khoản hàng tồn kho chỉ sử dụng đầu kỳ hạch toán ( để kết chuyển
số dư đầu kỳ) và cuối kỳ hạch toán ( để kết chuyển số dư cuối kỳ)
Phương pháp kiểm kê định kỳ thường được áp dụng ở những doanhnghiệp có nhiều chủng loại vật tư, hàng hoá với quy cách mẫu mã khác nhau,giá trị thấp và được xuất thường xuyên
Phương pháp này có ưu điểm là giảm nhẹ khối lượng công việc kếtoán, nhưng độ chính xác về vật tư hàng hoá xuất dùng cho các mục đích khácnhau phụ thuộc vào chất lượng công tácquản lý tại kho, quầy, bến, bãi…
b) Tài khoản sử dụng
Trang 34Đối với phương pháp kiểm kê định kỳ thì TK 152, 151 không dùng đểtheo dõi tình hình nhập xuất trong kỳ mà chỉ dùng để kết chuyển giá trị thực
tế vật liệu và hàng hoá đang đi đường vào lúc đầu kỳ, cuối kỳ vào TK 611
TK 611 dùng để phản ánh giá thực tế của số vật tư, hàng hoá mua vàoxuất trong kỳ Kết cấu TK như sau:
Bên nợ:
+ Kết chuyển giá thực tế của NVL còn lại đầu kỳ
+ Giá thực tế của NVL mua vào trong kỳ
+ Giá thực tế của NVL nhập kho từ các nguồn khác nhận góp liêndoanh, biếu tặng
Bên có:
+ Kết chuyển giá thực tế của NVL còn lại ở cuối kỳ
+ Số tiền chiết khấu thương mại giảm giá hàng mua, hàng mua trả lạicho người bán(nếu có)
+ Giá thực tế của vật liệu công cụ đã sử dụng trong kỳ
TK này cuối kỳ không có số dư và được chi tiết thành hai TK cấp 2
TK 6111: Mua NVL
TK 6112: Mua hàng hoá
Ngoài ra kế toán còn sử dụng các TK liên quan khác để kế toán như:
TK 331, 133, 111, 112
Trang 35Sơ đồ 5: Quá trình kế toán tổng hợp NVL theo phưong pháp kiểm kê định kỳ
TK 151, 152 TK 611 TK 151, 152
K/C NVL đi đường và tồn K/C NVL đI đường và
Kho đầu kỳ tồn kho cuối kỳ
TK 111, 112, 331 TK 111, 112, 331
Gtt NVL mua vào trong kỳ Trả NVL cho người bán
Hoặc CKTM giảm giá
Trang 361.4 Hình thức ghi sổ kế toán NVL trong các doanh nghiệp
a) Trường hợp doanh nghiệp áp dụng hình thức sổ kế toán Nhật ký chung
Sơ đồ 6: Hình thức sổ kế toán Nhật ký chung
Quan hệ đối chiếuGhi cuối kỳ
Chứng từ gốc về vật tư, BPB( nếu có)
Trang 37b) Trường hợp doanh nghiệp áp dụng hình thức kế toán Chứng từ ghi sổ
Sơ đồ 7 : Hình thức kế toán Chứng từ ghi sổ
Quan hệ đối chiếuGhi cuối kỳ
Chứng từ gốc về vật tư, BPB( nếu có)
Sổ đăng ký
chứng từ ghi sổ
Sổ cái TK 152
Sổ( thẻ )
kế toán chi tiết, tuỳ theo phương pháp kế toán chi tiết
CTGS( nhập, xuất)
Bảng cân đối
số phát sinh
Báo cáo tài chính
và báo cáo kế toán khác
Trang 38c) Trường hợp doanh nghiệp áp dụng hình thức ghi sổ Nhật ký chứng từ
Sơ đồ 8 : Hình thức ghi sổ Nhật ký chứng từ
Quan hệ đối chiếuGhi cuối kỳ
Chứng từ gốc về vật tư
Sổ( thẻ) kế toán chi tiết tuỳ theo phương pháp kế toán chi tiết
Báo cáo tài chính
và báo cáo kế toán
khác
Trang 39Chương 2 Thực trạng kế toán nguyên vật liệu tại công ty cổ phần bia
hà nội – quảng bình2.1 Tổng quan về Công ty cổ phần bia Hà Nội – Quảng Bình
Trang 402.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Công ty Cổ phần Bia Hà Nội
-Quảng Bình
- Tên đơn vị: Công ty Cổ phần Bia Hà Nội - Quảng Bình
- Ngày thành lập: 01 - 01 - 1990
- Địa chỉ: TK13 phường Bắc Lý, TP Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình
- Điện thoại: 052.822365 ; 052.822611 Fax: 052.840721
Công ty Cổ phần Bia Hà Nội Quảng Bình tiền thân là nhà máy Bia Rượu Quảng Bình, được chuyển đổi từ Doanh nghiệp Nhà nước sang Công ty
-Cổ phần ngày 10 - 11 - 2003 theo quyết định số 59/QĐ-UB của Chủ tịchUBND tỉnh Quảng Bình Sau khi thực hiện chuyển đổi, Công ty đã nhanhchóng sắp xếp lại doanh nghiệp, tổ chức sản xuất kinh doanh có hiệu quả, đờisống của cán bộ công nhân lao động ngày càng được cải thiện nâng cao, uytín doanh nghiệp, chất lượng sản phẩm ngày càng được khẳng định khôngnhững ở trong tỉnh mà còn được mở rộng ra các tỉnh bạn Nhận thức được sựcần thiết trong công tác đầu tư đổi mới công nghệ thiết bị, nâng công suất sảnxuất lên ngang tầm với các doanh nghiệp lớn, đủ sức cạnh tranh về thươnghiệu - chất lượng sản phẩm trên thị trường đồng thời tạo ra nguồn thu cơ bảncho tỉnh Quảng Bình Sau khi được thủ tướng Chính phủ, Bộ Công nghiệpnhất trí cho Công ty Cổ phần Bia - Rượu Quảng Bình sáp nhập về là Công tycon của Tổng Công ty Bia - Rượu - NGK Hà Nội theo quyết định số2092/QĐ-TCCB ngày 11/8/2004 đổi tên thành Công ty Cổ phần Bia Hà Nội -Quảng Bình và nâng công suất sản xuất từ 5 triệu lít lên 20 triệu lít bia/năm.Được Tổng Công ty phê duyệt dự án đổi mới thiết bị công nghệ - nâng côngsuất cho Công ty Cổ phần Bia Hà Nội - Quảng Bình, lãnh đạo Công ty đãnhanh chóng triển khai dự án từ tháng 1 năm 2005, trong điều kiện Công tyvừa sản xuất kinh doanh vừa thực hiện dự án đầu tư nhưng đã hoàn thành giaiđoạn I dự án đầu tư, cuối quý II năm 2006 đã đưa vào hoạt động có hiệu quả