1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu ứng dụng gis trong công tác quy hoạch và quản lý cây xanh tại thành phố biên hòa tỉnh đồng nai,luận văn thạc sỹ chuyên ngành kỹ thuật hạ tầng đô thị

128 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu Ứng dụng GIS Trong Công Tác Quy Hoạch Và Quản Lý Cây Xanh Tại Thành Phố Biên Hòa, Tỉnh Đồng Nai
Trường học Trường Đại học Giao Thông Vận Tải Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Kỹ thuật hạ tầng đô thị
Thể loại Luận văn Thạc Sỹ
Năm xuất bản 2023
Thành phố Biên Hòa
Định dạng
Số trang 128
Dung lượng 2,66 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tính cấp thiết của đề tài Sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam nói chung và Thành phố Biên hòa nói riêng, sự hình thành các khu công nghiệp tập trung và chỉnh trang đô thị, cùng với v

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU

I Tính cấp thiết của đề tài

Sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam nói chung và Thành phố Biên hòa nói riêng, sự hình thành các khu công nghiệp tập trung và chỉnh trang đô thị, cùng với việc xây dựng các khu dân cư mới đã dẫn đến hệ quả thu hẹp đất canh tác, vườn tược, nơi mà trước đây có một diện tích cây xanh đáng kể Hiện nay, toàn bộ mảng cây xanh và thảm cỏ của thành phố Biên Hòa đạt khoảng 427.92 ha trong đó bao gồm: Cây xanh công viên, hoa viên, cây xanh tập trung và phân tán, cây xanh vòng xoay, dải phân cách, cây xanh đường phố, Cây xanh phân tán trong các hộ gia đình Tỷ lệ bình quân cây xanh ở thành phố chỉ đạt 5,21 m2 cây xanh/người; Trong khi yêu cầu đối với đô thị loại 2 như Biên Hòa phải đạt tỷ lệ trên 10m2 cây xanh/người Như vậy với dân số khoảng 821.000 người như hiện nay, thành phố còn cần thêm khoảng

393 ha cây xanh nữa mới đáp ứng được nhu cầu chung

Lượng cây xanh được trồng trên các rải phân cách đường thành phố hiện chỉ đạt 5,83 ha (bao gồm thảm cỏ, cây xanh và cây hoa); số lượng cây xanh là 12.508 cây (bao gồm cây trồng lâu năm và mới trồng) Hầu hết các tuyến đường nội thành phố còn thiếu cây xanh che mát, nhất là những cây có tán rộng, nhiều tầng có chức năng hấp thu khí thải và điều hòa không khí Một số tuyến như: Quốc lộ 1K (đường Nguyễn Ái Quốc) đọan từ vườn Mít đến cầu Hóa An, đường Đồng Khởi, đường Võ Thị Sáu (đường 5 nối dài cũ), Hưng Đạo Vương, Nguyễn Văn Trị, Phan Chu Trinh, Phan Đình Phùng, đã được thành phố đầu tư trồng cây; nhưng những cây xanh trồng trên những tuyến đường này lại không phát huy tác dụng Có những tuyến chỉ trồng hoa, cỏ ở rải phân cách đường, tuyến thì trồng cây gỗ lâu năm Cây chỉ có tác dụng làm cảnh vì tán nhỏ, thân cây thấp và được cắt tỉa như những cây trong chậu cảnh Tại 18 công viên của thành phố, số lượng cây xanh đều còn ít, có tính chất tượng trưng Công viên Thanh Bình (0.0573 ha), Công viên Chiến Thắng

Trang 2

(0.083ha), Công viên Tam Hòa (0.097ha), Công viên chợ Hóa An (0.16ha), Công viên Nguyễn Văn Trỗi (0.17ha), Công viên Quyết Thắng (0.22ha) Công viên Kỷ Niệm (0.35ha) chủ yếu là những thảm cỏ, hoa và cây cảnh Đối với công viên Bửu Long (72.4ha), tuy diện tích lớn, nhưng lượng cây xanh được trồng quanh khu vực hồ chưa nhiều Bên cạnh, một số bất cập còn cho thấy khi quy hoạch mở, làm đường, thành phố vẫn không chú trọng đến việc trồng cây xanh ven đường Quốc lộ 15 (đường Phạm Văn Thuận) với chiều dài 15

km, khi làm đường, các nhà thiết kế để lề đường quá hẹp; do đó đến nay, đoạn đường này vẫn chưa được trồng cây Đường Nguyễn Ái Quốc, đọan từ cầu Săn Máu đến ngã ba Chợ Sặt mặc dù đã thi công xong từ lâu, nhưng khi làm đường, nhà đầu tư cũng đã "quên" dành lề đường để trồng cây xanh Rất nhiều tuyến đường khác của thành phố cũng trong tình trạng tương tự

Theo Phòng quản lý đô thị thành phố Biên Hòa: Hiện thành phố cũng đang có đề án trồng và điều chỉnh cây xanh tại các tuyến đường nội ô Theo

đó, các tuyến đường có hành lang từ 3,5m trở lên sẽ được trồng các loại cây đặc trưng có khả năng điều hòa không khí và che mát Những tuyến nào lề đường quá hẹp, dần dần sẽ tiến hành giải tỏa, mở rộng để trồng cây hai bên Đối với những cây xanh trên một số tuyến đường nhưng không phát huy tác dụng che mát và điều hòa không khí, thành phố sẽ tiến hành loại bỏ dần bằng cách trồng thay thế cây mới

Việc quy hoạch cây xanh cho thành phố Biên Hòa khó thực hiện, vì ngoài việc liên quan đến giải tỏa, đền bù cho dân còn vướng mắc thì việc nâng cấp

và thay thế hạ tầng đường điện cũng là một vấn đề nan giải

Từ vấn đề quy họach cây xanh Thành phố Biên Hòa nói riêng cũng như vấn đề quy họach cây xanh ở các thành phố khác ở nước ta hiện nay vẫn chưa được quan tâm nhiều, chủng loại và độ đồng đều của cây xanh vẫn còn bất cập

và mật độ cây xanh đô thị còn rất thấp Tình hình đó đặt ra yêu cầu phải có

Trang 3

định hướng phát triển và kế hoạch gia tăng diện tích cây xanh nhằm góp phần giữ gìn cân bằng sinh thái đô thị

Xu hướng hiện nay trong công tác quản lý và quy hoạch kỹ thuật hạ tầng

đô thị là sử dụng tối đa những khả năng cho phép của Hệ thống thông tin địa

lý (GIS - Geographic Information System) GIS cho phép hiển thị những dữ liệu ba chiều, phân tích không gian, giao diện tùy biến, do đó những ứng dụng của GIS trong lĩnh vực này rất đa dạng

Nhiều đô thị trên thế giới đã ứng dụng GIS vào công tác quy hoạch và quản lý cây xanh đô thị Ở Việt Nam, hiện nay chưa có nhiều đô thị ứng dụng GIS vào công tác quy hoạch và quản lý cây xanh đô thị Vì vậy, việc nghiên cứu ứng dụng GIS trong công tác quy hoạch và quản lý cây xanh vào một đô thị ở Việt Nam, để trên cơ sở đó đề xuất việc ứng dụng rộng rãi GIS vào công tác quy hoạch và quy hoạch cây xanh đô thị ở các đô thị Việt Nam là hết sức cần thiết Ở các đô thị nước ta, cây xanh là vấn đề chưa được quan tâm nhiều Trên cơ sở đó, đề tài “Nghiên cứu ứng dụng GIS trong công tác quy hoạch và quản lý hệ thống cây xanh tại thành phố Biên Hòa – tỉnh Đồng Nai” nhằm nâng cao chất lượng công tác quy hoạch và quản lý cây xanh đô thị tại

TP Biên Hòa nói riêng, các đô thị Việt Nam nói chung

Xu hướng hiện nay trong lĩnh vực quản lý và quy hoạch là sử dụng tối đa những khả năng cho phép của Hệ thống thông tin địa lý (GIS - Geographic Information System) GIS cho phép hiển thị những dữ liệu ba chiều, phân tích không gian, giao diện tùy biến, do đó những ứng dụng của GIS trong lĩnh vực này rất đa dạng Nhờ khả năng xử lý các tập hợp dữ liệu lớn từ các cơ sở dữ liệu phức tạp, nên GIS thích hợp với các nhiệm vụ quản lý hệ thống cây xanh

II Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

Đề xuất biện pháp chung về quy hoạch, quản lý và khai thác hệ thống cây xanh tại thành phố Biên Hòa - tinh Đồng Nai

Trang 4

Đề xuất những giải pháp quy hoạch cây xanh và quản lý hệ thống cây

xanh trong đô thị chủ yếu bằng công nghệ GIS (Hệ thống thông tin địa lý - Geographic Information System)

III Đối tượng nghiên cứu

- Tìm hiểu đánh giá tình hình đầu tư và phát triển cây xanh tại Thành phố Biên Hòa

- Tìm hiểu đánh giá tình hình quy hoạch và quản lý hệ thống cây xanh tại Thành phố Biên Hòa

- Các cơ sở khoa học làm nền tảng cho việc định hướng qui hoạch quản lý hệ thống cây xanh đô thị

- Ứng dụng GIS giải quyết vấn đề lập quy hoạch và quản lý hệ thống cây xanh tại Thành phố Biên Hòa

IV Phạm vi nghiên cứu

Do thời gian nghiên cứu có hạn nên xin giới hạn đề tài chỉ nghiên cứu các vấn đề liên quan đến quy hoạch và quản lý cây xanh tại Tp Biên hòa

- Giới hạn phạm vi : Cây xanh đường phố

- Giới hạn về không gian : Chủ yếu các đường nội ô Thành phố Biên Hòa

V Phương pháp nghiên cứu

1 Phương pháp phân tích và tổng hợp: Tổng hợp dữ liệu từ một số tài liệu về cây xanh đô thị, từ đó phân tích để đưa ra đề xuất hợp lý

2 Phương pháp bản đồ: Là phương pháp địa lý kinh điển phổ biến nhất Sự phân tích và trắc lượng bản đồ địa hình sẽ cung cấp những thông tin cần thiết

về địa hình và cấu trúc của môi trường Bản đồ là loại ngôn ngữ đặc biệt được sử dụng trong địa lý và môi trường

3 Phương pháp mô hình hóa: Quy trình sử dụng mô hình hóa để diễn tả hệ thống được gọi là mô hình hóa với các nguyên tắc dễ trình bày, dễ hiểu, thể

Trang 5

hiện nhiều mức khác nhau (tổng quát, chi tiết), gần gũi và mô phỏng thực hệ thống, chính xác, dễ thay đổi và dễ dàng trao đổi với mô hình khác

4 Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Nghiên cứu tài liệu giống như quan sát công trình khoa học một cách gián tiếp, các tài liệu nghiên cứu thường khá

đa dạng Từ việc nghiên cứu tài liệu đưa ra hướng giải quyết của vấn đề quản

lý và quy hoạch hệ thống cây xanh đô thị

VI Kết cấu của luận văn:

Bao gồm 03 chương như sau :

- Chương 1: Cơ sở khoa học quy họach và quản lý hệ thống cây xanh trong đô thị

- Chương 2: Thực trạng công tác tổ chức và quản lý cây xanh tại thành phố Biên hòa và các vấn đề nghiên cứu

- Chương 3: Đề xuất các giải pháp lập quy họach và quản lý hệ thống cây xanh tại thành phố Biên Hòa

- Kết luận và kiến nghị

Trang 6

CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ KHOA HỌC QUY HOẠCH VÀ QUẢN LÝ HỆ THỐNG CÂY XANH TRONG ĐÔ THỊ

Trong cơ cấu quy hoạch đô thị, hệ thống cây xanh là bộ phận không thể thiếu, nó là một trong các thành phần chủ yếu của đô thị Hệ thống cây xanh không những ảnh hưởng đến việc hình thành cơ cấu quy hoạch và cảnh quan đô thị mà nó còn liên quan đến vấn đề cải tạo môi trường sống, đến thị hiếu thẩm mỹ, đến tâm sinh lý con người

1.1 Ý nghĩa và vai trò của hệ thống cây xanh đô thị

1.1.1 Ý nghĩa của việc quy hoạch cây xanh đô thị

Hệ quả của đô thị hóa đã “bê tông hoá” phần lớn các đô thị trên toàn hành tinh Sự xây cất hỗn độn thiếu sự quản lý chặt chẽ ở hầu hết các đô thị đã lần hồi lấn át không gian cảnh quan thiên nhiên khoảng trống dành cho cây xanh bị thu hẹp dần, con người càng bị đẩy lùi xa dần môi trường sống thiên nhiên vốn có Tâm lý bản năng thôi thúc họ luôn khát khao cuộc sống với thiên nhiên

Xu thế “hiện đại hóa” và “công nghiệp hóa” rất có lợi cho sự tiến bộ của loài người, nhưng bên cạnh đó, sự phát tiển như vũ bão của các nhà máy, xí nghiệp công nghiệp, các hệ thống giao thông hiện đại đã làm nhiễm bẩn phần lớn môi trường đô thị sự cân bằng sinh thái đang bị bẻ gẫy

Mặc khác “tin học hoá” cùng với “tự động hoá” với hiệu quả vượt trội theo cấp số nhân, đã tiết kiệm rất nhiều sức lực của con người trong lao động tạo ra của cải vật chất Yếu tố thời gian rảnh rỗi của người dân đang là vấn đề phải giải quyết trong mỗi đô thị

Các thực tế nêu trên muốn khắc phục nó, mẫu số chung chính là việc quy hoạch hợp lý hệ thống cây xanh đô thị: Hệ thống cây xanh trong lòng đô thị sẽ đưa thiên nhiên trở lại với con người, sẽ cân bằng lại hệ sinh thái đô thị nhằm bảo vệ và cải thiện môi trường Điều quan trọng là các mảng cây xanh tập trung sẽ là nơi nghỉ ngơi vui chơi giải trí, lý tưởng nhất của người dân, đó sẽ là trọng điểm giải quyết

Trang 7

nhu cầu tái tạo sức lao động cũng như nhu cầu giao lưu văn hoá của con người trong xã hội hiện đại, văn minh

Hình 1.1: Cây xanh trên dải phân cách đường Nguyễn Ái Quốc-Biên Hòa

1.1.2 Vai trò của hệ thống cây xanh đô thị

Trong tổng thể đô thị, hệ thống cây xanh được quy hoạch nhằm tham gia các vai trò sau đây:

1.1.2.1 Đưa thiên nhiên trở lại với con người

Lịch sử thế giới tự nhiên đã khẳng định rằng: Cái nôi sự sống của mỗi sinh vật, trong đó có loài người chính là thiên nhiên muôn màu, muôn vẻ, thiên nhiên ấy

là sự phối hợp hài hòa giữa các loại động vật và thực vật Mọi sinh vật đều có sự tương quan mật thiết với nhau tạo thành một hệ sinh thái hoàn hảo

Sự bùng nổ dân số theo cấp số nhân trong nhiều thập kỷ qua đã đặt ra cho nhân loại hàng loạt các vấn đề cần giải quyết Chủ yếu là các nhu cầu thiết yếu của con người: ăn, mặc, ở…Hệ quả của nó là hàng loạt các đô thị từ nhỏ đến lớn đã lần lượt xuất hiện Cái nôi của sự sống là cảnh vật thiên nhiên ngày càng bị mất đi Màu xanh của cây, cỏ, lá, hoa xuất hiện rất khiêm tốn trong lòng đô thị Quy hoạch

hệ thống cây xanh đô thị nhằm đưa thiên nhiên trở lại với môi trường sống của con

Trang 8

người, khắc phục dần các nhược điểm của việc bùng nổ đô thị, tô thêm màu xanh sống động của cây xanh lên các mảng bê tông gạch đá … tạo nên môi trường sống sinh động hài hòa

1.1.2.2 Cân bằng lại hệ sinh thái

Vấn đề cân bằng sinh thái chưa được đặt ra, khi mà nền công nghiệp còn thô

sơ, lạc hậu, môi trường sống còn đa dạng phong phú, mật dân số còn thưa thớt so với thiên nhiên tương đối nhiều Nhưng kể từ khi nền công nghiệp phát triển, từ quy mô nhỏ và vừa đến đại công nghiệp, khi mà dân số bùng nổ và nhất là từ khi hàng loạt các đô thị khổng lồ xuất hiện dẫn đến hệ sinh thái và môi trường sống thực sự bị xáo trộn và bị bẻ gãy Vấn đề ô nhiễm môi trường là bài toán thiết yếu cần phải được giải quyết trong quy hoạch đô thị hiện nay và tương lai Thực tế đã cho thấy rằng, cây xanh đã góp phần rất lớn trong việc cân bằng lại hệ sinh thái đang bị xáo trộn ấy qua các tác động sau đây:

- Cải thiện vi khí hậu (về nhiệt độ, độ ẩm và gió)

- Chống ô nhiễm tiếng ồn

- Làm trong lành môi trường đô thị

- Góp phần hoàn thiện kỹ thuật đô thị

- Tăng tính thẩm mỹ và cảnh quan đô thị

1.1.2.3 Đáp ứng nhu cầu văn hoá, nghỉ ngơi của người dân đô thị

Yếu tố “thời gian rảnh” đang là vấn đề đặt ra cho các nhà xã hội học, khi mà

xã hội càng văn minh tiến bộ, tự động hóa ngày càng phát huy vai trò tích cực, con người ngày càng thoát khỏi các công việc cực nhọc, ngày nghỉ càng nhiều, thời gian rảnh càng tăng Các hoạt động thể thao, nghỉ ngơi, vui chơi, giải trí lành mạnh, phù hợp với nét đẹp văn hoá của người dân đô thị đang là đòi hỏi cấp thiết Các hình thức giải trí, nghỉ ngơi và các hoạt động văn hoá, thể thao ngày càng trở nên quan trọng nhất trong các hoạt động đô thị Các hoạt động diễn ra trong nhà và ngoài trời, trong đó khu đất cây xanh ngoài trời sẽ là mảng sinh hoạt chủ yếu của người dân đô thị trong thời gian rảnh Cây xanh đô thị luôn là khu sinh hoạt có sức

Trang 9

chứa lớn nhất, đảm bảo hoạt động giao tiếp rộng, mang tính cộng đồng, có tác dụng phục hồi sức khoẻ, sảng khoái tâm hồn, phát triển tư duy và năng khiếu thẩm mỹ

Có thể nói, cây xanh đô thị là cầu nối đưa con người đô thị về với thiên nhiên, về với cội nguồn của sự sống

1.1.2.4 Hoàn thiện giá trị thẩm mỹ của cảnh quan đô thị

Địa hình, mặt nước, cây xanh, công trình kiến trúc… là các yếu tố tạo thành cảnh quan đô thị Do thị hiếu thẩm mỹ của con người luôn vươn tới cái mới, cái phong phú đa dạng Cây xanh đã đáp ứng được nhu cầu ấy thông qua quá trình sinh trưởng của nó theo từng thời điểm của thời gian trong một không gian luôn biến đổi Cây xanh là yếu tố hình khối có nhiều hình thức đa dạng và màu sắc phong phú nhất trong các yếu tố, tạo cảnh sự tương hợp, hài hòa về màu sắc, hình dáng và ngay cả hương thơm của cây xanh đã góp phần tạo nên bố cục hợp lý của các yếu

tố khác nhau, hình thành giá trị thẩm mỹ của cảnh quan đô thị

Hình 1.2: Cây xanh trên lề đường Phan Trung – Biên Hòa

1.2 Nguyên tắc quy họach hệ thống cây xanh đô thị

Hệ thống cây xanh có vai trò rất quan trọng trong sinh hoạt của cư dân đô thị, nó có giá trị sử dụng rất cao, do đó, khi quy hoạch hệ thống cây xanh trong

Trang 10

tổng thể đô thị, cần phải tuân thủ một số nguyên tắc cơ bản, nhằm đảm bảo giá trị

Do đó cây xanh không cần thiết phải phân bố đồng đều trên mặt bằng đô thị

mà nó cần bố trí ở các vị trí dễ thu hút lượng người nhất Thường bố trí ở trong lòng các điểm dân cư, hoặc trung tâm các tổ chức ở trong đô thị

Đối với các mảng cây xanh cấp thành phố nên bố trí trồng ưu tiên ở đầu hướng gió để phát huy tác dụng cải thiện vi khí hậu đô thị

1.2.2 Nguyên tắc 2

Cây xanh sẽ phát huy rất tốt tác dụng của nó đối với đô thị trong điều kiện tập trung và liên tục: Vì vậy cần tạo các mảng xanh lớn trên mặt bằng đô thị (≥ 3 ha) tạo các cấp công viên: công viên đơn vị ở 3 – 5ha, công viên quận huyện hoặc tiểu vùng 5 – 15ha, công viên cấp thành phố từ 15 – 30ha, công viên quốc gia > 30ha Các dải cây xanh phòng hộ, cây xanh cách ly… tất cả phải được nối kết trực tiếp hoặc gián tiếp qua các mảng xanh đường phố hoặc dòng sông để tạo nên một

hệ thống cây xanh thống nhất và liên tục trên toàn địa bàn đô thị

1.2.3 Nguyên tắc 3

Phải tạo được tính quần thể cây xanh trong và ngoài thành phố: Cơ sở của tính quần thể được xác lập qua sự thống nhất về chức năng và bố cục cây xanh cùng sự nối kết giữa tuyến cây xanh trong, ngoài qua các dải cây xanh từ ngoại ô chạy sâu vào đô thị Do đó phải quy hoạch toàn bộ các phần cây xanh trong và ngoài thành phố cùng lúc, tạo mối liên hệ chặt chẽ với nhau tạo thành một hệ thống

Trang 11

thống nhất Tất cả dựa trên cơ sở tính chất quy mô của quy hoạch vùng, quy hoạch chung và quy hoạch chi tiết của đô thị

1.2.4 Nguyên tắc 4

Các yếu tố tạo thành cảnh quan: (địa hình, mặt nước …) phải có sự kết hợp hữu cơ với nhau

Hệ thống không gian trống của mặt nước và dải đất ven bờ có thể quyết định

hệ thống chính của cây xanh đô thị Địa hình có độ dốc lớn ít thuận lợi cho việc xây dựng nên được cải tạo trồng cây gây rừng tạo thành vườn công viên cho thành phố Chính các cấu trúc kết hợp mặt nước với cây xanh hoặc địa hình với cây xanh sẽ là

cơ sở quyết định hệ thống cây xanh cho toàn thành phố Nó trở thành trung tâm của

bố cục cây xanh trong đô thị

1.2.5 Nguyên tắc 5

Chọn loại giống cây trồng: Cây xanh chỉ có thể xanh tốt và phát huy tác dụng

có giống cây trồng phù hợp với điều kiện môi trường và khí hậu địa phương, nhất là thực tế đặc điểm khí hậu của khu đất xây dựng (hướng gió, tốc độ gió, chế độ nhiệt,

độ ẩm, lượng mưa…) Chẳng hạn, Thành phố Biên Hòa: nhiều mưa nhiều nắng, hệ thống cây xanh cần đủ để dẫn gió, không nên quá dày hoặc quá rộng để tăng độ ẩm không cần thiết Biển thường trồng phi lao, cây lá kim để chắn gió; đồi – núi thường trồng xú vẹt (bộ rễ dày), cây thân mủ (có gai) để bám chặt đất, …

1.2.6 Nguyên tắc 6

Các danh lam thắng cảnh hoặc các di tích lịch sử: trong bất kỳ điều kiện nào phải được đưa vào hệ thống cây xanh đô thị, vì đó cũng là những bộ phận của hoạt động nghỉ ngơi và giải trí Nó trở thành trung tâm cho sự phát triển cho hệ thống cây xanh khu vực Các công viên di tích được hình thành trong các điều kiện này

Các di tích lịch sử thường có những vùng bảo vệ I, II, III, thường vùng II hoặc một phần vùng III là những nơi được ưu tiên bố trí cây xanh, vừa để tôn tạo di tích vừa tạo mảng xanh cho đô thị

Trang 12

Những di tích mang tính chất rừng cần giữ nguyên hiện trạng, cần thiết có thể trồng thêm cây xanh để tăng quy mô đạt đến mức cần thiết Vd: Địa đạo Chiến Khu

D ở Đồng Nai, giá trị đích thực của nó, ngoài các địa đạo dưới lòng đất, chính là khu rừng nguyên sinh mà đã có thời kỳ làm nên kỳ tích trong lịch sử

1.2.7 Nguyên tắc 7

Quy hoạch cây xanh cần đảm bảo diện tích cây xanh cần thiết cho từng cấp:

Do đó phải căn cứ vào quy mô cũng như tính chất đô thị để có được diện tích phù hợp

Ngoài diện tích cây xanh thực tế cần thiết cho qui mô đô thị, phải tính đến khả năng phát triển và mở rộng đô thị Khả năng này căn cứ vào định hướng phát triển đô thị mà có, từ đó dự trù diện tích cây xanh phù hợp

Để tiết kiệm đất xây dựng, đất trồng cây xanh cần tận dụng đất không xây dựng được của đô thị, hoặc vị trí đất ít giá trị nhất có thể được

1.3 Các lọai hình bố trí cây xanh đô thị

1.3.1 Phân loại cây xanh đô thị

Thông thường đất cây xanh đô thị được chia làm 3 loại chủ yếu dựa trên chức năng sử dụng hợp lý

Loại 1: Cây xanh công cộng

Là loại hình cây xanh sử dụng có tính chất chung cho mọi người dân đô thị, phục vụ cho các hoạt động nghỉ ngơi, giải trí, văn hoá, thể thao, công cộng, cụ thể là cây xanh trong các công viên, vườn hoa, vườn dạo, quảng trường, đường phố và các công trình hành chính công cộng

Loại 2: Cây xanh hạn chế

Là loại hình cây xanh sử dụng không rộng rãi, phục vụ lượng người nhất định, nghỉ ngơi giải trí chốc lát Đó là các loại hình cây xanh trong trong trường học, bệnh viện, xí nghiệp, kho tàng, cơ quan nghiên cứu…

Loại 3: Cây xanh chuyên dụng

Trang 13

Là loại cây xanh sử dụng theo yêu cầu chuyên mơn riêng do những yêu cầu đặc biệt về điều kiện thiên nhiên, đất đai hoặc dùng vào mục đích kỹ thuật kinh tế như: Khu cây xanh cách ly độc hại, cây xanh chống giĩ, cát, cây xanh chắn đất, vườn ươm, cây xanh nghĩa địa…

1.3.2 Bố trí chung các loại cây xanh đơ thị

* Hệ thống cây xanh trong mặt bằng tổng thể đơ thị

a) Theo thuyết tầng bậc

Hệ thống cây xanh đô thị

Cây xanh đường phố Công viên đô thị

Cây xanh khu công nghiệp Cây xanh cách ly

Cây xanh xí nghiệp Vườn khu ở Cây xanh Boulevard Cây xanh quảng trường

Cây xanh từng bộ phận xí nghiệp Vườn nhóm nhà Cây xanh từng khu vực

Vườn nhà rộng Cây xanh đường nội bộ

b) Theo thuyết phi tầng bậc

Cây xanh cách ly

Hệ thống cây xanh đô thị

Cây xanh đường phố , quảng trường Vườn hoa Cây xanh kỹ thuật

* Các kiểu thức bố trí cây xanh

Căn cứ vào địa hình, bố cục khơng gian đơ thị, điều kiện phân bố dân cư,… Việc bố trí cây xanh cĩ những hình thức bố cục phù hợp

- Cĩ 3 hình thức cơ bản để bố cục cây xanh: Điểm, tuyến, mảng Tuỳ theo cấp

độ bố trí cây xanh (thành phố, quận, khu ở), các hình thức trên sẽ cĩ quy mơ khác

Trang 14

nhau Ví dụ: bố cục cây xanh trong thành phố, bố cục cây xanh trong khu ở (phường, xã), bố cục cây xanh trong đơn vị ở (tổ, khu phố)

* Bố cục cây xanh thành các điểm: Hệ thống cây xanh được phân bố trên

nhiều mảnh đất phân tán rải rác trong đô thị Cách bố cục này thường dùng cho những đô thị hay những khu ở cải tạo tận dụng các khu đất trống dể tăng cường diện tích cây xanh

* Bố cục cây xanh thành tuyến (hoặc thành dải): Kết hợp những khu đất trồng

cây dọc các tuyến sông, tuyến kênh hay tuyến giao thông đường phố hoặc các dải cây cách ly tạo thành những dải cây lớn xen với những dải đất xây dựng Cách bố cục này được sử dụng phổ biến trong các đô thị mới xây dựng Các dải cây có sự liên kết với nhau tạo thành những hệ thống liên tục, phát huy hiệu quả trong các ý đồ quy hoạch và cải thiện vi khí hậu

* Bố cục cây xanh thành mảng: Đó là những khu đất cây xanh có bề mặt diện

tích lớn (3ha, 15ha, 30ha) cách bố trí này thường thấy ở các đô thị lớn, các khu ở đầy

đủ chức năng hay đơn vị ở hoàn chỉnh

- Toàn bộ các hình thức bố cục nêu trên, tuỳ yêu cầu và đặc điểm từng vùng mà bố trí

- Cũng có thể kết hợp liên hoàn các hình thức bố cục nêu trên để đạt được tính thống nhất và liên tục

- Việc bố trí hệ thống cây xanh liên hoàn có nhiều kiểu, chủ yếu cần căn cứ vào cơ cấu quy hoạch chung Hình thức cơ cấu quy hoạch chung của thành phố bao gồm các kiểu: vòng tròn, nan quạt, mạng nhện, ô cờ, hỗn hợp,…

Việc bố trí cây xanh trong mỗi loại hình còn được tạo thành nhiều kiểu

Bao gồm các kiểu:

Trang 15

Hình 1.3: Các kiểu bố trí cây xanh

1.4 Kinh nghiệm quy họach, tổ chức, quản lý cây xanh đơ thị tại mốt số đơ thị trên thế giới và các đơ thị tại Việt Nam

1.4.1 Kinh nghiệm quy hoạch, tổ chức, quản lý cây xanh tại Singapore

Singapore với dân số khoảng 3 triệu người là một đảo quốc nhỏ bé nằm trong khu vực Đơng Nam Á, bao gồm một đảo chính và 60 đảo nhỏ, cách đường xích đạo 137km về phía Bắc Tổng diện tích của Singapore chỉ cĩ 647,5km2, trong đĩ, một nửa diện tích của Singapore là rừng, đầm lầy và các khu vực khơng được xây dựng Hơn 49,67% diện tích được sử dựng để ở, dịch vụ, thương mại và cơng nghiệp Chỉ

cĩ 1,7% diện tích (khoảng 10,8%km2) là dành cho cơng nghiệp

Singapore khơng được ưu đãi về khí hậu với khí hậu nhiệt đới với mặt trời mọc quanh năm Tuy nhiên do lượng mưa dồi dào, mùa mưa kéo dài nhiều tháng trong năm cũng gĩp phần cho cây cối phát triển

Khơng thuận lợi về khí hậu, diện tích, đất đai… nhưng Singapore đã vươn lên để trở thành một quốc gia khơng những phát triển trong khu vực Đơng Nam Á

mà trở thành một trong những quốc gia “Xanh và Sạch” nhất trên thế giới với GDP tính cho mỗi người dân rất cao, nhờ đĩ trở thành địa điểm du lịch rất hấp dẫn và nổi tiếng

Vòng cung

Bàn cờ

Hỗn hợp Tự do

Rẽ quạt Mạng nhện

Trang 16

Vườn Quốc gia Singapore có khung cảnh xanh tươi với nhiều chủng loại cây

là kết quả 40 năm quyết tâm và nỗ lực mạnh mẽ liên tục trải qua những công việc đầy khó khăn, vất vả và kiên trì

Sự phát triển của Singapore để trở thành một “thành phố vườn” bắt đầu bằng

sự thành lập Chương trình phủ xanh với hậu thuẫn là nguyên thủ tướng Lý Quang Diệu, người có nhận định một Singapore xanh là nhân tố cạnh tranh thu hút vốn đầu tư nước ngoài Ông phát động cuộc vận động trồng cây xanh vào năm 1963 và những thập niên sau các nhà lãnh đạo kế nhiệm vẫn tiếp tục thực hiện chương trình này

Tuy nhiên, song song với sự phát triển giao thông, nhà ở, các công trình xây dựng khác một cách nhanh chóng ở trung tâm thành phố thì tình trạng thiếu cây xanh cũng tăng nhanh Những năm đầu 1976, Vụ giải trí và công viên thuộc bộ phát triển Quốc gia được thành lập để thực hiện nhiệm vụ phủ xanh Singapore trong thời gian ngắn nhất Vì thế, các cây bản địa có đặc tính phát triển nhanh được lựa chọn, đầu bảng là các cây Angsana bởi chúng cho bóng râm, phát triển nhanh, sẵn có và dễ trồng Một số loài khác là Rain Tree, Yellow Flame và Ketapang Việc trồng tiếp theo các cây hoa tự nhiên và cây bụi như Bougainvilleas sặc sỡ được coi như phần nỗ lực để trang điểm phong cảnh cùng với các thảm cỏ xanh tươi được cắt tỉa nhiều công phu

Hình 1.4: Cây xanh ở vườn quốc gia Singapore

Trang 17

Cùng thời điểm đó, luật đường bộ được phát triển nhằm bảo vệ khu vực trồng cây xanh dọc theo các con đường Cả những khu vực bên hè đường như nơi

đỗ xe ô tô cũng được qui định trồng cây để giảm bớt bức xạ và sức nóng của những mặt đường nhựa trải rộng Thêm vào đó là các cấu trúc bê tông như cầu vượt, tường bao cũng được phủ bởi các loại cây thằng lằn, cây hoa leo như Ficus pumila

và được che bởi các cây bụi và cây di thực để làm giàu mức độ bê tông hóa

Trong thành phố, các công viên được phát triển, mọi khoảng trống được tận dụng trồng cây để cải tạo những “lá phổi xanh” cho cư dân, ở những khu vực thương mại sầm uất Bên cạnh đó, người ta yêu cầu những nhà đầu tư nhà ở phải trồng cây ven đường và các công viên nội khu bên cạnh các khối nhà cao tầng nhằm tạo ra không gian mở Chương trình phát triển công viên chính trên các đảo cũng được triển khai nhanh để phục vụ những nhu cầu giải trí phong phú của dân chúng Trong chương trình này, các công viên cũ đang tồn tại xây dựng phát triển bên cạnh những khu nhà ở mới chỉnh trang có mật độ thấp và rất nhiều công viên mới được hình thành, đáng kể là Sentosa

1.4.2 Kinh nghiệm quy hoạch, tổ chức, quản lý cây xanh tại Trung Quốc

Trung Quốc là một quốc gia rộng lớn, có nhiều thành phố đang trong bối cảnh phát triển nhanh Để có tính khái quát chung nhất, tác giả xin nêu ra 2 thành phố tiêu biểu: một thành phố rất lớn và một thành phố có quy mô vừa, chúng có nhiều chênh lệch về kinh tế, về quy mô diện tích, dân số và địa lý:

1.4.2.1 Thành phố Bắc Kinh

Nạn ô nhiễm môi trường ở Trung Quốc khá trầm trọng, một phần do lượng

xe ô tô tăng quá nhanh và nhiều công trường xây dựng đang thi công Riêng thành phố Bắc Kinh còn chịu ảnh hưởng của bão cát từ Mông Cổ sang, đem theo nhiều bụi bặm, đôi khi có cả bụi phân gia súc Hiện nay Bắc Kinh cũng như một số thành phố lớn của Trung Quốc đang phấn đấu trở thành các thành phố đạt chuẩn quốc tế, nên các chương trình hành động để bảo vệ môi trường được đặc biệt chú trọng, chính phủ Trung Quốc phấn đấu có tỷ lệ cây xanh trong 5 năm tới đạt 7m2/người,

Trang 18

chuyển ¾ đất nông nghiệp thành đất rừng cây xanh thành phố Ngân sách quốc gia dành nhiều cho vấn đề bảo vệ môi trường và có các sắc lệnh rất nghiêm ngặt nhằm quản lý xây dựng cây xanh theo quy hoạch, coi trọng công tác bảo vệ môi trường,

di dời các nhà máy có ảnh hưởng đến môi trường ra ngoại ô, các nút giao thông hoặc khoảng trống được khai thác triệt để cho cây xanh, …

Trang 19

Hình 1.6: Cây xanh trên đường phố Nam Ninh

Nam Ninh là một thành phố xây dựng mở rộng trên nền đô thị cũ vốn không lớn, hiện nay việc phát triển đô thị đang diễn ra hết sức mạnh mẽ Trên cơ sở chính sách thu hút nhân tài vật lực, chính quyền đô thị áp dụng chính sách giao cho doanh nghiệp tư nhân triển khai các dự án dựng nhà ở các công trình đầu tư khác trên cơ

sở nhà nước cung cấp hạ tầng một cách hoàn hảo

Hai bên bờ sông Châu Giang, dòng sông lớn nhất chảy qua trung tâm thành phố là những thảm cỏ xanh đang được chăm sóc công phu, chiều rộng có nơi gần 100m Có những hàng cây được trồng dọc theo các đại lộ kết nối với các công viên xây dựng xác bờ sông, nới rộng đến các khu thương mại dịch vụ, bên dưới là những trục đường giao thông ngang dọc

1.4.3 Kinh nghiệm tổ chức cây xanh trung tâm đô thị của các nước trên thế giới

Qua nghiên cứu tìm hiểu các thành phố tác giả nhận thấy rằng, chính quyền đô thị của mọi thành phố chọn lựa chiến lược phát triển cây xanh phù hợp với điều kiện của mình Việc đầu tư phát triển có tính bền bỉ, để các thế hệ sau có thể kế thừa những thành quả của các thế hệ trước đã xây dựng Việc xây dựng, quản lý và phát triển cây xanh tuân thủ các nguyên tắc sau đây:

Trang 20

+ Khu trung tâm đô thị, mật độ dân cư cao và lượng khách vãng lai đông đúc, nên để đảm bảo chỉ tiêu cây xanh bình quân cao trên đầu người là một bài toán nan giải, nhất là các đô thị hiện hữu đang được phát triển mở rộng

Do vậy, cần có tầm nhìn bao quát khi quy hoạch phát triển đô thị như: Sự phân

bố dân cư, các khoảng không gian trống, các hoạt động thương mại dịch vụ, lượng

xe lưu thông trên thành phố,… đồng thời bố trí việc phát triển mảng xanh phải đảm bảo yêu cầu cải thiện môi trường, chú ý đến việc ngăn chặn sự lan toả của các chất gây ô nhiễm, tiếng ồn, giao thông, bụi bặm theo gió đến những vùng kế cận Ngoài

ra, việc quy hoạch cây xanh đô thị không nhất thiết phải phân bố đều, mà nên tập trung ưu tiên cho trung tâm thành phố

+ Cây xanh là một trong các thành phần của cảnh quan thiên nhiên Do đó, trong quy hoạch không thể tách rời cây xanh ra khỏi các thành phần còn lại như địa hình, mặt nước, không gian và động vật mà phải luôn chú ý đến sự gắn bó của chúng với nhau làm thành hệ thống cây xanh thống nhất, liên tục và lan toả từ trung tâm thành phố ra ngoại thành Các khoảng không gian trống, mặt nước, với dải đất quen bờ

hồ, sông, kênh rạch có thể quyết định tính chất của hệ thống chính của cây xanh đô thị

+ Kết hợp đặc điểm khí hậu như hướng gió, tốc độ gió, chế độ nhiệt, lượng mưa, thổ nhưỡng… khi bố trí trồng cây phát triển mảng xanh cho từng khu vực Trên cơ

sở đất nào cây nấy, đặc biệt chú ý đến đất đai đã thay đổi cấu trúc bỡi các công trình xây dựng cần cải tạo đất và dùng khoa học kỹ thuật để bảo dưỡng cho đất có nhiều độ ẩm

+ Nước là yếu tố quan trọng cho sự sống cây xanh tươi và ra hoa kết trái của cây

cỏ Nếu không gần sông ngoài, hồ nước tự nhiên thì cũng cần bố trí vài hồ nước nhân tạo để duy trì sự phát triển của cây xanh

+ Trồng cây kết hợp với các di tích lịch sử, di tích văn hoá, danh lam thắng cảnh, không đưa vào công viên cây xanh quá nhiều công trình kinh doanh gây tiếng

Trang 21

ồn ô nhiễm môi trường, vì đó là một bộ phận của hoạt động nghỉ ngơi, giải trí, giáo dục văn hoá cho cư dân đô thị

+ Đầu tư cây xanh là một loại dự án có cây xanh dài, hiệu quả kinh tế không thấy ngay lập tức, nhưng hiệu quả cao về mặt xã hội, về môi trường sống, về cảnh quan đô thị Nhiều đô thị đang thu được những nguồn lợi thu to lớn về từ đầu tư thương mại dịch vụ và đặc biệt là ngành du lịch nhờ vào sự đầu tư phát triển cây xanh, mà Singapore là một điển hình

+ Quá trình đô thị hoá và sự năng động của kinh tế thị trường đã tác động đán

kể tới lối sống của người dân đô thị Sự gia tăng dân số đô thị khiến diện tích ở ngày càng chật hẹp, cộng với nhịp sống hiện đại sôi động khiến nhu cầu giải trí nghỉ ngơi công cộng càng gia tăng về quy mô và độ phức tạp Trong điều kiện sống như thế, cây xanh đóng vai trò quan trọng trong hoạt động giải trí, thư giãn và tái tạo môi trường không khí trong lành

Không phải lúc nào thành quả quản lý tốt của đô thị này là kết quả của đô thị kia, tuy nhiên từ các thực tế của những nước phát triển trước cho thấy giải quyết vấn đề cây xanh đô thị hiện nay không những là trách nhiệm của chính quyền, các nhà chuyên môn mà còn là sự đóng góp to lớn từ sự ý thức người dân

1.5 Cơ sở pháp lý cho việc phát triển hệ thống cây xanh đô thị

1.5.1 Chỉ tiêu cây xanh trong quy hoạch xây dựng đô thị

Bộ xây dựng ban hành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về quy hoạch xây dựng theo quyết định số 04/2008/QĐ-BXD ngày 3/4/2008 có quy định cụ thể các chỉ tiêu cây xanh trong đô thị Theo đó, diện tích cây xanh trong đô thị loại 2 như TP.Biên Hòa được xác định là 7m2/ người Đây là cơ sở pháp lý để tăng cường thêm cây xanh cho khu trung tâm TP

Nội dung công tác QLQHXD trong luật xây dựng (Luật số 16/2003/QH11 ngày 26/11/2003), có thể hiểu công tác QLQHXD bao gồm:

Trang 22

- Công tác xây dựng khung pháp lý để QLQHXD: Ban hành các quy chuẩn, tiêu chuẩn quy hoạch, ban hành luật, nghị định, thông tư và các văn bản pháp lý

- Công tác định hướng phát triển cho QHXD: Hình thành các quy hoạch định hướng phát triển tổng thể đô thị và tất cả các lĩnh vực khác của đô thị có ảnh hưởng đến QHXD

- Công tác hình thành quy hoạch: Lập, thẩm định, phê duyệt, QHXD và ban hành các quy định QLQHXD

- Công tác quản lý thực hiện QHXD: Quản lý mốc giới, quản lý việc xây dựng công trình và hạ tấng kỹ thuật theo quy hoạh, xử lý các trường hợp xây dựng không theo quy hoạch

1.5.2 Các văn bản pháp lý đã được ban hành trong công tác quản lý và phát triển cây xanh đô thị

- Nội dung quy định về quy hoạch chi tiết 1/500, 1/2000 ngày càng cụ thể và nhiều tính khả thi hơn so với trước đây

- Bộ xây dựng có các văn bản pháp lý, như thông tư số 20/2005/TT-BXD ngày 20/12/2005 của bộ xây dựng, hướng dẫn quản lý cây xanh đô thị; thông tư liên tịch số 04/2007/TTLT- BXD-BCA ngày 07/7/2007 của bộ xây dựng và Bộ Công an về việc hướng dẫn xử lý quy phạm pháp luật trong hoạt động xây dựng, đặc biệt là xử lý việc lạm dụng quyền hạn ảnh hưởng gây tác động xấu với quy hoạch cây xanh

- Chính Phủ có Nghị định số: 38/2010/NĐ-CP, ngày 07/4/2010 về việc quản lý không gian, kiến trúc cảnh quan đô thị

- Chính Phủ có Nghị định số: 64/2010/NĐ-CP, ngày 11/6/2010 về việc quản lý cây xanh đô thị

- Bộ Xây dựng có thông tư số: 20/2009/TT-BXD, ngày 30/6/2009 về việc sửa đổi, bổ sung Thông tư số: 20/2005/TT-BXD ngày 20/12/2005 của Bộ Xây dựng Hướng dẫn quản lý cây xanh đô thị

Trang 23

- Các văn bản UBND tỉnh Đồng Nai, như Quyết định số: 77/2006/QĐ-UBND, ngày 23/10/2006 về việc Ban hành quy định về phân cấp, ủy quyền quản lý cây xanh đô thị trên địa bàn tỉnh Đồng Nai

Ngoài ra, Thủ tướng Chính Phủ có quyết định số: 227/2003/QĐ-TTg ngày 06/11/2003 về việc phê duyệt điều chỉnh quy hoạch chung thành phố Biên Hòa tỉnh Đồng Nai đến năm 2020, và quyết định số: 77/2004/QĐ-TTg ngày 07/5/2004 về việc điều chỉnh bổ sung quyết định số: 227/2003/QĐ-TTg trong đó có nêu: Hệ thống cây xanh, mặt nước và công viên có diện tích khoảng 1.762 ha, trong đó có 581 ha gồm cây xanh công viên thành phố, cây xanh trong các khu ở và 1.181 ha cây xanh công viên du lịch và sinh thái, gồm:

Công viên du lịch - sinh thái Cù lao Hiệp Hòa quy mô 240 ha

Công viên du lịch Bửu Long quy mô 203 ha

Công viên Hồ Suối Mai quy mô 250 ha

Công viên Cù lao Tân Vạn quy mô 65 ha

Công viên Cù lao Ba Xê quy mô 21 ha

Công viên Hoá An quy mô 202 ha (chuyển từ khu vực khai thác đá) Công viên cây xanh dọc sông Cái và sông Đồng Nai có bề rộng từ 20 - 30

m có quy mô khoảng 200 ha Ngoài ra, bố trí thêm cây xanh cách ly xung

quanh sân bay và khu quân sự có bề rộng khoảng 30 m (Trích từ Quyết định số: 227/2003/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính Phủ ngày 06/11/2003 về việc phê duyệt điều chỉnh quy hoạch chung thành phố Biên Hòa tỉnh Đồng Nai đến năm 2020 –xem Phụ lục 2 )

1.5.3 Các cơ sở từ động lực mới của hiệp hội công viên cây xanh Việt Nam

Hiệp hội công viên – cây xanh Việt Nam, tên giao dịch quốc tế Vietnam Parks- Greeneri Association (viết tắt VPGA) được bộ nội vụ cấp quyết định số 623/ QĐ-BNV ngày 3/4/2006 cho phép thành lập và tổ chức đại hội lần đầu tiên tại Hà Nội vào ngày 29/6/2006 Tôn chỉ của hội là mở ra sân chơi cho những nhà chuyên

Trang 24

môn, những người có trách nhiệm trong lĩnh vực phát triển bảo vệ cây xanh Hội

mở ra những diễn đàn bàn về các giải pháp kinh tế xã hội và khoa học kỹ thuật để phát triển cây xanh, bảo vệ môi trường sống và sự phát triển bền vững của đô thị Với sự ra đời và đi vào hoạt động của Hiệp hội công viên cây xanh Việt Nam sẽ góp phần thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển vững chắc hơn của ngành công viên cây xanh Việt Nam cũng như mở ra khả năng tìm tòi các giải pháp tăng cường cây xanh cho trung tâm đô thị góp phần cho thành phố chúng ta ngày càng Xanh – Sạch – Đẹp và phát triển bền vững

Trang 25

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Trong quy hoạch, các không gian xanh được coi như lá phổi của thành phố,

là một không gian chức năng thành phố ban tặng cho cư dân đô thị để họ có cơ hội dời khỏi những khối bê tông đến để thả mình trong hòn đảo xanh của thiên nhiên, tận hưởng không khí trong lành hiếm hoi của đô thị Trong kiến trúc cây xanh được thiết kế làm phông nền cho công trình nhờ sự sinh động của màu sắc và các lớp cây tạo không gian có chiều sâu giúp công trình hòa nhập với thiên nhiên Bố trí cây hợp lý sẽ che nắng tốt mà vẫn đảm bảo chiếu sáng tự nhiên cho công trình và đón được gió mát vào mùa hè, chống được gió lạnh vào mùa đông Thành công trong việc khai thác và tổ chức cây xanh trong đô thị tạo nên được sắc thái riêng của không gian góp phần làm tăng vẻ đẹp cảnh quan và tạo được hình ảnh riêng của thành phố

Là một thành phần của cảnh quan thiên nhiên, hệ thống cây xanh đô thị không thể tách rời khỏi các thành phần còn lại như địa hình, mặt nước, không gian, Các khoảng không gian trống, mặt nước, dãi đất ven biển, bờ hồ, sông, kênh rạch có thể quyết định tính chất của hệ thống chính của cây xanh đô thị vì thế cần phải tuân thủ theo các nguyên tắc quy hoạch cây xanh và cách bố trí cây xanh trong đô thị để đem lại lợi ích cao nhất cho con người

Nhiều quốc gia trên thế giới đã nhìn thấy trước chúng ta tầm quan trọng của cây xanh tại khu trung tâm đô thị Các nước đã từng bước tổ chức chỉnh trang, tìm đất mở rộng công viên cây xanh trong các khu đô thị hiện hữu, dựa vào điều kiện địa hình, khí hậu, điều kiện văn hóa xã hội, lối sống truyền thống, điều kiện kinh tế

kỹ thuật riêng để tạo được bản sắc của đô thị Có sự đồng bộ từ các khâu lập dự án, thiết kế, xây dựng và cả trong quá trình vận hành khai thác sử dụng cây xanh được chính quyền đô thị và người dân quan tâm như những công trình hạ tầng kỹ thuật

đô thị

Trang 26

Để phát triển cây xanh đô thị phải có cơ sở pháp lý từ cơ quan cấp Bộ đến địa phương nhằm đảm bảo công tác quản lý và phát triển cây xanh tại từng địa phương một cách tốt nhất

Trang 27

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CÔNG TÁC TỔ CHỨC VÀ QUẢN LÝ CÂY XANH TẠI THÀNH PHỐ BIÊN HÒA VÀ CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2.1 Vài nét sơ lược về Thành phố Biên Hòa - tỉnh Đồng Nai

2.1.1 Điều kiện tự nhiên thành phố Biên Hòa

Thành phố Biên Hòa nằm ở phía tây tỉnh

Đồng Nai, bắc giáp huyện Vĩnh Cửu, nam giáp huyện Long Thành, đông giáp huyện Trảng Bom, tây giáp thị xã Dĩ An, Tân Uyên tỉnh Bình Dương và Quận 9 - thành phố Hồ Chí Minh

Hình 2.1: Tp Biên Hòa nhìn từ trên cao

Thành phố Biên Hòa ở hai phía của sông Đồng Nai, cách trung tâm thành phố

Hồ Chí Minh 30 km (theo Xa lộ Hà Nội và Quốc lộ 1A), cách thành phố Vũng Tàu

90 Km (theo Quốc lộ 51)

Tổng diện tích tự nhiên là 264,08 km2, với mật độ dân số là 3,030 người/km2.Thành phố Biên hòa nằm phía Tây Nam tỉnh Đồng Nai, là Trung tâm kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội của tỉnh lớn này

Vì là tỉnh lỵ của Đồng Nai nên hầu hết các cơ quan nhà nước cấp tỉnh đều nằm tại thành phố này Mới đây, Hội Đồng nhân dân tỉnh có quyết định dời trung tâm hành chánh hiện tại về Khu đô thị mới Tam Phước - Xã Tam Phước, Thành phố Biên Hoà Từ Hà Nội vào theo quốc lộ 1A, tại vòng xoay Tam Hiệp, sẽ gặp cửa ngõ đi vào Trung tâm thành phố

2.1.2 Điều kiện Kinh tế - Xã hội

Bên cạnh việc là tỉnh lỵ của Đồng Nai, Biên Hòa còn là trung tâm kinh tế,

văn hóa, chính trị và xã hội của tỉnh

Biên Hòa có tiềm năng to lớn để phát triển để phát triển công nghiệp với nền

đất lý tưởng, thuận lợi cho việc xây dựng kết cấu hạ tầng khu công nghiệp, có

Trang 28

nguồn tài nguyên khoáng sản với trữ lượng khai thác đáng kể, nhất là tài nguyên khoáng sản về vật liệu xây dựng, thuận lợi về nguồn cung cấp điện, có nguồn nước dồi dào đủ cung cấp nhu cầu sản xuất và sinh hoạt ( sông Đồng Nai), ngoài ra nguồn nhân lực với trình độ cao đã tăng cường nguồn lực con người cho yêu cầu phát triển công nghiệp hóa - hiện đại hóa Thành phố Biên Hòa có những điểm du lịch khá hấp dẫn đã và đang được khai thác như: Tuyến du lịch trên sông Đồng Nai,

cù lao Ba Xê, cù lao Tân Vạn, khu du lịch Bửu Long và nhiều di tích lịch sử văn hóa quốc gia

Thành phố đô thị loại II này cũng là trung tâm công nghiệp quan trọng của cả

nước Biên Hòa có 5 khu công nghiệp được Chính phủ phê duyệt: Khu công

nghiệp Biên Hòa 1, Khu công nghiệp Biên Hòa 2, Khu công nghiệp Amata, Khu công nghiệp Tam Phước và Khu công nghiệp Loteco đã đi vào hoạt động với cơ sở

hạ tầng được xây dựng đồng bộ Biên Hòa là đầu mối giao thông quan trọng của

quốc gia Ngoài hệ thống đường sắt Thống Nhất thuộc hệ thống đường sắt Bắc - Nam còn có hệ thống đường bộ với nhiều con đường huyết mạch của Đồng Nai và

cả nước như quốc lộ 1A, quốc lộ 51, Quốc lộ 20 Cây cầu huyết mạch và chịu nhiều tải trọng từ hàng triệu lượt phương tiện qua lại là cầu Đồng Nai cũng tọa lạc tại Thành phố công nghiệp này Hiện nay cây cầu này đã xuống cấp và một cây cầu mới đã được xây dựng và hoàn thành đưa vào lưu thông dịp cuối năm 2009, vận tải song hành nhằm giảm tải cho cầu Đồng Nai cũ đã hơn 40 năm tuổi Cây cầu mới này xây cách cầu cũ khoảng 3m về phía thượng lưu sông Đồng Nai Ngoài ra, dự

án này ao gồm cả việc cải tạo xây dựng hệ thống giao thông hai đầu cầu phía Bình Dương và Đồng Nai như: nút giao thông Tân Vạn, nút giao thông ngã Vũng Tàu, hầm chui vượt sông với tổng vốn lên đến hơn 1,1 tỷ USD

Thành phố Biên Hòa là thành phố có mật độ dân cư cao thứ ba ở Việt Nam

sau Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh khoảng 2,968 người/km² Cùng với Bình

Dương và Tp.HCM, Biên Hòa và các huyện Nhơn Trạch, Long Thành, Trảng

Bom, Vĩnh Cửu tạo thành một tam giác công nghiệp phát triển nhất cả nước

Trang 29

Với những định hướng, tiềm năng và sự phát triển về kinh tế, Đồng Nai đang định hướng để nâng cấp thành phố này và xây dựng những đô thị vệ tinh phát triển xung quanh thành phố này ở các huyện lân cận như Trảng Bom và Long Thành, Vĩnh Cửu, Nhơn Trạch Hiện nay, thành phố này là một trong những thành phố đông dân, hiện đại và phát triển nhất cả nước

Về Cơ cấu kinh tế của tỉnh năm 2011, công nghiệp - xây dựng chiếm 57,3%; dịch vụ chiếm 35,2%; nông, lâm nghiệp và thuỷ sản chiếm 7,5%

2.1.3 Dân cư

Theo thống kê năm 2011, dân số thành phố khoảng 821.000 dân, mật độ dân

số là 3,030 người/km² Hiện nay, thành phố Biên Hòa là thành phố thuộc tỉnh có dân số cao nhất nước Việt Nam

Hình 2.2: Văn Miếu Trấn Biên –TP Biên Hòa

2.2 Thực trạng cây xanh tại thành phố Biên Hòa

Theo số liệu thống kê cuối năm 2011 của Phòng Quản lý đô thị thành phố Biên Hòa thì toàn bộ mảng cây xanh và thảm cỏ của thành phố Biên Hòa đạt khoảng 427.92 ha trong đó bao gồm: Cây xanh công viên, hoa viên (102.5359 ha), cây xanh tập trung và phân tán (86.5567 ha), cây xanh vòng xoay, dải phân cách (5.83 ha), cây xanh đường phố (82.363 ha), Cây xanh phân tán trong các hộ gia đình (150.63 ha) và cây xanh rừng phòng hộ 1,397 ha

Trang 30

Lượng cây xanh được trồng trên các rải phân cách đường thành phố hiện chỉ đạt 5,83 ha ( bao gồm thảm cỏ, cây xanh và cây hoa); số lượng cây xanh là 12.508 cây (bao gồm cây trồng lâu năm và mới trồng)

(Trích từ nguồn số liệu của Phòng Quản lý đô thị Tp Biên Hòa- xem Phụ lục 1)

2.3 Thực trạng quản lý cây xanh tại thành phố Biên Hòa

2.3.1 Thực trạng quản lý cây xanh

Hiện nay, Ủy ban nhân dân thành phố (UBND) Thành phố Biên Hòa quản lý nhà nước về mảng xanh đô thị được sự tham mưu trực tiếp từ các cơ quan quản lý

chính (Sơ đồ 1.1)

`

Hình 2.3: Sơ đồ quản lý cây xanh TP Biên Hòa

ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

ỦY BAN NHÂN DÂN TP

Đội quản lý công viên 3

Đội quản lý công viên.n

Đội quản lý cây xanh 1

Đội quản lý cây xanh 2

Đội quản lý cây xanh 3

Tổ bảo trì xe máy

Đội thi công sân vườn

Đội quản

lý vườn ươm

Xưởng cưa CD4

Trang 31

* Phòng Quản lý đô thị Thành phố Biên Hòa

- Quản lý và chịu trách nhiệm về kiến trúc, quy hoạch xây dựng đã được phê duyệt tại địa phương, gồm: Tổ chức công bố quy hoạch xây dựng đã được phê duyệt; tổ chức quản lý các mốc giới, chỉ giới xây dựng, công trình xây dựng, cung cấp thông tin về kiến trúc, quy hoạch xây dựng; giới thiệu địa điểm, thẩm định phương án kiến trúc cho các dự án đầu tư xây dựng

- Thực hiện công tác quản lý, kiểm tra định kỳ chăm sóc công viên cây xanh, vệ sinh môi trường, chiếu sáng công cộng (kể cả đèn tín hiệu giao thông) trên địa bàn được phân công

* Công ty TNHH 1 TV Dịch vụ môi trường Thành phố Biên Hòa

- Quản lý, duy trì, chăm sóc cây xanh đường phố, cây xanh hoa kiểng tại các công viên, vòng xoay, dãy phân cách thuộc Thành phố Biên Hòa

Ngoài ra, việc tổ chức quản lý mảng xanh đô thị ở Thành phố Biên hòa còn

có sự tham gia của các doanh nghiệp nhằm phát triển mảng xanh ở TP, cụ thể như sau:

+ Công ty Thương mại Dịch vụ quản lý Công viên Biên Hùng

+ Trung tâm văn hóa tỉnh Đồng Nai quản lý Công viên Quảng trường tỉnh + Tổng Cty công nghiệp thực phẩm Đồng Nai quản lý công viên Bửu Long

2.3.2 Những vấn đề và khó khăn trong quy hoạch cây xanh hiện nay

Quy hoạch phát triển mảng xanh đô thị nói chung và cây xanh đô thị tại Tp Biên Hòa nói riêng trong các năm qua đã bộc lộ khá nhiều bất cập, không gian xanh của thành phố có nguy cơ ngày càng bị thu hẹp dần

- Vấn đề phát triển mảng xanh chỉ được ưu tiên sau việc giải tỏa đất đai để xây dựng các công trình đô thị, nhà ở, đường sá, trong một thời gian dài các mảng xanh đã không cải tạo, tu bổ và mở rộng

- Hệ thống cây xanh có 3 cấp độ, gồm: cây xanh cấp thành phố, cây xanh cấp phường xã và cây xanh khu dân cư Riêng cây xanh khu dân cư thì có quy định tối

Trang 32

thiểu phải đạt 3-4 m2 cây xanh/người Khi làm quy hoạch, tất cả các dự án đều phải

có mảng xanh, thế nhưng khi triển khai thì các chủ đầu tư tự phân lô xây dựng nhà trên cả diện tích đất dành cho cây xanh Một điều dễ thấy là rất nhiều dự án dân cư hiện nay sau khi người dân mua nhà lại không được cấp sổ đỏ Một trong những nguyên nhân không cấp được sổ đỏ là do chủ đầu tư dự án đã làm sai quy hoạch, trong đó có việc không tuân thủ đúng quy hoạch dành cho cây xanh

- Tốc độ đô thị hóa khá nhanh (tập trung phát triển khu ở) đã làm thay đổi vị trí, quy mô, thậm chí thu hẹp cả diện tích phát triển các khu công viên cây xanh có trong các dự án quy hoạch chung cũng như quy hoạch chi tiết

- Giá đất rất cao ở nội đô làm cho phương án mua đất làm công viên xây xanh càng khó khả thi khi nguồn vốn ngân sách hạn hẹp

- Khả năng về đầu tư phát triển theo quy hoạch cây xanh trong thời gian qua còn nhiều hạn chế, chẳng hạn như hạn chế về nguồn vốn đầu tư (chủ yếu dựa vào vốn ngân sách); Các hình thức về nguồn vốn chưa đa dạng (chưa phát triển xã hội hóa đầu tư); Các nhà đầu tư chưa quan tâm (vì khó sinh lời)

- Công tác quản lý đối với hệ thống cây xanh thành phố (kể cả hiện trạng cũng như qui hoạch) còn nhiều bất cập, cần phải có những đề xuất ra mô hình quản lý phù hợp, có cơ chế khuyến khích đầu tư phát triển hệ thống công viên cây xanh, phải giữ được quỹ đất sau quy hoạch,

2.4 Đánh giá những thuận lợi và hạn chế của công tác tổ chức và quản lý cây xanh tại thành phố Biên Hòa

2.4.1 Thuận lợi

- Có sự quan tâm sâu sắc của Thành Ủy, Hội Đồng Nhân Dân, UBND TP trong việc chỉ đạo, ban hành các văn bản quy định, tháo gỡ những khó khăn để phát triển hệ thống cây xanh đô thị

- Diện tích cây xanh đô thị nói chung được tăng lên Số lượng cây xanh tăng nhiều và chất lượng cây xanh ngày càng được cải thiện, đồng đều hơn Việc bảo quản chăm sóc công viên, cây xanh đô thị ngày càng được quan tâm đúng mức Đã

Trang 33

hình thành và phát triển nhiều khu công viên cây xanh cho TP cũng như đã xuất hiện nhiều con đường với những hàng cây xanh chạy trải rất đẹp

- Chỉ tiêu diện tích cây xanh đô thị trên đầu người hàng năm đều tăng lên điển hình như:

+ Năm 2005 tỷ lệ bình quân m2 cây xanh/đầu người đạt 2.19m2/người

+ Năm 2006 diện tích cây xanh tăng thêm 14.84 ha, tỷ lệ bình quân m2 cây xanh/đầu người đạt 2.46m2/người

+ Năm 2007 diện tích cây xanh tăng thêm 23.70 ha, tỷ lệ bình quân m2 cây xanh/đầu người đạt 2.46m2/người

+ Năm 2008 diện tích cây xanh tăng thêm 13.93 ha, tỷ lệ bình quân m2 cây xanh/đầu người đạt 3.14m2/người

+ Năm 2009 diện tích cây xanh tăng thêm 9.4 ha, tỷ lệ bình quân m2 cây xanh/đầu người đạt 3.31m2/người

+ Năm 2010 diện tích cây xanh tăng thêm 36.88 ha, tỷ lệ bình quân m2 cây xanh/đầu người đạt 4.078m2/người

+ Năm 2011 diện tích cây xanh tăng thêm 64.52 ha, tỷ lệ bình quân m2 cây xanh/đầu người đạt 5.21m2/người

(Trích từ nguồn số liệu của Phòng Quản lý đô thị Tp Biên Hòa-xem Phụ lục 1)

2.4.2 Hạn chế

- Quy mô diện tích và chỉ tiêu

+ Diện tích hệ thống cây xanh đô thị còn rất thiếu Theo Quy hoạch đến năm

2020, Hệ thống cây xanh, mặt nước và công viên có diện tích khoảng 1.762 ha, trong đó có 581 ha gồm cây xanh công viên thành phố, cây xanh trong các khu ở và 1.181 ha cây xanh công viên du lịch và sinh thái, gồm:

Công viên du lịch - sinh thái Cù lao Hiệp Hòa quy mô 240 ha

Công viên du lịch Bửu Long quy mô 203 ha

Công viên Hồ Suối Mai quy mô 250 ha

Trang 34

Công viên Cù lao Tân Vạn quy mô 65 ha

Công viên Cù lao Ba Xê quy mô 21 ha

Công viên Hoá An quy mô 202 ha (chuyển từ khu vực khai thác đá)

Công viên cây xanh dọc sông Cái và sông Đồng Nai có bề rộng từ 20 - 30 m có quy

mô khoảng 200 ha Ngoài ra, bố trí thêm cây xanh cách ly xung quanh sân bay và khu quân sự có bề rộng khoảng 30 m

+ Đến năm 2011 cây xanh đường phố với tổng diện tích 82.363 ha, nhưng phân bố không đồng đều

+ Diện tích Công viên cây xanh khu vực nội thành quá thấp so với quy chuẩn: Công viên chỉ đạt 1.25 m2/người, và 3,08 m2/người nếu tính cả phần diện tích cây xanh trong khu ở

+ Chỉ tiêu đất bình quân đầu người của vườn ươm cây, vườn ươm hoa hiện rất thấp Vườn ươm cây đạt 0,5 m2/người (quy chuẩn là 1 m2/người) Vườn ươm hoa 0,003 m2/người (quy chẩn 0,2 m2/người)

- Cơ cấu : Cây xanh đô thị toàn thành phố có tổng diện tích 1.825 ha, chiếm

6,9% tổng diện tích toàn thành phố, trong đó:

+ Cây xanh sử dụng công cộng (Cây xanh công viên, hoa viên; Cây xanh vòng xoay, dải phân cách; Cây xanh đường phố): 190.73 ha chiếm 10.46%

+ Cây xanh sử dụng hạn chế (Cây xanh tập trung khu vực; Cây xanh phân tán trong các hộ gai đình): 237.18 ha chiếm 12,99 %

+ Cây xanh chuyên dụng (rừng phòng hộ, vườn ươm): 1,397 ha chiếm 76,55%

Trong 3 loại cây xanh đô thị trên, số lượng cây xanh sử dụng công cộng và cây xanh sử dụng hạn chế thấp Theo quy chuẩn, số liệu này phải chiếm tỷ lệ từ 23 – 25% mới đảm bảo diện tích yêu cầu Cây xanh chuyên dụng lại rất nhiều về rừng phòng hộ nhưng lại thiếu diện tích cho vườn ươm

- Phân bổ

Trang 35

+ Khu vực nội thành rất ít công viên diện tích lớn, không đủ diện tích xanh

để thỏa mãn nhu cầu dân cư, môi trường đô thị

+ Khu vực ngoại thành cần gia tăng, mở rộng diện tích xanh để hổ trợ cho khu vực nội thành

- Chất lượng cây xanh đô thị

+ Nhiều khu đô thị có chất lượng cây xanh không cao, chủng loại cây trồng không phong phú, ít loài, ít họ thực vật

+ Các khu công viên không được cải tạo, nâng cấp thường xuyên vì thiếu vốn đầu tư Thiết kế chuyên ngành cây xanh đô thị mới được quan tâm chú ý nâng cao, đặc biệt là vấn đề tạo dáng, màu sắc,

- Mô hình quản lý

+ Quản lý hoạt động công viên do nhiều cấp, ngành thực hiện, chưa có sự phối hợp chặt chẽ Như Công ty Thương mại Dịch vụ quản lý Công viên Biên Hùng; Trung tâm văn hóa tỉnh Đồng Nai quản lý Công viên Quảng trường tỉnh; Tổng Công ty công nghiệp thực phẩm Đồng Nai quản lý công viên Bửu Long

+ Rất nhiều dự án đầu tư của doanh nghiệp khi có quyết định đầu tư, được giao đất, không chịu đầu tư xây dựng hoàn thiện các khu cây xanh công viên theo đúng quy hoạch được duyệt

Trang 36

Hình 2.4: Công viên Phan Văn Trị -TP Biên Hòa

2.5 Sự cần thiết của việc sử dụng công nghệ thông tin trong việc tổ chức quàn

lý và quy họach cây xanh tại thành phố Biên Hòa

Môi trường xanh hiểu theo nghĩa rộng là tất các mảnh cây xanh (đường phố, công viên, cây xanh, hoa kiểng trong trong các gia đình, vườn hoa, thảm cỏ, rừng

đô thị và cả mặt nước thoáng .) giúp cải thiện điều kiện khí hậu nhiệt đới, đặc biệt

có ý nghĩa vào mùa nắng ở nước ta Theo nghĩa hẹp, đối tượng cần quản lý cấp thiết nhất của môi trường xanh đô thị là cây xanh đường phố và công viên (nói gọn

là cây xanh đô thị) vì các đối tượng này liên quan đến việc lập kế hoạch, dự toán ngân sách bảo quản, phát triển hàng năm

Ví dụ, theo số liệu những năm gần đây, Công ty TNHH 1 TV Dịch vụ môi trường Biên Hòa quản lý hơn 12.508 cây xanh đường phố, phân bố trên 26 tuyến đường chính trong thành phố Bên cạnh cây xanh đường phố, Công ty còn quản lý một mạng lưới công viên trong đó có 18 công viên, tổng diện tích: 102.53ha và rừng phòng hộ 1,397 ha

Đặc điểm của quản lý cây xanh là: có số lượng lớn, có tính đặc thù vừa về mặt không gian địa lý lẫn biến đổi theo thời gian

Trang 37

Bên cạnh đó, phân bố cây không đồng đều giữa các khu vực Trong cây xanh đường phố, về độ tuổi cũng không đồng đều, phản ảnh qua đường kính, chiều cao cũng phân cấp nhiều loại, ví dụ hiện nay có khoảng 31 % cây xanh cao trên 6m Đặc thù của cây xanh là tăng trưởng theo thời gian, vài ba năm, cơ cấu cây xanh lại thay đổi về loại chiều cao, do đó việc quản lý theo dõi theo tiêu chí này cũng rất phức tạp

Ngoài ra, cây xanh đường phố cũng đa dạng về chủng loại (cây xanh đường phố có 63 loài khác nhau), đơn giá khoán cũng thay đổi theo loài cây nên việc quản

lý trở nên phức tạp về mặt số liệu do việc thay thế loài

Ngoài kích thước và chủng loại, tình trạng già cỗi, sâu bệnh, sam thân bọng ruột, tán to, nghiêng Cũng cần phải được quản lý theo dõi để có kế hoạch thay thế, xử lý Theo dõi cho 12.508 cây đường phố nếu không có công cụ hỗ trợ quản lý thì đòi hỏi nhiều công sức và thời gian

Bên cạnh đó, môi trường xanh đô thị thường gắn liền với các địa điểm vui chơi giải trí, các địa điểm luyện tập thể dục, nơi thư giãn làm phong phú đời sống tinh thần và nơi lý tưởng để giáo dục môi trường và lòng yêu thiên nhiên cho trẻ

em

Hơn nữa, các cảnh quan xanh còn thường gắn liền với các địa điểm tham quan du lịch Vì vậy, một hệ thống thông tin môi trường xanh cung cấp cho rất nhiều đối tượng có nhu cầu

Hơn thế nữa, cây xanh không đứng đơn độc mà phát triển trong môi trường

đô thị với các hạ tầng cơ sở có liên quan như: đường điện, cống thoát nước, cáp điện ngầm, ống cấp nước Do đó, việc hình thành một hệ thống thông tin quản lý theo dõi những thông tin về mối liên hệ của cây xanh với các thành phần hạ tầng nói trên là hết sức cần thiết

Ở Việt Nam, rất nhiều ngành đã bắt đầu ứng dụng tin học vào công tác quản

lý Trước hết là các ngành hàng không, điện lực, cấp nước Trong những năm gần đây, rất nhiều ngành đã bắt đầu nghiên cứu ứng dụng: xử lý thông tin viễn thám,

Trang 38

xây dựng, thẩm định và quản lý dự án đầu tư, dân số và kế hoạch hóa gia đình, xây dựng, kiến trúc, quản lý bản đồ (wingis), quản lý nhà ở Hà Nội, xổ số kiến thiết .Việc quản lý cây xanh bằng tin học cũng được bắt đầu áp dụng ở Huế, Cần thơ, Thành phố Hồ Chí Minh

Nói chung, đối với những ngành mà đối tượng quản lý có số lượng lớn như cây xanh, việc ứng dụng các thành tựu công nghệ thông tin, máy tính vào công tác quản lý hiện đang là một đòi hỏi cấp bách ở Việt Nam

Vì vậy, để góp phần thiết thực vào việc cải tiến quản lý đô thị nói chung và quản lý cây xanh đô thị nói riêng, việc xây dựng hệ thống thông tin quản lý môi trường xanh đô thị là yêu cầu hết sức cần thiết và cấp bách, vì:

- Việc nghiên cứu để tìm ra các hình thức lưu trữ dữ liệu cơ bản, lập các cơ sở

dự liệu về cây xanh đường phố, cho phép theo dõi những biến đổi trong quá trình xây dựng và dự báo sự phát triển của hệ thống cây xanh đường phố

- Bằng các ngôn ngữ lập trình của tin học, cho phép soạn thảo các hệ phần mềm thông tin quản lý, cho phép lãnh đạo và các nhân viên kỹ thuật, với trình độ tin học không chuyên vẫn có thể tiếp cận số liệu, truy cập thông tin phục vụ cho công việc quản lý hàng ngày

- Việc ứng dụng các công nghệ tiên tiến vào quản lý hệ thống cây xanh đô thị như hệ thống thông tin quản lý, hệ thống thông tin địa lý GIS, cho phép thể hiện hình ảnh của cây xanh ngay trên màn hình, cây gì, ở đâu? Tình trạng sâu bệnh và hạ tầng liên quan ra sao? Sẽ giúp ích rất có hiệu quả trong công tác lập kế hoạch bảo quản, cải tạo, thay thế và trồng mới

- Một hệ thống thông tin quản lý môi trường xanh đô thị cung cấp thông tin và các kiến thức cần thiết về số lượng, chủng loại, chất lượng cảnh quan, ý nghĩa lịch sử văn hóa của các ‘địa chỉ xanh’ là rất hữu ích nhiều ngành như quy hoạch kiến trúc, du lịch, nông nghiệp phát triển nông thôn, giao thông công chính và cung cấp cho những người muốn tìm hiểu về cảnh quan, đa

Trang 39

dạng sinh học, thực vật học, cây xanh hoa cảnh là rất cần thiết cho việc quản lý và phát triển một đô thị hiện đại

2.6 Những khó khăn và các vấn đề về GIS ở Việt Nam

Các địa phương và cơ quan vẫn còn lúng túng trong nhìn nhận khả năng thực tiễn của công nghệ GIS trong quản lý và phát triển đô thị Hơn nữa, việc áp dụng GIS đòi hỏi phải có đội ngũ chuyên gia có kinh nghiệm, biết kết hợp nhiều công nghệ bổ trợ Nhưng trên thực tế, đội ngũ chuyên gia này đang thiếu Bên cạnh đó, trang thiết bị có hạ tầng mạng, hệ thống lưu trữ dữ liệu các phần mềm GIS thì chưa đầy đủ Ngân hàng dữ liệu GIS chuyên ngành xây dựng và phát triển đô thị, liên kết

đa ngành và quốc gia mới ở giai đoạn đầu hình thành

Để ứng dụng GIS rộng rãi hơn trong phát triển đô thị cần phải có sự liên kết liên ngành giữa "5 nhà" Đó là các nhà lập chính sách, nhà giáo (lồng ghép công tác đào tạo GIS trong các trường đại học chuyên ngành kiến trúc - quy hoạch - xây dựng) nhà quy hoạch, nhà quản lý đô thị và nhà lập trình phần mềm

Để có một hệ thống GIS đồng bộ phục vụ công tác quy hoạch xây dựng ở Việt Nam, cần thiết phải xây dựng được ngân hàng dữ liệu quốc gia về quy hoạch, tiến tới kết hợp với các ngành xây dựng hệ thống thông tin địa lý quốc gia

Để tránh những phức tạp trong giao lưu thông tin, nâng cao hiệu quả phục vụ của GIS về đô thị cần phải xây dựng một cấu trúc cơ sở dữ liệu GIS quốc gia về đô thị, quy hoạch đô thị và phổ biến cho các cơ quan chuyên ngành cũng như cơ quan quản lý đô thị cùng áp dụng

Việc áp dụng GIS vào công tác quy hoạch là rất cần thiết tuy nhiên không nên quá cầu toàn Điều quan trọng là dần dần chỉ ra được tính hiệu quả của việc ứng dụng công nghệ GIS đối với xã hội, tổ chức và cá nhân tham gia trực tiếp vào công tác quy hoạch xây dựng

Trang 40

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

Thành phố Biên hòa là trung tâm kinh tế, chính trị , văn hóa của tỉnh Đồng Nai, là một thành phố công nghiệp lớn của cả nước và là một trung tâm của vùng trọng điểm phía Nam

Thành phố Biên hòa vốn được thiên nhiên ưu đãi cho nhiều cảnh đẹp như khu Bửu Long, Cù Lao Phố và nhất là sông Đồng Nai Tuy vậy, hiện nay đa phần tuyến bờ sông qua thành phố đang bị các công trình che khuất, Các tuyến đường phần lớn còn thiếu cây xanh bóng mát, diện tích làm công viên còn thiếu Tình trạng này gây ảnh hưởng xấu đến cảnh quan của Thành phố

Cây xanh thành phố Biên Hòa với tỷ lệ m2 cây xanh trên đầu người là 3.38m2/người hiện tại vẫn còn thấp Từ nghững năm 2005 đến nay tỷ lệ cây xanh hàng năm có tăng tuy nhiên tốc độ tăng bình quân chỉ đạt khoảng 0.3-0.4 m2/người /năm không nhiều so với tốc độ phát triển kinh tế và tốc độ tăng dân số của thành phố, nhất là lượng tăng dân số cơ học

Quy hoạch phát triển mảng xanh đô thị nói chung và cây xanh đô thị tại Thành phố Biên Hòa nói riêng trong các năm qua đã bộc lộ khá nhiều bất cập, không gian xanh của thành phố còn bị ảnh hưởng bởi vấn đề đô thị hóa quá nhanh, vấn đề chia tách địa giới hành chánh, khả năng về đầu tư phát triển theo quy hoạch cây xanh trong thời gian qua chưa tốt,

Tuy nhiên, công tác tổ chức, quản lý cây xanh tại Thành phố Biên Hòa vẫn còn một số hạn chế về diện tích hệ thống cây xanh đô thị còn thiếu, cây xanh chuyên môn lại rất nhiều về rừng phòng hộ nhưng lại thiếu diện tích cho vườn ươm, cây xanh phân bổ không đồng bộ giữa các khu vực Mô hình hoạt động trong các khu công viên cây xanh chưa phong phú, đa dạng, chưa thể hiện được đặc trưng, bản sắc riêng của từng công viên Rất thiếu các loại hình công viên cây xanh chuyên đề, nhiều khu công viên cây xanh có mặt bằng sử dụng sai chức năng: kinh doanh cà phê, cây hoa kiểng, shop thể dục thể thao, tổ chức hội chợ, Chất lượng cây xanh đô thị kém, mô hình quản lý chưa thật sự chặt chẽ còn nhiều dự án đầu tư

Ngày đăng: 31/05/2023, 09:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w