Phục vụ giao thông với tốc độ xe chạy cao80 - 120km/h giữa các khu vực chính của thành phố với nhau, giữa thành phố với các khu công nghiệp nằm ngoài thành phố, giữa thành phố với các c
Trang 1
Chương mở đầu
1 Sự cần thiết của đề tài
Tiêu chuẩn thiết kế đường đô thị TCXD 104:1983 của Việt Nam ra đời năm
1983, nó là cơ sở cho việc thiết kế đường đô thị hơn 20 năm qua Các tiêu chuẩn thiết kế đường ôtô TCVN 4054 – 85, TCVN 4054 – 98 cũng đề cập đến yêu cầu thiết kế đường đô thị nhưng ở mức độ khiêm tốn và mới đây nhất là bộ tiêu chuẩn thiết kế đường ôtô 22TCN 273 – 01 đã dành hẳn 1 chương nói riêng về
đường ôtô là rất lớn Khi sử dụng Tiêu chuẩn thiết kế đường đô thị TCXD 104:
1983 ta thấy có những vấn đề tỏ ra không cập nhật với những tiến bộ của khoa học công nghệ trên thế giới và điều kiện phát triển của Việt Nam
Vấn đề đặt ra là cần thiết có một tiêu chuẩn mới về thiết kế đường đô thị đầy
đủ, thống nhất, cập nhật được những tiến bộ của khoa học kỹ thuật trên thế giới, phù hợp với quá trình phát triển của Việt Nam
2 Mục đích và nội dung của đề tài
Nghiên cứu tiêu chuẩn phân cấp hạng đường và tiêu chuẩn yếu tố hình học nhằm góp phần hoàn thiện tiêu chuẩn thiết kế đường đô thị ở Việt Nam
3 Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết kết hợp với tổng hợp phân tích các kết quả nghiên cứu, tiêu chuẩn thiết kế trong nước và nước ngoài để đề xuất tiêu chuẩn phân cấp đường và tiêu chuẩn yếu tố hình học đường đô thị
Trang 2
Chương I Tổng quan về tiêu chuẩn thiết kế đường đô thị
I.1 Khái niệm về đường đô thị
I.1.1 Khái niệm về đô thị
I.1.1.1 Khái niệm về đô thị
Điểm dân cư đô thị là một điểm dân cư tập trung phần lớn những người dân phi nông nghiệp, họ sống và làm việc theo kiểu thành thị
ở nước ta theo Quyết định số 132/HĐBT ngày 5 tháng 5 năm 1990 của Hội đồng
Bộ trưởng quy định đô thị là các điểm dân cư có các yếu tố cơ bản sau đây:
- Là trung tâm tổng hợp hay trung tâm chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của một vùng lãnh thổ nhất định
- Quy mô dân số nhỏ nhất là 4000 người (vùng núi có thể thấp hơn)
- Tỉ lệ lao động phi nông nghiệp > 60% trong tổng số lao động, là nơi có sản xuất và dịch vụ thương mại hàng hoá phát triển
- Có cơ sở hạ tầng kĩ thuật và các công trình công cộng phục vụ dân cư đô thị
- Mật độ dân cư được xác định tuỳ theo từng loại đô thị phù hợp với đặc điểm cảu từng vùng
ở nước ta hiện nay, theo thống kê mới nhất có 569 điểm dân cư đô thị Mặc
dù ở những đô thị đó, nếu căn cứ vào các chỉ tiêu nói trên thì chưa đạt đầy đủ các yêu cầu Tính chất và lối sống đô thị ở đây còn chịu nhiều ảnh hưởng của lối sống nông thôn, song vị trí của nó sẽ là điểm đô thị phát triển
I.1.1.2 Phân loại đô thị
Ban hành kèm theo Thông tư liên tịch số 02/2002/TTLT-BXD-TCCP ngày
08/03/2002, của Bộ Xây dựng và Ban Tổ chức Cán bộ Chính phủ
STT Loại đô
thị
Chỉ tiêu vị trí và phạm vi ảnh hưởng Số dân Mật độ
người/km2
Trang 3Thành phố trực thuộc Trung ương hoặc thành phố thuộc tỉnh, đô thị trung tâm chuyên ngành cấp vùng và trung tâm tổng hợp cấp tỉnh
5 IV Thị xã tỉnh lỵ thuộc tỉnh, đô thị trung
Thị xã thuộc tỉnh, thuộc thành phố trực thuộc Trung ương, đô thị trung tâm chuyên ngành cấp tỉnh hoặc thị trấn trung tâm tổng hợp của huyện
và trung tâm chuyên ngành của tỉnh
Trang 4
4
6 V Thị xã thuộc tỉnh, thị trấn huyện lỵ
thuộc huyện và là trung tâm tổng hợp cấp huyện
Thị trấn thuộc huyện, đô thị trung tâm chuyên ngành cấp huyện và trung tâm tổng hợp cấp tiểu vùng
I.1.1.3 Vị trí và tác dụng của đường đô thị
Đường đô thị là một bộ phận của đường ôtô, song nó mang những đặc điểm riêng Trong đô thị, Đường đô thị có tác dụng cách ly ngôi nhà, khối phố, kết hợp với việc trồng cây càng tăng cường tác dụng cách ly, cải tạo điều kiện vi khí hậu, môi trường sống
Đường phố là nơi có thể thể hiện được nghệ thuật kiến trúc của các công trình xây dựng Đi trên đường phố, người ta có thể thưởng thức được vẻ đẹp kiến trúc của các công trình đó Đường và quảng trường trong đô thị thường tạo thành những trung tâm thể hiện nghệ thuật kiến trúc của đô thị
Các công trình công cộng như đường ống cấp nước, thoát nước, cấp điện, cấp khí đốt, đường dây, đường ống trên và dưới mặt đất, cây xanh đều có quan
hệ mật thiết tới việc xây dựng đường đô thị Đường đô thị thường là nơi thoát nước và bố trí các công trình công cộng đó
Chức năng
giao thông
Chức năng
Phương tiện cơ giới
Người đi bộ,
Xe đạp
Tính di chuyển, Có thể nối tiếp được, Dừng lại và đỗ xe
Tính di chuyển,
Có thể nối tiếp đợc, Chờ đợi và dừng lại
Là thành phần của thành phố
Là không gian tránh tai hoạ
Trang 5
I.1.2 Khái niệm về giao thông vận tải đô thị và đường đô thị
1.1.2.1 Khái niệm về đường đô thị
Đường đô thị là dải đất trong phạm vi giữa hai đường đỏ xây dựng(chỉ giới xây dựng) trong đô thị để cho xe cộ và người đi lại, trên đó có thể trồng cây,
bố trí các công trình phục vụ công cộng như đèn chiếu sáng, đường dây,
đường ống trên và dưới mặt đất
Đường nằm trong phạm vi đô thị đều được gọi một danh từ chung là đường
đô thị
I.1.2.2 Phân loại đường đô thị
Căn cứ vào các đặc điểm về chức năng giao thông, loại phương tiện vận chuyển, thành phần của dòng xe, tốc độ giao thông, đường đô thị được phân loại như sau:
a Đường cao tốc đô thị
- Chức năng: dùng ở các thành phố lớn Phục vụ giao thông với tốc
độ xe chạy cao(80 - 120km/h) giữa các khu vực chính của thành phố với nhau, giữa thành phố với các khu công nghiệp nằm ngoài thành phố, giữa thành phố với các cảng hàng không, cảng biển
- Đặc điểm: Tốc độ xe chạy cao, các giao cắt là khác mức, giao cùng mức chỉ cho phép trong trường hợp đặc biệt, có giải phân cách tách biệt dòng xe ngược chiều nhau, phải có hành lang an toàn
b Đường giao thông chính toàn thành phố
- Chức năng: phục vụ giao thông có tính toàn thành phố, nối các khu vực lớn của thành phố như trung tâm đô thị, công viên, sân vận động, quảng trường lớn và nối các đường ôtô chính bên ngoài
đô thị
- Đặc điểm: Lưu lượng giao thông lớn, tốc độ xe chạy cao
Trang 6- Đặc điểm: Lưu lượng xe chạy và bộ hành lớn
- Không nên có tàu điện và xe tải chạy qua
- Các công trình kiến trúc chủ yếu ở hai bên đại lộ thường là các cơ quan lớn, nhà hát, khu triển lãm, viện bảo tàng, câu lac bộ, nhà ở cao tầng
d Đường giao thông chính khu vực
- Chức năng: Phục vụ giao thông và đi lại giữa các khu nhà ở, khu công nghiệp với nhau và nối với các đường giao thông chính toàn thành
- Đặc điểm: Lưu lượng xe chạy trung bình, thành phần xe đa dạng
Không nên bố trí trường học, nhà trẻ, mẫu giáo gần đường phố
e Đường phố thương nghiệp
- Chức năng: phục vụ cho đông đảo hành khách đến các cửa hàng ở hai bên phố được thuận tiện Nó thường được xây dựng
ở những phố buôn bán lớn và ở khu trung tâm thành phố
- Đặc điểm: Lưu lượng dòng người đi bộ cao
Tốt nhất chỉ cho xe đạp, xe máy đi lại còn các loại xe cơ giới khác thì cấm
f Đường xe đạp
Trang 7h Đương khu công nghiệp, kho tàng
- Chức năng: Vận chuyển hàng hoá, hành khách có quan hệ với
xí nghiệp, nhà máy kho bãi
- Đặc điểm: giao thông xe tải chiếm tỷ lệ lớn
i Đường địa phương
- Chức năng: Liên hệ giao thông với các khu nhà ở và khu công nghiệp, kho tàng đứng riêng biệt
- Đặc điểm: đủ loại xe tham gia giao thông
j Đường đi bộ: Dùng cho người đi bộ
I.1.3 Hiện trạng giao thông vận tải đô thị và đường đô thị ở Việt Nam
I.1.3.1 Thực trạng mạng lưới giao thông ở các thành phố lớn ở Việt Nam
a Mạng lưới giao thông ở Hà Nội
Nội thành Hà nội hiện có 319 đường phố với tổng chiều dài 276 km trên một diện tích khoảng trên 71km2 Số liệu thống kê đường phố 7 quận nội thành
Thanh Xuân
Tổng số
Diện tích (km2) 9,09 4,50 13,00 5,97 20,43 8,87 9,13 70.99 Dân số (Người) 204,600 177,594 317,750 232,134 69,00 288,023 117,863 1,406,964 Tổng chiều dài
Trang 8Ghi chú: Mật độ đường tính theo phương pháp của JICA
- Mật độ mạng lưới đường thấp, phân bố không đồng đều: Mật độ bình quân khu vực nội thành (Theo phương pháp đánh giá của JICA) là 0.87 chỉ bằng 35 - 40% so với mức trung bình của Thế giới
- Mạng lưới đường có cấu trúc dạng hỗn hợp và thiếu sự liên thông: Các khu vực mới hình thành mật độ đường thấp, mọi sự giao lưu đều tập trung vào trục đường hướng tâm tạo ra sự dồn ép và căng thẳng về giao thông ở khu vực trung tâm thành phố Những năm gần đây, một số trục
đường hướng tâm vào thành phố đã được cải tạo và hình thành rõ rệt, hệ thống đường vành đai nối các trcụ hướng tâm đang được hoàn chỉnh
- Đường phố ngắn tạo ra nhiều giao cắt: Khoảng cách giữa các nút giao thông trong khu vực nội thành trung bình là 380m Toàn thành phố
có 580 điểm giao cắt Nội thành có khảng 100 nút giao thông quan trọng cần bố trí hệ thống đèn tín hiệu nhưng cho đến nay mới có 36 nút có hệ thống điều khiển bằng đèn tín hiệu
- Chất lượng đường xấu, lòng đường hẹp : khu vực nội thành có 88%
đường chiều rộng từ 7 đến 11m chỉ có 12% đường có chiều rộng trên 12m Về chất lượng đường mới ch ỉ có 40% mặt đường bê tông nhựa, còn lại là mặt đá dăm cấp phối hỗn hợp
- Tỉ lệ quỹ đất giành cho giao thông quá ít: Hà Nội mới ở mức trên dưới 8%( thế giới thường là 25%), trong đó giao thông tĩnh chỉ mới chiếm 1%
b Mạng lưới giao thông thành phố Hồ Chí Minh
Mạng lưới đường của 12 quận nội thành cũ: Hình dạng mạng lưới đường
có dạng ô bàn cờ kết hợp với các tia rẻ quạt Tổng hợp mạng lưới đường xem bảng 1.2
Bảng 1.2: Thống kê mạng lưới đường bộ khu vực 12 quận nội thành cũ
Chỉ Chiều dài Diện tích Dân số Mật độ đường
Trang 9Mạng lưới đường 5 quận nội thành phát triển: Khu vực này bao gồm: Quận
2, quận 9, quận Thủ đức, Quận 7 và quận 12 Mạng lưới đường được thống
Diện tích (Km 2 )
Dân số (10 3 người)
Mật độ đường Km/Km 2 Km/10 3 dân m 2 / người
c Mạng lưới đường TP Hải Phòng
Tổng số đường phố nội thành là 145 đường phố có tổng chiều dài 133.2 km
có cấu trúc phúc tạp dạng hỗn hợp: Bao gồm một số đường trục chính hướng tâm, xuyên tâm kết hợp với một số tuyến vòng cung
Trang 10
Bảng 1.4: Mạng lưới đường nội đô Hải Phòng
1 Tổng chiều dài đường phố (Km), trong đó
+ Đường trục chính (29 đường)
+ Đường khu vực ( 82 đường)
+ Đường ngõ, khu tập thể (34 đường)
133,2 48,9 71,1 13,2
44,2 34,2 16,9 4,7
3 Tổng diện tích đường (1.000 m 2) , trong đó:
+ Đường bê tông nhựa:
+ Đường đá dăm nhựa :
1.033,1 176,3 856,8
100 17,1 82,9
4 Mật độ mạng lưới đường (Km/km 2 ) , trong đó:
5 Chiều dài đường phố tính cho 1.000 dân (m/
người) :
284
Ghi chú: Chỉ tiêu % quĩ đất cho mạng lưới đường và vỉa hè không tính quận Kiến An
- Đường phố ngắn, mặt đường hẹp: Phần lớn các đường phố có chiều dài ngắn (56.5% đường phốcó chiều dài dưới 500m, 20.06% đường phố có chiều dài từ 500 - 1000m) tạo ra nhiều điểm giao cắt( trong toàn thành phố có 121 điểm giao cắt) Các nút giao cắt phức tạp dều
là giao cắt đồng mức, nằm trên các vị trí trục chính nội thành gây trở ngại lớn đối với việc kiểm soát và điều kiện giao thông nội đô Ngoài
ra, đường phố hẹp, từ 7m trở xuống chiếm 44,2%, trên 15m chỉ có 4,7%, còn lại là từ 7 - 15m
Trang 11
- Mật độ đường thấp lại phân bố không đều: Bình quân khu vực nội thành mới đạt 2.28 km/km 2 chỉ bằng 30 - 40% so với mức tiên tiến trên thế giới Nếu tính mật độ đường theo dân số, ở Hải Phòng là 284m/1000 người dân (mức trong bình trên thế giới là 320 - 500m/1000 dân)
- Chất lượng đường kém: Chỉ có 17.1% là mặt đường bêtông nhựa Moí
có 29.2% chiều dài đường phố có hè, chất lượng hè đường bị xuống cấp
- Quỹ đất dành cho GTVT còn quá ít: Tỷ lệ đất dành cho GTVT ở Hải Phòng mới chỉ chiếm 3.54%tổng diện tích đô thị của thành phố
I.1.1.3 Hiện trạng về nhu cầu và phương tiện đi lại ở các đô thị Việt Nam
a Hiện trạng về nhu cầu và phương tiện đi lại ở Hà Nội
Nhu cầu đi lại theo kết quả điều tra phỏng vấn hộ gia đình tháng 3/1995 (Dự
án VUTAP do SIDA Thuỵ Điển tài trợ) như bảng 1.5
Bảng 1.5: Tổng hợp kết quả điều tra nhu cầu đi lại 1 ngày ở Hà Nội
100,00 33,15 Tổng số chuyến đi của tất cả (kể cả đi
100,00 86,89
Số chuyến đi với thành viên trên 6
100,00 86.89
-
-
Bảng 1.6 : Cơ cấu các phương thức vận tải thủ đô Hà Nội
Trang 12Theo quy hoạch phát triển GTVT thủ đô Hà Nội đến năm 2020
b Hiện trạng nhu cầu và phương tiện đi lại ở TP Hồ Chí Minh
Bảng 1.7: Kết quả điều tra hệ số đi lại theo loại phương tiện ở TP Hồ chí Minh
Phương tiện đi lại
Bình quân ngày (chuyến/người) % trong tổng
số chuyến đi Tính chung Thành phần đi lại
Trang 13c Hiện trạng nhu cầu và phương tiện đi lại ở TP Hải Phòng
Bảng 1.9: Số pưhưong tiện tính trên 1000 dân của một số thành phố:
1.2 Tổng quan về các tiêu chuẩn thiết kế đường đô thị ở Việt Nam
I.2.1 Quy phạm kỹ thuật thiết kế đường phố, đường, quảng trường đô thị TCXD 104:1983
I.2.1.1 Nhận xét về bố cục và những đóng góp của Tiêu chuẩn
Năm 1961, Bộ Xây dựng ban hành tiêu chuẩn và quy phạm thiết kế quy hoạch xây dựng đô thị có đề cập phân loại đường trong đô thị Năm 1983 Bộ Xây dựng ban hành quy phạm kỹ thuật thiết kế đường phố, đường quảng trường đô thị 20TCN - 104 - 1983 Trong suốt hơn 20 năm qua, Tiêu chuẩn này vẫn là cơ sở để người thiết kế sử dụng thiết kế đường đô thị
Tiêu chuẩn gồm 10 phần quy định về thiết kế và thi công từng bộ phận của đường đô thị Do giới hạn của đề tài chỉ nghiên cứu phân loại cấp hạng
đường, yếu tố hình học nên ở đây ta chỉ xét đến 2 phần này trong TCXD 104:1983
Phân loại đường được đặt trong phần thứ nhất : Quy tắc chung
Trang 14
Đường phố được chia thành 3 cấp, 9 hạng, phân loại theo chức năng và
vận tốc ( xem chi tiết bảng 2.2a)
Yếu tố hình học được đặt trong phần thứ hai: Phần xe chạy của đường phố, đường và quảng trường Phần hè phố, đường đi bộ, dải cây xanh và phân cách là những thành phần của mặt cắt ngang đường đô thị Tuy nhiên trong tiêu chuẩn lại tách ra, đưa xuống phân thứ tư và thứ năm của quy phạm khiến cho người sử dụng thấy bất tiện khi tra cứu
Tiêu chuẩn đã cung cấp khá đầy đủ những yêu cầu thiết kế cho đường đô thị nói chung và phần yếu tố hình học nói riêng
I.2.1.2 Những vấn đề bất cập, thiếu xót trong Tiêu chuẩn
Trong 15 năm đến 30 năm tới, thủ đô Hà nội nói riêng và các thành phố lớn nói chung vẫn là thành phố vừa phát triển và vừa phải cải tạo Vì vậy vấn đề phân cấp đường cần phải cân nhắc trên khía cạnh đặc thù này
Quy phạm kỹ thuật thiết kế đường phố, đường, quảng trường đô thị TCXD 104:1983 tuy đã nêu được các yêu cầu thiết kế cơ bản cho các yếu tố hình học nhưng vẫn còn một số yếu tố còn bỏ lửng Điều này khiến cho việc thiết kế
đường không thống nhất Người thiết kế phải tự lựa chọn yêu cầu thiết kế theo các tiêu chuẩn thiết kế đường ôtô hiện hành Hiện nay ở Việt Nam, chính thức có 3 tiêu chuẩn thiết kế đường đang cùng tồn tại: Tiêu chuẩn thiết kế đường ôtô TCVN 4054 - 85, TCVN 4054 - 98, 22 TCN 273 - 01
Ví dụ như: tiêu chuẩn về siêu cao, TCXD 104:1983 chỉ quy định siêu cao lớn nhất, chi tiết phụ thuộc vào bán kính và cấp hạng đường, vận tốc tính toán ra sao thì chưa có quy định
Quy định về bề rộng vỉa hè chưa đề cập hết chức năng của nó trong
đường đô thị Về bề rộng, về độ dốc, khoảng cách những điểm ngắt cho phương tiện lên xuống Đặc biệt, chưa xem xét đến điều kiện tiện nghi để người tàn tật có thể tiếp cận sử dụng Hè phố của đường đô thị cạnh những khu trung tâm dịch vụ sẽ phải khác với hè phố những nơi khác mặc dù chúng có cùng cấp hạng đường Và tuỳ thuộc vào đặc thù của từng con
đường mà ta sẽ lựa chọn kích thước hè phố, mặt cắt ngang cho phù hợp
I.2.2 Tiêu chuẩn thiết kế đường ôtô 22 TCN 273 - 01
Tiêu chuẩn này có bố cục hợp lý và dễ tra cứu Phân cấp đường và các yếu tố thiết kế được giới thiệu trong chương 5 và chương 6 Đường đô thị được giới thiệu tách biệt trong phần 5.3 của chương 5
Trang 15Các yếu tố hình học của đường đô thị thì trong tiêu chuẩn chưa đề cập đầy
đủ, chủ yếu là phân cấp hạng đường đô thị
Tiêu chuẩn đã cập nhật được những tiến bộ KHKT và sự phát triển của xã hội Ví dụ: Việc đưa ra các đường cong chuẩn, với các giá trị độ mở rộng đường cong, siêu cao lập thành bảng tra cứu khiến cho người thiết kế thấy thuận lợi khi sử dụng quy trình
Những quy trình trên đây đều có những đóng góp nhất định cho thiết kế đường đô thị Phân tích chi tiết từng vấn đề được đề cập rõ trong chương 2 của luận án
1.3 Tổng quan về các tiêu chuẩn thiết kế đường đô thị của nước ngoài
1.3.1 Tiêu chuẩn thiết kế đường đô thị của Mỹ
(Theo quy phạm AASHTO – 1990)
Vùng đô thị của Mỹ được chia thành hai loại chính:
Đặc biệt quy phạm đưa ra mức độ phục vụ thiết kế tương ứng với mỗi cấp đường
Đường đô thị tương ứng với 2 mức độ phục vụ:
- Đường cao tốc đô thị và đường chính: mức độ phục vụ C, trong khoảng có dòng xe ổn định, nhưng phầnlớn lái xe bị hạn chế tự do trong việc lựa chọn vận tốc riêng của mình
Trang 16
- Đường nhánh và đường địa phương: mức độ phục vụ D, bắt đầu có dòng
xe không ổn định, có thể bị dừng thời gian ngắn
1.3.2 Tiêu chuẩn thiết kế đường đô thị của Canada
Canada cũng chia đường đô thị thành 4 loại: Đường địa phương, đường gom,
đường chính và đường cao tốc
Trích Bảng 2.3.5: Phân cấp hạng đường đô thị ở Canada:
Vận tốc thiết kế quy định trong khoảng giới hạn, tốc độ nhỏ nhất trong dường đô thị là 40km/h; tốc độ lớn nhất quy định là 100km/h
1.3.3 Tiêu chuẩn thiết kế đường đô thị Nhật bản
Đương đô thị của Nhật bản chỉ chia thành hai loại chính
Đường cao tốc đô thị: đường loại 2 gồm hai cấp đường, lưu lượng xe thiết kế>30.000 xe/ngày đêm
Đường cao tốc đô thị loại 1: tốc độ thiết kế 80km/h,
Đường cao tốc đô thị loại 2: Tốc độ thiết kế 60km/h
- Đường ô tô thông thường: đường loại 4 gồm 4 cấp đường
Vận tốc thiết kế quy định lớn nhất là 60km/h, vận tốc thiết kế nhỏ nhất là 20km/h
Trang 17
1.3.4 Tiêu chuẩn thiết kế đường đô thị Malaysia
(Theo A Guide Geometric of Roads)
Cách phân loại đường của Malaysia dựa trên nền tảng quy phạm AASHTO, nhưng đã có chỉnh lý để phù hợp với điều kiện của đất nước Hiện nay Malaysia
có hệ thống giao thông đường bộ phát triển mạnh trong khu vực Đông Nam á
Đường đô thị cũng được chia thành 4 loại chính; đường cao tốc, đường trục,
đường gom, đường phố địa phương
Dựa vào lưu lượng xe tương ưnga cho từng loại đường thì quy định vận tốc thiết
Trang 18
Chương II Nghiên cứu tiêu chuẩn phân cấp đường đô thị
2.1 Đặt vấn đề
Việc phân loại đường là một vấn đề có ý nghĩa quan trọng đối với công tác thiết kế và quản lý đường, đặc biệt là những quy định đúng đắn về chuẩn bị đầu tư một con đường trong chiến lược xây dựng và phát triển quy hoạch mạng lưới giao thông đường bộ
Việt Nam có hai bộ tiêu chuẩn: TCXD 104:1983 và 22TCN 273-01 đề cập rõ ràng đến cách phân cấp đường ôtô đô thị nhưng không thống nhất với nhau Điều này gây nên những khó khăn khi quy hoạch, đầu tư và thiết kế
đường đô thị Cần thiết phải phân tích và đưa ra một cách phân cấp đường
hợp lý và thống nhất cho đường đô thị ở Việt Nam
2.2 Phân loại đường phố và đường của đô thị ở Việt Nam
2.2.1 Theo TCXD 104 : 1983
Quy phạm thiết kế đường phố, đường, quảng trường đô thị TCXD 104:1983 phân
đường đô thị thành 3 cấp và 9 loại đường đô thị như sau:
Bảng 2.2.a:Phân loại đường phố và đường của đô thị theo chức năng giao thông và tốc độ tính toán
Loại
đường phố
Cấp đường phố đô thị Chức năng chính của đường, phố
Tốc độ tính toán (km/h)
Đường phố
cấp đô thị
Đường cao tốc
Xe chạy tốc độ cao, liên hệ giữa các khu đô thị loại I, giữa các đô thị và các điểm dân cư trong hệ thống chùm đô thị Tổ chức giao thông khác cao độ
120
Trang 19
Đường phố chính cấp I
Giao thông liên tục, liên hệ giữa các khu nhà ở, khu công nghiệp và các trung tâm công cộng nối với đường cao tốc trong phạm vi đô thị Tổ chức giao nhau khác cao độ
100
Đường phố chính cấp II
Giao thông có điều khiển liên hệ trong phạm vi đô thị giữa các khu nhà ở khu công nghiệp và trung tâm công cộng nối với đường phố chính cấp I Tổ chức giao nhau khác cao
Liên hệ trong giới hạn của nhà ở, nối với đường phố chính cấp đô thị 80
Đường vận tải
Vận chuyển hàng hoá và vật liệu xây dựng ra ngoài khu công nghiệp dân dụng, giữa các khu công nghiệp
và khu kho tàng bến bãi
80
Đường nội
bộ
Đường khu nhà ở
Liên hệ giữa các tiểu khu, nhóm nhà với đường khu vực (không có giao thông công cộng)
60
Đường khu công nghiệp
và kho tàng
Chuyên chở hàng hoá công nghiệp
và vật liệu xây dựng trong giới hạn khu công nghiệp, khu kho tàng, nối
ra đường vận tải và các đường khác
60
Ngõ phố tiểu khu
Đường xe đạp
Liên hệ giới hạn trong tiểu khu
Giao thông bằng xe đạp, đi tới nơi làm việc, xí nghiệp, trung tâm công cộng, khu nghỉ ngơi
Trang 20
Đường đi bộ
Người đi bộ, tới nơi làm việc, cơ
quan xí nghiệp, nơi nghỉ ngơi giải trívà bến xe công cộng
1 Phân loại đường phố, đường như trên chỉ áp dụng cho các đô thị loại I, các đô thị loại II, III không có loại đường cao tốcvà đường phố chính loại
I Các đô thị loại IV tuỳ theo tính chất và quy mô dân số có thể lấy chiều rộng của đường phố chính của đô thị tương đương với đường khu vực hay
đường khu nhà ở có cùng số dân
2 Tốc độ tính toán ở các đô thị miền núi cho phép giảm bớt:
- Với đường phố chính và đường khu vực: V = 60km/h
- Với đường nội bộ: V = 30km/h
Nhận xét: Trong tiêu chuẩn này, đường đô thị được phân theo chức năng và tốc
độ tính toán, không đề cập đến lưu lượng xe thiết kế tương ứng cho các cấp hạng
đường cũng như tưổi của đường đô thị Tốc độ quy định cho từng cấp hạng đường
là cố định, không có khoảng giới hạn, gây khó khăn khi thiết kế cho đường ở các
đô thị có quy mô lớn nhỏ với những điều kiện địa hình khác nhau Mặt khác tiêu chuẩn này không quy định lưu lượng xe thiết kế cho từng cấp hạng đường, gây khó khăn khi quyết định đầu tư
2.2.2 Theo tiêu chuẩn thiết kế đường ôtô 22 TCN-273-01
Bảng 2.2.c: Hệ thống phân cấp áp dụng cho mạng lưới đường đô thị quốc gia
Cấp đường
Lưu lượng giao thông xe/ngày
Phân loại theo chức năng Phân loại
kỹ thuật
Đường
cao tốc
50.000 - 70.000
Để phục vụ giao thông với tốc độ cao liên tục và thời gian hành trình ngắn giữa các khu vực chính của thành phố
và khu công nghiệp rộng lớn gần các thành phố, giữa thành phố và sân bay,
80 –
100
Trang 21động, và nối với các đường quốc lộ ngoài đô thị
60 – 80
Đường
gom đô thị
10.000 - 20.000
Nối các khu nhà ở với trục giao thông
C Vận hành ổn định Xếp hàng dài ở chỗ có biển báo điều khiển giao thông dẫn đến tốc độ trung bình khoảng bằng 50% tốc độ của dòng tự do Các lái
xe c ơ giới sẽ phải chịu đựng sự căng thẳng
D Dòng giao thông gần như không ổn định Tốc dộ trung bình giảm xuống 40% so với tốc độ dòng tự do Các ách tắc ở giao lộ có thể lớn hơn
E Tốc dộ trung bình bằng 33% so với tốc dộ dòng tự do Dòng không ổn
định các xe phía sau không ngừng dồn vào các nút giao cắt
F Tốc độ trung bình khoảng bằng 25 - 33% so với tốc dộ dòng tự do Dồn
xe, các ắch tắc dài ở các nút giao cắt có đèn điều khiển
Trang 22Ghi chú: Các điều kiện vận hành chung cho các mức phục vụ
A dòng tự do, với lưu lượng thấp và tốc độ cao
B dòng tự do thích hợp, nhưng tốc độ bắt đầu trỏ nên chậm lại do điều kiện giao thông
C trong khu vực dòng ổn định, nhưng hầu hết các lái xe di dộng trong vùng
tự do lựa chọn tốc độ cho mình
D Dòng bắt đầu không ổn định, lái xe có một chút ít tự do cho việc di động
E dòng không ổn định có thể phải phanh xe
Cột thứ 2,3,4 áp dụng cho đường ngoài đô thị
2.3 Phân loại hệ thống đường đô thị trên thế giới
2.3.1 Phân cấp hệ thống đường ôtô trong khu vực đô thị ở Mỹ
(Theo quy phạm AASHTO - 1990)
Các vùng đô thị ở đây được xem là các khu vực bên trong các đường biên do liên bang và các viên chức địa phương quy định và có dân số từ 5000 trở lên
Trong vùng đô thị lại được phân thành các vùng đô thị hoá lớn (dân số>50000) và các vùng đô thị nhỏ (dân số từ 5000 - 50000)
- Mạng lưới đường chính đô thị:
Trang 23
Trong mỗi vùng đô thị, một hệ thống đường và phố có thể là được xác định là tối quan trọng về mặt bản chất và hành trình mà chúng phục vụ Trong khu đô thị nhỏ các đường này hạn chế về số lượng và quy mô, tầm quan trọng của chúng là phục vụ xe cộ chạy dọc suốt đường chính Trong khu vực đô thị hoá, tầm quan trọng của chúng là phục vụ xe chạy ra ngoài đô thị đồng thời cũng phục vụ giao thông chính khu vực đó
Hệ thống đường chính đô thị phục vụ các trung tâm hoạt động lớn của các khu vực đô thị hoá, các hành lang có lưu lượng xe chạy cao nhất, có hành trình dài nhất Phục vụ xe chạy trong đô thị với tỷ lệ cao trên một chiều dàu đường tối thiểu, mạng đường chính trong đô thị phục vụ phần lớn các tuyến xe đi và đến đô thị, phần lớn các hành trình là chạy suốt thông qua trung tâm, phục vụ các hành trình quan trọng trong khu vực Mạng này còn nối liền tất cả các đường chính ngoài đô thị đi tới ranh giới của khu vực đô thị Do tính chất của hành trình mà mạng đường chính phục vụ, hầu hết các đường tiếp cận được khống chế một phần hay toàn bộ Tuy nhiên mạng đường này không giới hạn ở các đường tiếp cận bị khống chế Để nhận biết các đường tiếp cận bị khống chế mạng đường chính
được chia ra như sau: Đường Liên bang: Các đường cao tốc khác; Các đường chính khác ( Với các đường tiếp cận không khống chế hoặc khống chế một phần.)
- Mạng đường phố thứ yếu trong đô thị:
Mạng đường phố thứ yếu liên kết và tăng cường cho mạng đường chính trong
đô thị Chúng phục vụ các hành trình có chiều dài vừa phải ở mức độ phần nào thấp hơn về tính chất cơ đông so với đường chính
Mạng đường này phân phối các tuyến đường cho các vùng địa lý nhỏ hơn các vùng do mạng đường cấp cao phục vụ
Mạng đường phố thứ yếu bao gồm tất cả các đường không được phân loại là chính Mạng đường này bao gồm các đường nối từ đô thị đến các đường tập hợp ngoài đô thị, các đường nối như vậy không được phân loại là đường chính đô thị vì các lý do nội bộ
- Mạng đường phố tập hợp ở đô thị:
Trang 24
Mạng lưới đường phố tập hợp ở đô thị phục vụ đồng thời cũng là đường tiếp cận các khu đất và đường giao thông nội bộ trong các vùng lân vận có nhà ở và các khu vực kinh doanh kỹ nghệ Mạng đường này đi sâu vào các vùng lân cận có nhầ
ở, phân phối các hành trình từ đường chính vào các khu vực để tới điểm cuối cùng, ngược lại nó tập hợp xe cộ từ các đường địa phương và đưa chúng vào
đường chính Mạng này vao gồm toàn bộ mạng đường phố, có thể có đường xe buýt địa phương
- Mạng đường phố địa phương đô thị:
Mạng đường này bao gồm tất cả các công trình không thuộc một trong các mạng
đường cấp cao hơn Mạng đường này chủ yếu cho phép đi trực tiếp vào khu đất gíap giới và nối với các mạng đường cấp cao hơn Mạng đường này có mức cơ
động thấp nhất Việc phục vụ giao thông chạy suốt không được đặt ra
Mức độ phục vụ thiết kế:
Mức độ phục vụ thiết kế cũ các cấp đường cho ở bảng sau:
Bảng 2.3.1: Hướng dẫn chọn mức độ phục vụ thiết kế:
Loại đường
Ngoài đô thị bằng phẳng Ngoài đô thị
Ngoài đô thị miền núi
Đô thị và ngoại ô
Trang 25Đường trục
Đường địa phương
Trang 262.3.2 Phân cấp hạng đường đô thị ở Canada
- Đường đô thị ở Canada cũng được chia thành 4 loại: Đường địa phương, đường gom, đường chính, đường cao tốc
- Trong mỗi loại đường lại được chia ra làm hai: đường có giải phân cách và đường không có giải phân cách
Bảng 2.3.5: Phân cấp hạng đường đô thị ở Canada:
Mức độ phục vụ: Chia làm 6 mức:
- Mức độ phục vụ A: Dòng xe tự do, chạy với vận tốc không hạn chế
Lưu lượng xe thấp Hiện tượng vượt xe không xảy ra
Trang 27
- Mức độ phục vụ B: Dòng xe rất ổn định
Xuất hiện hiện tượng vượt xe Vận tốc xe giảm so với mức độ phục vụ A Trên đoạn đường dài xe có thể chạy cùng một tốc
độ
- Mức độ phục vụ C: Dòng xe ổn định
Hiện tượng vượt xe xuất hiện Vận tốc xe hạn chế và sự vượt xe diễn ra dễ dàng
- Mức độ phục vụ D: Sự lưu thông xe đạt gần tới điểm mất ổn định
Vận tốc bị hạn chế bởi lý do các xe chạy bám nhau chờ cơ hội vượt xe
Vận tốc xe bị giảm, xuất hiện các dòng xe do các
xe chạy với vận tốc thấp trên đường
Mức độ căng thẳng thần kinh của người tham gia giao thông tăng
- Mức độ phục vụ E: Dòng xe mất ổn định
Vận tốc dòng xe VTB < 50km/h Khả năng lưu thông xe trên đường dưới mức cho phép
- Mức độ phục vụ F: Dòng xe hoạt động bị cưỡng chế
Hiện tượng tắc đường xảy ra thường xuyên, sự vượt xe rất khó khăn
Vận tốc xe rất thấp trên đoạn đường dài
2.3.3 Phân cấp hạng đường đô thị ở Nhật Bản
Nhật Bản phân loại đường và cấp đường phụ thuộc vào chức năng của đường, vào vùng mà chúng đi qua, lưu lượng xe thiết kế
Trang 28Bảng 2.3.7: Phân cấp đường ôtô cao tốc đô thị
Khống chế cửa vào
Lưu lượng thiết kế (Xe/ngày đêm)
QG: Đường cao tốc Quốc gia
KQG: Không thuộc đường cao tốc quốc gia
TB: Toàn bộ đường vào, ra đường cao tốc được khống chế
Bảng 2.3.8: Phân cấp đường ôtô thông thường:
Loại Cấp V Khống Lưu lượng xe thiết kế (xe/ngày đêm)
Trang 29
đường đường (km/h) chế
cửa vào
2- Tốc độ thiết kế được chọn phụ thuộc vào loại đường (1,2,3,4) và cấp
đường; Đối với các tuyến đường Vtk dưới 60 Km/h người thiết kế có thể chọn Vtk phù hợp với địa hình trong phạm vi tốc độ ghi trong bảng
Bảng 2.3.8: Quy định vận tốc thiết kế của Nhật bản
Đường cao tốc ngoài đô thị (loại I) và đường cao tốc đô thị (Loại II)
Trang 31
(Theo A Guide Geometric of Roads)
Cách phân loại đường đô thị ở Malaysia hoàn toàn dựa trên nền tảng tiêu chuẩn AASHTO Hiện nay giao thông đường bộ Malaysia phát triển rất mạnh trong khu vực Đông Nam á
Đường đô thị được chia thành 4 loại chính
- Đường cao tốc
ở vùng đô thị, chúng tạo thành sườn chính của hệ thống đường trong thành phố Phục vụ hành trình tương đối dài, luồng giao thông êm thuận và với cửa vào khống chế, chúng tạo thành đường cao tốc trong thành phố
- Đường trục đô thị (Arterials Road)
• Là con đường xuyên suốt có khống chế lượng xe vào, cho giao thông thông suốt thuộc thành phố Cơ bản nó chuyên chở giao thông từ vùng ngoại ô đến vùng lân cận của các trung tâm thương mại hay một phần của thành phố tới nơi khác mà không qua trung tâm thành phố Đường chính không được phép tiếp cận các thành phố
• Dòng giao thông êm thuận là thiết yếu Nó chuyên trở lưu lượng giao thông lớn
- Đường gom (Collector Roads)
• Lượng xe vào được khống chế
• Nó được thiết kế phục vụ cho tập trung hoặc phân phối giao thông giữa
hệ thống đường trục chính và hệ thống đường địa phương Đường gom
là các đường lớn thâm nhập và có thể phục vụ các khu phố, các khu thương mại và các khu công nghiệp
- Đường địa phương (Local Streets)
• Hệ thống đường phố địa phương là lưới đường cơ sở bên trong các khu phố và phục vụ cục bộ, cho xe vào trực tiếp, tiếp cận các khu đất Chúng nối với các đường tập hợp va phục vụ các hành trình ngắn
• Hành trình giao thông bị cản trở
Trang 32Trong đó ADT (average daily traffic) là lưu lượng xe trung bình ngày, được xác
định bằng tổng lưu lượng xe trong một thời gian đã cho (cả ngày) nhiều hơn 1 ngày và ít hơn 1 năm, chia cho số ngày trong thời kỳ đo lưu lượng
Tốc độ thiết kế ứng từng loại cho ở bảng 2.3.4
Bảng 2.3.4: Tốc độ thiết kế vùng đô thị
Loại tiêu chuẩn thiết
kế
Vận tốc thiết kế (km/h) Vùng (Loại địa hình)
Vùng 1: Địa hình đồng bằng, tuyến đi tự do không gặp chướng ngại
Vùng 2: Nằm trung gian giữa vùng I và II
Vùng 3: Địa hình phức tạp, gặp nhiều chướng ngại vật trong thiết kế đường
2.4 Nhận xét và kiến nghị
Trang 33Loại đường (km/h) Tốc độ Loại đường (km/h) Tốc độ (nghìn xe/nđ) Lưu lượng
Tốc độ (km/h) (km/h) Tốc độ
Trang 34
Trong các tiêu chuẩn đường ôtô ngoài đô thị, xác định tuổi của con đường
được đề cập đến rất rõ ràng, nhưng trong tiêu chuẩn đường đô thị, chưa có tài liệu nào nói về vấn đề này
Đường đô thị phải có kết cấu phù hợp với quy hoạch của đô thị Quy hoạch
đô thị thường là 30 – 50 năm Như vây, luận án kiến nghị tuổi để xác định chỉ giới của đường đô thị cũng phải từ 30 – 50 năm Tuy nhiên việc đầu tư xây dựng
có thể chia thành nhiều giai đoạn Giai đoạn đầu xác định tuổi của công trình bằng 15 – 20 năm, phần còn lại sẽ đầu tư trong các giai đoạn sau Diện tích đất
dự trữ sẽ được để trong hè phố hoặc dải phân cách
Mặt khác, theo quy phạm kỹ thuật thiết kế đường đô thị 104:1983 quy định tốc độ thiết kế cho các loại đường đô thị không có phạm vi dịch chuyển Giá trị
cố định của tốc độ thiết kế cũng gây khó khăn cho người thiết kế, khó khăn cho quy hoạch giao thông đô thị
- Đường cao tốc: 120km/h
- Đường phố chính cấp I: 100km/h
- Đường phố chính cấp II: 80km/h
Nếu xây dựng đường cao tốc với tốc độ thiết kế thay đổi từ 120km/h đến 80km/h sẽ kéo theo những thay đổi về yếu tố hình học, an toàn giao thông , tất yếu sẽ dẫn đến giảm vốn đầu tư xây dựng Như vậy nếu tốc độ thiết kế quy định cho các loại đường có dịch chuyển trong khoảng nào đó sẽ tạo điều kiện cho người thiết kế và quy hoạch giao thông đô thị linh động hơn
Kiến nghị: Tiêu chuẩn Phân cấp đường như sau:
- Đường cao tốc đô thị là tên gọi chung cho đường phục vụ giao thông với tốc độ cao liên tục, liên hệ giữa các đô thị lớn, từ 6 làn trở lên
Theo TCXD 104:1983 chọn cấp tốc độ là 120km/h
Theo 22TCN 273 – 01 chọn cấp tốc độ là 80 – 100km/h
Khoảng giới hạn tốc độ như 22TCN 273 -01 là hợp lý để lựa chọn và thiết kế cho những đường thuộc các đô thị lớn nhỏ khác nhau Tuy nhiên, cũng không cần
Trang 35
quy định tốc độ cho đường cao tốc lớn nhất là 120km/h Vì vậy ta nên chọn tốc
độ cho đường cao tốc là từ 80 – 120km/h tuỳ thuộc quy mô và địa hình của đô thị
Lưu lượng xe thiết kế: 50.000 – 70.000 xe/ngày đêm
- Đường trục đô thị: Để thuận lợi cho việc gọi tên ta goi đường cấp đô thị
là đường trục đô thị để không bị lẫn giữa đường phố chính và đường phố, từ 4 làn trở lên
Đường trục đô thị phục vụ giao thông trong thành phố, nối các trung tâm dân cư lớn, khu công nghiệp lớn, các trung tâm thành phố và nối các đường cao tốc trong phạm vi đô thị Tốc độ lựa chọn là 60 – 80km/h Tổ chức giao nhau khác cao độ Lưu lượng xe thiết kế lấy theo 22TCN 273 – 01 là 5.000 – 50.000 xe/ ngày đêm
- Đường cấp khu vực:
Chia ra thành hai loại : đường phố và đường vận tải từ 2 – 4 làn Chia thành quá nhiều loại như TCXD 104:1983 gây phức tạp, không cần thiết
Đường gom đô thị: dùng để nối các khu nhà ở với các trục giao thông đô thị, tốc
độ là 40 – 60km/h
Đường vận tải: dùng để vận chuyển hàng hoá công nghiệp và vật liệu xây dựng
nên cần thiết kế tốc độ cao hơn 60 – 80km/h
Lưu lượng thiết kế từ 10.000 – 20.000 xe /ngày đêm
- Đường nôi bộ: gồm hai loại
phố và nối các đường quận với các dường ngoài quận Tốc độ : 40 – 60km/h
liệu xây dựng trong giới hạn khu công nghiệp, kho tàng, nối ra đường vận tải
khác Tốc độ là 60km/h
Trang 36Để phục vụ giao thông tốc độ cao, liên tục giữa các khu của
đô thị loại I, giữa các đô thị, giữa các điểm dân cư lớn trong chùm đô thị Giao cắt khác mức
Phục vụ giao thông trong thành phố, nối các trung tâm dân cư lớn, các khu công nghiệp lớn, các trung tâm thành phố, nối với đường cao tốc trong phạm vi đô thị
Nối các khu nhà ở với trục giao thông đô thị
đường ngoài quận
đường vận tải và các đường
60
Trang 38
Chương III Nghiên cứu tiêu chuẩn yếu tố hình học đường đô thị
triển của các đô thị ở Việt Nam
3.2 Các yếu tố hình học đường đô thị
3.2.1 Mặt cắt ngang
Việc thiết kế mặt cắt ngang đóng vai trò quan trọng trong thiết kế đường
đô thị Xác định chỉ giới xây dựng phụ thuộc theo quy hoạch của thành phố trong một khoảng thời gian dài ( từ 30 – 50 năm) Việc xác định bề rộng các
bộ phận trong mặt cắt ngang phụ thuộc vào phân kỳ đầu tư, nhưng bề rộng toàn bộ của nền đường phải xác định phù hợp để thuận lợi cho việc mở rộng
đường sau này
Do đó khi thiết kế mặt cắt ngang đường đô thị , phải giải quyết một cách tổng hợp các vấn đề về chính trị, kinh tế, kỹ thuật và kiến trúc
Mặt cắt ngang đường đô thị gồm có ba bộ phận chính: phần xe chạy (bao
gồm xe cơ giới và xe thô sơ), hè phố và dải trồng cây
3.2.1.1 Phần xe chạy
Phần xe chạy bao gồm phần đường dành cho xe cơ giới (xe ôtô, ôtô điện,
xe máy ) và phần đường xe thô sơ Các loại xe này có thể tổ chức cho chạy
Trang 39
chung trên một dải đường hay tách riêng trên các dải đường khác nhau tuỳ
theo cách tổ chức giao thông từng tuyến
Khi thiết kế phần đường xe cơ giới (lấy xe ôtô làm cơ sở để thiết kế), cần giải quyết một số vấn đề sau: số làn xe cần thiết, chiều rộng một làn xe và
xe tiêu chuẩn (xe/h)
N th : Năng lực thông hành của một làn xe tính theo xe con trong
một giờ (xe/h) Z: Hệ số sử dụng năng lực thông hành
Để tính toán số làn xe hợp lý, việc xác định các yếu tố N, Z và N th có vai trò quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến chiều rộng mặt cắt ngang đường
đường nhiều làn xe có giải phân cách giữa Quy định này chưa thể hiện trong
Trang 40
hiệu từ A đến F với mức đọ phục vụ A đại diện cho mức phục vụ tốt nhât và
F cho mức độ phục vụ xấu nhất
• Đường trục đô thị và ngoại ô
I Vận hành ổn định Xếp hàng dài ở chỗ có biển báo điều khiển giao thông dẫn đến tốc độ t rung bình khoảng bằng 50% tốc độ của dòng tự do Các lái xe cơ giới sẽ phải chịu đựng sự căng thẳng
J Dòng giao thông gần như không ổn định Tốc dộ trung bình giảm xuống 40% so với tốc độ dòng tự do Các ách tắc ở giao lộ có thể lớn hơn
K Tốc dộ trung bình bằng 30% so với tốc dộ dòng tự do Dòng không ổn
định các xe phía sau không ngừng dồn vào các nút giao cắt
L Tốc độ trung bình khoảng bằng 25 - 33% so với tốc dộ dòng tự do Dồn
xe, các ắch tắc dài ở các nút giao cắt c
M Có đèn điều khiển
Bảng3.1: Mức độ phục vụ của tuyến
Cấp đường I II III
Khoảng tốc độ tự do (km/h)
55 đến 75 50 đến 55 40 đến
55 Tốc độ dòng tự do đặc trưng (km/h)
65 53 43 Mức độ phục vụ Tốc độ chạy xe trung bình (km/h)
A
B
C
≥55 ≥50 ≥40 ≥45 ≥39 ≥31