1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu hoàn thiện quy hoạch cơ sở hạ tầng giao thông thành phố biên hòa theo xu hướng hiện đại, đồng bộ, bền vững luận văn thạc sĩ kỹ thuật hạ tầng đô thị

142 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu hoàn thiện quy hoạch cơ sở hạ tầng giao thông thành phố Biên Hòa theo xu hướng hiện đại, đồng bộ, bền vững luận văn thạc sĩ kỹ thuật hạ tầng đô thị
Tác giả Bùi Văn Tuấn
Người hướng dẫn Ngưt.PGS.TS. Trần Tuấn Hiệp
Trường học Trường đại học Giao thông Vận tải
Chuyên ngành Kỹ thuật hạ tầng đô thị
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2014
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 142
Dung lượng 8,48 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ những phân tích như vậy, luận văn với đề tài:" Nghiên cứu hoàn thiện quy hoạch cơ sở hạ tầng giao thông thành phố Biên Hòa theo xu hướng hiện đại, đồng bộ, bền vững " là nhằm giải quy

Trang 1

- -

Trang 2

- -

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình thực hiện luận văn thạc sỹ, tôi đã nhận được sự giúp

đỡ nhiệt tình và quý báu của nhiều tổ chức, tập thể và cá nhân

Lời đầu tiên tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới NGƯT.PGS.TS Trần Tuấn Hiệp - Trường Đại học Giao thông Vận tải Hà Nội đã tận tình hướng dẫn, cho tôi những lời khuyên quý báu trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu hoàn thành đề tài này

Tôi xin chân thành cảm ơn toàn thể các thầy cô trong Bộ môn Công trình Giao thông Công chính và Môi trường - Khoa Sau Đại học - Trường Đại học Giao thông Vận tải Hà Nội đã tận tình hướng dẫn, truyền đạt kiến thức trong suốt thời gian theo học, thực hiện và hoàn thành luận văn

Tôi xin chân thành cám ơn Sở GTVT Đồng Nai, Sở Xây dựng, UBND thành phố Biên Hòa đã cung cấp những thông tin, số liệu thiết thực để tôi hoàn chỉnh nội dung nghiên cứu

Tôi xin cảm ơn sự động viên, giúp đỡ, góp ý nhiệt tình của người thân, bạn

bè và đồng nghiệp trong thời gian học và làm luận văn

Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn!

Học viên

Bùi Văn Tuấn

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

MỤC LỤC ii

DANH MỤC BẢNG BIỂU v

DANH MỤC HÌNH ẢNH vi

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ, CƠ SỞ HẠ TẦNG ĐÔ THỊ, KHOA HỌC PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG 4

1.1 Các khái niệm về quy hoạch phát triển giao thông đô thị: 4

1.1.1 Khái niệm về giao thông đô thị 4

1.1.2 Mạng lưới giao thông là trục chính của các đô thị lớn 5

1.2 Cơ sở hạ tầng đô thị: 15

1.2.1 Quan niệm về cơ sở hạ tầng đô thị: 15

1.2.2 Đặc điểm của cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị: 18

1.3 Khái niệm phát triển bền vững trong quy hoạch cơ sở hạ tầng giao thông 19

CHƯƠNG 2: HIỆN TRẠNG GIAO THÔNG ĐÔ THỊ VÀ GIAO THÔNG VẬN TẢI THÀNH PHỐ BIÊN HÒA 44

2.1 Giới thiệu chung: 44

2.1.1 Vị trí địa lý: 44

2.1.2 Dân số: 45

2.1.3 Cơ cấu lao động: 47

2.2 Hiện trạng phát triển kinh tế xã hội của thành phố Biên Hòa 48

2.2.1 Hiện trạng phát triển KTXH Tp Biên Hoà: 48

2.2.2 Tăng trưởng GDP thời kỳ 2000 – 20010: 48

2.2.3 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế: 49

2.2.4 Những vấn đề xã hội: 50

2.2.5 Đánh giá hiện trạng phát triển KTXH Tp Biên Hoà: 50

Trang 5

2.3 Hiện trạng giao thông vận tải thành phố Biên Hòa 52

2.3.1 Mạng lưới đường bộ, nút giao cắt và các công trình phụ trợ: 53

2.3.2 Giao thông Đường sắt 72

2.3.3 Giao thông Đường thủy: 72

2.3.5 Dịch vụ giao thông vận tải 75

CHƯƠNG 3: NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUY HOẠCH CƠ SỞ HẠ TẦNG GIAO THƠNG THÀNH PHỐ BIÊN HÒA THEO XU HƯỚNG HIỆN ĐẠI, ĐỒNG BỘ, BỀN VỮNG 86

3.1 Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của thành phố Biên Hòa 86

3.1.1 Các mục tiêu phát triển cơ sở kỹ thuật hạ tầng đô thị: 86

3.1.1.1 Về cơ sở hạ tầng, vận tải: 86

3.1.2 Định hướng phát triển cơ sở hạ tầng giao thông đô thị 87

3.2 Quy hoạch cơ sở hạ tầng giao thông thành phố Biên Hòa đến năm 2020 88

3.2.1 Quy hoạch cơ sở hạ tầng từng chuyên ngành về mạng lưới đường bộ, nút giao cắt và các công trình phụ trợ 88

3.2.2 Định hướng quy hoạch đường sắt: 101

3.2.3 Qui hoạch đường thuỷ và bến bãi: 102

3.2.4 Quy hoạch Đường hàng không: 104

3.2.5 Quy hoạch vận tải: 104

3.2.6 Quy hoạch hệ thống kết nối giao thông: 107

3.2.7 Tổ chức quản lý và điều hành GTVT đô thị: 107

3.2.8 Quy hoạch về thoát nước và các công trình hạ tầng kỹ thuật ngầm: 108 3.2.9 Quy hoạch hệ thống chiếu sáng và cây xanh đô thị: 109

3.2.10 Giải pháp giảm thiểu tình hình tai nạn và ùn tắc giao thông 110

3.3 Những hạn chế của hiện trạng và quy hoạch phát triển cơ sở hạ tầng giao thông thành phố Biên Hòa 111

3.3.1 Về mốc thời gian qui hoạch: 111

3.3.2 Phát triển mạng trục chính đô thi: 111

Trang 6

3.3.3 Phát triển Đại lộ trung tâm Đô thị: 111

3.3.4 Phát triển bãi đỗ xe của Tp Biên Hòa: 111

3.3.5 Quy hoạch hệ thống cảng sông: 112

3.3.6 Phát triển qui hoạch hệ thống đường sắt đô thị: 112

3.3.8 Phát triển qui hoạch hệ thống công trình ngầm đô thị: 112

3.3.9 Phát triển qui hoạch kiến trúc và cảnh quang đô thị: 112

3.4 Nghiên cứu đề xuất các giải pháp hoàn thiện quy hoạch phát triển cơ sở hạ tầng giao thông thành phố Biên Hòa theo xu hướng hiện đại đồng bộ bền vững 112

3.4.1 Điều chỉnh mốc thời gian qui hoạch: Từ 2020 đến 2030 tầm nhìn đến 2050 113

3.4.2 Giải pháp phát triển mạng trục chính đô thị: 113

3.4.3 Giải pháp phát triển Đại lộ trung tâm Đô thị: 119

3.4.4 Giải pháp phát triển hoàn thiện bến đỗ xe của Tp Biên Hòa: 120

3.4.5 Giải pháp phát triển hoàn thiện qui hoạch cảng sông: 122

3.4.6 Giải pháp phát triển hoàn thiện qui hoạch hệ thống đường sắt đô thị: 123

3.4.7 Giải pháp phát triển hoàn thiện qui hoạch kết nối hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ, đường thủy, đường sắt, đường hàng không: 124

3.4.8 Giải pháp phát triển hoàn thiện qui hoạch hệ thống công trình ngầm đô thị: 126

3.4.9 Giải pháp phát triển hoàn thiện qui hoạch kiến trúc và cảnh quang đô thị: 127

KẾT LUẬN 129

TÀI LIỆU THAM KHẢO 132

Trang 7

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1: Phát triển dân số Tp Biên Hòa giai đoạn (2007-2012) 46

Bảng 2.2: Cơ cấu lao động Tp Biên Hoà 47

Bảng 2.3: Tăng trưởng GDP thời kỳ 2000 – 2010 49

Bảng 2.4: Tổng hợp hiện trạng quốc lộ, tỉnh lộ: 54

Bảng 2.5: Tổng hợp hệ thống đường giao thông Tp Biên Hòa 55

Bảng 2.6: Tổng hợp hệ thống đường xã quản lý 57

Bảng 2.7: Tuyến đường phân loại theo bề rộng mặt 59

Bảng 2.8: Phân loại đường theo kết cấu mặt 60

Bảng 2.9: Một số chỉ tiêu mạng lưới đường bộ phân theo phường xã 60

Bảng 2.10: Tỷ lệ các công trình giao thông chiếm dụng đất theo phường, xã 62

Bảng 2.11: Lưu lượng giao thông trên một số tuyến đường bộ chủ yếu 63

Bảng 2.12: Phân loại cầu trên địa bàn thành phố 65

Bảng 2.13: Bến xe khách trên địa bàn Tp Biên Hoà 71

Bảng 2.14: Số lượng phương tiện VTHK đường bộ tại TP.Biên Hòa 75

Bảng 2.15: Sản lượng vận chuyển, luân chuyển hàng hóa-hành khách 76

Bảng 2.16: Tai nạn giao thông TP.Biên Hòa sáu tháng đầu năm 2012 82

Bảng 3.1: Quy hoạch các nút giao thông đối ngoại trên các tuyến vành đai 100

Bảng 3.2: Mạng lưới bến xe Tp.Biên Hoà 101

Bảng 3.3: Các tuyến nội thành: 105

Trang 8

DANH MỤC HÌNH ẢNH

Hình 1.1: Mô hình phát triển đô thị vệ tinhEbenezer Howard 6

Hình 1.2: Bản đồ quy hoạch khu liên hợp công nghiệp-dịch vụ- đô thị 7

Hình 1.3: Mặt bằng của một khu quy hoạch 9

Hình 1.4: Phát triển bền vững giao thông đường bộ ở các quốc gia tiên tiến 34

Hình 1.5: Nạn kẹt xe, ách tăc giao thông tại một số thành phố lớn ở nước ta hiện nay 36

Hình 1.6: Đường giao thông hiện đại ở CanaDa 40

Hình 1.7: Mạng lưới tàu điện ngầm và xe buýt cao tốc tới năm 2020 42

Hình 2.1: Bản đồ hành chính Thành phố Biên Hoà 45

Hình 2.2: Họa đồ mạng lưới giao thông Tp.Biên Hòa 52

Hình 2.3: Họa đồ mạng lưới giao thông Tp.Biên Hòa 52

Hình 2.4: Mạng lưới giao thông đường bộ Tp.Biên Hòa 53

Hình 2.5: Hệ thống cầu tại Tp Biên Hòa 65

Hình 2.6: Một số nút giao tại Tp.Biên Hòa 66

Hình 2.7: Các công trình phụ trợ tại Tp Biên Hòa 68

Hình 2.8: Đèn tín hiệu tại Tp.Biên Hòa 68

Hình 2.9: Bến xe tại Tp.Biên Hòa 70

Hình 2.10: Giao thông đường sắt tại Tp.Biên Hòa 72

Hình 2.11: Giao thông đường thủy tại Tp.Biên Hòa 72

Hình 2.12: Cảng Đồng Nai 73

Hình 2.13: Vị trí Sân bay Biên Hòa (Nguồn từ Google.map) 74

Hình 2.14: Vị trí Sân bay Biên Hòa (Nguồn từ bản đồ) 74

Hình 2.15: Hệ thống chiếu sáng tại Tp.Biên Hòa 80

Hình 2.16: Hệ thống cây xanh tại Tp.Biên Hòa 81

Hình 2.17: Một số vụ tai nạn tại Tp.Biên Hòa 81

Hình 2.18: Hiện trạng ùn tắc tại Tp Biên Hòa 82

Trang 9

Hình 2.19: Khu vực dẫn lên cầu Hóa An- thành phố Biên Hòa giao thông

trong tình trạng người và phương tiện tham gia giao thông đông

đúc 83

Hình 3.1: Sơ đồ định hướng các khu dân cư,công trình hành chính, dịch vụ 87

Hình 3.2: Quy hoạch đường bộ 89

Hình 3.3: Mặt cắt đường vành đai 90

Hình 3.4: Mặt cắt đường Đồng Khởi 90

Hình 3.5: Mặt cắt đường QL1 cũ (VĐ2) 91

Hình 3.6: Mặt cắt đường Nguyễn Văn Trỗi 91

Hình 3.7: Mặt cắt ĐT 760 92

Hình 3.8: Mặt cắt đường vành đai 3 92

Hình 3.9: Mặt cắt đường trục hướng tâm 1 93

Hình 3.10: Mặt cắt đường trục hướng tâm 2 94

Hình 3.11: Mặt cắt đường trục hướng tâm 3 94

Hình 3.12: Các trục hướng tâm 95

Hình 3.13: Mặt cắt QL 1A mới 95

Hình 3.14: Mặt cắt Xa lộ Biên Hoà đoạn qua KCN Biên Hoà 1 và 2 96

Hình 3.15: Mặt cắt QL 15 nối dài 97

Hình 3.16: Mặt cắt QL1 cũ (Đoạn 1) 97

Hình 3.17: Mặt cắt QL1 cũ (Đoạn2) 98

Hình 3.18: Mặt cắt QL1 cũ (Đoạn3) 98

Hình 3.19: Cầu trên trục hướng tâm II và III 99

Hình 3.20: Mô hình bố trí công trình hạ tầng ngầm trên tuyến đường 109

Hình 3.21: Bố trí hệ thống chiếu sáng 109

Hình 3.22: Bố trí hệ thống cây xanh 110

Hình 3.23: Một số hình ảnh nâng cao nhận thức của người tham gia giao thông 111

Hình 3.24: Quy hoạch định hướng từ năm 2020 đến 2030 tầm nhìn đến 2050 113

Trang 10

Hình 3.25: Mặt cắt đường vành đai 114

Hình 3.26: Mặt cắt ngang đề xuất 114

Hình 3.27: Mặt cắt đường Đồng Khởi 114

Hình 3.28: Mặt cắt đường QL1 cũ (VĐ2) 115

Hình 3.29: Mặt cắt đường Nguyễn Văn Trỗi 115

Hình 3.30: Mặt cắt ĐT 760 116

Hình 3.31: Mặt cắt ngang đề xuất 116

Hình 3.32: Mặt cắt đường vành đai 3 117

Hình 3.33: Mặt cắt ngang đề xuất 117

Hình 3.34: Mặt cắt đường trục hướng tâm 3 118

Hình 3.35: Mặt cắt ngang đề xuất 118

Hình 3.36 Các trục hướng tâm 119

Hình 3.37: Mặt cắt đường trục hướng tâm 2 120

Hình 3.38: Mặt cắt ngang đề xuất 120

Hình 3.39: Sơ đồ định hướng phát triển hoàn thiện qui hoạch hệ thống bến xe: 121

Hình 3.40: Sơ đồ định hướng phát triển hoàn thiện qui hoạch cảng sông: 123

Hình 3.41: Sơ đồ định hướng phát triển hoàn thiện qui hoạch hệ thống đường sắt đô thị: 124

Hình 3.42: Sơ đồ bố trí định hướng phát triển hoàn thiện qui hoạch kết nối hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ, đường thủy, đường sắt, đường hàng không 125

Hình 3.43: Mô hình bố trí công trình hạ tầng ngầm trên tuyến đường 127

Hình 3.44: Sơ đồ hướng tuyến 128

Hình 3.45: Hệ thống cây xanh đô thị 128

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đồng Nai là một tỉnh có hệ thống giao thông thuận tiện với nhiều tuyến đường huyết mạch quốc gia đi qua như Quốc lộ 1A, Quốc lộ 20, Quốc lộ 51; tuyến đường sắt Bắc - Nam; gần cảng Sài Gòn, sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất đã tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh tế trong vùng cũng như giao thương với cả nước đồng thời có vai trò gắn kết vùng Đông Nam Bộ với Tây Nguyên

Đồng Nai có vị trí hết sức quan trọng, nằm trên cửa ngõ vào thành phố Hồ Chí Minh - một trung tâm kinh tế lớn của cả phía Nam; lại nằm trên đầu mối giao thông quan trọng của cả khu vực với bên ngoài Đồng Nai được xem là một khu vực “Bản lề chiến lược”, tiếp giáp giữa Trung du và Đồng bằng, Nam cao nguyên và Duyên Hải, là cửa ngõ của trục động lực phát triển Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam - Thành phố Hồ Chí Minh - Biên Hoà - Bà Rịa Vũng Tàu, giữ vai trò trọng yếu trong một vùng chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và an ninh quốc phòng Trong đó thành phố Biên Hòa là trung tâm văn hóa, chính trị, kinh tế, xã hội của tỉnh Đồng Nai

Thành phố Biên Hòa là thành phố công nghiệp lâu đời, đô thị lớn trong tam giác phát triển kinh tế thành phố Hồ Chí Minh - Vũng Tàu - Đồng Nai Song song với sự phát triển của thành phố là sự gia tăng dân số một cách nhanh chóng Thành phố Biên Hòa có diện tích 15.466 ha, dân số tính đến ngày 31/12/2010 là 827.860 người, mật độ dân số là 3.135 người/km2 Cơ sở hạ tầng của thành phố Biên Hòa đã phát triển nhưng đã lạc hậu không đáp ứng đủ nhu cầu của người dân

Với chức năng ý nghĩa như vậy thành phố Biên Hòa phấn đấu phát triển thành đô thị đặc biệt về công nghiệp, thương mại, dịch vụ hiện đại tương xứng với vai trò quan trọng của mình Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, khoa học kỹ thuật thế giới rất phát triển là điều kiện chuyển giao công nghệ, tiếp thu được khoa học kỹ thuật mới Để làm được điều đó thành phố Biên

Trang 12

Hòa bắt buộc phải phát triển hiện đại bền vững, mà trước hết cơ sở hạ tầng giao thông phải phát triển đồng bộ, bền vững

Quy hoạch cơ sở hạ tầng đã được lập và phê duyệt, mốc thời gian đến năm 2020 Tuy nhiên quy hoạch phát triển cơ sở hạ tầng chứa đựng nhiều hạn chế, mốc thời gian ngắn, các tiêu chí quy hoạch còn lạc hậu, đặc biệt chưa cập nhật được nội dung khoa học phát triển bền vững

Từ những phân tích như vậy, luận văn với đề tài:" Nghiên cứu hoàn thiện quy hoạch cơ sở hạ tầng giao thông thành phố Biên Hòa theo xu hướng hiện đại, đồng bộ, bền vững " là nhằm giải quyết một vấn đề khoa học thực tiễn, mang tính cấp thiết trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

Mục tiêu nghiên cứu chính của đề tài là đề xuất được giải pháp hợp lý hoàn thiện quy hoạch cơ sở hạ tầng giao thông thành phố Biên Hòa theo xu hướng hiện đại, đồng bộ, bền vững

3 Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu giải pháp hoàn thiện quy hoạch cơ sở hạ tầng giao thông thành phố Biên Hòa

4 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu bao gồm cơ sở hạ tầng giao thông phù hợp theo quy hoạch tổng thể chung phát triển đô thị đến năm 2020

5 Phương pháp nghiên cứu

Kết hợp lý thuyết về quy hoạch phát triển đô thị, cơ sở kỹ thuật hạ tầng đô thị, khoa học phát triển bền vững với việc phân tích điều tra đánh giá hiện trạng

cơ sở hạ tầng giao thông của thành phố Biên Hòa; từ đó nghiên cứu giải pháp đề xuất giải pháp hoàn thiện quy hoạch cơ sở hạ tầng giao thông thành phố Biên Hòa theo xu hướng hiện đại, đồng bộ, bền vững

6 Nội dung nghiên cứu

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung luận văn được thể hiện trong 3 chương sau:

Trang 13

Chương 1: Quy hoạch phát triển đô thị, cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị, khoa

học phát triển bền vững

Chương 2: Điều tra đánh giá hiện trạng cơ sở hạ tầng giao thông của

thành phố Biên Hòa

Chương 3: Nghiên cứu đề xuất giải pháp hoàn thiện quy hoạch cơ sở hạ

tầng giao thông thành phố Biên Hòa theo xu hướng hiện đại, đồng bộ, bền vững

Trang 14

CHƯƠNG 1: QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ, CƠ SỞ HẠ TẦNG

ĐÔ THỊ, KHOA HỌC PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

1.1 Các khái niệm về quy hoạch phát triển giao thông đô thị:

1.1.1 Khái niệm về giao thông đô thị

- Giao thông là một phần nhân tố gần như quyết định đối với sự hình thành và phát triển đô thị Khi các phương tiện đường bộ chưa phát triển thì giao thông đường thủy đóng vai trò quan trọng trong sự hình thành và phát triển đô thị Vì vậy các đô thị cổ xưa đều nằm ở những vị trí thuận lợi về giao thông đường thủy

- Ngày nay nhờ vào cách mạng khoa học kỹ thuật, nền công nghiệp phát triển, có rất nhiều phương tiện giao thông vận tải nhất là phương tiện vận tải đường bộ phát triển nhanh về chủng loại cũng như số lượng Và hiện nay sự phát triển đô thị không thể tách rời sự phát triển của mạng lưới giao thông đường bộ

- Mạng lưới giao thông đô thị có tác dụng nối liền tất cả các khu vực có chức năng khác nhau của đô thị thành một khối thông nhất Thực tế chứng minh rằng nếu không có hệ thống giao thông đô thị tốt thì khó có thể thúc đẩy phát triển nhanh nền kinh tế, văn hóa, xã hội

Trong phương pháp quy hoạch chung của một đô thị thì người ta thường định hình trước bố cục không gian đô thị, và căn cứ vào điều kiện, tiềm năng cụ thể của từng địa bàn để phân định rõ chức năng của từng khu vực trong đô thị sau đó mới kết nối lại bằng hệ thống giao thông

Cụ thể là người ta thường xác định trước đâu là khu trung tâm, đâu là các khu dân cư, đâu là các khu công nghiệp, khu đầu mối giao thông, đâu là các đô thị

vệ tinh… rồi sau đó mới tạo lập hệ thống giao thông nối kết chúng lại với nhau

Tuy nhiên trong thực tế, nhiều khi do mối quan hệ giao kết với các trục giao thông chính của khu vực hay của quốc gia mà những tuyến giao thông chính của đô thị được hình thành trước rồi sau đó các khu chức năng của đô thị

Trang 15

dựa theo đó mà hình thành nên Thế nhưng, thông thường các ý tưởng về tổ chức không gian đô thị cũng đồng thời xuất hiện với các ý tưởng về việc hình thành bộ khung chính của hệ thống giao thông, đó là những trục đường chính của đô thị

Như vậy, là chỉ sau khi bố cục tổ chức không gian đô thị và hệ thống giao thông chính được xác định thì bộ xương cốt của đô thị coi như mới được hình thành và người ta mới có thể căn cứ vào đó để xác lập những quy hoạch trong phạm vi nhỏ hơn

1.1.2 Mạng lưới giao thông là trục chính của các đô thị lớn

Mạng lưới giao thông chính của các đô thị lớn là các đường vành đai và các trục xuyên tâm Mạng lưới này không chỉ có ý nghĩa về giao thông đơn thuần mà còn là đường ranh giới khống chế sự phát triển đô thị theo quy hoạch

1.1.2.1 Các mô hình phát triển đô thị

a Mô hình phát triển đô thị vệ tinh của Ebenezer howard:

+ Ý tưởng chủ đạo của mô hình:

Thành phố vườn (đô thị vệ sinh) của Ebenezer howard đề cập đến vấn đề thay đổi cơ cấu tổ chức cũng như hướng giải quyết không gian của thành phố:

- Phân bố lại cư dân đô thị thành từng đơn vị thành phố vệ tinh được tập hợp xung quanh 1 thành phố trung tâm với quy mô khoảng 50.000 người

- Thành phố vườn là những thành phố vệ tinh có quy mô dân số 30.000 người

- Thành phố được bao quang bởi các khu cây xanh và đất nông nghiệp

- Các đơn vị thành phố liên hệ với nhau bằng các tuyến đường sắt và các tuyến đường ô tô khác

Trang 16

Hình 1.1: Mô hình phát triển đô thị vệ tinhEbenezer Howard

+ Giao thông đô thị:

Hệ thống giao thông là vấn đề được đặc biệt chú trọng trong mô hình đô thị này.Giao thông kết nối đô thị được hình thành từ việc xác định cơ cấu chức năng và mối liên hệ tầng bậc giữa các đô thị vệ tinh với nhau và với thành phố trung tâm

Đường cao tốc vành đai nối các đô thị vệ tinh với nhau Loại đường này

có chức năng liên kết các đô thị vệ tinh với nhau, không cần phải thông qua trung tâm

Trang 17

Đường đại lộ hướng tâm là trục đường nối kết thành phố trung tâm với các đô thị vệ tinh hoặc đi các khu vực khác.Trục đường này cần thiết quan tâm vấn đề cảnh quan, môi trường và quản lý lưu thông vì có ảnh hưởng rất lớn đến trung tâm đô thị

Hình 1.2: Bản đồ quy hoạch khu liên hợp công nghiệp-dịch vụ- đô thị

+ Ưu điểm của mô hình đô thị:

Thể hiện sự phát triển cân đối của đô thị trong quá trình công nghiệp hóa

và đô thị hóa, dân cư phân bố đồng đều và có mối liên hệ chặt chẽ với nhau

Đô thị vệ tinh là một ý tưởng hợp lý trong việc xây dựng một không gian sống chất lượng cao dựa trên nền tảng phát triển hệ thống giao thông hiện đại

Phân loại đô thị cũng như chức năng giao thông một cách rõ ràng

+Nhược điểm của mô hình đô thị:

Hệ thống giao thông cứng nhắc, thiếu linh hoạt sẽ khó khăn cho việc áp dụng tổ chức phát triển không gian cho các đô thị mang tính đặc thù.Ngoài ra

mô hình đô thị chưa đề cập đến việc phát triển các nút giao thông đối ngoại

Trang 18

Các đô thị vệ tinh sẽ không có khả năng phát triển do tính chất đơn thuần của các đơn vị ở, môi trường sống thụ động dẫn đến điều kiện dịch vụ thấp

Quy mô đô thị nhỏ (<100.000 dân) khó tạo được sức bật cho đô thị, khó khăn trong việc phát triển khi dân số tăng cao do nảy sinh nhiều vấn đề quản lý phức tạp

Trong mô hình đô thị chưa thấy các chức năng của đô thị hiện đại như du lịch, khoa học kỹ thuật, tài chính – dịch vụ, công nghiệp…

b Lý luận về cấu trúc đơn vị ở láng giềng của Clarence Pery:

+ Ý tưởng chủ đạo của mô hình:

- Quan điểm mới về hình thức tổ chức không gian đô thị dựa trên những trục giao thông huyết mạch của đô thị, thường là các đường chính xuyên đô thị hoặc bao bọc đô thị, chia không gian đô thị thành nhiều mảng, gọi là Đơn vị ở, có các đặc tính:

- Nằm giữa các trục giao thông chính của đô thị, bên trong được tổ chức

hệ thống giao thông đường bộ nhỏ hẹp hơn

- Các trục lộ chính không đi xuyên qua Đơn vị ở mà sẽ đóng vai trò là đường bao, có các trục đường đấu nối với hệ thống giao thông nội bộ

Trang 19

Hình 1.3: Mặt bằng của một khu quy hoạch

- Trong Đơn vị ở, các trường phổ thông trung học Trung tâm thương mại, công viên cây xanh được bố trí tại các điểm tiếp giáp các Đơn vị ở

- Đơn vị ở chứa đầy đủ các chức năng và thành phần công trình công cộng phục vụ cho cư dân đô thị bên trong

+ Đặc điểm của mô hình:

Đô thị với mô hình phát triển cấu trúc chặt chẽ một cách tự nhiên, giúp tái thiết đô thị một cách dễ dàng Tính tầng bậc đã được thể hiện tương đối rõ ràng giúp quá trình quản lý thuận tiện

- Các phương tiện giao thông công cộng có thể tiếp cận với các Đơn vị ở

từ các đường bao, phương tiện cá nhân sẽ đảm nhận nhiệm vụ lưu thông nội bộ

- Đơn vị ở lấy trường học làm trung tâm, đảm bảo bán kính phục vụ hợp

lý cho trẻ em, tránh tai nạn và tình trạng ô nhiễm do giao thông vận tải

Trang 20

- Việc hình thành các Đơn vị ở đã tạo cho không gian đô thị sự linh hoạt cần thiết, đảm bảo kết cấu và mối liên hệ chặt chẽ giữa khu vực ở và công cộng

- Kết nối các trung tâm của Đơn vị ở sẽ hình thành nên một trục giao thông xương sống, xuyên suốt và tạo ra các nút giao thông quan trọng

2.1.2.1 Phát triển không gian đô thị hiện đại trên nền tảng phát triển hệ thống giao thông đô thị

+ Các thành phần cấu thành mô hình đô thị hiện đại:

Các thành phần cấu thành đô thị:

Thành phần quản lý đô thị: bao gồm bộ máy chính quyền quản lý, điều hành mọi hoạt động của đô thị

Thành phần hạ tầng cơ sở phục vụ: bao gồm hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng

xã hội nhằm phục vụ cho mọi hoạt động sống, phát triển của đô thị

Thành phần sản xuất và cung cấp: tập hợp các yếu tố sản xuất ra của cải vật chất để nuôi sống đô thị

Với quan niệm một đô thị hiện đại là tổng hợp các thành phần chức năng được phát triển dựa trên nền tảng một hệ thống kỹ thuật hạ tầng hoàn thiện.Mối quan hệ giữa các thành phần chức năng tạo cho đô thị tính năng động và khả năng vận hành tốt nhất.Mỗi đô thị có một động lực riêng sẽ có các chức năng đô thị tương ứng

Một đô thị hiện đại phải có mạng lưới đường giao thông khoa học và hợp

lý dựa trên cơ sở nghiên cứu tổng thể kinh tế - xã hội.Quá trình vận hành của đô thị phải đồng bộ và mang tính hợp lý hóa cao, đáp ứng nhu cầu của một xã hội phát triển Vai trò của công tác quản lý đô thị là một yếu tố quan trọng mà ở các

mô hình đô thị trước ít được đề cập đến do tính đơn giản trong cấu trúc đô thị cũ

+ Quá trình phát triển mạng lưới giao thông ở các đô thị lớn và cực lớn

Dưới áp lực của quá trình đô thị hóa, các đô thị lớn và cực lớn đang phải đối mặt với một tiến trình chuyển đổi mạnh mẽ, gây ra nhiều vấn đề xã hội bức xúc.Di dân ồ ạt từ nông thôn lên thành thị, từ các đô thị nhỏ lên đô thị lớn làm tăng nahnh nhu cầu ở và lưu thông, không được đáp ứng kịp thời tạo

Trang 21

Ở các nước chậm phát triển, các đô thị lớn phát triển một cách tự phát và thiếu tính định hướng, chưa có một hệ thông giao thông đường bộ xương sống làm điểm tựa để quy hoạch giao thông tổng thể của đô thị

Có nhiều quan điểm cho rằng hệ thống giao thông nhiều tầng hoặc cải tạo giao thông bằng cách mở rộng đường là giải pháp tối ưu nhưng thực tế thì nó chỉ giải quyết được một phần vấn đề khó khăn cho đô thị.Việc thay đổi cung cách quản lý và sử dụng những phương tiện giao thông hiện đại mới có tác dụng tích cực

Thực tế các đô thị lớn hiện nay cho thấy việc xác định chức năng cũng như loại hình phương tiện giao thông trên trục đường sẽ quyết định vận tốc lưu thông cũng như phương án quản lý, không nhất thiết là mặt cắt đường lớn thì vận tốc lưu thông phải lớn…

Các đô thị hiện đại ngày nay phải quan tâm đến phát triển bền vững hệ thống giao thông, được thể hiện ở các yếu tố cụ thể: tài chính, vệ sinh môi trường, cảnh quan, định hướng tương lại cho sự tồn tại và phát triển của giao thông

Phương tiện giao thông công cộng là loại phương tiện tiêu biểu cho văn của một đô thị hiện đại và là lựa chọn tất yếu trong quá trình phát triển trong giai đoạn mới

Việc xuất hiện các tuyến đường cao tốc đã góp phần mở rộng không gian

đô thị, tăng vận tốc lưu thông giữa các khu vực

1.1.2.2 Mối quan hệ giữa quy hoạch giao thông và quy hoạch đô thị:

a Quy hoạch đô thị:

Công tác quy hoạch đô thị trong giai đoạn mới không chỉ là tạo lập không gian sống cho cư dân mà còn có nhiệm vụ đinh hướng cho sự phát triển của đô thị theo các tiêu chí phát triển bền vững Các đô thị lớn ngày càng trở nên phức tạp trong chức năng, vai trò cũng như nhu cầu phát triển nên đòi hỏi quy hoạch phải có chiến lược và quá trình nghiên cứu hiện trạng, thực tế hoàn cảnh kinh tế

- xã hội một cách lâu dài và để có thể đưa ra các dự báo chính xác nhất

Trang 22

Các đô thị muốn phát triển phải có một nguồn động lực nhằm thúc đẩy nhanh quá trình cải tạo và nâng cấp xã hội.Các động lực quan trọng phát triển đô thị ngày nay không còn là công nghiệp mà là thương mại – dịch vụ đặc biệt là ở các đô thị lớn Chúng thể hiện một cách rõ nét trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế cũng như quá trình nhập cư của thành phần lao động

Vì thế quy trình nghiên cứu quy hoạch đô thị đã có những bước phát triển phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của từng khu vực.Vai trò quy hoạch vùng được đặc biệt nhấn mạnh với việc xác định các vùng kinh tế trọng điểm và các đô thị trung tâm đóng vai trò đầu tàu trong quá trình phát triển của

cả khu vực

Quy hoạch đô thị mang tính bền vững phải dựa trên nền tảng phát triển của hệ thống kỹ thuật hạ tầng đô thị.Các tiêu chuẩn xác định cấp đô thị cũng rất nhấn mạnh đến yếu tố này nhằm đảm bảo mức đọ tiện ích đô thị ngày càng cao

Tuyệt đại đa số công tác quy hoạch đô thị trong giai đoạn này là công tác cải tạo vì hệ thống đô thị của một quốc gia đã được hình thành từ rất lâu dựa vào những điều kiện tự nhiên được xác định lâu đời Vì thế mức độ phức tạp của vấn

đề quy hoạch cải tạo tăng cao càng dễ tạo ra nhiều sai lầm và bất cập

b Quy hoạch giao thông:

Hệ thống đường bộ là các trục bố trí các công trình kiến trúc, là mạch máu giao thông đồng thời là những công trình hạ tầng kỹ thuật phức tạp của đô thị.Đường phố là một trong những bộ phận quan trọng nhất của đô thị chi phối mọi hoạt động của đô thị.Khi thiết kế và xây dựng đường phố phải giải quyết tốt các yêu cầu về kinh tế, kỹ thuật và mỹ quan

* Chức năng của hệ thống giao thông đường bộ:

- Chức năng liên hệ và điều hòa giao thông: chức năng chủ yếu nhằm bảo đảm nhu cầu đi lại và vận chuyển hàng hóa trong đô thị, cụ thể là:

+ Đảm bảo liên hệ giao thông thuận tiện, nhanh chóng với đoạn đường ngắn nhất và an toàn cao

+ Đảm bảo tổ chức các tuyến giao thông công cộng một cách hợp lý

Trang 23

+ Liên hệ tốt giữa các khu vực của đô thị như khu dân dụng với khu công nghiệp, các khu nhà ở với trung tâm đô thị, nhà ga công viên

+ Có khả năng phân bố lại các luồng giao thông tại các đường phố trong trường hợp một số đoạn đường có sự cố hoặc đang sửa chữa

+ Liên hệ mật thiết và thuận tiện với các khu vực bên ngoài đô thị

+ Thỏa mãn những điều kiện phát triển giao thông đô thị trong tương lai

- Chức năng kỹ thuật: giao thông bao gồm các công trình kỹ thuật phức tạp, gồm các công trình ngầm và các công trình trên mặt đất, trên cao Khi thiết kế đường phố phải giải quyết một loạt các vấn đề hoàn thiện kỹ thuật, chủ yếu là:

+ Tổ chức giao thông và đi bộ tại các đường phố và nút giao thông

+ Bố trí các công trình ngầm đô thị như: cáp ngầm, cấp thoát nước, thông tin liên lạc…

+ Giải quyết việc chiếu sáng đường phố tạo hành lang chiếu sáng đô thị cũng như độ an toàn, mức thuận tiện cho quá trình lưu thông trên các trục đường

+ Bố trí cây xanh đường phố, tạo cảnh quan, cải thiện môi trường giao thông + Tổ chức thoát nước mưa cho đường phố

- Điều hòa vi khí hậu đô thị: không gian của mạng lưới đường và quảng trường có tác dụng dẫn gió, tăng độ ẩm, nhờ cây xanh và mặt nước dọc đường phố

- Cảnh quan: nơi thụ cảm phong cảnh, giao tiếp xã hội sinh động và phong phú…Yêu cầu mỹ quan đòi hỏi phải có bố cục hợp lý các bộ phận của đường phố, sự hòa hợp về hình thức của cây trồng và các công trình xây dựng

* Quy hoạch hệ thống giao thông đường bộ:

- Là phần cơ bản nhất của quy hoạch xây dựng đô thị Các phân khu chức năng cơ bản của một đô thị đều lấy các trục giao thông đường bộ làm khung sườn…

- Quy hoạch giao thông liên quan đến các vấn đề sắp đạt, thiết kế, tổ chức

và quản lý cơ sở hạ tầng giao thông đối với các phương thức lưu thông vận tải

Trang 24

* Nguyên tắc quy hoạch giao thông vận tải đô thị:

- Quy hoạch giao thông vận tải đô thị phải đảm bảo nguyên tắc phát triển bền vững trên ba phương diện kinh tế, xã hội và môi trường

- Quy hoạch giao thông vận tải phải gắn chặt với quy hoạch sử dụng đất, phục vụ cho quy hoạch không gian đô thị, phù hợp với nhu cầu phát triển

- Phát triển hệ thống giao thông vận tải phải đi trước: phát triển giao thông

đô thị ở các thành phố lớn là vấn đề được ưu tiên, là trọng điểm trong đầu tư phát triển đô thị, trong đó phải giải quyết những bất hợp lý của cơ sở hạ tầng

- Mạng lưới giao thông vận tải đô thị phải bảo đảm tính đồng bộ:

Việc phát triển giao thông vận tải đô thị phải tiến hành đồng bộ với quy hoạch phát triển không gian và các khu chức năng đô thị

- Mạng lưới giao thông đường bộ phải đảm bảo tính liên thông: được quán triệt ngay khi lựa chọn và xây dựng mạng lưới giao thông vận tải, quy hoạch hệ thống các tuyến đường giao thông, các công trình phụ trợ, tổ chức và điều khiển giao thông, điều hành vận chuyển hàng hóa và hành khách

Nhu cầu vận tải đô thi rất đa dạng và phong phú nên một loại phương tiện giao thông không thể thỏa mãn một cách hợp lý các nhu cầu đặt ra về giao thông vận tải của đô thị: vì vậy cần phải phát triển nhiều loại giao thông, nhiều loại phương tiện vận tải khác nhau để hỗ trợ và bổ sung cho nhau

Mỗi loại phương tiện vận tải (xe buýt, taxi, ôtô con, tàu điện, mêtrô…) phù hợp với loại công trình đường giao thông với các tiêu chuẩn kỹ thuật nhất định, thành một hệ thống mạng lưới đường giao thông của thành phố

- Phát triển hệ thống giao thông đường bộ phải đảm bảo sự quản lý tập trung và thống nhất của Nhà nước: tăng cường vai trò quản lý và điều tiết của nhà nước bằng các giải pháp can thiệp mạnh thông qua các chính sách, cơ chế

- Phát triển hệ thống giao thông đô thị phải đảm bảo tính kế: phát triển giao thông đô thị phải được thực hiện dựa trên mạng lưới giao thông hiện có, tận dụng tối đa các công trình hiện đang sử dụng

Trang 25

- Phát triển hệ thống giao thông đường bộ đô thị phải đảm bảo tính khả thi

và hiệu quả kinh tế - xã hội cao

c Mối quan hệ giữa Quy hoạch giao thông và Quy hoạch đô thị:

- Quy hoạch hệ thống giao thông đường bộ hợp lý là phần công tác quan trọng nhất trong quy hoạch đô thị Các quy hoạch đô thị thường bắt đầu bằng nghiên cứu mạng lưới đường giao thông

- Sự khác nhau rõ rệt giữa đô thị và nông thôn thể hiện trong mức độ đầu

tư cơ sở hạ tầng: giao thông vận tải, điện, nước, thông tin liên lạc… Chứ trọng đến diện tích đất dành cho giao thông trong đô thị: 15%-25%

- Về bố cục đô thị: giao thông là một trong những yếu tố để tổ chức không gian đô thị Bố cục quy hoạch tổng thể đô thị và các quần thể đều xoay quanh hệ thống giao thông Các tuyến giao thông quan trọng có vai trò quyết định trong việc xác định bố cục chính, phụ của đô thị… Giao thông còn tạo điều kiện phân ranh giới giữa các vùng chức năng trong đô thị, giữa nội đô và ngoại vi thành phố

- Các yêu cầu của giao thông có ảnh hưởng quyết định đến việc bố trí các tiện ích phục vụ dân cư, ảnh hưởng trực tiếp đến quy mô khu công nghiệp và khu dân cư, tác động đến tiến trình hiện đại hóa đất nước… Lưu lượng dòng xe

có ảnh hưởng quyết định đến cấu trúc đường và nút giao thông Quan hệ giữa phương tiện giao thông cá nhân và giao thông công cộng ảnh hưởng rất lớn đến quy hoạch thành phố

- Việc hiện đại hóa giao thông cho phép mở rộng quy mô sản xuất, mở rộng thành phố, nâng cao tiện ích cuộc sống trong đô thị…

1.2 Cơ sở hạ tầng đô thị:

1.2.1 Quan niệm về cơ sở hạ tầng đô thị:

Cơ sở hạ tầng đô thị là toàn bộ các công trình giao thông vận tải, bưu điện, giao thông liên lạc, dịch vụ xã hội như: đường sá, kênh mương dẫn nước, cấp thoát nước, sân bay, nhà ga xe lửa, ô tô, cảng sông, cảng biển, cơ sở năng lượng, hệ thống mạng điện, đường ống dẫn xăng, dầu, dẫn khi ga, hơi đốt, kho

Trang 26

tàng, giao thông vận tải, giáo dục phổ thông và chuyên ngiệp, y tế, dịch vụ ăn uống công cộng, nghỉ ngơi du lịch, rác thải môi trường đô thị, v.v…

Theo từ chuẩn Anh – Mỹ, thuật ngữ “cơ sở hạ tầng” (infrastructure) được thể hiện trên 4 bình diện:

Một là, tiện ích công cộng (public utilities): năng lượng (điện…), viễn

thông, nước sạch cung cấp qua hệ thống ống dẫn, khí đốt chuyền tải qua ống, hệ thống thu gom và xử lý chất thải trong thành phố

Hai là, công chính (public works): đường sá, các công trình xây dựng

đập, kênh phục cụ tưới tiêu

Ba là, giao thông (transport): các trục và tuyến đường bộ, đường sắt chính

quy (Conventionnial railway) đường sắt vận chuyển nhanh (massrapid transit tailway) cảng cho tàu và máy bay, đường thủy,

Bốn là, hạ tầng xã hội (social infrastructure): trường học, bệnh viện,

Tóm lại, cơ sở hạ tầng đô thị là những tài sản vật chất và các hoạt động hạ tầng có liên quan dùng để phục vụ các nhu cầu kinh tế - xã hội của cộng đồng dân cư đô thị Nó chính là tiêu chuẩn để phân biệt đô thị với nông thôn

Phân loại cơ sở hạ tầng đô thị:

Dựa trên những tiêu chí khác nhau có thể phân chia CSHTĐT thành nhiều loại khác nhau

- Theo tính chất ngành cơ bản có thể phân ra:

 Cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị

 Cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội đô thị

 Cơ sở hạ tầng dịch vụ xã hội đô thị

- Theo tính phục vụ có thể phân ra:

 Cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị phục vụ sản xuất vật chất

 Cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị phục vụ về nhu cầu văn hóa tinh thần

- Theo trình độ phát triển có thể phân ra:

 Cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị phát triển cao

 Cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị phát triển trung bình

 Cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị phát triển thấp

Trang 27

- Theo quy mô đô thị có thể phân ra:

 Cơ sở hạ tầng siêu đô thị

 Cơ sở hạ tầng đô thị lớn

 Cơ sở hạ tầng đô thị trung bình

 Cơ sở hạ tầng đô thị trung nhỏ

Tuy vậy, trong số các tiêu chí được đưa ra để phân loại nêu trên, các phân loại căn cứ vào tính chất ngành là thông dụng nhất và có ý nghĩa nhiều nhất đối với công tác quy hoạch và phát triển đô thị Vì vậy cần đi sâu vào tiêu chí phân loại này

Thứ nhất, cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị

Đây là hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật, phục vụ cho sự phát triên của các ngành các lĩnh vực kinh tế trong nền kinh tế quốc dân, bao gồm tiện ích công cộng, công chánh, giao thông Cụ thể là: hệ thống giao thông vận tải, cầu cống, sân bay, bến cảng, …; Hệ thống cung ứng vật tư kỹ thuật nguyên nhiên liệu phục vụ sản xuất và đời sống; Mạng lưới vận tải và phân phối năng lượng (bao gồm các trạm biến áp trung chuyển, hạ thế, các thiết bị an toàn và bảo vệ); Hệ thống thiết bị công trình và phương tiện thông tin liên lạc, bưu điện, lưu trữ và

xử lý thông tin; Hệ thống thủy lợi, thủy nông phục vụ việc tưới tiêu và phục vụ cho chăn nuôi; Cơ sở hạ tầng môi trường phục vụ cho việc bảo vệ giữ gìn và cải tạo môi trường sinh thái của đất nước và môi trường sống của con người Hệ thống này bao gồm các công trình chống thiên tai; các công trình bảo vệ đất rừng, biển và các tài nguyên khác; hệ thống cung cấp, xử lý và tiêu nước sinh hoạt; hệ thống xử lý rác thải công nghiệp

Thứ hai, cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội

Bao gồm toàn bộ các công trình như nhà xưởng, kho bãi, khác sạn, khu thương mại (chợ, siêu thị), trụ sở làm việc của các cơ quan hành chính, kinh tế

và các tổ chức xã hội, …

Thứ ba, cơ sở hạ tầng dịch vụ xã hội

Đó là toàn bộ hệ thống cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ cho các hoạt động

Trang 28

văn hóa xã hội, bảo đảm cho việc thỏa mãn và nâng cao trình độ lao động của xã hội; hệ thống này bao gồm: các cơ sở thiết bị và công trình phục vụ cho giáo dục

và đào tạo, nghiên cứu khoa học, ứng dụng và triển khai công nghệ; Các cơ sở y

tế, bảo vệ sức khỏe, bảo hiểm xã hội, nghỉ ngơi, … và các công trình phục vụ hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao

1.2.2 Đặc điểm của cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị:

- Trước hết cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị là một loại hàng hóa công cộng,

nó được sử dụng chung, mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội cho một quốc gia hoặc một tỉnh, thành phố, một huyện, một xã

- Cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị mang tính hệ thống và đồng bộ, bởi lẽ nếu

thiếu hệ thống và đồng bộ, hiệu quả sử dụng của cơ sở hạ tẩng kỹ thuật đô thị sẽ không cao, nếu như không nói là không hiệu quả

- Cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị mang đặc tính hệ vùng và lãnh thổ, việc

xây dụng và phát triển cơ sở hạ tẩng phải xem xét đến yếu tố địa lý, địa hình,

và sự phát triển kinh tế - xã hội, sao cho hình thành quy mô xây dựng phù hợp với phong tục tập quán văn hóa, kiến trúc của cộng đồng dân cư trong vùng

Cơ sở hạ tầng vừa phản ánh yế tố kinh tế kỹ thuật, vừa phản ánh kiến trúc văn hóa địa phương Như vậy việc xây dựng cơ sở hạ tẩng đô thị phải thỏa mãn nhu cầu vật chất và tinh thần của con người tạo ra tâm lý yêu lao động và yêu quê hương mình

- Cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị có tính thích ứng trong khoảng thời gian

dài, vì vậy phải có chiến lược phát triển cơ sở hạ tầng thích hợp ngay từ đầu

Nghĩa là cơ sở hạ tầng không chỉ đáp ứng được nhu cầu hiện tại mà cả trong tương lai Phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị phải được xem xét trong mối quan hệ biện chứng với các ngành khác và tổng thể kinh tế xã hội trong khu vực

mà nó phục vụ

- Mật độ các công trình cao, sở dĩ như vậy bởi lẽ các đô thị thường có quy

mô dân số và mật độ dân số cao

Trang 29

1.3 Khái niệm phát triển bền vững trong quy hoạch cơ sở hạ tầng giao thông

* Khái niệm phát triển bền vững: nguồn gốc và ý nghĩa

“Phát triển bền vững là phát triển đáp ứng được nhu cầu của hiện tại mà không làm ảnh hưởng đến khả năng đáp ứng đầy đủ nhu cầu của thế hệ tương lai”

Từ khoảng hơn mười năm nay, phát triển bền vững (PTBV) đã trở thành một khái niệm vô cùng phổ thông Nói tới phát triển kinh tế và phát triển xã hội, phát triển quốc gia hay phát triển địa phương, phát triển toàn cầu hoặc phát triển khu vực, v.v., “phát triển” đều được hiểu theo nghĩa “phát triển bền vững” Phát Triển Bền Vững là hướng đi mà Tổ chức Liên Hiệp Quốc, chính phủ các quốc gia, các đoàn thể và công đoàn, các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức quần chúng, v.v đã tán đồng và ủng hộ Các nước giầu cũng như các quốc gia có th

ng thế giới đã chọn Phát Triển Bền Vững làm đề tài cho phúc trình thường niên

2003 với tựa là “Phát triển bền vững trong một thế giới năng động

Cách đây hơn một nửa thế kỷ, khi thế giới bước ra khỏi thế chiến thứ hai, vấn đề phát triển có một nội dung thuần túy kinh tế Các chương trình mở mang quốc gia, các chính sách và kế hoạch kinh tế-xã hội chỉ quan tâm tới các vấn đề đầu tư, sản xuất, công nghiệp hóa, tự túc lương thực, hiện đại hóa nông nghiệp, sản xuất thay thế nhập khẩu, sản xuất nhắm thị trường nước ngoài, v.v Lúc bấy giờ phát triển kinh tế đồng nghĩa với tăng trưởng kinh tế, không có sự phân biệt, cân nhắc hoặc so sánh giữa phẩm và lượng trong công cuộc mở mang quốc gia Riêng đối với các nước chậm tiến có nền kinh tế lạc hậu thì được xem như chỉ

có nhu cầu gia tăng sản xuất, xúc tiến các chương trình nhắm các mục tiêu vừa

kể Kinh tế thế giới lúc bấy giờ tiến lên trong khuôn khổ các chính sách và kế hoạch dựa trên lý luận kinh tế máy móc, một chiều, hẹp hòi và phiến diện

Vào đầu thập niên những năm 1970, sau một thời kỳ trong đó các nước trên thế giới thi đua công nghiệp hóa, khai thác tài nguyên, tìm kiếm thị trường, Câu lạc bộ La Mã đã phát hành và phổ biến một tài liệu mang tựa là “Ngừng tăng trưởng” hoặc “Giới hạn của tăng trưởng” tùy phiên dịch tựa Pháp ngữ hay Anh

Trang 30

ngữ của tài liệu Tài liệu này vì đề nghị một hướng đi mới cho sự phát triển và có những nhận thức chính đáng, những nhận định xác thực về tổ chức kinh tế, đời sống xã hội nên đã ảnh hưởng làm thế giới cảnh tỉnh trên vấn đề liên quan tới môi trường-môi sinh Tài liệu viết rằng sự tăng trưởng kinh tế và dân số quá nhanh cùng với tình trạng thi đua sản xuất không giới hạn và khai thác vô ý thức các tài nguyên làm ô nhiễm môi trường, môi sinh và làm cạn kiệt dự trữ tài nguyên thiên nhiên trên thế giới Câu lạc bộ La Mã đề nghị chính sách “không tăng trưởng” với

lý do tăng trưởng kinh tế nghịch với bảo vệ môi trường môi sinh

Chủ trương “không tăng trưởng” không thuyết phục được thế giới Các nước nghèo và chậm tiến cũng như các quốc gia có nền kinh tế giầu có đều chống đối quan điểm của Câu lạc bộ La Mã, tuy với những lý do hoàn toàn khác nhau Ngoài ra, đứng về phương diện nhận thức kinh tế thì đã có những tiến bộ quan trọng mà đáng ghi nhất là sự phân biệt giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển kinh tế Tăng trưởng kinh tế là sự nhận thức một chiều và phiến diện về hoạt động và sản xuất kinh tế Nó chú trọng tới số lượng sản xuất, phương diện vật chất của hoạt động kinh tế Trái lại, phát triển kinh tế là một khái niệm xuất hiện vào khoảng giữa thập niên những năm 1960 từ một nhận thức mở rộng về kinh tế, không còn tính cách máy móc, eo hẹp Theo khái niệm mới này “thêm” không đồng nghĩa với “hơn” Do đó tăng trưởng kinh tế, sản xuất “thêm” không chắc chắn chỉ có lợi và thuần túy tích cực mà có thể ảnh hưởng không tốt làm môi trờng, môi sinh tiêu hao hoặc hư hại Ngược lại, phát triển kinh tế là một nhận thức toàn diện bao gồm các khía cạnh tinh thần và vật chất, kinh tế và xã hội, phẩm và lượng Phát triển kinh tế gợi ý phải có đổi thay và tiến bộ không ngừng, về phẩm và lượng, để kinh tế-xã hội ngày một “hơn” một cách toàn diện, cân đối, thống nhất Như vậy nếu tăng trưởng kinh tế nghịch với yêu cầu bảo vệ môi trường-môi sinh, thì phát triển kinh tế lại có khả năng bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, di sản sinh thái, môi trường-môi sinh Phát triển kinh tế giữ được vai trò phát huy quan hệ hỗ tương giữa hoạt động kinh tế-xã hội với môi trường-môi sinh để loài người có cuộc sống thực sự tiến bộ, có an sinh và phúc lợi, có môi trường-môi sinh không ô nhi ễm, có hệ sinh thái cân bằng xung quanh

Trang 31

Một năm sau Câu lạc bộ La Mã công bố phúc trình “Ngừng tăng trưởng”/“Giới hạn của tăng trưởng”, tổ chức Liên Hiệp Quốc triệu tập năm 1972 tại Stockholm Hội nghị Liên Hiệp Quốc về Môi trường Hội nghị đã diễn ra trong bầu không khí tranh cãi sôi nổi Hội nghị đã đề nghị một khái niệm mới là

“phát triển tôn trọng môi sinh” với chủ trương bảo vệ môi trường, tôn trọng môi sinh, quản lý hữu hiệu tài nguyên thiên nhiên, thực hiện công bằng và ổn định xã hội Khái niệm “phát triển tôn trọng môi sinh”các nước đã phát triển và giầu có chống đối mạnh mẽ Cuối cùng hội nghị chỉ thảo luận vấn đề ô nhiễm và chấm dứt với sự tán đồng quan điểm có mối liên hệ và ảnh hưởng hỗ tương giữa nếp sống của loài người với môi trường-môi sinh, giữa phát triển kinh tế-xã hội với bảo tồn tài nguyên và ổn định thiên nhiên Ngoài ra các nước cũng thỏa thuận và cam kết hành động để bảo vệ môi trường-môi sinh và thành lập những cơ quan quốc tế và quốc gia có nhiệm vụ bảo vệ môi trường-môi sinh Mặc dù đề nghị

“phát triển tôn trọng môi sinh” không được chấp thuận, nó đánh dấu một bước tiến quan trọng hướng tới sự khai sinh khái niệm “phát triển bền vững” (PTBV)

Vào đầu thập niên những năm 1980, Liên hiệp Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên (Union internationale pour la Conservation de la nature-UICN) là tổ chức

đã đề khởi khái niệm phát triển bền vững (PTBV) Rồi năm 1987, khái niệm này

đã được Ủy ban Thế giới về Môi trường và Phát triển do bà Gro Harlem Brundtland làm chủ tịch tiếp thu, khai triển và định nghĩa như sau trong phúc trình mang tựa “Tương lai của chúng ta” Phát triển bền vững là sự phát triển nhằm thỏa mãn các yêu cầu hiện tại nhưng không tổn hại cho khả năng của các thế hệ tương lai để đáp ứng yêu cầu của chính họ

Khái niệm Phát Triển Bền Vững như vậy có một nội dung bao quát, không có phạm vi nhất định, không bị gò bó bởi những chuẩn mực hoặc quy tắc

đã định trước và không cũng có tính cụ thể rõ rệt Khái niệm có thể diễn nghĩa nhiều cách, theo nhiều hướng khác nhau Khái niệm có thể thi hành với những phương tiện hành động uyển chuyển Phát Triển Bền Vững là một khái niệm co dãn, dễ áp dụng vào điều kiện thực tế và hoàn cảnh xung quanh Nói chung, Phát

Trang 32

Triển Bền Vững là một hướng đi dung hòa chủ trương “không tăng trưởng” (croissance zéro) và chính sách “phát triển tôn trọng môi sinh” (éco-développement)

Từ lúc phúc trình Brundtland được phổ biến (1987) cho tới nay, tổ chức Liên Hiệp Quốc đã triệu tập hai hội nghị quan trọng dành cho vấn đề Phát Triển Bền Vững Hội nghị thứ nhất diễn ra năm 1992 tại Rio de Janeiro gọi là Hội nghị Thượng đỉnh về Trái đất đã chính thức hóa sự đồng lòng thỏa thuận của các nước hội viên Liên Hiệp Quốc về một chương trình nghị sự Phát Triển Bền Vững gọi là Agenda 21 Rồi mười năm sau, vào năm 2002, Liên Hiệp Quốc đã

tổ chức một hội nghị khác tại Johannesburg với tên gọi là “Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới về Phát triển bền vững” Hội nghị đã xác định phải xúc tiến và thực hiện Agenda 21 và đã đề ra các mục tiêu cho thiên niên kỷ 21

 Luận thuyết phát triển bền vững và các nguyên tắc định hướng

Luận thuyết Phát Triển Bền Vững đi từ nhận định rằng loài người không tôn trọng, không bảo toàn môi trường môi sinh Thiên nhiên bị hư hại, hệ sinh thái mất cân bằng, di sản môi trường-môi sinh suy thoái khiến loài người bị đe dọa, tình trạng đói nghèo trên thế giới nghiêm trọng, chênh lệch giầu nghèo giữa các nước gia tăng Tài nguyên thiên nhiên sút giảm và thiếu hụt Vấn đề đặt ra là làm sao thỏa mãn yêu cầu căn bản của con người, bảo đảm tương lai và an sinh cho các thế hệ về sau và đồng thời bảo toàn môi trường-môi sinh Phương cách giải quyết vấn đề này là “phát triển bền vững” (PTBV), phát triển tổng hợp, toàn

bộ, về tất cả các phương diện môi trường, môi sinh, kinh tế, xã hội và chính trị bởi vì không thể có bền vững môi trường môi sinh nếu không có bền vững chính trị để bảo vệ hệ sinh thái Cũng không thể có công bằng xã hội nếu không bảo đảm được sự bền vững và cân bằng sinh thái cần thiết để bảo đảm loài người sẽ tồn tại Và cũng không thể chăm lo tăng trưởng kinh tế nếu sự tăng trưởng này làm hư hại môi trường-môi sinh, gây tai biến thiên nhiên mà hậu quả là có thể đưa loài người tới thảm họa

Trang 33

Phát Triển Bền Vững bác bỏ các quan niệm thị trường tự điều hòa và quan niệm con người có nhu cầu mênh mông, không bao giờ hết, không cần định chừng mực Phát Triển Bền Vững chống khuynh hướng tiêu dùng không giới hạn và chủ trương loài người phải xét lại quan niệm và các mẫu mực về an sinh, phúc lợi và chất lựợng của cuộc sống

Phát Triển Bền Vững cho rằng vì sự chênh lệch giầu nghèo trên thế giới cho nên bắt buộc phải theo một hướng đi mới Một mặt cần phải kìm giữ sử dụng tài nguyên, ngăn ngừa ô nhiễm môi trường và phá hủy môi sinh, giảm thiểu rác thải Mặt khác, số dân đói nghèo trên thế giới có yêu cầu gia tăng tiêu dung và sản xuất để thỏa mãn các yêu cầu căn bản, bảo vệ và nâng cao nhân phẩm Phát Triển Bền Vững nhận định rằng quan hệ không cân bằng, không bình đẳng trên thế giới và mô hình toàn cầu hóa kiểu tân tự do là một mối đe dọa cần phải phòng chống Phát Triển Bền Vững chỉ là thực tại nếu nó có tính cách toàn cầu Phát Triển Bền Vững nhắm thỏa mãn yêu cầu căn bản của con người

là lương thực, nước sạch, nhà ở, sức khỏe, giáo dục, an sinh, phúc lợi, quyền phát biểu, quyền tham gia, v.v và nhiều yêu cầu tinh thần và vật chất khác Luận thuyết Phát Triển Bền Vững thừa nhận tăng trưởng kinh tế có tính cần thiết nhưng cũng xác định tăng trưởng chỉ là điều kiện cần (không phải là điều kiện đủ) cho phát triển Như vậy có nghĩa tăng trưởng chỉ là phương tiện cho cứu cánh là Phát Triển Bền Vững

Luận thuyết Phát Triển Bền Vững còn nói rằng kinh tế và xã hội phải hòa hợp, bổ sung thành một thể thống nhất Nhu cầu của con người phải được đáp ứng, hàng hóa và dịch vụ phải được cung cấp và phân phối trong sự công bằng Phát Triển Bền Vững chủ trương can thiệp vào kinh tế-xã hội để thống nhất các chính sách hoặc đường lối ngõ hầu thực hiện những đổi thay mong muốn, tạo điều kiện cho con người có tiến bộ Phát Triển Bền Vững thừa nhận rằng mỗi xã hội, mỗi dân tộc có yêu cầu và lý do để định những phương hướng phát triển và chọn những phương thức hành động riêng Mục tiêu cuối cùng của Phát Triển Bền Vững là thỏa mãn yêu cầu căn bản của con người, cải thiện cuộc sống của

Trang 34

tất cả và song song bảo toàn và quản lý hữu hiệu hệ sinh thái, bảo đảm tương lai

ổn định Phát Triển Bền Vững cho rằng cần phải hoạt động sản xuất có giới hạn, tiêu dùng và thụ hưởng có tiết kiệm, phân phối công bằng thu nhập, điều hòa dân số và nhân lực, bảo đảm sự cân bằng giữa nhu cầu có khuynh hướng gia tăng nhanh với tài nguyên bị hạn chế Phát Triển Bền Vững đề cao các gía trị nhân bản, tính công bằng trong sản xuất, tiêu dùng và thụ hưởng Nó nhắm thực hiện và đảm bảo sự liên đới giữa các thế hệ, giữa các quốc gia, giữa hiện tại với tương lai Phát Triển Bền Vững có tính chất đa diện, thống nhất, toàn bộ Nó chủ trương có sự tham gia đóng góp của tất cả các đối tượng thụ hưởng, tạo tính sở hữu kế hoạch và kết quả hoạt động, xây dựng tinh thần trách nhiệm Phát Triển Bền Vững là một dự án nằm trong tinh thần của bản Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền công bố năm 1948

Một chính sách phát triển bền vững thể hiện tính bền vững về các mặt xã hội, kinh tế, môi trường và chính trị:

Về mặt xã hội, bền vững có nghĩa xã hội công bằng, cuộc sống an bình

Sự Phát Triển Bền Vững cần đề phòng tai biến, không để có người sống ngoài lề

xã hội hoặc bị xã hội ruồng bỏ Xã hội một nước không thể Phát Triển Bền Vững nếu có một tầng lớp xã hội đứng ngoài công cuộc xây dựng và mở mang quốc gia Thế giới sẽ không có Phát Triển Bền Vững về mặt xã hội nếu cuộc sống hoặc tính mạng của một phần nhân loại bị đe dọa vì bệnh tật, đói nghèo, thiên tai, v.v Phát Triển Bền Vững về mặt xã hội còn có nghĩa con người có môi trường sống hài hòa, công bằng và có an sinh

Về mặt kinh tế, cần phải phân biệt phát triển với tăng trưởng Tăng trưởng chú trọng tới vật chất và số lượng, tích lũy và bành trướng trong khi phát triển quan tâm tới tiềm năng, phẩm chất, phục vụ con người một cách toàn diện, về vật chất lẫn tinh thần Phát Triển Bền Vững về mặt kinh tế nghịch với gia tăng sản xuất không giới hạn, chinh phục thị trường bằng mọi cách, thương mại hóa bất cứ hàng hóa hoặc dịch vụ nào, tìm lợi nhuận tối đa trong mọi hoàn cảnh Phát Triển Bền Vững kinh tế đòi hỏi phải cân nhắc ảnh hưởng bây giờ hay sau

Trang 35

này của hoạt động và tăng trưởng sản xuất lên chất lượng cuộc sống, cứu xét xem có gì bị hư hại, bị phí phạm

Phát Triển Bền Vững về phương diện môi trường có nghĩa phải bảo vệ khả năng tái sinh của hệ sinh thái, nhịp độ gia tăng sử dụng tài nguyên có khả năng tái sinh phải thấp hơn tốc độ tái sinh, việc sử dụng tài nguyên không có khả năng tái sinh phải tùy thuộc khả năng sáng chế tư liệu thay thế Sau cùng, mức

độ ô nhiễm phải thấp hơn khả năng tái tạo của môi trường, môi sinh Yêu cầu bền vững về môi trường-môi sinh buộc phải giới hạn sự tăng trưởng kinh tế Cần phải thừa nhận rằng kinh tế chỉ là một bộ phận của hệ sinh thái và phát triễn kinh tế phải bảo vệ môi trường-môi sinh

Về phương diện chính trị, Phát Triển Bền Vững có nghĩa hết hợp và dung hòa các vấn đề xã hội, kinh tế và môi trường để hệ thống tổ chức và sinh hoạt chính trị không có căng thẳng, xáo trộn, có thể đi tới rối loạn hoặc đổ vỡ Các định chế chính trị cần phải phải tôn trọng và bảo vệ công bằng, khuyến khích các đối tượng thụ hưởng đối thoại và tham gia trong tinh thần phù hợp với các nguyên tắc dân chủ tự do Tính quan liêu và bàn giấy phải được xóa bỏ vì nó trói buộc con người, đè nén xã hội, cản trở mọi sự đổi thay, tiến bộ Tôn trọng đạo lý cũng là một yêu cầu rất cần, gần như một bắt buộc

 Các định đề và điều kiện của phát triển bền vững:

Phát Triển Bền Vững trong thực tế là một dự án rất lớn rộng có những định đề và cần một số điều kiện Từ luận thuyết Phát Triển Bền Vững và những nguyên tắc định hướng, để kinh tế-xã hội phát triển một cách bền vững cần có một số điều kiện Những điều kiện này nhiều khi không trùng hợp với nhau và cần phải dung hòa để tìm sự cân bằng và hợp lý:

+ Dân chủ: Tinh thần và các nguyên tắc dân chủ không phải là điều kiện tiên quyết hoặc không có không được, tuy nhiên, khái niệm Phát Triển Bền Vững không thể phổ biến và lưu truyền rộng rãi, rồi đem ra áp dụng nếu thiếu tinh thần dân chủ, nếu không tôn trọng các nguyên tắc sinh hoạt dân chủ Chẳng hạn làm sao bảo đảm công bằng, đảm bảo các thế hệ tương lai có điều kiện để

Trang 36

thỏa mãn yêu cầu phát triển về sau nếu các tổ chức và các hoạt động không có

sự tham gia bằng tham khảo ý kiến, phát biểu lập trường, bày tỏ yêu cầu bởi tất

cả các đối tượng thụ hưởng Mỗi cá nhân có quyền và yêu cầu xây dựng một cuộc sống an lành, xung quanh có môi trường có chất lượng, có di sản sinh thái được bảo toàn Quyền lợi cá nhân cần phải hòa hợp với ích lợi của tập thể trong tinh thần dân chủ tự do

+ Công bằng và bình đẳng: Phát Triển Bền Vững phụ thuộc rất nhiều vào

sự công bằng và bình đẳng Tùy mức độ của nó, khác biệt giầu nghèo giữa các tầng lớp dân chúng sẽ nhiều hay ít, các chương trình xóa đói giảm nghèo như do Ngân Hàng Thế Giới và Qũy Tiền Tệ Quốc Tế đề xướng sẽ đạt được thành công tới mức độ nào Công bằng và bình đẳng ảnh hưởng khả năng và mức độ thỏa mãn yêu cầu của các thành phần xã hội Tình trạng vay nợ và khả năng hoàn nợ của các nước chậm tiến tùy thuộc vào sự công bằng và bình đẳng trong quan hệ giữa các nước trên thế giới Có thêm công bằng và bình đẳng thì các nước nghèo

sẽ có điều kiện thuận lợi để thoát khỏi vòng luẩn quẩn của sự chậm tiến và như vậy sẽ đóng góp thỏa đáng cho Phát Triển Bền Vững trong nước và trên thế giới

+ Tinh thần liên đới phụ thuộc lẫn nhau: Phát Triển Bền Vững của mỗi quốc gia và Phát Triển Bền Vững thế giới phụ thuộc lẫn nhau Phát Triển Bền Vững của thế hệ về sau có liên hệ chặt chẽ với Phát Triển Bền Vững của thế hệ ngày nay Phát Triển Bền Vững cá nhân cũng tùy thuộc Phát Triển Bền Vững quốc gia Phát Triển Bền Vững thế giới liên hệ chặt chẽ với bảo vệ môi trường-môi sinh tại mỗi quốc gia Cộng đồng thế giới và dân tộc mỗi nước có quyền lợi chung để phòng chống ô nhiễm, bảo toàn di sản sinh thái Trong mọi lãnh vực, những quan hệ hợp tác quốc tế, giao dịch và trao đổi ngày càng nhiều cho thấy

sự liên hệ phụ thuộc lẫn nhau giữc các nước Nhằm giải quyết các thử thách lớn như xóa đói giảm nghèo, quản lý tiến trình toàn cầu hóa, bảo vệ môi trường-môi sinh tinh thần liên đới là một điều kiện chính

+ Quyền tự quản, tự quyết: Dự án Phát Triển Bền Vững không thể tiến hành được nếu quyền tự quản, tự quyết của các quốc gia, các sắc tộc, các đoàn

Trang 37

thể, v.v trong việc chọn lựa hướng đi không được thừa nhận và tôn trọng Những khác biệt trên thế giới về điều kiện khách quan, phương tiện hành động, năng lực phát triển, yêu cầu sản xuất và tiêu dùng, v.v đòi hỏi phải dung hòa các mục tiêu chung và toàn cầu với quyền lợi dân tộc của mỗi quốc gia Phát Triển Bền Vững đòi hỏi phải thiết lập những quan hệ đối tác thực tiễn và hợp lý để song song tiến hành chiến lược chung về Phát Triển Bền Vững và thực hiện các

kế hoạch quốc gia

+ Tinh thần trách nhiệm và gánh chịu: Dự án Phát Triển Bền Vững là một công cuộc phức tạp, không đặt ra khuôn khổ và những quy tắc mẫu mực rõ rệt

có tính bắt buộc Chính sách và chương trình Phát Triển Bền Vững chờ đợi các đối tượng thụ hưởng thể hiện tinh thần trách nhiệm, tính kỷ luật tự giác, khả năng gánh chịu hậu quả nếu xẩy ra Vì sự liên hệ giữa kinh tế, xã hội và môi trường và ảnh hưởng của nó lên tất cả các khía cạnh của cuộc sống, Phát Triển Bền Vững còn đòi hỏi hành động phải có cân nhắc và cẩn trọng với mục đích chính là để tránh gây cho môi trường-môi sinh những hậu quả không đảo ngược được Phát Triển Bền Vững còn một điều kiện nữa là khả năng kiểm tra kết quả hoạt động và phương tiện phòng ngừa và sửa chữa tai biến

+ Giáo dục, huấn luyện và thông tin: Dự án Phát Triển Bền Vững, các chương trình bảo vệ môi trường-môi sinh không thể tiến hành, có hiệu lực và có kết quả nếu quần chúng không nhận thức đúng mức về yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội, không ý thức được tầm quan trọng của các vần đề và thử thách thời đại và không chấp nhận những bắt buộc hoặc điều kiện của Phát Triển Bền Vững Giáo dục, huấn luyện và thông tin là những yếu tố không kém quan trọng

so với các điều kiện trước của Phát Triển Bền Vững

 Các thử thách và giới hạn của phát triển bền vững

Từ các định đề và điều kiện của Phát Triển Bền Vững vừa nêu, thi hành

dự án Phát Triển Bền Vững gặp nhiều thử thách và bị giới hạn hành động đáng

kể Bởi phạm vi rất rộng và nội dung rất đầy đủ cho nên công cuộc thực hiện Phát Triển Bền Vững phức tạp và khó khăn, xúc tiến chậm từ khi Chương Trình

Trang 38

Nghị Sự Thế Kỷ 21 được tán thành và biểu quyết tại Hội nghị Rio de Janeiro năm 1992

Soạn ra những chương trình và biện pháp, thiết lập những định chế và cơ chế, sử dụng những phương tiện cần thiết để kinh tế-xã hội chuyển đổi theo hướng phát triển bền vững

Việc thực thi Chương Trình Nghị Sự Thế Kỷ 21 trong hơn mười năm vừa qua cho thấy có những khó khăn chính sau đây:

Dự án Phát Triển Bền Vững gặp nhiều cản trở bắt nguồn từ hình thức và tính chất của tiến trình toàn cầu hóa dập khuôn theo học thuyết kinh tế tân tự do thuận lợi cho khu vực tư nhân, các công ty xuyên quốc gia và các nước giầu Khuynh hướng tự do hóa thương mại ảnh hưởng bất lợi lên công cuộc bảo vệ môi trường-môi sinh, không cắt giảm phân cực giầu nghèo mà trái lại dành lợi thế cho các nước đã phát triển

Xóa đói giảm nghèo là một mục tiêu trọng yếu của dự án Phát Triển Bền Vững nhưng các nước chậm tiến không thoát được khỏi vòng luẩn quẩn vì một mặt vay nợ chồng chất, mặt khác thiếu đủ mọi phương tiện vật chất, kỹ thuật, tài chính, nhân lực, tri thức, v.v để giúp kinh tế-xã hội có những bước tiến tối thiểu

Chương Trình Nghị Sự Thế Kỷ 21 đề ra hướng đi và mục tiêu cho Phát Triển Bền Vững nhưng không xác định được các định chế toàn cầu hay quốc gia và

cơ chế cần thiết để khuyến khích hoặc thúc đẩy các quốc gia, khu vực tư nhân, các công ty xuyên quốc gia, v.v chấp nhận và thực thi Chương Trình Nghị Sự

Trang 39

Các nguồn tài chính đã dự tính để thực hiện một phần Chương Trình Nghị

Sự Thế Kỷ 21 không đạt được mức chờ đợi (chủ yếu là viện trợ phát triển chính thức không đạt được tỷ lệ 0,7% tổng sản lượng quốc gia của các nước giầu) Các nguồn tài chính khác cũng thiếu hụt hoặc phân chia bất lợi cho Phát Triển Bền Vững (chẳng hạn đầu tư trực tiếp nước ngoài gia tăng nhưng tập trung vào một

số nước và vài khu vực)

Từ những khó khăn chủ yếu vừa kể nhiều thử thách khác nẩy sinh ra khiến càng giới hạn việc thực hiện dự án Phát Triển Bền Vững và làm Chương Trình Nghị Sự Thế Kỷ 21 kém hiệu lực Những thử thách thường được nhắc tới nhiều nhất gồm có:

Vấn đề quản lý và điều phối tiến trình toàn cầu hóa để tạo thuận lợi cho Phát Triển Bền Vững: Cơ quan nào, tổ chức nào có thể giữ vai trò này ? Yêu cầu thành lập các định chế có trách nhiệm và năng lực quản lý các chương trình hành động đã được đặt ra nhưng chưa có giải đáp

Một thử thách khác là công cuộc xóa đói giảm nghèo tại các nước chậm tiến hầu như hoàn toàn thuộc trọng trách của nhà nước, không nằm trong phạm

vi hoặc không nhận được sự đóng góp của khu vực tư nhân trong và ngoài nước

Cơ chế thi trường và đầu tư nội địa hoặc đầu tư trực tiếp nước ngoài không có hiệu lực trong việc cung cấp phương tiện và thỏa mãn yêu cầu về giáo dục, vệ sinh, y tế, an ninh lương thực, nước sạch, bảo vệ thiên nhiên, v.v

Do thiếu các định chế và cơ chế để quản lý dự án Phát Triển Bền Vững, các định đề và điều kiện của Phát Triển Bền Vững không được thỏa mãn như cần thiết Các quốc gia diễn nghĩa khác nhau định hướng và chương trình hành động, gây nhiều bất đồng ý kiến và tranh cãi song phương hoặc đa phương Việc giải quyết các bất đồng này rất phức tạp, dựa trên hàng trăm công ước và tuyên ngôn quốc tế và đòi hỏi nhiều thời gian và rất tốn kém

Công tác thực hiện Phát Triển Bền Vững không hội đủ các điều kiện thuận lợi nhất Cụ thể là thiếu cơ quan xét sử, thiếu cơ chế có tính ràng buộc, thiếu mạch lạc thống nhất giữa quy chế Tổ Chức Thương Mại Thế Giới và các công ước và tuyên ngôn quốc tế Tình trạng này kéo dài thúc giục phải giải

Trang 40

quyết tới mức trong nhiều trường hợp chính các công ty xuyên quốc gia và các

tổ chức phi chính phủ đứng ra khởi xướng tìm đồng thuận và giải pháp, tuy với những lý do khác nhau

Phát triển bền vững là một dự án đầy tham vọng, vô cùng tốn kém và là

đề tài tranh cãi giữa các nước giầu và các nước nghèo Các nước chậm tiến có thu nhập thấp có ưu tiên là thỏa mãn các yêu cầu tối thiểu của người dân và xem Chương Trình Nghị Sự Thế Kỷ 21 là thứ yếu Các điều kiện cho vay và tài trợ của Ngân Hàng Thế Giới và Qũy Tiền Tệ Quốc Tế cùng với số lượng viện trợ phát triển chính thức thiếu hụt so với yêu cầu Phát Triển Bền Vững đã khiến các nước nghèo không thể theo con đường này được Tại các nước này Chương Trình Nghị Sự tiến hành rất khó khăn và chậm

Nói chung, Phát Triển Bền Vững thiếu hụt rất nhiều phương tiện tài chính Hiện nay có ba cách giúp các nước chậm tiến có các nguồn tài chính cần thiết là: viện trợ phát triển chính thức, các nguồn tài chính đa phương (Qũy Môi Trường Toàn Cầu/Fonds pour l’environnement mondial/Global Environment Facility) và cách thứ ba là giảm nợ cho các nước mắc nợ nhiều Ngoài ra có vài phương pháp gây qũy để hỗ trợ chương trình Phát Triển Bền Vững của các nước chậm tiến đang được thảo luận là tài trợ qua hệ thống hợp tác quốc tế, thành lập qũy đặc biệt, thu thế đặc biệt, v.v

* Phát triển bền vững và vấn đề đói nghèo và tiến trình toàn cầu hóa: Trong số các thử thách và khó khăn mà dự án Phát Triển Bền Vững phải đối phó, quan trọng nhất là tình trạng đói nghèo tại các nước chậm tiến và tiến trình toàn cầu hóa

Phát triển bền vững và đói nghèo trên thế giới

Tình trạng đói nghèo trên thế giới là một vấn đề lớn vì không thể có Phát Triển Bền Vững nếu trong hơn 6 tỷ người trên thế giới có 2,6 tỷ người sống với dưới 2 mỹ kim/ngày, 1,2 tỷ người sống với dưới 1 mỹ kim/ngày, 800 triệu người

bị suy dinh dưỡng và 800 triệu người không biết đọc không biết viết Mục tiêu đầu tiên của PTBV là thỏa mãn các yêu cầu tối thiểu về ăn mặc, vệ sinh, sức khỏe, nhà ở, nước sạch, giáo dục, v.v Ngoài ra tình trạng đói nghèo liên hệ chặt

Ngày đăng: 31/05/2023, 08:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm