1 CHƯƠNG 1 HIỆN TRẠNG VỀ GIAO THÔNG VÀ TÌNH HÌNH KHAI THÁC, SỬ DỤNG CẤP PHỐI ĐÁ DĂM TRONG CÔNG TÁC THİ CÔNG XÂY DỰNG ĐƯỜNG Ở TỈNH AN GIANG 1.1.. Trong những năm gần đây, kết cấu mặt đườn
HIỆN TRẠNG VỀ GIAO THÔNG VÀ TÌNH HÌNH KHAI THÁC, SỬ DỤNG CẤP PHỐI ĐÁ DĂM TRONG CÔNG TÁC THİ CÔNG XÂY DỰNG ĐƯỜNG Ở TỈNH AN GIANG 1.1 Hiện trạng hạ tầng kết cấu giao thông đường bộ
Quy hoạch hệ thống giao thông tỉnh An Giang thời kỳ 2007 – 2020 và tầm nhìn đến năm 2030
Trong những năm qua, hệ thống giao thông vận tải An Giang đã phát triển đồng bộ về cơ sở hạ tầng và vận tải, tạo thành mạng lưới hoàn chỉnh Mạng lưới này có khả năng liên kết thuận lợi các phương thức vận tải, đảm bảo thông suốt từ xã đến tỉnh và kết nối với các tỉnh thành phố khác Mục tiêu của sự phát triển này là phục vụ cho sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, hướng tới việc trở thành tỉnh công nghiệp vào năm 2020 Quá trình phát triển được chia thành hai giai đoạn rõ ràng.
Giai đoạn 2007-2010, chú trọng nâng cấp mặt đường quốc lộ, đường tỉnh, đường huyện và các tuyến đường đến trung tâm các xã khó khăn Đồng thời, đầu tư mở mới một số tuyến đường phục vụ cho phát triển công nghiệp và khu vực dân cư.
Giai đoạn 2010-2020, quá trình hiện đại hóa kết cấu hạ tầng giao thông vận tải đã được hoàn thiện từng bước, nâng cao chất lượng khai thác và đảm bảo vận tải thông suốt cho toàn bộ mạng lưới giao thông nội địa và quốc tế.
Để nâng cao chất lượng hạ tầng giao thông, cần tiếp tục đầu tư nâng cấp các tuyến quốc lộ hiện có, phấn đấu đạt quy mô cấp III cho những tuyến quan trọng và cấp IV cho các tuyến khác Đồng thời, cần nâng cấp và xây mới các tuyến phục vụ an ninh quốc phòng như N1, N2, cũng như xây dựng các giao cắt khác mức tại các nút giao giữa QL91 và các tuyến đường quan trọng, đường đô thị, và đường vào khu công nghiệp.
Xây dựng các tuyến đường kết nối với quốc lộ, đường tỉnh và đường nội bộ nhằm phục vụ cho các vùng sản xuất hàng hóa tập trung, khu công nghiệp và khu tái định cư.
Xây dựng đường ô tô đến tất cả các trung tâm xã và cụm xã chưa có đường là một mục tiêu quan trọng Cần nâng cấp đồng bộ các tuyến đường đến các trung tâm này, với mục tiêu đạt 80% - 90% vào năm 2010 và 90% - 100% vào năm 2020 Đến năm 2020, tất cả các đường huyện cần đạt chuẩn đường cấp V, trong khi đường xã phải đạt tiêu chuẩn giao thông nông thôn loại A và B.
Theo Quyết định số 149/QĐ-UBND ngày 23 tháng 01 năm 2015 của Ủy ban Nhân dân tỉnh An Giang, dự án điều chỉnh bổ sung quy hoạch giao thông đường bộ và đường thủy tỉnh An Giang đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 đã được phê duyệt, trong đó hệ thống giao thông vận tải đường bộ được quy hoạch cụ thể.
- Cao tốc Sóc Trăng – Cần Thơ – Châu Đốc: Đoạn qua địa bàn tỉnh từ ranh
TP.Cần Thơ đến giao Quốc lộ 91 tại TP.Châu Đốc dài 60 km, quy mô 4 làn xe
- Quốc lộ 80: Nâng cấp đạt tiêu chuẩn tối thiểu cấp III với 2 làn xe, hoàn thành trước 2020
Quốc lộ 91 sẽ được nâng cấp đạt tiêu chuẩn tối thiểu cấp III với 2 làn xe, đồng thời xây dựng các tuyến tránh cho TP Long Xuyên, thị trấn An Châu (Châu Thành), thị trấn Cái Dầu (Châu Phú) và TP Châu Đốc, trong đó có đoạn tránh từ cầu Bình.
Mỹ đến cầu Cây Dương hoàn thành trước 2020
- Quốc lộ 91C: Nâng cấp đạt tiêu chuẩn tối thiểu cấp IV với 2 làn xe
- Quốc lộ N1: Từ cầu Tân Châu đến ranh tỉnh Kiên Giang dài 67,3 km Quy hoạch đạt tiêu chuẩn tối thiểu đường cấp IV với 2 làn xe
Quốc lộ 80B sẽ được mở mới và nâng cấp từ các tuyến ĐT.942, ĐT.952 và ĐH Kênh Thần Nông tại huyện Phú Tân Tuyến đường có chiều dài 74,7 km, bắt đầu từ ranh giới Đồng Tháp và kết thúc tại cửa khẩu quốc tế Vĩnh Xương Quy hoạch của Quốc lộ 80B đạt tiêu chuẩn tối thiểu cấp III với 2 làn xe và dự kiến sẽ hoàn thành sau năm 2020.
Hệ thống đường tuần tra biên giới tỉnh An Giang được quy hoạch với khoảng cách từ 50-100m so với đường biên giới quốc gia, có tổng chiều dài 85 km Đường tuần tra này được chia thành 3 đoạn khác nhau.
+ Đoạn 1: dài 20km, đường dọc biên từ cửa khẩu Vĩnh Xương đến đồn Nhơn Bình (937) trên địa bàn thị xã Tân Châu và huyện An Phú
+ Đoạn 2: dài 45km, đường dọc biên từ đồn 937 đến đồn Tịnh Biên trên địa bàn huyện An Phú và TP.Châu Đốc
+ Đoạn 3: dài 20km, đường dọc biên Tịnh Biên đến ranh giới Kiên Giang trên đại bàn huyện Tịnh Biên và huyện Tri Tôn
Về hệ thống đường tỉnh:
Đường tỉnh ĐT.955A sẽ được chuyển đổi thành đường đô thị từ TP Châu Đốc đến gần kênh 10 Phần còn lại từ gần kênh 10 đến giao với QL.91 cũ sẽ được quy hoạch thành QL.80B.
- Đường tỉnh ĐT.942, ĐT.952: Sau năm 2020, quy hoạch thành QL.80B
Đường tỉnh ĐT.941 dài 39km, bắt đầu từ ngã ba Lộ Tẻ giao với QL.91 và kết thúc tại trị trấn Tri Tôn giao với ĐT.943 Đường được quy hoạch đạt tiêu chuẩn cấp IV với mặt nhựa rộng 7m và nền đường 9m, hoàn thành trước năm 2015 Đến năm 2030, sẽ tiến hành nâng cấp để đạt tiêu chuẩn tương đương cấp III.
- Đường tỉnh ĐT 943: Toàn tuyến dài 64km, điểm đầu giao QL.91 tại
TP Long Xuyên là điểm cuối của ĐT.941 tại thị trấn Tri Tôn, với đoạn đường từ giao QL.91 đến cầu Thoại Giang dài 22,5 km, mặt nhựa rộng 14 m và nền 20-26 m, đạt tiêu chuẩn cấp III, hoàn thành trước năm 2015 Đoạn còn lại dài 41,5 km, đạt tiêu chuẩn cấp IV, mặt nhựa 7 m và nền 9 m, dự kiến hoàn thành trong giai đoạn 2016-2020 Sau năm 2020, sẽ nâng cấp để đạt tiêu chuẩn tương đương cấp III Ngoài ra, sẽ xây dựng tuyến tránh thị trấn Núi Sập từ cầu Kênh F đến cầu Thoại Giang, với lộ giới được xác định rõ ràng.
+ Đoạn từ QL.91 đến giao tuyến tránh TP.Long Xuyên lộ giới 36m, mỗi bên 18m, tính từ tim đường (6-14-6 và khoảng lùi 5m mỗi bên)
+ Đoạn từ tuyến tránh TP.Long Xuyên đến cầu Cống Vong lộ giới 55m, mỗi bên 27,5m tính từ tim đường hiện hữu
+ Đoạn từ cầu Thoại Giang đến cầu Mướp Văn lộ giới 29m, bên phải là 13,5m tính từ tim đường hiện hữu, bên trái 15,5m
Đoạn từ cầu Mướp Văn đến cầu Sóc Triết có lộ giới bên phải là 25m tính từ tim đường hiện hữu đến mép bờ cao của kênh Ba Thê mới, trong khi bên trái cũng có lộ giới 25m tính từ tim đường hiện hữu.
+ Đoạn từ cầu Sóc Triết đến giao ĐT.941: lộ giới 29m, mỗi bên là 14,5m tính từ tim đường hiện hữu
- Đường tỉnh ĐT.944: Dài 11,2km, điểm đầu tại phà An Hòa (xã Hòa Bình,
Chợ Mới), điểm cuối giao ĐT.942 tại ngã ba Cựu Hội Quy hoạch mặt nhựa (hoặc bê tông nhựa), rộng 11m, nền 12m, cấp IV, lộ giới 32m, hoàn thành trước 2020
Đường tỉnh ĐT.945 dài 42km, bắt đầu từ giao QL.91 gần cầu Vịnh Tre và kết thúc tại cầu ranh Kiên Giang Đường được quy hoạch đạt tiêu chuẩn cấp IV với mặt nhựa rộng 7m, nền đường 9m và tổng chiều rộng 29m Dự kiến, công trình sẽ hoàn thành trong giai đoạn 2016 – 2020.
2020 nâng cấp đạt tiêu chuẩn cấp III
Hiện trạng kết cấu áo đường trên các tuyến đường tỉnh hiện nay
Tỉnh hiện có 16 tuyến đường tỉnh, bao gồm ĐT.941 đến ĐT.N2 Trong số này, ngoại trừ các tuyến mới được nâng cấp và mở rộng, hầu hết các tuyến còn lại đang trong tình trạng xuống cấp, với mặt đường bị rạn nứt và oằn lún Các tuyến đường này được duy tu và sửa chữa hàng năm để cải thiện chất lượng.
Các tuyến đường chủ yếu được xây dựng từ thập niên 80 và 90, với tầng móng làm từ cấp phối Tà Pạ và đá hộc, trong khi tầng mặt sử dụng đá 4x6 láng nhựa Một số đoạn đường đã được nâng cấp và sửa chữa sau này, sử dụng cấp phối đá dăm 0-4 cho lớp móng và cấp phối 0-4 láng nhựa cho lớp mặt.
Hệ thống đường huyện, đường xã và đường đô thị
Hệ thống đường huyện tại tỉnh hiện có 88 tuyến với tổng chiều dài 960,38 km, trong đó tỷ lệ nhựa-cứng hóa đạt 71,2% Trong những năm qua, hệ thống đường huyện đã nhận được sự đầu tư từ nguồn vốn ngân sách Tuy nhiên, trong thời gian tới, cần có sự đầu tư mạnh mẽ hơn nữa để nâng cao chất lượng và mở rộng mạng lưới đường huyện.
Bảng 1.2: Hiện trạng hệ thống đường huyện, tỉnh An Giang
Stt Đơn vị hành chính Số tuyến C.dài
Kết cấu Nhựa BTXM CP+Đất
[Nguồn: “Điều chỉnh, bổ sung Quy hoạch giao thông đường bộ và đường thủy tỉnh
An Giang đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030”]
Tính đến nay, tổng chiều dài hệ thống đường xã trên địa bàn tỉnh đạt 2.820,3 km, với tỷ lệ nhựa-cứng hóa chỉ 18,9% Trong những năm qua, hệ thống đường giao thông nông thôn đã nhận được sự đầu tư đáng kể, đặc biệt là sau khi chủ trương xây dựng nông thôn mới được ban hành Tuy nhiên, tỷ lệ nhựa hóa của hệ thống giao thông nông thôn vẫn còn thấp, do đó cần có những đầu tư mạnh mẽ hơn trong những năm tới.
Bảng 1.3: Hiện trạng hệ thống đường xã, tỉnh An Giang
Stt Đơn vị hành chính
[Nguồn: “Điều chỉnh, bổ sung Quy hoạch giao thông đường bộ và đường thủy tỉnh
An Giang đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030”]
1.1.3.3 Hệ thống đường đô thị
Hệ thống đường đô thị tại tỉnh hiện có 810 tuyến với tổng chiều dài 485,4 km, trong đó tỷ lệ nhựa-cứng hóa đạt 76,7% Đặc biệt, phần lớn hệ thống này tập trung tại thành phố Long Xuyên.
Bảng 1.4: Hiện trạng hệ thống đường đô thị tỉnh An Giang
Stt Đơn vị hành chính
[Nguồn: “Điều chỉnh, bổ sung Quy hoạch giao thông đường bộ và đường thủy tỉnh
An Giang đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030”]
Đánh giá chung hiện trạng
Hiện trạng kết cấu áo đường chủ yếu sử dụng đá 4x6 láng nhựa làm mặt đường, trong khi phần móng đường chủ yếu là cấp phối Tà Pạ Tuy nhiên, nguồn tài nguyên Tà Pạ đã cạn kiệt, và cấp phối đá dăm chưa được áp dụng nhiều trước năm 2000.
Theo quy hoạch giao thông tỉnh, hệ thống hạ tầng sẽ được đầu tư mạnh mẽ, huy động nguồn vốn từ ngân sách và kêu gọi nhà đầu tư Tỉnh đã đầu tư nâng cấp nhiều tuyến tỉnh lộ quan trọng như ĐT.942, ĐT.943, và trong năm 2015 sẽ tiếp tục thi công nâng cấp ĐT.955A và ĐT.934 Nguồn vật liệu xây dựng chủ yếu từ các mỏ đá ở Tri Tôn và Tịnh Biên, An Giang, trong khi cát tôn cao nền được khai thác từ sông Tiền và sông Hậu Việc sử dụng cấp phối đá dăm làm móng đường ngày càng phổ biến, thay thế cho các loại móng đường trước đây.
Tình hình khai thác ở các mỏ đá trên địa bàn tỉnh An Giang Đánh giá chất lƣợng và trữ lƣợng
Theo báo cáo về quản lý khoáng sản năm 2013, có 06 khu vực được cấp phép khai thác cho 05 đơn vị với tổng sản lượng 1.590.000 m³/năm Tổng sản lượng khai thác thực tế đạt 1.560.400 m³, tương đương 98,14% công suất cho phép Hai đơn vị, Công ty TNHH MTV Khai thác và chế biến đá An Giang và Xí nghiệp khai thác chế biến đá Cô Tô, đã vượt công suất cấp phép Tuy nhiên, tiến độ khai thác đá cắt tầng vẫn chậm, với chiều cao và độ dốc tầng không đạt thiết kế phê duyệt.
1.2.1 Trữ lƣợng và khả năng khai thác ở mỏ Antraco
- Về vị trí địa lý: ấp Núi Dài, xã Châu Lăng, huyện Tri Tôn
- Diện tích, trữ lượng: 70ha; công suất cho phép 600,000 m3/năm; thời hạn cấp phép 30 năm
- Đơn vị được cấp phép khai thác: Cty liên doanh Antraco
1.2.2 Trữ lƣợng và khả năng khai thác ở mỏ Bà Đội
- Về vị trí địa lý: có 2 địa điểm
+ Địa điểm 1: Núi Bà Đội, xã Tân Lợi và xã An Hảo, huyện Tịnh Biên
+ Địa điểm 2: Núi Bà Đội, ấp Tân Thuận, xã Tân Lợi, huyện Tịnh Biên
+ Địa điểm 1: với diện tích 16ha; công suất cho phép 300,000 m3/năm; thời hạn cấp phép 20 năm
+ Địa điểm 2: với diện tích 4,9ha; công suất cho phép 200,000 m3/năm; thời hạn cấp phép 8 năm
- Đơn vị được cấp phép khai thác:
+ Địa điểm 1: Cty Khai thác và CB đá AG
+ Địa điểm 2: Công ty TNHH MTV Xây lắp An Giang
1.2.3 Trữ lƣợng và khả năng khai thác ở mỏ Cô Tô
- Về vị trí địa lý: có 3 địa điểm
+ Địa điểm 1: Núi Cô Tô, xã Cô Tô và xã Ô Lâm, huyện Tri Tôn
+ Địa điểm 2: Đông núi Cô Tô (khu B), xã Cô Tô, huyện Tri Tôn
+ Địa điểm 3: Đông núi Cô Tô (khu B), xã Cô Tô, huyện Tri Tôn
- Chất lượng đá xây dựng:
+ Địa điểm 1: với diện tích 70,5ha; công suất cho phép 350,000 m3/năm; thời hạn cấp phép 20 năm
+ Địa điểm 2: với diện tích 23ha; công suất cho phép 50,000 m3/năm; thời hạn cấp phép 8 năm
+ Địa điểm 3: với diện tích 13ha; công suất cho phép 90,000 m3/năm; thời hạn cấp phép 20 năm
- Đơn vị được cấp phép khai thác:
+ Địa điểm 1: Cty Khai thác và CB đá AG
+ Địa điểm 2: CN K.thác đá Quyết Thắng
+ Địa điểm 3: XN KT&CB Đá Cô Tô
Hoạt động khai thác đá làm vật liệu xây dựng thông thường trên địa bàn tỉnh
An Giang đang có những chuyển biến tích cực trong việc quản lý khai thác khoáng sản, với tất cả các đơn vị đều sở hữu giấy phép khai thác hợp lệ Các dự án đầu tư khai thác được triển khai, cùng với việc bổ nhiệm giám đốc điều hành mỏ Ngoài ra, các báo cáo đánh giá tác động môi trường và bản đăng ký đạt chuẩn môi trường cũng được thực hiện đầy đủ.
Các đơn vị khai thác đá thực hiện mở đường và dọn tầng phủ, tổ chức khai thác theo hướng cắt tầng với lộ trình từng bước Họ cũng củng cố các moong khai thác theo thiết kế mỏ được phê duyệt, đồng thời đầu tư và đổi mới thiết bị khai thác để đảm bảo an toàn trong hoạt động khai thác.
Bảng 1.5: Giá bán thương phẩm đá cấp phối 0-4 tại bãi khai thác Đvt: đồng/m 3
Nguồn gốc Loại đá Đá khu vực
Bà Đội Đá khu vực
Cô Tô Đá Antraco Đá cấp phối (0 x 4) loại I (Dmax
133,400 120,000 150,000 Đá cấp phối (0 x 4) loại I (Dmax 25) - 128,000 158,000 Đá cấp phối (0 x 4) loại II - 103,000 122,000
[Nguồn: Công bố giá VLXD trên địa bàn tỉnh An Giang tháng 9/2014 – Liên Sở
Xây dựng & Sở Tài chính]
Tình hình sản xuất, cung cấp ở nhà máy xi măng An Giang ( ACIFA)
1.3.1 Giới thiệu chung về nhà máy xi măng An Giang
- Nhà máy xi măng An Giang là doanh nghiệp nhà nước, được thành lập, xây dựng và sản xuất kinh doanh từ năm 1978 đến nay
Năm 1995, nhà máy được thành lập trực thuộc Công ty Xây lắp An Giang và chịu sự chỉ đạo trực tiếp từ Ban Tổng Giám Đốc Hiện tại, số lượng cán bộ công nhân viên (CB.CNV) trong toàn nhà máy là 146 người, chiếm 20% tổng số CB.CNV của toàn Công ty.
2010 Công ty Xây lắp An Giang chuyển thành Công ty TNHH MTV Xây lắp An Giang
Nhà máy xi măng An Giang đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng nhà ở và bê tông hóa đường giao thông nông thôn tại Đồng Bằng Sông Cửu Long, đồng thời mở rộng thị trường sang Campuchia Nhiều công trình trọng điểm tại tỉnh An Giang, như dự án kiểm soát lũ Nam Vàm Nao, Đài PTTH An Giang, khách sạn Hòa Bình 2, Trường cao đẳng Nghề An Giang, và Dự án nhà ở xã hội, đều được xây dựng với sự hỗ trợ của nhà máy này.
An Giang Góp phần đáng kể vào uy tín thương hiệu đáp ứng yêu cầu “ Công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước”
Nhà máy xi măng An Giang chuyên sản xuất các sản phẩm xi măng Pooclang hỗn hợp PCB30 và PCB40, đồng thời đã nghiên cứu và phát triển sản phẩm mới PCB50 từ năm 2013 Nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm, nhà máy cam kết thực hiện chính sách chất lượng với tiêu chí “Chất lượng – Dịch vụ – Hiệu quả” Sản phẩm xi măng Pooclang hỗn hợp ACIFA mang nhãn hiệu 2 Sư Tử PCB30 và PCB40 được sản xuất theo tiêu chuẩn TCVN 6260:2009, phù hợp với hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế ISO 9001:2008 và luôn được cải tiến liên tục.
- Bốn dây chuyền công nghệ nghiền xi măng được đầu tư từ Trung Quốc và
Châu Âu sở hữu công suất 16 tấn/giờ/máy với 06 xe nâng và 03 xe xúc để phục vụ cấp liệu, đảo kho và xếp kho xi măng thành phẩm Hệ thống 06 xe tải chuyên chở hàng hóa đảm bảo phục vụ khách hàng hiệu quả Ngoài ra, hệ thống băng tải xuất thủy công suất trên 80 tấn/giờ cùng với một số phương tiện vận chuyển thuê ngoài giúp đáp ứng kịp thời nhu cầu xuất xi măng hàng ngày cho khách hàng.
- Sáu nhà cung cấp chính, chuyên cung cấp các loại nguyên liệu quan trọng phục vụ cho quá trình sản xuất:
+ DIC Sài Gòn: Cung cấp Clinker, thạch cao
+ Công ty TNHH Minh Phú, Tafico: Cung cấp chất trợ nghiền, Clinker
+ Công ty CP Khoáng sản Hiệp Lực: Cung cấp đá Puzolan
+ Công ty TNHH TMDV Nhật Trúc: Cung cấp đá vôi
+ Xí nghiệp bao bì An Giang: Cung cấp vỏ bao xi măng
+ Công ty Cơ khí Đông Anh: Cung cấp bi đạn, tấm lót
Với sự gia tăng nhu cầu phát triển cơ sở hạ tầng và theo chủ trương của Chính phủ, thị trường xi măng đang trở nên cạnh tranh khốc liệt hơn với sự ra đời của nhiều nhà máy và trạm nghiền mới Nhà máy xi măng An Giang, một trạm nghiền có quy mô trung bình tại khu vực phía Nam, nhận thức rõ cần có chiến lược cạnh tranh hợp lý để đối phó với các đối thủ như Công ty liên doanh xi măng Holcim, Công ty cổ phần xi măng Vicent 2, Công ty cổ phần xi măng Tây Đô, Công ty cổ phần xi măng Sadico Cần Thơ, và ba trạm nghiền xi măng vừa và nhỏ tại huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang.
1.3.2 Mục tiêu chiến lƣợc hoạt động của nhà máy
Là một doanh nghiệp nhà nước uy tín trong lĩnh vực sản xuất, nhà máy không ngừng tìm kiếm cơ hội kinh doanh để phát triển mạnh mẽ Để đạt được mục tiêu chiến lược, nhà máy đã xây dựng các chiến lược cụ thể nhằm thúc đẩy sự lớn mạnh trong hoạt động kinh doanh.
1.3.2.1 Tập trung vào thị trường:
- Sản lượng tiêu thụ sản phẩm tăng hàng năm, đến năm 2014 đạt sản lượng tiêu thụ 274.000 tấn ( trong năm 2014)
- Doanh thu tăng hàng năm, năm 2014 doanh thu đạt 314,961 tỷ đồng ( trong năm 2014)
- Xây dựng thương hiệu xi măng ACIFA ngang tầm với các nhà máy trong khu vực ( từ năm 2010)
- Nghiên cứu phát triển sản phẩm mới PCB50( từ năm 2013)
1.3.2.2 Tập trung vào khách hàng:
- Mở rộng đối tượng tiêu thụ đến người tiêu dùng ở thị trường nội địa và nước ngoài ( từ năm 2012)
Để duy trì sự cạnh tranh trên thị trường, việc ổn định chất lượng sản phẩm là rất quan trọng Điều này bao gồm cải tiến mẫu mã bao bì và đảm bảo giao hàng kịp thời.
1.3.2.3.Tập trung vào nguồn lực:
- Đào tạo nguồn nhân lực có tay nghề và trình độ chuyên môn cao ( từ năm
- Mức thu nhập của CB.CNV tăng hàng năm ( từ năm 2011)
- Tăng năng suất nghiền, giảm chi phí ( từ năm 2012)
Từ năm 2011, nhà máy đã chú trọng vào việc đánh giá và lựa chọn nhà cung cấp nguyên vật liệu, đồng thời cải thiện môi trường, góp phần nâng cao uy tín và chất lượng thương hiệu sản phẩm.
1.3.3 Một số kết quả đạt đƣợc
1.3.3.1 Kết quả về sản phẩm:
Với phương thức kinh doanh linh hoạt, chất lượng sản phẩm ổn định và giá cả cạnh tranh hợp lý, chúng tôi đáp ứng mọi nhu cầu của khách hàng Nhờ đó, sản phẩm xi măng của chúng tôi ngày càng được thị trường tin tưởng, dẫn đến số lượng khách hàng ngày càng tăng.
Mặc dù lợi nhuận hàng năm của nhà máy sản xuất xi măng có sự biến động do tình hình kinh tế toàn cầu, nhưng với quyết tâm và tinh thần đoàn kết, sản phẩm xi măng ACIFA vẫn duy trì chất lượng ổn định.
Bảng 1.6: Số liệu về tính ổn định của xi măng PCB40
TT CHỈ TIÊU KIỂM SOÁT NĂM
4 Độ ổn định thể tích (mm) 1,0 0,4 0,7
[Nguồn: Báo cáo giới thiệu doanh nghiệp nhà máy xi măng An Giang]
Bảng 1.7: Bảng số liệu kết quả sản xuất xi măng từ năm 2011 đến 2013
Sản lượng sản xuất ( tấn) 227.974 220.357 253.944
[Nguồn: Báo cáo giới thiệu doanh nghiệp nhà máy xi măng An Giang]
1.3.3.2 Kết quả định hướng vào khách hàng
Để mở rộng thị phần, nhà máy chú trọng lắng nghe và nghiên cứu kỹ lưỡng các yêu cầu của khách hàng, từ đó xây dựng kế hoạch điều chỉnh phù hợp Đối với những khu vực chưa có khách hàng, nhà máy tăng cường tiếp thị và quảng cáo qua các kênh truyền hình, tờ rơi và hoạt động tiếp thị tại chỗ Tại các khu vực đã thâm nhập, nhà máy nâng cao chăm sóc khách hàng thông qua việc gọi điện hỏi thăm, tặng quà như áo mưa, áo thun và sổ ghi chép, đồng thời thường xuyên thăm các cửa hàng để mở rộng sự hiện diện Nhờ đó, thương hiệu ACIFA ngày càng được khách hàng tin tưởng.
Từ năm 2011 đến 2012, xi măng ACIFA đã được công nhận là hàng Việt Nam chất lượng cao Kể từ tháng 9 năm 2012, nhà máy đã bắt đầu xuất khẩu sản phẩm sang thị trường Campuchia, góp phần mở rộng thị phần của mình.
Hình 1.1: Biểu đồ tỷ trọng thị trường xi măng An Giang từ năm 2012 – 2013
Hình 1.2: Biểu đồ sản lượng xi măng An Giang các năm 2011, 2012, 2013
- Giá bán: không ngừng cải thiện, tiết kiệm chi phí, nâng cao chất lượng
Xi măng ACIFA đang ngày càng thể hiện khả năng cạnh tranh vượt trội so với các sản phẩm khác, nhờ vào quá trình điều tra và thu thập ý kiến từ khách hàng.
Từ năm 2011 đến 2013, doanh thu của ngành xi măng tăng trưởng ổn định nhờ vào sự gia tăng số lượng khách hàng Tuy nhiên, năm 2012, thị trường gặp khó khăn do giá nguyên liệu đầu vào và lãi suất ngân hàng tăng cao, trong khi giá bán không tăng đáng kể, tạo áp lực lớn cho các nhà máy Đến năm 2013, thị trường phục hồi, lãi suất giảm và nỗ lực cải tiến của nhà máy đã giúp hoạt động kinh doanh hiệu quả, tạo nền tảng vững chắc cho những năm tiếp theo.
Bảng 1.8: Số liệu về doanh thu – lợi nhuận – nộp ngân sách của nhà máy xi măng
Nộp ngân sách Triệu đồng 4.120 5.169 5.096
[Nguồn: Báo cáo giới thiệu doanh nghiệp nhà máy xi măng An Giang]
1.3.3.3 Các danh hiệu, giải thưởng đạt được trong các năm qua:
- Giấy chứng nhận hệ thống quản lý chất lượng phù hợp tiêu chuẩn
TCVN.ISO 9001:2008 do tổ chức Quacer cấp năm 2012
- Giấy chứng nhận sản phẩm phù hợp TCVN 6260:2009 do tổ chức Quacer cấp năm 2012
- Giấy chứng nhận đạt danh hiệu Hàng Việt Nam Chất Lượng Cao năm 2012 do người tiêu dùng bình chọn
- Giấy chứng nhận đạt giải thưởng Quốc gia năm 2011 năm 2011 do Bộ
Khoa học Công nghệ cấp năm 2011
- Cúp vàng Vietbuilt năm 2011, 2012 ngành Xây dựng Việt Nam do Ban tổ chức triển lãm Quốc tế Vietbuilt cấp
- Cúp vàng Thương hiệu Việt năm 2011 do Ban tổ chức chương trình bình chọn sản phẩm Thương hiệu Việt uy tín cấp
NGHIÊN CỨU VẬT LIỆU CẤP PHỐI ĐÁ DĂM GIA CỐ XI MĂNG DÙNG
Yêu cầu chung đối với áo đường
Áo đường là công trình được xây dựng từ nhiều lớp vật liệu khác nhau, chịu tác động của tải trọng xe và các yếu tố thiên nhiên như mưa, gió, và sự thay đổi nhiệt độ Do đó, việc thiết kế và xây dựng áo đường cần phải đáp ứng các yêu cầu nhất định để đảm bảo độ bền và an toàn.
Áo đường cần có cường độ đủ mạnh để chống lại biến dạng thẳng đứng, biến dạng trượt và biến dạng co dãn do kéo uốn hoặc thay đổi nhiệt độ Hơn nữa, cường độ của áo đường phải ổn định và ít bị ảnh hưởng bởi điều kiện thời tiết và khí hậu.
Mặt đường cần đạt độ bằng phẳng nhất định để giảm sức cản lăn và giảm sóc cho xe, từ đó nâng cao tốc độ di chuyển, tiết kiệm nhiên liệu và kéo dài tuổi thọ của xe, giảm chi phí vận tải Để đảm bảo độ bằng phẳng, cần nghiên cứu lựa chọn kết cấu tầng mặt phù hợp và áp dụng các biện pháp kỹ thuật hiệu quả trong quá trình thi công.
Bề mặt áo đường cần có độ nhám đủ để tăng cường hệ số bám giữa bánh xe và mặt đường, giúp xe di chuyển an toàn ở tốc độ cao và dừng nhanh khi cần thiết Để đạt được độ nhám này, việc nghiên cứu và lựa chọn kết cấu tầng mặt phù hợp trong thiết kế là rất quan trọng.
Áo đường cần được thiết kế để sản sinh ít bụi nhất có thể, vì bụi không chỉ làm giảm tầm nhìn mà còn gây ảnh hưởng xấu đến hành khách và hàng hóa, đồng thời góp phần gây ô nhiễm môi trường.
Cấu tạo kết cấu áo đường
Cấu tạo của kết cấu áo đường hoàn chỉnh gồm có tầng mặt và tầng móng, mỗi tầng lại có thể gồm nhiều lớp vật liệu:
Tầng mặt của đường phải chịu tác động trực tiếp từ tải trọng xe và các yếu tố thiên nhiên như mưa, gió, và thay đổi nhiệt độ Để đảm bảo an toàn và hiệu quả trong suốt thời gian sử dụng, tầng mặt cần có độ bền cao, bề mặt bằng phẳng, độ nhám phù hợp, khả năng chống thấm nước, chống nứt, chịu mài mòn tốt, không tạo bụi và ít bong bật.
Tầng móng nằm ở dưới cùng, có vai trò quan trọng trong việc phân bố ứng suất từ tải trọng xe xuống nền đường Vật liệu sử dụng cho tầng móng có thể là loại rời rạc, nhưng cần đảm bảo độ cứng nhất định để duy trì tính ổn định.
Có thể sắp xếp các lớp vật liệu với cường độ giảm dần theo chiều sâu, phù hợp với biểu đồ phân bố ứng suất từ tải trọng bánh xe lên nền đường, giúp tận dụng hiệu quả vật liệu tại chỗ.
Cấp phối đá dăm dùng trong xây dựng đường ô tô hiện nay ở Việt Nam
Cấp phối đá dăm (CPĐD) là hỗn hợp cốt liệu được sản xuất từ dây chuyền nghiền đá hoặc sỏi, với cấu trúc hạt theo nguyên lý cấp phối chặt liên tục Loại vật liệu này rất phù hợp và thường được sử dụng trong xây dựng móng đường ô tô.
Cỡ hạt lớn nhất danh định, ký hiệu là D max, là đường kính lớn nhất quy ước của một loại CPĐD Cỡ hạt danh định này thường nhỏ hơn so với đường kính của cỡ hạt lớn nhất tuyệt đối, và tỷ lệ hàm lượng lọt qua sàng tương ứng với cỡ hạt danh định thường chiếm từ 75-95%.
CPĐD hoạt động theo nguyên lý cấp phối, trong đó cốt liệu bao gồm nhiều cỡ hạt khác nhau được phối hợp theo tỷ lệ nhất định Sau khi lu lèn, hỗn hợp vật liệu đạt được độ chặt cao, từ đó tăng cường độ của lớp vật liệu Để nâng cao cường độ, có thể trộn thêm các chất liên kết vô cơ hoặc hữu cơ, tạo ra các lớp mặt đường có cường độ cao như bê tông xi măng và bê tông nhựa.
CPĐD dùng làm móng đường được chia làm hai loại: CPĐD loại I và loại II
+ CPĐD loại I: là cấp phối cốt liệu khoáng mà tất cả các cỡ hạt được nghiền từ đá nguyên khai
CPĐD loại II là loại cấp phối cốt liệu khoáng được chế biến từ đá nguyên khai hoặc sỏi cuội, trong đó kích thước hạt nhỏ hơn 2,36 mm có thể bao gồm khoáng vật tự nhiên không nghiền, nhưng không vượt quá 50% tổng khối lượng CPĐD Đối với CPĐD nghiền từ sỏi cuội, ít nhất 75% số hạt trên sàng 9,5 mm phải có từ hai mặt vỡ trở lên.
2.2.3 Các tính chất chủ yếu của cấp phối đá dăm
Cấp phối đá dăm phải có thành phần hạt nằm trong vùng giới hạn của đường bao cấp phối quy định ở bảng sau:
Bảng 2.1: Thành phần hạt của cấp phối đá dăm
Kích cỡ mắt sàng vuông, mm
Tỷ lệ lọt sàng, % theo khối lƣợng CPĐD có cỡ hạt danh định Dmax
CPĐD có cỡ hạt danh định Dmax
CPĐD có cỡ hạt danh định Dmax
[Nguồn: Bảng 1, trang 7, TCVN 8859:2011 - Lớp móng cấp phối đá dăm trong kết cấu áo đường ô tô]
Việc lựa chọn loại CPĐD (theo cỡ hạt lớn nhất danh định Dmax) phải căn cứ vào chiều dày thiết kế của lớp móng:
+ CPĐD loại Dmax = 37.5mm thích hợp dùng cho lớp móng dưới
+ CPĐD loại D = 25mm thích hợp cho lớp móng trên
+ CPĐD loại Dmax = 19mm thích hợp dùng cho việc bù vênh và tăng cường trên các kết cấu mặt đường cũ trong nâng cấp cải tạo
2.2.3.2 Các chỉ tiêu cơ lý của cấp phối đá dăm
Các chỉ tiêu cơ lý của vật liệu CPĐD được quy định như sau
Bảng 2.2: Chỉ tiêu cơ lý của vật liệu CPĐD
Chỉ tiêu Cấp phối đá dăm
Los-Angeles của cốt liệu (LA), %
2 Chỉ số sức chịu tải CBR tại độ chặt
IP x % lượng lọt qua sàng 0,075 mm)
6 Hàm lượng hạt thoi dẹt 3) , % ≤ 18 ≤ 20 TCVN 7572 - 2006
1) Giới hạn chảy, giới hạn dẻo được xác định bằng thí nghiệm với thành phần hạt lọt qua sàng 0,425 mm
2) Tích số dẻo PP có nguồn gốc tiếng Anh là Plasticity Product
3) Hạt thoi dẹt là hạt có chiều dày hoặc chiều ngang nhỏ hơn hoặc bằng 1/3 chiều dài; Thí nghiệm được thực hiện với các cỡ hạt có đường kính lớn hơn 4,75 mm và chiếm trên 5 % khối lượng mẫu;
Hàm lượng hạt thoi dẹt của mẫu lấy bằng bình quân gia quyền của các kết quả đã xác định cho từng cỡ hạt
[Nguồn: Bảng 2, trang 8, TCVN 8859:2011 - Lớp móng cấp phối đá dăm trong kết cấu áo đường ô tô]
2.2.4 Các ƣu, nhƣợc điểm và phạm vi sử dụng của cấp phối đá dăm trong công tác xây dựng đường
- Cường độ khá cao: với cấp phối đá dăm loại I (CPĐD loại 1), Eđh = 250 -
300 Mpa ; với cấp phối đá dăm loại II (CPĐD loại 2), Eđh = 200 - 250 MPa
- Có thể cơ giới hoá toàn bộ từ khâu sản xuất đến thi công
- Ổn định với lực đẩy ngang, tức đá ít bị bong bật, hơn so với mặt đường đá dăm nước rất nhiều
- Đỡ tốn công lu lèn hơn mặt đường đá dăm nước Nhưng khi lu lèn phải rất chú ý lu cấp phối ở độ ẩm tốt nhất
- Rất dễ phân tầng trong thi công do vậy đòi hỏi kỹ thuật thi công cao (có các biện pháp chống phân tầng trong thi công)
Mặc dù kém ổn định với nước hơn so với mặt đường đá dăm nước, nhưng khi được lu lèn chặt, khả năng ổn định của nó đối với nước cũng tương đối cao.
Việc chế tạo cấp phối đá dăm yêu cầu vật liệu chất lượng cao và cần được thực hiện trong các xí nghiệp với dây chuyền công nghệ hiện đại, dẫn đến giá thành sản phẩm tương đối cao.
Mặt đường dễ bị bào mòn do tải trọng bánh xe, gây ra bụi trong thời tiết khô hanh Khi trời mưa, đất dính bị rửa trôi làm đá bong bật, tạo ra các ổ gà và khiến mặt đường hỏng hóc, kém bằng phẳng.
CPĐD loại I được áp dụng làm lớp móng trên và có thể làm móng dưới tùy thuộc vào yếu tố kinh tế và kỹ thuật trong kết cấu áo đường mềm với tầng mặt loại A1, A2 theo tiêu chuẩn 22TCN 211-06, hoặc làm lớp móng trên theo tiêu chuẩn 22TCN 274 - 01.
CPĐD loại II được áp dụng làm lớp móng dưới cho kết cấu áo đường với tầng mặt loại A1, đồng thời cũng được sử dụng làm lớp móng trên cho tầng mặt loại A2 hoặc B1 theo tiêu chuẩn 22TCN.
211 - 06 hoặc làm lớp móng dưới theo 22TCN 274 - 01
Cả hai loại CPĐD loại I và loại II đều có thể được sử dụng làm lớp móng dưới cho kết cấu áo đường cứng (bê tông xi măng) Đặc biệt, CPĐD loại I có thể làm lớp móng trên cho mặt đường bê tông xi măng khi chỉ có xe tải trọng trục nặng dưới 80kN hoạt động, với tổng số lần trục xe thông qua không vượt quá 1x10^6 lần trục tương đương 80kN trong suốt thời gian khai thác.
Hình 2.1: Sử dụng lớp móng bằng cấp phối đá dăm trong xây dựng đường
(Hạng mục đường dẫn vào cầu Cựu Hội – ĐT.942)
2.2.4 Tình hình sử dụng hiện nay
Năm 1993, Transmeco đã thực hiện nghiên cứu và sản xuất CPĐD theo tiêu chuẩn AASHTO, theo chỉ đạo của Bộ Giao thông vận tải, nhằm thay thế công nghệ sử dụng đá hộc làm móng đường.
Sản phẩm CPĐD đã được thử nghiệm trong thi công công trình đường cao tốc Bắc Thăng Long - Nội Bài dài 28km, và sau đó được chính thức áp dụng để xây dựng Quốc lộ 5 cùng các Quốc lộ khác tại Việt Nam.
Việc sử dụng CPĐD trong thi công giúp nâng cao chất lượng móng đường và tăng cường cơ giới hóa, từ đó rút ngắn thời gian thi công Bộ Giao thông Vận tải đã áp dụng tiêu chuẩn này cho hầu hết các công trình đường quốc lộ và tỉnh lộ Hiện nay, xu hướng chuyển đổi từ các loại mặt đường truyền thống sang vật liệu CPĐD đang gia tăng, nhờ vào khả năng đảm bảo chất lượng và dễ dàng kiểm tra trong quá trình thi công.
Trước những năm 2000, An Giang chủ yếu sử dụng đá hộc và cấp phối Tà Pạ cho móng đường Tuy nhiên, từ năm 2000 trở đi, lớp cấp phối đá dăm đã trở nên phổ biến hơn trong các công trình giao thông Việc áp dụng vật liệu này hiện đang cần được nghiên cứu để tìm ra các giải pháp sử dụng bền vững trong tương lai.
Cấp phối đá dăm có gia cố xi măng trong xây dựng móng và mặt đường
2.3.1 Khái niệm Đá dăm hoặc sỏi cuội gia cố xi măng được hiểu là một hỗn hợp cốt liệu khoáng chất có cấu trúc thành phần hạt theo nguyên lý cấp phối chặt, liên tục (trong đó kích thước cỡ hạt cốt liệu lớn nhất Dmax = 37,5 mm hoặc 25 mm) đem trộn với xi măng theo một tỷ lệ nhất định rồi lu lèn chặt ở độ ẩm tốt nhất trước khi xi măng ninh kết Và được gọi chung là lớp cấp phối đá gia cố xi măng
Vật liệu đá gia cố xi măng nói trên có thể là các loại sau:
- Loại được nghiền toàn bộ (đá dăm hoặc sỏi cuội nghiền)
- Loại nghiền một phần (có lẫn các thành phần hạt không nghiền như cát thiên nhiên )
- Loại không nghiền (sỏi, cuội, cát thiên nhiên)
2.3.2 Nguyên lý hình thành cường độ
Nguyên lý “cấp phối” là quá trình hình thành cường độ thông qua sự thủy hóa của xi măng và sự kết tinh liên kết giữa các cốt liệu đá, tạo ra một khối vững chắc với cường độ cao, có khả năng chịu nén và uốn tốt.
Khi nhào trộn xi măng với nước, ở giai đoạn đầu xảy ra quá trình tác dụng nhanh của alit với nước tạo ra hyđrosilicat canxi và hyđroxit canxi
2(3CaO.SiO2) + 6H2O = 3CaO.2SiO2.3H2O + 3Ca(OH)2
Vì đã có hyđroxit canxi tách ra từ alit nên belit thủy hóa chậm hơn alit và tách ra ít Ca(OH)2 hơn:
Phản ứng hóa học giữa 2(2CaO.SiO2) và 4H2O tạo ra 3CaO.2SiO2.3H2O và Ca(OH)2 cho thấy sự hình thành hyđrosilicat canxi khi thủy hóa hoàn toàn đơn khoáng Silicat tricanxi đạt trạng thái cân bằng với dung dịch bảo hòa hyđroxit canxi, phụ thuộc vào tỷ lệ thành phần vật liệu và các điều kiện rắn chắc Pha aluminat tricanxi 3CaO.Al2O3 trong xi măng là pha hoạt động nhất, và khi trộn với nước, bề mặt hạt xi măng hình thành lớp sản phẩm xốp không bền với các tinh thể dạng tấm mỏng lục giác của 4CaO.Al2O3.9H2O và 2CaO.Al2O3.8H2O Cấu trúc xốp này làm giảm độ bền nước của xi măng, trong khi sản phẩm phản ứng ổn định nhanh với nước là hyđroaluminat 6H2O với tinh thể hình lập phương (3CaO.Al2O3.6H2O).
Để làm chậm quá trình ninh kết khi nghiền clinke, cần thêm 3 – 5% đá thạch cao (CaSO4) so với khối lượng của xi măng Sunfat canxi đóng vai trò là chất hoạt động hóa học, tác dụng với aluminat tricanxi để tạo thành sunfoaluminat canxi ngậm nước, hay còn gọi là khoáng etringit.
3CaO.Al2O3 + 3(CaSO4.2H2O) + 26H2O = 3CaO.Al2O3.3CaSO4.32H2O
2(3CaO.Al2O3)+3CaO.Al2O3.3CaSO4.32H2O+22H2O=3(3CaO.Al2O3.CaSO4.18 H2O)
Feroaluminat tetracanxi tác dụng với nước tạo ra hyđroaluminat và hyđroferitcanxi
4CaO.Al2O3.Fe2O3 + nH2O = 3CaO.Al2O3.6H2O + CaO.Fe2O3.nH2O (*)
Hyđroferit sẽ nằm lại trong thành phần của gen xi măng, còn hyđroaluminat sẽ lại tác dụng với thạch cao như phản ứng (*)
2.4.2.2 Quá trình rắn chắc của xi măng
Theo thuyết Baikov – Rebinđer, quá trình rắn chắc của xi măng được chia thành ba giai đoạn:
Giai đoạn hòa tan diễn ra khi xi măng được nhào trộn với nước, trong đó các thành phần khoáng của clinke tương tác với nước trên bề mặt hạt xi măng Các sản phẩm mới như \$Ca(OH)_2\$ và \$3CaO.Al_2O_3.6H_2O\$ sẽ được hình thành và hòa tan Tuy nhiên, độ hòa tan không cao và do lượng nước có hạn, dung dịch nhanh chóng trở về trạng thái bão hòa.
Trong giai đoạn hóa keo, trong dung dịch quá bão hòa, các sản phẩm như Ca(OH)2 và 3CaO.Al2O3.6H2O sẽ không tăng thêm mà tồn tại ở trạng thái keo Các sản phẩm etringit không tan vẫn duy trì ở thể keo phân tán Nước tiếp tục bay hơi và phản ứng với xi măng, dẫn đến sự hình thành các sản phẩm mới, làm tăng tỷ lệ rắn/lỏng Hỗn hợp dần mất tính dẻo, và các sản phẩm ở thể keo liên kết với nhau tạo thành thể ngưng keo.
Trong giai đoạn kết tinh, nước trong thể ngưng keo tiếp tục bay hơi, dẫn đến sự hình thành ngày càng nhiều sản phẩm mới Những sản phẩm này kết tinh thành các tinh thể và chuyển sang thể liên tinh, làm cho toàn bộ hệ thống trở nên cứng cáp hơn và tăng cường độ.
Quá trình rắn chắc của xi măng chủ yếu diễn ra thông qua sự thủy hóa của các khoáng vật khi xi măng được trộn với nước.
2CaO.SiO2 + mH2O = 2CaO.SiO2.mH2O 3CaO.SiO2 + nH2O = Ca(OH)2 + 2CaO.SiO2.(n-1)H2O 3CaO.Al2O3 + 6H2O = 3CaO.Al2O3.6H2O 4CaO.Al2O3.Fe2O3 + nH2O = 3CaO.Al2O3.6H2O + CaO.Fe2O3.nH2O
Sau quá trình thủy hóa rắn chắc của xi măng, các sản phẩm chính được hình thành bao gồm: Ca(OH)2, 2CaO.SiO2.mH2O, 3CaO.Al2O3.6H2O và CaO.Fe2O3.nH2O.
2.3.3 Ƣu nhƣợc điểm, phạm vi sử dụng cấp phối đá dăm gia cố xi măng
- Cường độ khá cao (tuỳ thuộc vào cường độ chịu nén ở 28 ngày tuổi):
+ Cường độ chịu nén 28 ngày tuổi ≥4 Mpa; Eđh = 600 - 800 MPa
+ Cường độ chịu nén 28 ngày tuổi ≥2 Mpa; Eđh = 400 - 500 MPa
- Có khả năng chịu uốn, có tính ổn định nước cao
- Có thể sử dụng các vật liệu địa phương (cấp phối sỏi cuội) nên giá thành rẻ
- Có thể cơ giới hoá toàn bộ khâu thi công
- Yêu cầu phải có thiết bị thi công chuyên dụng
Thời gian thi công bị giới hạn bởi thời gian ninh kết của xi măng, thường không quá 2 giờ Để khắc phục vấn đề này, có thể sử dụng chất phụ gia làm chậm ninh kết, giúp thuận lợi hơn cho việc thi công CP đá gia cố xi măng Tuy nhiên, việc lựa chọn loại chất phụ gia cụ thể cần phải được xác định thông qua các thí nghiệm.
- Không thông xe được ngay sau khi thi công
2.3.3.3 Phạm vi sử dụng Đặc điểm chung của loại mặt đường này là có tính dòn cao, không chịu được tác dụng của lực xung kích Do vậy cấp phối đá gia cố xi măng thường được áp dụng làm lớp móng trên hoặc móng dưới trong kết cấu áo đường ô tô hay trong kết cấu tầng phủ của sân bay Nếu làm lớp mặt thì phải làm lớp láng nhựa trên mặt Để bảo đảm cho lớp kết cấu cấp phối đá gia cố xi măng duy trì được tính toàn khối và vững bền lâu dài, phải tránh sử dụng chúng trên các đoạn nền có khả năng lún sau khi xây dựng áo đường xong
2.3.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến cường độ cấp phối đá gia cố xi măng
Vật liệu đá gia cố xi măng có thể được phân loại thành ba loại: nghiền toàn bộ (đá dăm hoặc sỏi cuội nghiền), nghiền một phần (bao gồm các thành phần hạt không nghiền như cát thiên nhiên), hoặc không nghiền (sỏi, cuội, cát thiên nhiên) Hỗn hợp vật liệu đá được lựa chọn dựa trên qui luật cấp phối nhất định cho vật liệu nghiền và nghiền một phần, hoặc theo cấp phối thiên nhiên cho sỏi cuội.
Khi gia cố xi măng, các hạt nhỏ trong hỗn hợp cấp phối đá đóng vai trò quan trọng trong việc thay đổi tính chất cơ lý Với tỷ diện lớn nhất, các hạt này ảnh hưởng đáng kể đến quá trình đông cứng và cường độ của hỗn hợp vật liệu Để đạt được độ rỗng tối thiểu, thành phần hạt của hỗn hợp cần gần giống với thành phần hạt của hỗn hợp có cấp phối tốt nhất Nếu thiếu hạt nhỏ, việc sử dụng xi măng để lấp đầy các lỗ rỗng sẽ tốn kém, trong khi nếu kiểm soát lượng xi măng sử dụng, độ rỗng sẽ tăng, dẫn đến cường độ giảm và khả năng ổn định kém khi tiếp xúc với nước.
Theo nghiên cứu, hỗn hợp đá dăm và đá sỏi có thành phần cấp phối tối ưu với hệ số khối lượng giảm dần K = 0.6 - 0.7 thường được sử dụng để gia cố xi măng.
Cường độ của hỗn hợp cấp phối đá gia cố xi măng phụ thuộc vào thành phần khoáng vật của đá, với độ cứng hình thành từ sự tác dụng hóa lý phức tạp giữa đá và xi măng Vữa xi măng được nén chặt và đông cứng thành đá xi măng trên bề mặt phân giới giữa hai vật liệu, tạo thành lớp đá xi măng dày khoảng 20 - 30 micron bám chắc trên các hạt đá Đá xi măng đạt cường độ lớn nhất khi sử dụng các loại đá như thạch anh, labrođo, và microclin Tuy nhiên, việc sử dụng các loại đá cứng này để gia cố xi măng thường không mang lại hiệu quả kinh tế cao.
Thí nghiệm trong phòng vật liệu cấp phối đá dăm ở gia cố xi măng
Theo TCVN 8858:2011 thì hàm lượng xi măng dùng để gia cố có thể chọn từ 3% đến 6% sao cho thỏa mãn về cường độ chịu nén và ép chẻ
Xác định mô đun đàn hồi (E vl) và cường độ kéo uốn (R ku) của vật liệu cấp phối đá dăm 0-4 gia cố xi măng với hàm lượng từ 3% đến 6% là cần thiết trong phòng thí nghiệm Các thông số này đóng vai trò quan trọng trong việc kiểm toán kết cấu áo đường sử dụng lớp cấp phối đá dăm gia cố xi măng.
2.4.2 Lựa chọn và lấy mẫu vật liệu
2.4.2.1 Cấp phối đá dăm 0-4 (loại 1)
Hiện nay, việc khai thác và sử dụng vật liệu cấp phối đá dăm tại tỉnh đang được chú trọng, đặc biệt là trong quá trình đánh giá chất lượng thi công của các nhà thầu Đá Antraco, do công ty liên doanh Antraco khai thác, được các nhà đầu tư và nhà thầu ưa chuộng, mặc dù giá thành cao hơn so với các mỏ đá khác.
Vật liệu được thu thập từ mỏ khai thác, với mẫu được lấy từ các bãi đá CPĐD đã được nghiền sàng và pha trộn Quá trình lấy mẫu diễn ra bằng cách san gạt lớp bề mặt và sử dụng xẻng để lấy mẫu ở độ sâu tối thiểu 20cm Mẫu đá được lấy từ 4 vị trí khác nhau trên một đống đá CPĐD, sau đó trộn lại thành một mẻ đá có khối lượng yêu cầu, đóng vào thùng hoặc túi để bảo quản và đưa về phòng thí nghiệm.
Hình 2.2: Lấy mẫu vật liệu cấp phối đá dăm 0-4 Antraco
2.4.2.2 Xi măng dùng để gia cố
Sử dụng xi măng PCB40 do nhà máy xi măng An Giang, thuộc công ty TNHH MTV Xây lắp An Giang sản xuất, là lựa chọn tối ưu cho các công trình xây dựng Xi măng này được mua từ cửa hàng chuyên cung cấp vật liệu xây dựng, đảm bảo chất lượng và độ bền cho công trình.
Hình 2.3: Xi măng An Giang PCB40 – ACIFA
- Các chỉ tiêu kiểm soát xi măng thành phẩm của nhà máy xi măng ACIFA loại PCB.40 trong tháng 7/2014 như sau
Bảng 2.6: Chỉ tiêu kiểm soát xi măng thành phẩm
CHỈ TIÊU KIỂM SOÁT KẾT QUẢ TIÊU CHUẨN
≥ 2700 Độ ổn định thể tích (mm) 0,80 ≤ 10
[ Nguồn: Phiếu kiểm tra chất lượng xi măng thành phẩm tháng 7 năm 2015 – nhà máy xi măng An Giang]
2.4.3 Kiểm tra các chỉ tiêu cơ lý của cấp phối đá dăm 0-4 (theo yêu cầu trong TCVN 8858:2011)
- Vật liệu sau khi lấy từ mỏ khai thác về phòng thí nghiệm được sấy khô bằng tủ sấy ở nhiệt độ 105 0 c đến khối lượng không đổi
Lấy mẫu theo phương pháp chia tư, cân 10 kg cấp phối đá dăm 0-4 Sau đó, sàng qua bộ sàng tiêu chuẩn theo thứ tự kích thước mắt sàng từ lớn đến nhỏ: 37,5 - 31,5 - 25 - 19 - 9,5 - 4,75 - 2,36 - 0,425 và 0,075, theo quy định trong TCVN 8858:2011.
- Cân lượng sót trên từng sàng, chính xác đến 1 g
Hình 2.4: Thí nghiệm thành phần hạt
Kết quả thí nghiệm: lọt trong đường bao cấp phối, phiếu kết quả thí nghiệm ở phần phụ lục đính kèm
2.4.3.2 Xác định độ hao mòn khi va đập của cốt liệu lớn trong máy Los Angeles (theo TCVN 7572-12:2006) Độ hao mòn là tổn thất khối lượng của các hạt cốt liệu khi bị va đập và mài mòn trong thùng quay đựng mẫu cốt liệu và bi thép, tính bằng phần trăm khối lượng
Máy Los Angeles được thiết kế với kết cấu bằng thép, hình ống trụ rỗng, có hai đầu bịt kín và cửa vững chắc để đưa cốt liệu vào Thiết bị này sử dụng 12 viên bi thép, mỗi viên nặng 390g, để thực hiện quá trình va đập.
Cho mẫu thử và các viên bi thép vào máy thử, quay 500 vòng với tốc độ 30 vòng/phút Sau đó, lấy vật liệu ra và sàng qua sàng lớn hơn 1,7 mm để loại bỏ hạt to Phần lọt sàng tiếp tục được sàng trên sàng 1,7 mm Tất cả cốt liệu trên sàng 1,7 mm được rửa sạch, sấy khô và cân lại Phần lọt sàng 1,7 mm được xem là tổn thất khối lượng của mẫu sau thí nghiệm Độ hao mòn khi va đập (H m) được tính bằng phần trăm khối lượng hao hụt giữa mẫu trước và sau khi thử, theo công thức.
Trong đó: m: là khối lượng mẫu ban đầu, tính bằng gam (g); m 1 : là khối lượng mẫu sau khi thử, tính bằng gam (g) m 100 m
Hình 2.5: Thí nghiệm chỉ tiêu mài mòn LA Bảng 2.7: Kết quả thí nghiệm chỉ tiêu LA (chi tiết xem phiếu kết quả thí nghiệm ở phần phụ lục)
Khối lƣợng mẫu ban đầu theo cỡ hạt,
Tổng khối lƣợng mẫu ban đầu,
Khối lƣợng mẫu sau mài mòn,
Theo TCVN 8858:2011, vật liệu hạt CPĐD dùng để gia cố xi măng làm lớp móng phải đảm bảo chỉ tiêu Los Angeles (LA) không vượt quá 35% Đối với lớp móng dưới, yêu cầu này có thể lên đến 45%, miễn là không tiếp xúc trực tiếp với bề mặt của lớp kết cấu áo đường.
Như vậy cấp phối đá 0-4 Antraco đạt yêu cầu về chỉ tiêu độ mài mòn LA
2.4.3.3 Xác định hàm lượng hạt thoi dẹt trong cốt liệu lớn (TCVN 7572-13:2006)
Mẫu cấp phối đá dăm 0-4 được sấy khô và sàng qua bộ sàng tiêu chuẩn để phân loại cốt liệu lớn thành các kích cỡ hạt Cần chọn những hạt có chiều dày hoặc chiều ngang nhỏ hơn hoặc bằng 1/3 chiều dài Để xác định chính xác, sử dụng thước kẹp đo chiều dài viên đá và kiểm tra xem chiều dày hoặc chiều ngang có lọt qua khe d hay không Những hạt nào lọt qua khe d sẽ được coi là hạt thoi dẹt Cuối cùng, tiến hành cân các hạt thoi dẹt và các hạt còn lại.
Hình 2.6: Sàng cấp phối và tách lựa những hạt thoi dẹt
Hàm lượng hạt thoi dẹt của mỗi cỡ hạt trong cốt liệu lớn (T d ), tính bằng phần trăm khối lượng, theo công thức
Trong đó: m 1 : là khối lượng các hạt thoi dẹt, tính bằng gam (g) m 2 : là khối lượng các hạt còn lại, tính bằng gam (g)
Kết quả hàm lượng hạt thoi dẹt của mẫu là trung bình cộng theo quyền (bình quyền) của các kết quả đã xác định cho từng cỡ hạt m 100 m
Hình 2.7: Cân xác định lượng hạt thoi dẹt trên các mắc sàng
Bảng 2.8: Kết quả thí nghiệm hàm lượng hạt thoi dẹt (chi tiết xem phiếu kết quả thí nghiệm ở phần phụ lục)
Tích lũy trên từng sàng, (%)
Hàm lựng hạt thoi dẹt, (%)
Bình quyền, Ban đầu Sau TN Hạt thoi (%) dẹt
Theo TCVN 8858:2011, tỷ lệ thoi dẹt không được vượt quá 18% theo TCVN 7572-13:2006 Do đó, cấp phối đá 0-4 Antraco đáp ứng tiêu chuẩn về độ hàm lượng hạt thoi dẹt.
2.4.4 Thí nghiệm đầm nén tiêu chuẩn xác định độ ẩm (w 0 ) và khối lƣợng thể tích khô lớn nhất ( k max )
Mỗi loại vật liệu cụ thể yêu cầu thực hiện thí nghiệm đầm nén trong phòng theo một trong bốn phương pháp được quy định trong quy trình thi công nghiệm thu.
Do vật liệu có dưới 30% hạt trên sàng 19,0 mm, phương pháp đầm nén cải tiến với cối lớn (phương pháp II-D) được áp dụng Trong phương pháp này, hạt trên sàng 19,0 mm được gọi là hạt quá cỡ, trong khi hạt lọt sàng 19,0 mm được gọi là hạt tiêu chuẩn.
Sấy hỗn hợp cấp phối đá dăm qua sàng 19mm để loại bỏ các hạt lớn, chỉ giữ lại những hạt lọt qua sàng Tiến hành thí nghiệm đầm nén theo tiêu chuẩn TCVN 333-06 nhằm xác định độ ẩm tối ưu và khối lượng thể tích khô lớn nhất cho từng hàm lượng gia cố Hàm lượng xi măng được sử dụng để gia cố là 3%, 4% và 5%.
Phối trộn khô hỗn hợp vật liệu cấp phối đá với xi măng, sau đó thực hiện phối trộn ướt bằng cách kiểm soát lượng nước xịt vào Đối với mỗi hàm lượng xi măng gia cố, tiến hành đầm 5 cối với lượng nước khống chế tăng dần, đảm bảo độ ẩm giữa các mẫu dao động từ 1% đến 1,5%.