Do đó muốn nâng cao năng lực của mình để có thể đứng vững trên trong nền kinh tế thị trường như hiện nay thì các công ty phải sử dụng có hiệu quả tất cả nguồn lực của mình đặc biệt là ng
Trang 1Bộ GIáO dục và đào tạo
============
NGUYễN THị THU VÂN
Một số giảI pháp nâng cao hiệu quả
Sử DụNG VốN TạI CÔNG TY Cổ PHầN THIếT Kế Và XÂY DựNG MINH ĐứC
Luận VĂN THạC Sĩ
TP HỒ CHÍ MINH – 2017
Trang 2Bộ GIáO dục và đào tạo
============
NGUYễN THị THU VÂN
Một số giảI pháp nâng cao hiệu quả
Sử DụNG VốN TạI CÔNG TY Cổ PHầN THIếT Kế Và XÂY DựNG MINH ĐứC
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công
bố trước đây
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thu Vân
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn Thầy TS Phạm Phú Cường - Trưởng Khoa Vận tải Kinh tế - Trưởng Bộ môn Kinh tế xây dựng – Phân hiệu Trường Đại học Giao thông vận tải tại Thành phố Hồ Chí Minh đã tận tình hướng dẫn tôi trong quá trình thực hiện luận văn này Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới Công ty Cổ phần Thiết
kế và Xây dựng Minh Đức, bạn bè, đồng nghiệp; cảm ơn bộ môn, nhà trường đã giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi trong quá trình thu thập tài liệu cũng như kiến thức để hoàn thành luận văn
Do kiến thức, kinh nghiệm cũng như khả năng phân tích, tổng hợp và lý luận còn nhiều hạn chế nên luận văn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhận được sự góp ý để luận văn được hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn /
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC BẢNG BIỂU vi
DANH MỤC HÌNH vii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT viii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ VỐN VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP XÂY DỰNG GIAO THÔNG 3
1.1 Vốn và tầm quan trọng của vốn trong hoạt động sản xuất kinh doanh 3
1.1.1 Khái niệm, tầm quan trọng của vốn trong sản xuất kinh doanh 3
1.1.2 Đặc trưng của vốn sản xuất kinh doanh 4
1.1.3 Phân loại vốn sản xuất kinh doanh 5
1.1.4 Cơ cấu của vốn sản xuất kinh doanh 6
1.2 Vốn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp xây dựng giao thông 7
1.2.1 Đặc điểm kinh tế - kỹ thuật của sản xuất xây dựng công trình giao thông 7
1.2.2 Đặc điểm của vốn sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp xây dựng giao thông 11
1.2.3 Phân loại vốn sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp xây dựng giao thông 12
1.3 Hiệu quả sử dụng vốn và các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp xây dựng 15
1.3.1 Khái niệm hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp 15
1.3.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn sản xuất kinh doanh 15
1.3.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn của các doanh nghiệp xây dựng công trình giao thông 34
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN CỦA CÔNG
Trang 6TY CỔ PHẦN THIẾT KẾ VÀ XÂY DỰNG MINH ĐỨC 41
2.1 Giới thiệu chung về công ty Cổ phần Thiết kế và Xây dựng Minh Đức 41
2.1.1 Giới thiệu khái quát về công ty 41
2.1.2 Các lĩnh vực kinh doanh chủ yếu 41
2.1.3 Cơ cấu tổ chức công ty 42
2.1.4 Giới thiệu về năng lực nhân sự 45
2.1.5 Khái quát tình hình sản xuất kinh doanh của công ty Cổ phần Thiết kế và Xây dựng Minh Đức giai đoạn 2014-2016 45
2.2 Phân tích thực trạng sử dụng vốn của công ty Cổ phần Thiết kế và Xây dựng Minh Đức 48
2.2.1 Phân tích về quy mô và cơ cấu tài sản của công ty 48
2.2.2 Phân tích về qui mô và cơ cấu nguồn vốn của công ty 50
2.2.3 Thực trạng sử dụng vốn của công ty Cổ phần Thiết kế và Xây dựng Minh Đức 52
2.3 Một số nguyên nhân cơ bản dẫn đến giảm hiệu quả sử dụng vốn của công ty Cổ phần Thiết kế và Xây dựng Minh Đức 73
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN THIẾT KẾ VÀXÂY DỰNG MINH ĐỨC 77
3.1 Định hướng nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của Công ty Cổ phần Thiết kế và Xây dựng Minh Đức 77
3.1.1 Định hướng phát triển công ty đến năm 2020 77
3.1.2 Quan điểm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của công ty 77
3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của Công ty Cổ phần Thiết kế và Xây dựng Minh Đức 78
3.2.1 Giải pháp chung để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của Công ty Cổ phần Thiết kế và Xây dựng Minh Đức 78 3.2.2 Giải pháp cụ thể để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của Công ty Cổ
Trang 7phần và Thiết kế Xây dựng Minh Đức 87
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 94 TÀI LIỆU THAM KHẢO 96
Trang 8DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1: Tóm tắt các chỉ tiêu phân tích hiệu quả sử dụng vốn 20Bảng 1.2: Tóm tắt các các chỉ tiêu đánh giá tình hình sử dụng của từng loại vốn của doanh nghiệp 25Bảng 1.3: Tóm tắt các các chỉ tiêu bổ sung 32Bảng 2.1: Bảng tổng hợp nhân sự của công ty 45Bảng 2.2: Tổng hợp kết quả sản xuất kinh doanhcủa công tygiai đoạn 2014-
2016 46Bảng 2.3: Quy mô và cơ cấu tài sản của công ty giai đoạn 2014-2016 48Bảng 2.4: Tình hình nguồn vốn của công ty giai đoạn 2014 – 2016 51Bảng 2.5: Phân tích đánh giá tổng quát hiệu quả sử dụng vốn của công tygiai đoạn 2014-2016 53Bảng 2.6: Một số chỉ tiêu tổng quát đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động 58Bảng 2.7: Vòng quay hàng tồn kho giai đoạn 2014-2016 61Bảng 2.8: Bảng một số chỉ tiêu đánh giá khả năng thanh toán của công ty giai đoạn 2014-2016 63Bảng 2.9: Bảng một số chỉ tiêu tổng hợp đánh giá hiệu quả sử dung vốn cố định của công ty giai đoạn 2014-2016 68Bảng 2.10: Kết cấu tài sản cố định của công ty giai đoạn 2014-2016 72Bảng 2.11: Kết cấu nguồn vốn đầu tư cho tài sản cố định 73
Trang 9DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1: Phân loại vốn trong doanh nghịêp 14
Hình 2.1: Biểu đồ kết quả sản xuất kinh doanh của công tygiai đoạn 2014-2016 46
Hình 2.2: Hiệu suất sử dụng vốn của công ty giai đoạn 2014-2016 54
Hình 2.3: Suất sinh lợi của tổng vốn 55
Hình 2.4: Suất sinh lợi vốn chủ sở hữu của công ty giai đoạn 2014-2016 56
Hình 2.5: Hệ số sinh lợi trên vốn cổ phần của công ty giai đoạn 2014-2016 56 Hình 2.6: Hiệu suất sử dụng vốn cổ phần của công ty giai đoạn 2014-2016 57 Hình 2.7: Hiệu suất sử dụng vốn lưu động của công ty giai đoạn 2014-2016 59 Hình 2.8: Hệ số sinh lời vốn lưu động của công ty giai đoạn 2014-2016 60
Hình 2.9: Mức đảm nhiệm vốn lưu động của công ty giai đoạn 2014-2016) 61 Hình 2.10: Tỷ suất nợ phải thu/Tổng tài sản của công ty giai đoạn 2014-2016 65
Hình 2.11: Hệ số khả năng thanh toán của công ty giai đoạn 2014-2016 65
Hình 2.12: Hiệu suất sử dụng vốn cố định của công ty giai đoạn 2014-2016 69 Hình 2.13: Hiệu suất sử dụng tài sản cố định của công tygiai đoạn 2014-2016 69
Hình 2.14: Hàm lượng vốn cố định của công ty giai đoạn 2014-2016 70
Hình 2.15: Hệ số sinh lợi vốn cố định của công ty giai đoạn 2014-2016 71
Hình 2.16: Hệ số sinh lợi tài sản cố định của công ty giai đoạn 2014-2016 71
Hình 2.17: Tỷ suất đầu tư tài sản cố định của công ty giai đoạn 2014-2016 72
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Vốn là một trong những nhân tố đầu vào của quá trình sản xuất trong đó vốn sản xuất kinh doanh đóng vai trò quan trọng Cùng với quá trình phát triển kinh tế thì các công ty nói chung và đặc biệt là các công ty xây dựng công trình giao thông đặc biệt quan tâm đến yếu tố vốn sản xuất kinh doanh vì
tính chất đặc thù của ngành
Do đó muốn nâng cao năng lực của mình để có thể đứng vững trên trong nền kinh tế thị trường như hiện nay thì các công ty phải sử dụng có hiệu quả
tất cả nguồn lực của mình đặc biệt là nguồn vốn sản xuất kinh doanh
Chính vì thế tôi đã chọn đề tài một số biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của Công ty Cổ phần Thiết kế và Xây dựng Minh Đứcđể làm đề tài luận văn thạc sĩ Đề tài có ý nghĩa thiết thực về mặt thực tiễn đối với hoạt
động sản xuất kinh doanh của công ty
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Hệ thống cơ sở lý luận về vốn, hiệu quả sử dụng vốn ở công ty nói chung
và ở các công ty xây dựng công trình giao thông nói riêng Từ đó làm cơ sở
để đánh giá thực trạng hiệu quả sử dụng vốn của Công ty Cổ phần Thiết kế và Xây dựng Minh Đức và đưa ra các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử
dụng vốn sản xuất kinh doanh
3 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Vốn và hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp xây
dựng giao thông
4 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu: phân tích, đánh giá thực trạng hiệu quả sử dụng vốn ở Công ty Cổ phần Thiết kế và Xây dựng Minh Đứctừ năm 2014-2016, từ đó
đưa ra các biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của công ty
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp so sánh, thống kê, phân tích Ngoài ra luận
Trang 12văn còn sử dụng phương pháp điều tra thu thập thông tin
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài Mở đầu, kết luận và kiến nghị, tài liệu tham khảo, luận văn kết cấu gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận chung về vốn và hiệu quả sử dụng vốn trong
các doanh nghiệp xây dựng giao thông
Chương 2: Phân tích đánh giá thực trạng hiệu quả sử dụng vốn tại Công
ty Cổ phần Thiết kế và Xây dựng Minh Đức
Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại
Công ty Cổ phần Thiết kế và Xây dựng Minh Đức
Trang 13CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ VỐN VÀ HIỆU QUẢ
SỬ DỤNG VỐN SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA
DOANH NGHIỆPXÂY DỰNG GIAO THÔNG 1.1 Vốn và tầm quan trọng của vốn trong hoạt động sản xuất kinh doanh
1.1.1 Khái niệm, tầm quan trọng của vốn trong sản xuất kinh doanh
Theo Luật Doanh nghiệp định nghĩa thì: “Doanh nghiệp là chủ thể kinh tế độc lập, có tư cách pháp nhân, thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh trên thị trường nhằm mục đích tối đa hóa giá trị tài sản của chủ sở hữu”
Như vậy, doanh nghiệp (DN) là một tổ chức kinh doanh nhằm mục đích sinh lời và được pháp luật thừa nhận, được phép kinh doanh trên một số lĩnh vực nhất định, có từ một chủ sở hữu trở lên, có tên gọi riêng, có trụ sở giao dịch ổn định
Đối với các doanh nghiệp thì hoạt động chính là sản xuất kinh doanh Khi tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh thì doanh nghiệp cần phải có các yếu
tố đầu vào cần thiết như: Tư liệu lao động, đối tượng lao động, sức lao động Nói cách khác, hoạt động của doanh nghiệp bao gồm tất cả các nghiệp vụ kinh tế phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh từ khâu mua các yếu tố đầu vào, dự trữ, sản xuất và tiêu thụ Những hoạt động của doanh nghiệp có thể được chia thành các lĩnh vực: Sản xuất, tiếp thị bán hàng, quản lý tài chính Tất cả hoạt động trên thì doanh nghiệp luôn luôn bị chi phối bởi các quy luật của thị trường như quy luật cạnh tranh, quy luật cung – cầu, quy luật giá trị, ngoài ra doanh nghiệp còn chịu tác động bởi sự chi phối của cơ chế quản lý kinh tế tài chính do chính phủ quy định trong từng thời kỳ [5]
Để tiến hành sản xuất kinh doanh thì doanh nghiệp cần đến vốn và vốn có
ý nghĩa quyết định tới mọi khâu của quá trình sản xuất kinh doanh.Theo lý thuyết kinh tế cổ điển thì vốn là một trong các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất kinh doanh, là các sản phẩm được sản xuất ra để phục vụ cho quá trình sản xuất.Theo quan điểm này thì vốn chỉ được xem xét dưới góc độ là hiện vật
Trang 14Tuy nhiên khi nền kinh tế đã chuyển sang cơ chế thị trường thì vốn là yếu
tố rất quan trọng để các doanh nghiệp tiến hành sản xuất kinh doanh Doanh nghiệp được toàn quyền sử dụng linh hoạt vốn và nó được xem như một quỹ tiền tệ đặc biệt do đó việc quản lý và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn là việc làm cần thiết
Vậy vốn sản xuất kinh doanh là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản của doanh nghiệp dùng cho sản xuất kinh doanh bao gồm những tài sản hiện vật hữu hình và những tài sản vô hình Và sau mỗi chu trình sản xuất thì số vốn nói trên được đúc kết vào trong sản phẩm Vì thế khi sản phẩm được đem ra thị trường hàng hóa để tiêu thụ thì các hình thái khác nhau của tiền được quay
về trạng thái tiền tệ ban đầu
Vốn sản xuất kinh doanh có tầm quan trọng rất lớn trong doanh nghiệp bởi
vì vốn là yếu tố quyết định tới sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Bất
kỳ doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển đều phải quan tâm đến vấn đề huy động vốn, quản lý vốn sao cho có hiệu quả nhất, nhằm đem lại doanh thu và lợi nhuận cao nhất cho mình Doanh nghiệp muốn quy mô càng lớn thì lượng vốn phải càng nhiều Và khi các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh trong điều kiện nền kinh tế thị trường ngày càng khốc liệt thì nhu cầu vốn càng tăng lên, đòi hỏi các doanh nghiệp phải huy động nguồn vốn từ bên trong, bên ngoài và sử dụng đồng vốn sao cho có hiệu quả cao nhất Do đó việc quản lý vốn trở thành vấn đề hết sức quan trọng trong hệ thống quản lý tài chính, điều hành các hoạt động sử dụng vốn và phát triển nguồn vốn Nếu việc phân bổ nguồn vốn hợp lý có thể tránh tình trạng dư thừa, lãng phí, thất thoát nguồn vốn, làm ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất của doanh nghiệp Nếu doanh nghiệp có sự quản lý vốn hợp lý thì sẽ giúp giảm những rủi ro trong quá trình thanh toán và giúp cho doanh nghiệp sử dụng vốn có hiệu quả hơn, đảm bảo sự phát triển bền vững của mình
1.1.2 Đặc trưng của vốn sản xuất kinh doanh
Doanh nghiệp muốn việc quản lý và sử dụng vốn hiệu quả thì cần phải
Trang 15nắm bắt những đặc trưng chủ yếu của vốn sản xuất kinh doanh sau:
- Vốn phải đại diện cho một lượng hàng hóa nhất định tức là phải được đảm bảo bằng một lượng tài sản có thật
- Vốn phải được tích tụ và tập trung đến một quy mô nhất định đủ để tiến hành kinh doanh, lúc vốn mới đủ khả năng phát huy tác dụng
- Khi vốn đã có đủ về lượng thì vốn phải được vận động nhằm mục đích cuối cùng là sinh lời
- Vốn phải có giá trị về mặt thời gian nghĩa là một đồng vốn trong thời điểm hiện tại phải có giá trị khác với một đồng vốn ở thời điểm khác, đó chính là giá trị thời gian của vốn
- Vốn phải được gắn với chủ sở hữu nhất định và phải có sự quản lý vốn một cách hiệu quả Nếu như tồn tại những đồng vốn không gắn với chủ sở hữu thì dễ dàng xuất hiện việc sử dụng vốn kém hiệu quả, lãng phí, thất thoát vốn
- Vốn phải được coi là một hàng hóa đặc biệt vì nó có giá trị và giá trị sử dụng như mọi hàng hóa khác
- Vốn sản xuất kinh doanh phải bao gồm giá trị của tài sản hữu hình và vô hình
1.1.3 Phân loại vốn sản xuất kinh doanh
Phân loại vốn sản xuất kinh doanh là yêu cầu cơ bản của công tác quản lý vốn và tùy theo mục đích và đối tượng nghiên cứu mà ta có nhiều cách phân loại cho phù hợp [3]
1.1.3.1 Phân loại vốn theo hình thái biểu hiện
- Vốn bằng tiền là các khoản vốn tiền tệ như tiền mặt tồn quỹ của doanh nghiệp, tiền gửi ngân hàng, vốn trong thanh toán, các khoản đầu tư ngắn hạn khác,…
- Vốn hiện vật bao gồm tài sản cố định (TSCĐ), nguyên vật liệu, sản phẩm
dở dang, thành phẩm,…
1.1.3.2 Phân loại theo phương thức luân chuyển của vốn
- Vốn cố định(VCĐ) là biểu hiện bằng giá trị của tài sản cố định Trong đó
tài sản cố định là những tư liệu lao động như máy móc, thiết bị, nhà xưởng tham gia vào quá trình sản xuất Các doanh nghiệp khi bước vào hoạt
Trang 16động sản xuất kinh doanh đều phải ứng trước một lượng tiền tệ để mua sắm tài sản cố định và số tiền này được gọi là vốn cố định Do đó sự luân chuyển của vốn cố định sẽ phụ thuộc vào đặc điểm vận động của tài sản cố định Đối với tài sản cố định thì do có giá trị lớn nên tài sản cố định thường có thời gian
sử dụng lâu, tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh, giá trị hao mòn tài sản cố định được phân bổ trong nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh Vậy vốn cố định là một bộ phận quan trọng và không thể thiếu trong vốn sản xuất,
nó có thể tham gia vào toàn bộ hoặc một phần vào quá trình sản xuất
- Vốn lưu động (VLĐ) là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản lưu động nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được tiến hành thường xuyên, liên tục Sự vận động của vốn lưu động phụ thuộc vào sự vận động của tài sản lưu động.Vốn lưu động tham gia vào quá trình sản xuất
và có nhiều hình thái biểu hiện khác nhau Theo kinh tế chính trị học thì hình thái ban đầu là tiền sau đó chuyển sang hình thái dự trữ vật tư hàng hóa rồi trở lại với hình thái tiền tệ ban đầu Do quá trình sản xuất diễn ra liên tục, không
bị gián đoạn nên vốn lưu động cũng phải vận động không ngừng Vậy vốn lưu động là một trong hai yếu tố quan trọng của vốn sản xuất kinh doanh Mặc dù vốn lưu động có nhiều hình thức khác nhau nhưng để cho quá trình sản xuất diển ra liên tục thì doanh nghiệp phải xác định được cơ cấu vốn lưu động phù hợp, đồng bộ, đảm bảo đủ vốn lưu động trong quá trình sản xuất kinh doanh
1.1.4 Cơ cấu của vốn sản xuất kinh doanh
Cơ cấu vốn là thuật ngữ dùng để chỉ một doanh nghiệp sử dụng các nguồn vốn khác nhau với tỷ lệ nào đó của mỗi nguồn vốn để tài trợ cho tổng tài sản của nó.Mỗi nguồn vốn phải đánh đổi một khoản chi phí để huy động và sử dụng Để huy động, quản lý, sử dụng các nguồn vốn có hiệu quả thì doanh nghiệp cần phải cân nhắc và xây dựng một cấu trúc vốn một cách có hiệu quả phù hợp với tình hình, tính chất đặc thù của doanh nghiệp, phù hợp với từng giai đoạn để giảm chi phí sử dụng vốn và tối đa hóa hiệu quả cho doanh nghiệp
Cơ cấu vốn sản xuất kinh doanh ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn
Trang 17trong doanh nghiệp vì nó có liên quan đến chi phí.Nếu doanh nghiệp có được
cơ cấu vốn hợp lý thì nó cũng là một trong những nhân tố dẫn đến sự thành công của doanh nghiệp Đặc trưng cơ bản của cơ cấu vốn doanh nghiệp là do được cấu thành bởi vốn dài hạn, ổn định, thường xuyên trong doanh nghiệp Đây là số vốn chủ yếu được dùng để tài trợ cho các quyết định đầu tư dài hạn của doanh nghiệp.Việc lựa chọn một cơ cấu vốn hợp lý có ảnh hưởng quan trọng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Có rất nhiều yếu tố tác động đến cơ cấu vốn do đó không có một cơ cấu vốn tối ưu cho một doanh nghiệp trong mọi chu kỳ sản xuất kinh doanh Tức
là khi nghiên cứu cơ cấu vốn của doanh nghiệp phải nghiên cứu trong trạng thái động chứ không thể nghiên cứu trong trạng thái tĩnh
Việc xác định một cơ cấu vốn hợp lý là mục tiêu của nhà quản lý doanh nghiệp vì nó có ảnh hướng đến việc sử dụng vốn huy động có hiệu quả Nhiệm vụ của nhà quản lý doanh nghiệp là phải đảm bảo tỷ lệ thích hợp giữa vốn cố định tham gia trực tiếp hoặc không trực tiếp vào quá trình sản xuất kinh doanh, đảm bảo tính cân đối của vốn cố định và vốn lưu động trong tổng nguồn vốn kinh doanh, cân đối giữa các yếu tố sản xuất, cân đối giữa nợ trên nguồn vốn chủ sở hữu để doanh nghiệp có thể chủ động vốn trong quá trình sản xuất kinh doanh Một cơ cấu vốn tối ưu là một cơ cấu vốn hướng tới sự cân bằng giữa rủi ro và lãi suất, giúp doanh nghiệp tiết kiệm được chi phí vốn, tăng lợi nhuận, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
1.2 Vốn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp xây dựng giao thông
1.2.1 Đặc điểm kinh tế - kỹ thuật của sản xuất xây dựng công trình giao thông
Xây dựng giao thông là một chuyên ngành của xây dựng cơ bản, xây dựng giao thông mang tính chất của một ngành sản xuất vật chất, nó bao gồm các đặc điểm sau [3]:
1.2.1.1 Đặc điểm của sản phẩm xây dựng giao thông
- Sản phẩm xây dựng giao thông có tính chất đơn chiếc: Khác với sản phẩm của ngành khác thì sản phẩm xây dựng giao thông thường được sản
Trang 18xuất theo đơn đặt hàng đơn chiếc, được sản xuất ra ở những địa điểm, điều kiện khác nhau, chi phí cũng thường khác nhau đối với từng loại hình sản phẩm Do đó doanh nghiệp phải có những lượng vốn khác nhau đáp ứng yêu cầu xây dựng đối với từng công trình nghĩa là đòi hỏi doanh nghiệp cần phải
có lượng vốn linh hoạt cho từng loại công trình Ngoài ra do nguồn vốn phân
bổ cho từng công trình riêng biệt nên việc quản lý vốn không được chồng chéo mà yêu cầu phải có sự rõ ràng, minh bạch cho từng công trình cụ thể
- Sản phẩm xây dựng được sản xuất tại nơi sẽ tiêu thụ nó: Các công trình được thi công tại một địa điểm mà nơi đó đồng thời gắn liền với việc tiêu thụ và thực hiện giá trị sử dụng của sản phẩm Địa điểm tiêu thụ sản phẩm do người chủ sở hữu quyết định Do đó nếu định được nơi tiêu thụ sản phẩm thì cũng xác định được nơi sản xuất sản phẩm, vì thế vốn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp phải đảm bảo luân chuyển từ khâu dự trữ, khâu sản xuất để quá trình sản xuất được diễn ra suôn sẻ, kéo theo việc quản lý vốn phải được tiến hành một cách thường xuyên, liên tục trong từng khâu sản xuất của doanh nghiệp
- Sản phẩm của xây dựng giao thông chịu ảnh hưởng của điều kiện địa lý,
tự nhiên, kinh tế - xã hội của nơi tiêu thụ Chính những đặc điểm này đã chi phối tới việc thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh có liên quan như: Khảo sát,thiết kế, lựa chọn phương án thi công, kết cấu công trình, điều kiện mặt bằng thi công…Đặc điểm này ảnh hưởng lớn đến yếu tố vốn của doanh nghiệp Doanh nghiệp phải chuẩn bị một lượng vốn dự phòng để ứng phó với những thay đổi bất thường xảy ra do yếu tố khách quan tác động Ngoài ra, việc thi công ngoài trời trong điều kiện thời tiết thay đổi có thể làm cho máy móc, thiết bị của doanh nghiệp có thời gian sử dụng ngắn đi vì vậy doanh nghiệp phải có chính sách duy trì và bổ sung đối với những tài sản cố định phục vụ cho quá trình xây dựng
- Thời gian sử dụng dài, trình độ kỹ thuật và mỹ thuật cao: Khác với sản phầm thông thường thì sản phẩm xây dựng thường yêu cầu độ bền vững, thời gian sử dụng sản phẩm thường rất lớn Thời gian xây dựng kéo dài nên nhiệm
Trang 19vụ sửa chữa thường xuyên, sửa chữa lớn, cải tạo và mở rộng là một nhu cầu tất yếu và đòi hỏi phải dành một khoản chi phí rất lớn, tốc độ quay vòng vốn chậm.Ngoài ra, do yêu cầu trình độ kỹ thuật, mỹ thuật cao dẫn đến doanh nghiệp phải đầu tư nhiều máy móc, thiết bị hiện đại để đáp ứng yêu cầu đó.Vì vậy, doanh nghiệp phải dự tính lượng vốn cần thiết để đáp ứng yêu cầu đặt ra cho từng công trình Do đó công tác huy động vốn phải được đặt ra để doanh nghiệp có đủ vốn thi công những công trình theo yêu cầu của chủ đầu tư
- Chi phí để sản xuất ra sản phẩm lớn và khác biệt cho từng công trình: Do
đó phương thức đấu thầu được sử dụng để lựa chọn đơn vị xây dựng Vậy, doanh nghiệp muốn thắng thầu bắt buộc doanh nghiệp phải có năng lực mạnh,
uy tín trên thị trường cũng như nắm trong tay nguồn vốn linh hoạt để có thể ứng vốn trong trường hợp chủ đầu tư chưa giải ngân vốn, tránh tình trạng chậm tiến độ thi công cũng như sự biến động của thị trường Đối với đặc điểm này thì công tác quản lý vốn của doanh nghiệp phải thật chặt chẽ, tránh tình trạng thất thoát vốn trong quá trình sản xuất, phải có sự kết hợp từ công trường đến các phòng quản lý để đảm bảo tính chặt chẽ, logic
Tính chất đơn chiếc và chịu ảnh hưởng của nơi xây dựng làm cho chi phí sản xuất từng sản phẩm xây dựng giao thông rất khác biệt vì ngay cùng một sản phẩm có kết cấu kiến trúc giống nhau thì cũng có sự khác biệt về chi phí sản xuất và giá thành, việc xác định chi phí và giá thành phải được tiến hành riêng biệt đối với từng sản phẩm cũng như khả năng xây dựng các định mức chi phí cho sản phẩm xây dựng giao thông cũng gặp nhiều khó khăn
1.2.1.2 Đặc điểm kinh tế kỹ thuật của sản xuất xây dựng giao thông
Do sản phẩm xây dựng giao thông có những đặc điểm riêng biệt nên sản xuất xây dựng giao thông cũng có những đặc điểm riêng của nó
Một là, sản xuất xây dựng chỉ được tiến hành khi có đơn đặt hàng tức là hợp đồng xây dựng của người mua sản phẩm.Nó không thể sản xuất khi chưa
có người đặt mua hàng, và sau khi sản phẩm hoàn thành thì không cần thiết phải tìm thị trường để tiêu thụ mà sản xuất xây dựng chỉ tiến hành khi chủ đầu
Trang 20tư chấp nhận và ký hợp đồng giao nhận thầu Trong quá trình thi công công trình được thực hiện với sự tham gia giám định kỹ thuật của chủ đầu tư Với đặc điềm này thì lượng vốn mà doanh nghiệp sử dụng thường được tạm ứng
từ chủ đầu tư, mặc khác trong trường hợp vốn chưa giải ngân kịp thì doanh nghiệp phải chủ động trong công tác huy động vốn để đảm bảo công trình thi công theo đúng tiến độ đề ra Ngoài ra doanh nghiệp còn phải có chính sách đầu tư mua sắm máy móc thi công để nâng cao năng lực hoạt động để có thể thắng thầu cũng như tránh tình trạng ứ động vốn [4]
Hai là, quá trình sản xuất di động, hệ số biến động lớn: Sản phẩm xây dựng gắn với nơi tiêu thụ nên địa điểm xây dựng không ổn định thậm chí trải dài theo tuyến dẫn đến việc di chuyển về lao động, máy móc thiết bị thi công diễn ra liên tục Do đó đòi hỏi phải luôn chú ý tính cơ động trong doanh nghiệp về mặt trang bị tài sản cố định, lực chọn hình thức tổ chức quản lý và chỉ đạo thực hiện kế hoạch tác nghiệp, lựa chọn địa điểm kho trung chuyển vật tư khi thi công nhiều công trình Do đặc thù của quá trình sản xuất nên việc quản lý vốn cũng sẽ được quản lý theo từng công trình, từng khoản mục chi phí để tránh thất thoát vốn trong thi công
Ba là, thời gian xây dựng công trình kéo dài: Điều này hay kéo theo tình trạng ứ đọng vốn sản xuất trong khối lượng thi công dở dang của các doanh nghiệp xây dựng Công tác tổ chức quản lý sản xuất của doanh nghiệp phải chặt chẽ, hợp lý, lựa chọn trình tự thi công phù hợp cho từng công trình.Việc phân công giai đoạn thi công từng công trình nhằm tạo khả năng sử dụng và điều phối hợp lý năng lực sản xuất, thanh toán từng phần khối lượng công tác xây lắp thực hiện và bàn giao đưa vào sử dụng.Đặc điểm này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp, nó có thể làm chậm tốc
độ luân chuyển của đồng vốn, sức sinh lời của vốn sẽ giảm đi
Bốn là, sản xuất tiến hành ngoài trời nên chịu ảnh hưởng điều kiện tự nhiên đến các hoạt động của công nhân và quá trình thực hiện công tác xây lắp vì thế các doanh nghiệp xây dựng thường không lường hết được những
Trang 21khó khăn sinh ra bởi điều kiện thời tiết, khí hậu, môi trường tự nhiên Do đó làm cho hiệu quả lao động giảm xuống Một số giai đoạn của quá trình sản xuất bị gián đoạn, ảnh hưởng đến tiến độ thi công công trình và giá trị công tác xây lắp
Năm là, kỹ thuật thi công phức tạp, trang bị kỹ thuật tốn kém: Vấn đề trang bị kỹ thuật của sản xuất xây dựng giao thông nhiều khi đòi hỏi những máy móc kỹ thuật phức tạp, hiện đại, đắt tiền điều đó đòi hỏi doanh nghiệp phải có sự tính toán cụ thể, so sánh lựa chọn phương án để đảm bảo hiệu quả sản xuất kinh doanh Vậy doanh nghiệp phải tính toán lựa chọn hình thức sử dụng vốn phù hợp với khả năng hiện có
1.2.2 Đặc điểm của vốn sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp xây dựng giao thông
Vốn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp xây dựng giao thông là biểu biện bằng tiền của toàn bộ tài sản được đầu tư vào sản xuất kinh doanh nhằm mục đích sinh lời
Ngoài những đặc điểm chung của vốn sản xuất kinh doanh thì vốn sản xuất của doanh nghiệp xây dựng giao thông còn có những đặc điểm sau:
- Vốn được đại diện bằng một lượng giá trị thực của những tài sản được sử dụng để sản xuất ra một lượng giá trị sản phẩm khác Vốn là hàng hóa được biểu hiện dưới dạng nhà xưởng, máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu, chất xám,…
- Vốn phải được vận động sinh lời tức là vốn được biểu hiện bằng tiền nhưng để biến vốn thành tiền thì phải vận động sinh lời
- Vốn phải gắn với chủ sở hữu nhất định nghĩa là mỗi đồng tiền phải gắn với chủ sở hữu nhất định Khi xác định được chủ sở hữu thì đồng tiền mới sử dụng tiết kiệm có hiệu quả
- Vốn phải được quan niệm là một loại hàng hóa đặc biệt Những người có vốn có thể đưa vốn vào thị trường, những người cần tới vốn, tới thị trường vay nghĩa là người đi vay vốn được quyền sử dụng vốn của người sở hữu hay quyền sở hữu của đồng vốn không di chuyển nhưng quyền sử dụng vốn được
Trang 22di chuyển qua sự vay nợ, người vay phải trả một tỷ lệ lãi suất thỏa thuận với người cho vay
- Vốn không chỉ được biểu hiện ở dạng hữu hình mà còn biểu hiện dưới dạng vô hình Vì thế, các loại tài sản này cần phải được lượng hóa bằng tiền, quy về giá trị.Trong điều kiện cơ chế thị trường phải xem xét giá trị thời gian của tiền vốn, do ảnh hưởng của sự biến động giá cả, lạm phát làm sức mua của đồng tiền ở những thời điểm khác nhau cũng khác nhau
- Vốn sản xuất của doanh nghiệp xây dựng thường bị ứ đọng lâu trong các khối lượng xây dựng dở dang, dẫn đến vốn dễ bị rủi ro theo thời gian Ngoài
ra việc sản xuất được tiến hành thông qua các hợp đồng kinh tế được ký kết giữa chủ đầu tư và nhà thầu Do đó bắt buộc doanh nghiệp phải xây dựng chiến lược huy động và quản lý vốn
Trong nền kinh tế thị trường, phạm trù vốn cần phải được nhận thức một cách phù hợp.Với nhận thức đầy đủ và đúng đắn những đặc trưng của vốn sẽ góp phần giúp doanh nghiệp quản lý và sử dụng vốn có hiệu quả hơn
1.2.3 Phân loại vốn sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp xây dựng giao thông
Trong doanh nghiệp xây dựng thì vốn sản xuất kinh doanh cũng được chia
thành các loại sau:
* Xét theo quá trình hình thành vốn
- Vốn ban đầu hay vốn điều lệ là số vốn mà chủ sở hữu bỏ ra khi mới thành lập Số vốn này lớn hay nhỏ tuỳ thuộc vào loại hình, quy mô…Của từng doanh nghiệp
- Vốn bổ sung là vốn do doanh nghiệp huy động tăng thêm trong quá trình kinh doanh bằng nhiều nguồn khác nhau
* Xét theo nguồn hình thành vốn
- Vốn chủ sở hữu: Là số vốn do chủ sở hữu doanh nghiệp đầu tư vào Nếu
là doanh nghiệp Nhà nước thì là số vốn do nhà nước đầu tư; nếu là công ty cổ phần thì là số vốn do các cổ đông đầu tư; nếu là công ty trách nhiệm hữu hạn
Trang 23là số vốn do các thành viên góp vào,
- Các khoản nợ phải trả: Là số vốn do doanh nghiệp huy động bằng cách đi vay hoặc phát hành trái phiếu và các khoản vốn chiếm dụng
* Xét theo hình thái biểu hiện
- Vốn hữu hình là giá trị của những tài sản vật chất và tài sản tài chính (biểu hiện bằng tiền của các máy móc, thiết bị, nhà cửa, vật kiến trúc, nguyên vật liệu, công cụ,…) mà doanh nghiệp đang nắm giữ để sử dụng vào hoạt
động kinh doanh
- Vốn vô hình là giá trị của những tài sản không tồn tại dưới dạng vật thể, gồm: Danh tiếng doanh nghiệp, nhãn mác sản phẩm, uy tín của doanh nghiệp, tên thương mại, lợi thế kinh doanh, sự trung thành của khách hàng, tài năng của nhà quản lý, trình độ lành nghề của công nhân và các quan hệ bên ngoài doanh nghiệp (hay còn được gọi là vốn quan hệ)
* Xét theo đối tượng đầu tư, thì vốn chia làm hai loại
- Vốn đầu tư bên trong doanh nghiệp tạo nên các tài sản cố định và tài sản lưu động
- Vốn đầu tư bên ngoài doanh nghiệp gồm các khoản đầu tư ngắn hạn và đầu tư dài hạn như góp vốn liên doanh, mua cổ phiếu, trái phiếu của doanh nghiệp khác hay của Nhà nước
* Xét theo công dụng kinh tế
- Vốn cố định là biểu hiện bằng giá trị của tài sản cố định Trong đó tài sản
cố định là những tư liệu lao động như máy móc, thiết bị, nhà xưởng, Tham gia vào quá trình sản xuất.Các doanh nghiệp khi bước vào hoạt động sản xuất kinh doanh đều phải ứng trước một lượng tiền tệ để mua sắm tài sản cố định
và số tiền này được gọi là vốn cố định Do đó sự luân chuyển của vốn cố định
sẽ phụ thuộc vào đặc điểm vận động của tài sản cố định Đối với tài sản cố định thì do có giá trị lớn nên tài sản cố định thường có thời gian sử dụng lâu, tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh, giá trị hao mòn tài sản cố định được phân bổ trong nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh Vậy vốn cố định
Trang 24là một bộ phận quan trọng và không thể thiếu trong vốn sản xuất, nó có thể tham gia vào toàn bộ hoặc một phần vào quá trình sản xuất [6]
- Vốn lưu động là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản lưu động nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được tiến hành thường xuyên, liên tục Sự vận động của vốn lưu động phụ thuộc vào sự vận động của tài sản lưu động Do quá trình sản xuất diễn ra liên tục, không bị gián đoạn nên vốn lưu động cũng phải vận động không ngừng Vậy vốn lưu động là một trong hai yếu tố quan trọng của vốn sản xuất kinh doanh Mặc dù vốn lưu động có nhiều hình thức khác nhau nhưng để cho quá trình sản xuất diển ra liên tục thì doanh nghiệp phải xác định được cơ cấu vốn lưu động phù hợp, đồng bộ, đảm bảo đủ vốn lưu động trong quá trình sản xuất kinh doanh
- Vốn đầu tư tài chính là một bộ phận của vốn kinh doanh của doanh nghiệp được đầu tư ra bên ngoài nhằm mục đích sinh lợi
Trong thực tế, cách phân loại theo công dụng kinh tế được sử dụng khá phổ biến, biểu hiện tương đối rõ nét Theo đó, vốn của doanh nghiệp xây dựng giao thông bao gồm ba thành phần: Vốn cố định, vốn lưu động và vốn đầu tư tài chính
Hình 1.1: Phân loại vốn trong doanh nghịêp
Theo công dụng kinh tế Theo đối tượng đầu tư
Vốn
ban đầu
Vốnbổ sung
Vốn hữu hình
Phân loại vốn trong doanh nghịêp
Theo quá trình
hình thành vốn
Theo nguồn hình thành
Theo hình thái biểu hiện
Vốn đầu tư tài chính
Vốn lưu động
Trang 251.3 Hiệu quả sử dụng vốn và các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp xây dựng
1.3.1 Khái niệm hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp
Khi nền kinh tế thị trường hoạt động thì yếu tố cạnh tranh ảnh hưởng rất lớn đến doanh nghiệp do đó điều mà các nhà lãnh đạo doanh nghiệp quan tâm
là lợi nhuận phải đạt ở mức cao nhất Muốn làm được điều này thì doanh nghiệp phải sử dụng và khai thác có hiệu quả mọi nguồn lực của mình trong
đó việc sử dụng có hiệu quả nguồn vốn của doanh nghiệp là vấn đề đặc biệt quan trọng
Hiệu quả sử dụng vốn sản xuất phản ánh mức độ khai thác sử dụng vốn sản xuất vào quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhằm mục đích cuối cùng là đạt lợi nhuận với chi phí thấp nhất
Hiệu quả sử dụng vốn là chỉ tiêu biểu hiện một mặt của hiệu quả kinh doanh, nó phản ánh trình độ quản lý và sử dụng vốn của doanh nghiệp trong
đó việc tối đa hóa lợi ích hay tối thiểu hóa số vốn sử dụng và thời gian sử dụng theo các điều kiện về nguồn lực xác định phù hợp với mục tiêu kinh doanh của từng doanh nghiệp Do đó để có thể đánh giá hiệu quả sử dụng vốn một cách khách quan và chính xác cần phải kết hợp một cách hệ thống các chỉ tiêu phản ánh quá trình sử dụng vốn trong các khâu, các giai đoạn của quá trình sản xuất kinh doanh, kết quả cuối cùng của toàn bộ quá trình đó
Việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn là cần thiết vì nó xuất phát từ tầm quan trọng của vốn trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, ngoài ra nó còn là yêu cầu của việc quản lý, bảo toàn vốn
1.3.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn sản xuất kinh doanh
Để có thể đánh giá hiệu quả sử dụng vốn sản xuất kinh doanh thì thường
sử dụng phương pháp phân tích và lấy nguồn số liệu để phân tích là báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp thì thường sử dụng các chỉ tiêu đánh giá tổng quát tình hình sử dụng vốn và tài sản của doanh nghiệp
Trang 26hoặc các chỉ tiêu đánh giá từng bộ phận của vốn và tài sản của doanh nghiệp Những chỉ tiêu đánh giá tổng quát là những chỉ tiêu cơ bản đánh giá hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp.Các chỉ tiêu này được các nhà quản trị doanh nghiệp, nhà đầu tư, chủ nợ quan tâm và thường sử dụng trong việc ra quyết định đến vấn đề đầu tư và cho vay [4]
Những chỉ tiêu đánh giá hiệu quả từng bộ phận vốn và tài sản của doanh nghiệp như đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cố định, hiệu quả sử dụng vốn lưu độnglà những đánh giá có tính chất chiều sâu vào cơ cấu của vốn để tìm ra nguyên nhân cũng như giải pháp để khắc phục kết quả chung
1.3.2.1 Các chỉ tiêu phản ánh tình hình tổ chức và huy động vốn sản xuất kinh doanh
b) Hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu
Hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu đo lường quy mô tài chính của một doanh nghiệp, cho biết trong tổng nguồn vốn của doanh nghiệp thì nợ chiếm bao nhiêu phần trăm
Trang 27- vốn cổ phần của cổ đông (gồm cổ phần thông thường, cổ phần ưu đãi, các khoản lãi phải trả và nợ ròng)
Hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu giúp nhà đầu tư có một cái nhìn khái quát về sức mạnh tài chính, cấu trúc tài chính của doanh nghiệp và làm thế nào có thể chi trả cho các hoạt động Thông thường, nếu hệ số này lớn hơn 1, có nghĩa là tài sản của doanh nghiệp được tài trợ chủ yếu bởi các khoản nợ, còn ngược lại thì tài sản của doanh nghiệp được tài trợ chủ yếu bởi nguồn vốn chủ sở hữu
Về nguyên tắc, hệ số này càng nhỏ, có nghĩa là nợ phải trả chiếm tỷ lệ nhỏ
so với tổng tài sản hay tổng nguồn vốn thì doanh nghiệp ít gặp khó khăn hơn trong tài chính.Hệ số này càng lớn thì khả năng gặp khó khăn trong việc trả
nợ hoặc phá sản của doanh nghiệp càng lớn.ngoài ra nó giúp nhà quản lý sử dụng vốn thích hợp cho việc tổ chức huy động và sử dụng vốn
1.3.2.2 Các chỉ tiêu đánh giá đánh giá tổng quát về hiệu quả sử dụng vốn
Khi phân tích đánh giá hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp mang tính tổng quát thì thường sử dụng một số chỉ tiêu sau:
a)Chỉ tiêu sinh lời của vốn (ROI)
ROI (Return on Investment):Đo lường khả năng tạo ra lợi nhuận trên một đồng vốn đầu tư vào doanh nghiệp, không phân biệt vốn đầu tư được hình thành từ những nguồn nào, một đồng vốn đầu tư vào doanh nghiệp tạo ra cho nền kinh tế bao nhiêu đồng lợi nhuận
Trang 28hoạt động tài chính và thu nhập khác
b) Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA)
- Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản đo lường hiệu quả hoạt động của một doanh nghiệp trong việc sử dụng tài sản để tạo ra lợi nhuận sau khi đã nộp thuế, không phân biệt tài sản này được hình thành bởi nguồn vốn hay vốn chủ
- Ý nghĩa của ROA:
- Phản ánh hiệu quả hoạt động đầu tư của doanh nghiệp
- Là cơ sở quan trọng để những người cho vay cân nhắc liệu doanh nghiệp
có mức sinh lời cao hơn chi phí sử dụng nợ hay không
- Là sơ sở để chủ sở hữu đánh giá tác động của đòn bẩy tài chính và quyết
Trang 29định huy động vốn Khi ROA lớn hơn lãi suất đi vay của doanh nghiệp thì doanh nghiệp càng vay nhiều, chủ sở hữu doanh nghiệp càng có lợi
c) Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE)
Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu ROE (Return On Equity) phản ánh một đồng vốn đầu tư của chủ sở hữu vào doanh nghiệp đem lại cho chủ sở hữu doanh nghiệp bao nhiêu đồng lợi nhuận sau khi đã trừ đi thuế thu nhập doanh nghiệp
Trong đó:
L: Lợi nhuận sau thuế
Chỉ tiêu ROE càng cao chứng tỏ doanh nghiệp sử dụng có hiệu quả đồng vốn cổ đông, nghĩa là doanh nghiệp đã cân đối hài hòa giữa vốn cổ đông và vốn đi vay để khai thác lợi thế cạnh tranh của mình trong quá trình huy động
và mở rộng quy mô vốn
ROE là thước đo tốt nhất về năng lực của một công ty trong việc tối đa hóa lợi nhuận từ mỗi đồng vốn đầu tư Công ty đạt được ROE càng cao thì khả năng cạnh tranh càng mạnh Khi công ty chỉ đạt tỷ lệ ROE tương đương với lãi vay ngân hàng thì ở mức độ đánh giá tương đối, nhà đầu tư hãy xem lại khả năng sinh lời của công ty, vì nếu công ty nào cũng chỉ sinh lời ở mức này thì sẽ không có công ty nào đi vay ngân hàng, bởi lợi nhuận từ vốn vay chỉ đủ
để trả lãi vay ngân hàng Tất nhiên, ở đây chỉ đặt trường hợp công ty chưa vay ngân hàng.Khi công ty đạt tỷ lệ ROE cao hơn lãi vay ngân hàng thì nhà đầu tư nên tìm hiểu xem công ty đã vay ngân hàng và khai thác hết lợi thế cạnh tranh trên thị trường chưa để có thể đánh giá công ty có tiềm năng tăng tỷ lệ này hay không Nếu mở rộng được thị phần thì cần thêm vốn, vốn này có thể vay
và công ty có khả năng thu được thêm lợi nhuận sau khi trả lãi vay Tuy nhiên, khi vay vốn, ngoài việc trả lãi còn phải trả gốc, nên ảnh hưởng nhiều đến yếu tố thanh khoản của công ty
Trang 30Vì vậy, cân đối vốn vay và vốn cổ đông cũng là bài toán quản lý của công
ty Ngoài ra, ROE cũng giúp nhà đầu tư đánh giá các công ty trong cùng ngành nghề để ra quyết định lựa chọn đầu tư Phương thức lựa chọn tất nhiên vẫn là công ty có tỷ lệ ROE cao, vì công ty đó có khả năng tăng lợi thế cạnh tranh (lợi thế cạnh tranh của các công ty khác sẽ giảm) Có thể nói, bên cạnh các chỉ số tài chính khác thì ROE là thước đo chính xác nhất để đánh giá một đồng vốn bỏ ra và tích lũy được tạo ra bao nhiêu đồng lời Đây cũng là chỉ số đáng tin cậy về khả năng sinh lời của công ty trong tương lai ROE thường được các nhà đầu tư phân tích để so sánh với các cổ phiếu cùng ngành, từ đó tham khảo khi quyết định mua cổ phiếu của công ty nào, khi ROE càng cao thì các cổ phiếu càng hấp dẫn các nhà đầu tư
Theo Warren Buffett ROE > 20% được coi là hợp lý Khi xem xét chỉ số ROE, nhà đầu tư cần lưu ý đến một vài yếu tố như tuổi đời của công ty hay loại hình kinh doanh của công ty đó Các công ty mới thành lập thường có ROE cao, bởi quyết định phân bổ vốn của công ty này thường đơn giản hơn Còn với các công ty lâu đời, đặc biệt là công ty hoạt động trong ngành có mức
độ tập trung vốn cao như truyền thông, công nghệ, thì tỷ lệ ROE thường thấp hơn, bởi họ tốn nhiều chi phí để tạo ra được một đồng doanh thu hay lợi nhuận Mặt khác, ROE của các ngành thường rất khác nhau, vì thế nên so sánh giữa các doanh nghiệp tương đối giống nhau (về quy mô, cơ cấu sản phẩm, ) hoặc so sánh với mức bình quân ngành
Bảng 1.1: Tóm tắt các chỉ tiêu phân tích hiệu quả sử dụng vốn
do vay nợ mà có
Trang 31Chỉ tiêu Công thức Ý nghĩa
Các chỉ tiêu đánh giá tổng quát về hiệu quả sử dụng vốn
Suất sinh lời
của vốn (ROI)
∑
Đo lường khả năng tạo ra lợi nhuận trên một đồng vốn đầu tư vào DN
ra lợi nhuận sau khi đã nộp thuế
1.3.2.3 Các chỉ tiêu đánh giá tình hình sử dụng của từng loại vốn của DN
a) Phân tích hiệu quả sử dụng vốn cố định
Quan niệm về tính hiệu quả của việc sử dụng vốn cố định phải được hiểu trên hai khía cạnh:
- Với số vốn hiện có, có thể sản xuất thêm một số lượng sản phẩm với chất lượng tốt, giá thành hạ để tăng thêm lợi nhuận cho doanh nghiệp
- Đầu tư thêm vốn một cách hợp lý nhằm mở rộng qui mô sản xuất để tăng doanh số tiêu thụ, với yêu cầu tốc độ tăng lợi nhuận phải lớn hơn tốc độ tăng vốn
Để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cố định thông thường sử dụng hệ thống các chỉ tiêu như sau:
- Hiệu suất sử dụng vốn cố định:
Trang 32Công thức tính:
- Suất hao phí vốn cố định:
Trong đó:
: Suất hao phí vốn cố định
Vì chỉ tiêu này là đại lượng nghịch đảo của chỉ tiêu hiệu suất sử dụng vốn
cố định nên nó cho biết lượng vốn cố định cần thiết phải sử dụng để tạo ra một đồng doanh thu nên chỉ tiêu này càng nhỏ càng tốt
b)Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động
Các doanh nghiệp xây dựng thường xuyên sử dụng một khối lượng vốn lưu động rất lớn cho quá trình sản xuất của mình Do đó việc sử dụng tiết
Trang 33kiệm, có hiệu quả vốn lưu động là đòi hỏi thường xuyên đối với các doanh nghiệp xây dựng
Vốn lưu động luôn vận động từ hình thái này sang hình thái khác Sự vận động này càng nhanh thì thời gian quay vòng càng ngắn và nó lại nhanh chóng tham gia vào vòng quay mới, thời gian quay vòng ngắn làm giảm số vốn lưu động cần thiết để sản xuất ra một khối lượng sản phẩm nhất định, giảm bớt được nhu cầu về tiền vốn của doanh nghiệp trong một kỳ sản xuất sản phẩm
Vì vốn lưu động là nguồn vốn huy động để tài trợ cho tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp do đó hai nhân tố chính ảnh hưởng đến vốn lưu động là tài sản ngắn hạn và các khoản phải trả ngắn hạn Khi các nhân tố trong tài sản ngắn hạn tăng sẽ làm tăng vốn lưu động và ngược lại, khi các khoản phải trả ngắn hạn tăng thì vốn lưu động sẽ giảm và ngược lại Ta có các chỉ tiêu đánh giá sau:
- Hệ số chu chuyển của vốn lưu động:
Chỉ tiêu này phản ánh tốc độ luân chuyển của vốn lưu động nhanh hay chậm, trong một chu kì kinh doanh vốn lưu động quay được bao nhiêu vòng:
Nếu hệ số này tăng so với những kì trước thì chứng tỏ doanh nghiệp hoạt động luân chuyển vốn có hiệu quả hơn và ngược lại
- Thời gian của một vòng chu chuyển:
Trong đó:
N: Số ngày trong kỳ tính toán (360 ngày) Chỉ tiêu này thể hiện số ngày cần thiết cho một vòng quay của vốn lưu động trong kì phân tích.Thời gian luân chuyển của vốn lưu động càng ngắn thì chứng tỏ doanh nghiệp sử dụng vốn lưu động rất linh hoạt, tiết kiệm và tốc
độ luân chuyển của nó sẽ càng lớn
Trang 34- Hệ số đảm nhiệm của vốn lưu động:
Trong đó: - Hệ số đảm nhiệm của vốn lưu động
Hệ số đảm nhiệm vốn lưu động phản ánh để được một đồng doanh thu tiêu thụ thì cần phải bỏ ra bao nhiêu đồng vốn lưu động Hệ số này càng thấp thì chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn lưu động càng cao, số VLĐ tiết kiệm được càng lớn
- Mức sinh lời của vốn lưu động:
Trong đó: - Mức sinh lời của vốn lưu động
Chỉ tiêu này đánh giá một đồng vốn lưu động hoạt động trong kì kinh doanh thì tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận
Những chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động có thể giúp doanh nghiệp đưa ra được những biện pháp cụ thể để cải thiện tình hình tài chính.Bởi vậy, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động có ý nghĩa quan trọng đối với việc phát triển sản xuất, cùng một số vốn lưu động có thể sản xuất được nhiều sản phẩm hơn, hoàn thành được nhiều khối lượng xây dựng hơn
- Mức tiết kiệm (hay lãng phí) vốn lưu động:
Phản ánh số vốn lưu động có thể tiết kiệm được (hay lãng phí) do tăng (hay giảm) tốc độ luân chuyển ở kỳ này so với kỳ trước Để xác định số vốn lưu động tiết kiệm (hay lãng phí) trong kỳ của doanh nghiệp ta có thể sử dụng công thức:
Trong đó: M1- Tổng số luân chuyển thuần kỳ phân tích (doanh thu thuần đạt được trong kỳ)
V - Số VLĐ tiết kiệm (-) hay lãng phí (+) do tăng (hay giảm) tốc độ luân chuyển vốn lưu động của kỳ này so với kỳ trước
Trang 35, - Thời gian một vòng chu chuyển kỳ phân tích, kỳ trước
Bảng 1.2: Tóm tắt các các chỉ tiêu đánh giá tình hình sử dụng của từng
loại vốn của doanh nghiệp
Phân tích hiệu quả sử dụng vốn cố định
Phản ánh một đồng VCĐ bình quân trong
kỳ được sử dụng vào kinh doanh sẽ đem lại bao nhiêu đồng DT Hiệu suất sử dụng VCĐ càng cao khi chỉ tiêu này càng lớn Suất hao
phí vốn cố
định
Cho biết lượng VCĐ cần thiết phải sử dụng để tạo ra một đồng DT, chỉ tiêu này càng nhỏ càng tốt
Đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động
Phản ánh tốc độ luân chuyển của VLĐ Hệ
số này tăng so với những kì trước thì chứng tỏ DN hoạt động luân chuyển vốn
có hiệu quả hơn và ngược lại
Trang 36Chỉ tiêu Công thức Ý nghĩa
Phản ánh để được một đồng DT tiêu thụ thì cần phải bỏ ra bao nhiêu đồng VLĐ
Hệ số này càng thấp thì chứng tỏ hiệu quả
sử dụng VLĐ càng cao, số VLĐ tiết kiệm được càng lớn
Đánh giá một đồng VLĐ hoạt động trong
kì kinh doanh thì tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận
1.3.2.4 Các chỉ tiêu bổ sung đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản cố định, tài sản ngắn hạn và hàng tồn kho
a) Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản cố định
Hiệu quả sử dụng tài sản cố định được thể hiện thông qua các chỉ tiêu:
- Hiệu suất sử dụng tài sản cố định:
Trong đó:
DTT: Doanh thu thuần trong kỳ
: Nguyên giá của tài sản cố định bình quân trong kỳ
Phản ánh một đồng nguyên giá (giá trị còn lại) bình quân của tài sản cố định sử dụng trong kỳ đã tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu thuần (hoặc giá trị sản xuất) Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ hiệu quả sử dụng tài sản cố định càng cao và ngược lại
- Hiệu quả sử dụng tài sản cố định:
Trang 37Phản ánh một đồng nguyên giá (hoặc giá trị còn lại) của tài sản cố định sử dụng bình quân trong kỳ đã tạo ra được bao nhiêu đồng lãi thuần trước thuế (hoặc sau thuế), chỉ tiêu này càng cao lớn chứng tỏ hiệu quả sử dụng tài sản
cố định càng cao và ngược lại
- Suất hao phí của tài sản cố định:
Suất hao phí của tài sản cố định cho biết để có một đồng doanh thu thuần trong kỳ cần bao nhiêu đồng nguyên giá (giá trị còn lại) tài sản cố định, công thức tính:
Suất hao phí của tài sản cố định càng lớn chứng tỏ hiệu quả sử dụng tài sản
cố định càng thấp và ngược lại
- Tỷ suất đầu tư tài sản cố định của DN XDGT ( ):
Là chỉ tiêu biểu hiện mối quan hệ giữa tổng nguyên giá tài sản cố định(NGTSCĐ) với tổng tài sản của doanh nghiệp và được xác định theo công thức:
Phản ánh cứ 100 đồng tài sản của doanh nghiệp thì có bao nhiêu đồng tài sản cố định Chỉ tiêu này càng cao, chứng tỏ việc mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh, năng lực sản xuất của daonh nghiệp xây dựng giao thông ngày càng phát triển
Trên đây, là một số chỉ tiêu tổng hợp Ngoài ra, khi đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản cố định còn sử dụng một số chỉ tiêu phân tích sau:
- Chỉ tiêu về kết cấu tài sản cố định:
Căn cứ vào các cách phân loại tài sản cố định, có thể xây dựng hàng loạt các hệ số về kết cấu tài sản cố định của doanh nghiệp xây dựng giao thông Các hệ số này đều được xây dựng trên một nguyên tắc chung là tỷ số giữa giá trị của một loại (một nhóm) tài sản cố định so với tổng giá trị tài sản cố định
Trang 38tại thời điểm đánh giá Chẳng hạn:
+ Hệ số kết cấu tài sản cố định dùng trong sản xuất kinh doanh được xác định bằng tỷ số giữa giá trị tài sản cố định dùng trong sản xuất kinh doanh so với tổng giá trị tài sản cố định của doanh nghiệp tại thời điểm đánh giá
+ Hay tỷ trọng máy móc thiết bị (MMTB) thi công trong tổng tài sản:
Các hệ số kết cấu tài sản cố định khác cũng được xây dựng tương tự
Những chỉ tiêu về kết cấu tài sản cố định phản ánh thành phần và quan hệ tỷ
lệ giữa các thành phần trong tổng số tài sản cố định hiện có của doanh nghiệp
ở thời điểm đánh giá Đây là những chỉ tiêu quan trọng mà doanh nghiệp phải quan tâm để có biện pháp đầu tư, điều chỉnh lại cơ cấu đầu tư nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp
- Chỉ tiêu kết cấu nguồn vốn đầu tư cho tài sản cố định:
Căn cứ vào phương pháp phân loại nguồn vốn đầu tư cho tài sản cố định
để xây dựng các chỉ tiêu về kết cấu nguồn vốn Hệ số kết cấu của một loại nguồn vốn nào đó là tỷ trọng giữa giá trị của nguồn đó với tổng giá trị của các nguồn đầu tư cho tài sản cố định
Thuộc loại này sẽ có các chỉ tiêu như: Hệ số kết cấu nguồn vốn ngân sách (đối với doanh nghiệp nhà nước), vay dài hạn, vốn góp cổ phần, phát hành trái phiếu…Chẳng hạn như:
+ Mức đảm bảo MMTB của vốn chủ sở hữu:
+ Mức đảm bảo MMTB của vốn chủ sở hữu và vốn vay:
Nghiên cứu các chỉ tiêu về kết cấu nguồn vốn đầu tư tài sản cố định, một mặt giúp cho người quản lý tài chính có các biện pháp mở rộng, khai thác các
Trang 39nguồn vốn; mặt khác, để kiểm tra, theo dõi tình hình thanh toán, chi trả các khoản vay đúng hạn
b) Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn
Hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn được phản ánh qua các chỉ tiêu:
- Hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn:
Hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn cho biết với một đồng tài sản ngắn hạn
sử dụng bình quân trong kỳ đã tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu thuần
Trong đó:
- Suất hao phí của tài sản ngắn hạn:
Phản ánh để tạo ra một đồng doanh thu thuần (hoặc lợi nhuận thuần) trong
kỳ thì cần bao nhiêu đồng tài sản ngắn hạn Suất hao phí của tài sản ngắn hạn càng cao chứng tỏ hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn càng thấp và ngược lại
c)Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng hàng tồn kho
Để đánh giá hiệu quả sử dụng hàng tồn kho, ta sử dụng hai chỉ tiêu sau:
- Hệ số quay vòng hàng tồn kho (HHTK):
Hệ số quay vòng hàng hóa tồn kho phản ánh mối quan hệ giữa khối lượng
Trang 40hàng hóa đã bán với hàng hóa dự trữ trong kho Hệ số này thể hiện số lần mà hàng hóa tồn kho bình quân được bán trong kỳ, công thức tính:
Hàng hóa tồn kho bình quân được tính bằng cách lấy số dư đầu kỳ cộng với số dư cuối kỳ rồi chia cho hai
Nói chung hệ số quay vòng hàng hóa tồn kho cao thì doanh nghiệp được đánh giá hoạt động có hiệu quả, giảm được vốn đầu tư cho hàng hóa dự trữ, rút ngắn được chu kỳ chuyển đổi hàng hóa dự trữ thành tiền mặt và giảm bớt nguy cơ hàng hóa tồn kho trở thành hàng ứ đọng
Tuy nhiên hệ số quay vòng hàng tốn kho quá cao có thể dẫn tới nguy cơ doanh nghiệp không đủ hàng hóa thỏa mãn nhu cầu bán hàng, dẫn tới tình trạng cạn kho, mất khách hàng, và điều này có thể gây ảnh hưởng không tốt cho công việc kinh doanh về lâu dài của doanh nghiệp Hệ số quay vòng hàng tồn kho thấp cho thấy có sự tồn kho quá mức hàng hóa làm tăng chi phí một cách lãng phí Sự quay vòng hàng hóa tồn kho chậm có thể đặt doanh nghiệp vào tình thế khó khăn và tài chính trong tương lai
- Số ngày bình quân của một vòng quay kho (NHTK):
Số ngày bình quân của một vòng quay kho phản ánh độ dài của thời gian dự trữ hàng hóa và sự cung ứng hàng dự trữ cho số ngày ấy
Công thức tính:
d) Các chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh toán:
Vấn đề thanh toán trở lên đặc biệt quan trọng đối với những doanh nghiệp
bị chiếm dụng vốn với tỷ lệ cao so với tổng vốn như các doanh nghiệp xây dựng giao thông Để đánh giá, cần biết các khoản phải thu của doanh nghiệp
là bao nhiêu, ảnh hưởng đến tình hình tài chính của doanh nghiệp như thế nào, cần xác định các chỉ tiêu sau: