BÊ TÔNG NHỰA VÀ CÁC ĐẶC TÍNH CƠ BẢN CỦA BÊ TÔNG NHỰA 2.1.1 Thành phần của bê tông nhựa Bê tông nhựa là hỗn hợp gồm các thành phần là cốt liệu khoáng đá dăm, cát, bột khoáng, chất liên
Trang 1CHƯƠNG 1: ĐẶT VẤN ĐỀ VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ:
Bê tông nhựa là vật liệu chủ yếu để xây dựng đường ô tô và được sử dụng
rộng rãi trên thế giới cũng như ở Việt Nam Mạng lưới đường quốc gia ở Việt Nam
hiện nay có khoảng trên 80% có lớp mặt có xử lý bằng nhựa, trong đó phần lớn là
dùng bê tông nhựa Điều này cũng phù hợp trào lưu chung của thế giới, vật liệu gia
cố nhựa và bê tông nhựa đã và đang là loại vật liệu rất thông dụng làm lớp mặt của
kết cấu áo đường ôtô Công nghệ thi công lớp mặt đường bằng bê tông nhựa cũng
đã quen thuộc với các nhà thầu Việt Nam
Bê tông nhựa là hỗn hợp gồm các thành phần là cốt liệu khoáng (đá dăm, cát,
bột khoáng), chất liên kết là nhựa đường và phụ gia (nếu có) được phối hợp với
nhau theo tỷ lệ hợp lý Mỗi thành phần trong bê tông nhựa đóng một vai trò nhất
định và có liên quan chặt chẽ với nhau trong việc tạo nên một khối liên kết có đủ
cường độ và các tính chất cần thiết cho quá trình sử dụng:
- Đá dăm: Làm nên bộ khung chủ yếu của bê tông nhựa, làm cho bê tông nhựa có
khả năng chịu tác dụng của ngoại lực và tạo độ nhám bề mặt
- Cát: Có vai trò lấp đầy các lỗ rỗng giữa các hạt đá dăm và cùng với đá dăm làm
thành bộ khung chủ yếu của bê tông nhựa
- Bột khoáng: Có vai trò lấp đầy các lỗ rỗng giữa các hạt cốt liệu lớn Bột khoáng
là loại vật liệu có tỷ diện cao (250300 m2/kg), có ái lực mạnh với nhựa, biến
nhựa vốn có ở trạng thái khối, giọt thành trạng thái màng mỏng, bao bọc dễ dàng
với các hạt khoáng vật Bột khoáng có vai trò như một chất phụ gia làm cho
nhựa tăng thêm độ nhớt, tăng thêm khả năng dính bám và tăng tính ổn định
nhiệt Bột khoáng cùng với nhựa tạo ra một chất liên kết mới có tính chất hơn
hẳn các tính chất riêng của nhựa đường
- Nhựa đường: Là chất liên kết, kết dính các hạt cốt liệu khoáng lại với nhau
thành một khối và góp phần lấp đầy các lỗ rỗng giữa các hạt cốt liệu
- Phụ gia: Mặc dù được sử dụng với hàm lượng rất nhỏ, nhưng phụ gia có vai trò
trong việc cải thiện một hoặc một số tính chất nào đó của bê tông nhựa
Các tính chất của bê tông nhựa phụ thuộc vào tỉ lệ và và tính chất của vật
liệu thành phần, phụ thuộc vào sự phân bố chất kết dính trong hỗn hợp và mức độ
kết dính trong hỗn hợp và mức độ dính kết giữa cốt liệu và bi tum
Cấp phối cốt liệu là một trong những yếu tố quan trọng nhất của hỗn hợp cốt
liệu ảnh hưởng đến hầu hết các chỉ tiêu cơ lý và tuổi thọ của bê tông nhựa Cho đến
nay ở Việt Nam đã có một số nghiên cứu về sự ảnh hưởng của thành phần cấp phối
đến các chỉ tiêu cơ lý của bê tông nhựa vẫn chưa được đầy đủ và triệt để
Các loại bê tông nhựa xét về thành phần cỡ hạt của cốt liệu, có thể xem như
bao gồm:
- Bê tông nhựa chặt cấp phối liên tục/cấp phối gián đoạn;
- Bê tông nhựa rỗng cấp phối liên tục/cấp phối gián đoạn;
Trang 2- Bê tông nhựa độ rỗng lớn cấp phối liên tục/ cấp phối gián đoạn;
- SMA (Stone Mastic Asphalt);
- Bê tông nhựa có thành phần cấp phối thỏa mãn tiêu chuẩn của Superpave;
- Bê tông nhựa không dùng lu (Gussasphalt)
Ở Việt Nam hiện nay phổ biến sử dụng các loại bê tông nhựa chặt với cấp
phối thỏa mãn họ đường cong Fuller Ngoài ra, hiện nay cũng đã có một số đoạn
thử nghiệm áp dụng bê tông nhựa có cấp phối gián đoạn thỏa mãn điều kiện có độ
rỗng dư lớn và độ nhám mặt đường cao Các tiêu chuẩn thi công và nghiệm thu mặt
đường bê tông nhựa đã ban hành ở Việt Nam:
- Tiêu chuẩn thi công và nghiệm thu mặt đường bê tông nhựa 22TCN-249-98
- Dự thảo Tiêu chuẩn thi công và nghiệm thu mặt đường bê tông nhựa
22TCN-249-06
- Tiêu chuẩn thi công và nghiệm thu mặt đường bê tông nhựa sử dụng nhựa
đường PMB 22TCN-356-06
Đề tài : “Nghiên cứu ảnh hưởng của thành phần hạt cốt liệu đến một số chỉ
tiêu của bê tông nhựa khu vực miền Đông Nam Bộ” nghiên cứu lý thuyết về
ảnh hưởng của thành phần cấp phối cốt liệu đến đặc tính cơ học của vât liệu bê tông
nhựa, nghiên cứu thực nghiệm về ảnh hưởng của thành phần cấp phối đến một số
chỉ tiêu cơ học cơ bản của bê tông nhựa trong điều kiện thí nghiệm của Việt Nam
Các kết quả nghiên cứu này sẽ góp phần hoàn thiện các quy trình thiết kế và thi
công mặt đường bê tông nhựa
1.2 PHƯƠNG HƯỚNG GIẢI QUYẾT ĐỀ TÀI
1.2.1 Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu lý thuyết về sự ảnh hưởng của thành phần cỡ hạt của cấp phối
cốt liệu đến đặc tính cơ học của bê tông nhựa Tiến hành nghiên cứu thực nghiệm
về sự ảnh hưởng của thành phần cấp phối cốt liệu đến một số chỉ tiêu cơ lý lựa chọn
của bê tông nhựa
1.2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu tổng quan về bê tông nhựa
- Nghiên cứu tổng quan về sự ảnh hưởng của các thành phần trong bê tông
nhựa đến các tính chất của bê tông nhựa Trong đó đi sâu nghiên cứu về sự
ảnh hưởng của thành phần cấp phối cốt liệu đến các tính chất của bê tông
nhựa
- Tiến hành thí nghiệm trên các mẫu bê tông nhựa có các thành phần cốt liệu
khác nhau với cùng một loại nhựa đường được sử dụng phổ biến ở Việt
Nam Dựa trên kết quả thí nghiệm để đưa ra kết luận về sự ảnh hưởng của
thành phần cấp phối cốt liệu đến một số chỉ tiêu của bê tông nhựa
1.2.3 Phương pháp nghiên cứu
Trang 3- Nghiên cứu lý thuyết về sự ảnh hưởng của các thành phần đến các tính chất
của bê tông nhựa trong đó nghiên cứu sâu về sự ảnh hưởng của thành phần
cấp phối đến các tính chất của bê tông nhựa
- Nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm về sự ảnh hưởng của cấp phối cốt liệu
đến một số chỉ tiêu cơ lý của BTN
+ Nghiên cứu về các loại cấp phối sử dụng cho các loại bê tông nhựa
khác nhau Từ đó xác định các thành phần cấp phối để chế tạo bê tông nhựa
phục vụ cho thí nghiệm trong phòng
+ Lựa chọn các chỉ tiêu cơ lý để tiến hành thí nghiệm trong điều kiện Việt
Nam và tìm hiểu về nội dung các thí nghiệm đó
+ Chế tạo các mẫu bê tông nhựa có thành phần cấp phối cốt liệu đã xác
định ở trên với loại nhựa đường đặc có độ kim lún 60/70 thường được sử
dụng ở Việt Nam Tiến hành các thí nghiệm trong phòng để xác định các chỉ
tiêu cơ lý đã lựa chọn
- Từ kết quả thí nghiệm đưa ra các đánh giá, kết luận
1.2.4 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Nghiên cứu bê tông nhựa thành phần cấp phối có cỡ hạt lớn nhất danh định
là 12,5mm (bê tông nhựa hạt trung) và 9,5mm (bê tông nhựa hạt mịn) nhựa sử dụng
là nhựa thường 60/70
Các chỉ tiêu nghiên cứu là các chỉ tiêu có thể thí nghiệm được trong điều
kiện Việt Nam:
- Mô đun đàn hồi tĩnh
- Độ ổn định và độ dẻo Marshall
- Cường độ chịu kéo gián tiếp thí nghiệm ép chẻ Loại nhựa đường sử dụng cho nghiên cứu là nhựa đường đặc thường có độ
kim lún 60/70 của hãng Shell
Thí nghiệm được tiến hành trong phòng
1.2.5 ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Nghiên cứu về sự ảnh hưởng của các thành phần đến các tính chất của bê tông
nhựa, trong đó nghiên cứu sâu về sự ảnh hưởng của thành phần cấp phối và của
nhựa đến các tính chất của bê tông nhựa Tiến hành và dựa trên các kết quả thí
nghiệm để đánh giá và đưa ra kết luận về sự ảnh hưởng của thành phần cấp phối
cốt liệu đến một số chỉ tiêu cơ lý của bê tông nhựa
Trang 4CHƯƠNG 2 – TỔNG QUAN VỀ BÊ TÔNG NHỰA LÀM ĐƯỜNG Ô TÔ
2.1 BÊ TÔNG NHỰA VÀ CÁC ĐẶC TÍNH CƠ BẢN CỦA BÊ TÔNG NHỰA
2.1.1 Thành phần của bê tông nhựa
Bê tông nhựa là hỗn hợp gồm các thành phần là cốt liệu khoáng (đá dăm, cát, bột
khoáng), chất liên kết là nhựa đường và phụ gia (nếu có) được phối hợp với nhau
theo tỷ lệ hợp lý Mỗi thành phần trong bê tông nhựa đóng một vai trò nhất định và
có liên quan chặt chẽ với nhau trong việc tạo nên một khối liên kết có đủ cường độ
và các tính chất cần thiết cho quá trình sử dụng:s
- Đá dăm: Làm nên bộ khung chủ yếu của bê tông nhựa, làm cho bê tông nhựa có
khả năng chịu tác dụng của ngoại lực và tạo độ nhám bề mặt
- Cát: Có vai trò lấp đầy các lỗ rỗng giữa các hạt đá dăm và cùng với đá dăm làm
thành bộ khung chủ yếu của bê tông nhựa
- Bột khoáng: Có vai trò lấp đầy các lỗ rỗng giữa các hạt cốt liệu lớn Bột khoáng
là loại vật liệu có tỷ diện cao (250300 m2/kg), có ái lực mạnh với nhựa, biến
nhựa vốn có ở trạng thái khối, giọt thành trạng thái màng mỏng, bao bọc dễ dàng
với các hạt khoáng vật Bột khoáng có vai trò như một chất phụ gia làm cho
nhựa tăng thêm độ nhớt, tăng thêm khả năng dính bám và tăng tính ổn định
nhiệt Bột khoáng cùng với nhựa tạo ra một chất liên kết mới có tính chất hơn
hẳn các tính chất riêng của nhựa đường
- Nhựa đường: Là chất liên kết, kết dính các hạt cốt liệu khoáng lại với nhau
thành một khối và góp phần lấp đầy các lỗ rỗng giữa các hạt cốt liệu
- Phụ gia: Mặc dù được sử dụng với hàm lượng rất nhỏ, nhưng phụ gia có vai trò
trong việc cải thiện một hoặc một số tính chất nào đó của bê tông nhựa
Như vậy, cường độ của bê tông nhựa được hình thành trên cơ sở nguyên lý hình
thành cường độ của hỗn hợp vật liệu theo nguyên tắc cấp phối với chất kết dính là
nhựa đường
2.1.2 Ưu, nhược điểm chủ yếu của mặt đường bê tông nhựa
a) Những ưu điểm chủ yếu của mặt đường bê tông nhựa
Bê tông nhựa (BTN) được sử dụng phổ biến ở Việt Nam và trên thế giới để làm lớp
mặt đường ô tô và đường sân bay là do có những ưu điểm chủ yếu sau đây:
Công nghệ chế tạo và thi công đơn giản, thuận lợi cho việc áp dụng cơ giới hoá
do đó có tốc độ thi công nhanh, dễ đảm bảo chất lượng cao
Công tác kiểm tra chất lượng trước, trong và sau khi thi công dễ thực hiện và đã
được chuẩn hoá
Cho phép khai thác sử dụng ngay sau khi thi công
Mặt đường có tính toàn khối, bằng phẳng, êm thuận
Ít bụi, không ồn, ít bị bào mòn
Có tuổi thọ tương đối dài
Dễ dàng bảo dưỡng, sửa chữa trong quá trình khai thác
Trang 5Cho phép tái phục hồi chất lượng nhờ công nghệ tái sinh mặt đường sau thời
gian khai thác nhất định
b) Những nhược điểm chủ yếu của bê tông nhựa
Bên cạnh những ưu điểm chủ yếu kể trên, bê tông nhựa còn có một số nhược điểm
sau:
Ổn định nhiệt kém: Khi nhiệt độ thay đổi thì cấu trúc của bê tông nhựa thay đổi,
dẫn đến các đặc trưng về cường độ và biến dạng cũng thay đổi theo:
Ở nhiệt độ cao, bê tông nhựa thể hiện tính dẻo, cường độ chịu nén rất kém,
sức chống cắt thấp, biến dạng tăng Vì vậy mặt đường dễ gây trượt, lượn
sóng, hằn vệt bánh xe, nổi nhựa lên mặt, ảnh hưởng nhiều đến chất lượng
khai thác và tuổi thọ của mặt đường
Ở nhiệt độ thấp, bê tông nhựa thể hiện tính giòn, khả năng chịu kéo kém, mặt
đường dễ bị nứt nẻ
Hiện tượng lão hoá theo thời gian: Do sự bay hơi của các thành phần dầu nhẹ,
quá trình ô xy hoá và trùng hợp của các hợp chất cao phân tử có trong thành
- Cỏc loại xe bỏnh xớch, bỏnh sắt đi lại trờn mặt đường BTN thường hay để lại
những dấu vết làm hư hỏng lớp trờn mặt, nờn thường khụng làm mặt đường
BTN cho loại xe này chạy
- Hệ số bỏm sẽ giảm đi khi mặt đường ẩm ướt nờn xe dễ bị trượt Khắc phục bằng
cỏch thảm lờn bề mặt lớp vật liệu tạo nhỏm
- Đầu tư ban đầu tương đối lớn Nhưng xột tới hiệu quả giữa chi phớ ban đầu và
chi chi phớ duy tu, bảo dưỡng và vận tải mà mặt đường BTN đem lại so với cỏc
loại mặt đường khỏc thỡ chưa chắc đây đó là nhược điểm
c) Những dạng hư hỏng chính của mặt đường bê tông nhựa
Dưới tác dụng của tải trọng giao thông và các điều kiện khí hậu môi trường, mặt
đường bê tông nhựa thường xuất hiện một số dạng hư hỏng sau:
Trang 6Vật liệu bị bong bật
Hiện tượng phùi nhựa lên bề mặt
Bề mặt bị mài mòn
Để lớp mặt bê tông nhựa có chất lượng tốt, bền vững, đáp ứng được yêu cầu sử
dụng dưới tác dụng của tải trọng xe và các điều kiện khí hậu môi trường, yêu cầu
hỗn hợp bê tông nhựa và kết cấu mặt đường phải được thiết kế hợp lý dựa trên các
đặc tính cơ học của bê tông nhựa
d) Phạm vi ỏp dụng: do những đặc điểm nếu trên mặt đường bờ tụng nhựa thường
được sử dụng làm lớp mặt của:
- Mặt đường cho những đường cấp cao: cấp 60 trở lờn
- Mặt đường cao tốc
- Làm mặt đường thành phố
- Làm mặt đường của những đường cú ý nghĩa quan trọng
- Làm mặt sõn bay, quảng trường
- Lớp phủ mặt cầu
2.2 CẤU TRÚC CỦA BÊ TÔNG NHỰA
Về mặt cấu trúc, bê tông nhựa là một vật liệu xây dựng có cấu trúc thuộc loại cuội
kết nhân tạo, trong đó các cốt liệu khoáng vật được dính kết với nhau nhờ chất liên
kết asphalt Tuy nhiên cũng còn một vài quan điểm về cấu trúc của hỗn hợp:
- Quan điểm theo mô hình đơn giản xem bê tông nhựa gồm hai pha cơ bản: pha
rắn là cốt liệu khoáng vật gồm đá, cát và bột khoáng, còn pha lỏng là nhựa
- Quan điểm xem bê tông nhựa như là một vật liệu gồm hai thành phần cấu trúc:
một là khung sườn vật liệu khoáng vật gồm đá và cát, hai là chất liên kết asphalt
gồm bitum và bột khoáng
- Quan điểm xem bê tông nhựa là một hệ thống gồm ba cấu tử để thuận lợi trong
việc nghiên cứu điều chỉnh cấu trúc của bê tông nhựa theo các yêu cầu sử dụng
Một là cấu trúc vi mô (tế vi) gồm nhựa và bột khoáng tạo thành chất liên kết
* Xét cấu trúc tế vi sẽ thấy rõ các quan hệ số lượng, sự bố trí và tương tác giữa
bi tum và bột khoáng – thành phần phân tán hoạt động nhất của bê tông nhựa
Cường độ của bê tông nhựa biến đổi rất nhiều tùy thuộc vào hàm lượng bột
khoáng, vào tỷ số nhựa bi tum đối với bột khoáng (B/BK) Khi lượng nhựa
nhiều bột khoáng ít, các hạt bột khoáng bọc màng nhựa dày, không tiếp xúc trực
tiếp với nhau, cấu trúc này cho cường độ nhỏ, trường hợp này thể hiện ở khu
vực I của biểu đồ trong hình 2.1
Trang 7Hình 2.1 Ảnh hưởng của tỷ lệ [bitum/bột khoáng] đến cường độ nén của bê tông nhựa
Khi tăng lượng bột khoáng lên, tỷ lệ bitum trên bột khoáng giảm, đến lúc lượng
nhựa vừa đủ để bọc các hạt bột khoáng bằng một màng nhựa mỏng Các hạt này
sẽ tiếp xúc với nhau trực tiếp qua một màng mỏng bitum có định hướng (khoảng
0,25 m); lúc này cấu trúc tế vi đạt cường độ cao nhất thể hiện ở khu vực II của
đồ thị Nếu tiếp tục tăng lượng bột khoáng lên nữa, bi tum sẽ không đủ để tạo
màng bọc khắp các hạt; cấu trúc tế vi sẽ tăng lỗ rỗng, các hạt không liên kết
được với nhau, cường độ sẽ giảm nhanh thể hiện ở khu vực III của đồ thị
* Xét về cấu trúc trung gian của bê tông nhựa thì thấy rằng khi đưa cát vào chất
liên kết asphalt để tạo thành vữa asphalt thì sẽ làm giảm cường độ của hệ thống
vì cát đã làm giảm tính đồng nhất của hỗn hợp Cấu trúc trung gian cũng ảnh
hưởng khá lớn đến cường độ, độ biến dạng, độ chặt và các tính chất khác của bê
tông nhựa
* Xét về cấu trúc vĩ mô của bê tông nhựa: các viên đá là một yếu tố cơ bản để
làm thành cấu trúc vĩ mô của bê tông nhựa Cấu trúc này được xác định bằng
quan hệ số lượng, vị trí tương hỗ, độ lớn của đá dăm Đá dăm được liên kết với
nhau tạo thành một khối sườn không gian trong vữa asphalt Đồng thời cấu trúc
này cũng được xác định bằng tính chất của các quá trình tương tác ở mặt phân
giới bitum-đá
Vai trò cấu trúc hóa của đá dăm cũng như của cát, khác nhiều so với bột khoáng
Vai trò chính của đá dăm là làm thành một sườn không gian đảm bảo cường độ
cho bê tông nhựa Với lượng đá dăm quá ít, chúng chỉ như các hạt trơ bơi trong
vữa asphalt, các hạt đá dăm nằm cách xa nhau bởi các lớp vữa asphalt dày
Người ta thấy rằng nếu hàm lượng đá chỉ độ 10-20% thì còn làm cho cường độ
của lớp bê tông nhựa giảm đi so với vữa asphalt vì số đá đó đã làm giảm tính
đồng nhất của hỗn hợp Cũng thấy rằng, trong trường hợp này, kích cỡ, tính chất
Trang 8bề mặt của đá dăm, hình dạng của chúng chẳng có ảnh hưởng gì lớn đến tính
chất của bê tông nhựa
Khi tăng lượng đá dăm lên, sẽ làm tăng các tiếp xúc trực tiếp giữa các viên đá
qua một màng mỏng bitum có định hướng Khi đá dăm tăng lên đến 60-65% thì
trong hỗn hợp bê tông nhựa sẽ lập thành một sườn không gian, các hạt đá dăm sẽ
tiếp xúc với nhau trực tiếp qua một màng bitum rất mỏng có tính rắn, giữa các
hạt đá dăm này sẽ được vữa asphalt lấp đầy, đó là cấu trúc dạng rỗng của bê
tông nhựa Nếu ta thêm đá dăm vào nữa thì sẽ thành cấu trúc tiếp xúc, độ rỗng
tăng lên nhiều, lớn hơn thể tích vữa asphalt, làm cho bê tông nhựa giảm cường
độ (hình 2.2)
Hình 2.2 Ảnh hưởng của hàm lượng đá dăm đến cường độ nén của bê tông nhựa
Cấu trúc của ba cấu tử đó có tương quan với nhau chặt trẽ khi thiết kế một hỗn
hợp bê tông nhựa nhất định
Để đạt chất lượng đã định trước cho một dạng bê tông nhựa, cần phải phối hợp
cho đạt được một tương quan hợp lý về măt số lượng giữa cấu trúc vĩ mô, trung
gian và tế vi và giữ tương quan đó trong suốt quá trình chế tạo bê tông nhựa
Có nghĩa là với mỗi cấu trúc vĩ mô đã chọn chỉ tương ứng với một số cấu trúc tế
vi nhất định nào đó để có các chỉ tiêu cơ lý cao
Hình 2.3 là mô hình tương quan phối hợp giữa các cấu trúc vi mô, trung gian và
tế vi của bê tông nhựa
Trang 9Hình 2.3 Mô hình tương quan phối hợp giữa các cấu truc vĩ mô, trung gian và tế vi của bê tông
nhựa
Theo mô hình tương quan này, tỷ số giữa lượng bitum trên lượng bột khoáng đối
với mỗi dạng cấu trúc của bê tông nhựa (dạng cấu trúc vĩ mô) có thể lấy như
sau:
- Khi bê tông nhựa có dạng cấu trúc “bazan” thì [B/BK]=0,5-0,6
- Khi bê tông nhựa có cấu trúc dạng “rỗng-bazan” thì [B/BK]=0,6-0,9
- Khi bê tông nhựa có cấu trúc dạng “rỗng” và “rỗng-tiếp xúc” thì
[B/BK]=0,9-1,1
Tỷ số [B/BK] nói trên sẽ tăng khi độ quánh (độ nhớt) của nhựa tăng lên
2.3 CÁC TÍNH CHẤT LƯU BIẾN VÀ MÔ HÌNH LƯU BIẾN CỦA BÊ TÔNG NHỰA
Một trong những đặc trưng chủ yếu của hỗn hợp có dùng nhựa làm chất liên kết là
tính lưu biến; vì rằng, các quá trình biến dạng của hỗn hợp này, mà rõ nhất là bê
tông nhựa có liên hệ chặt chẽ với thời gian tác dụng của tải trọng, tốc độ đặt tải
trọng, còn trị số ứng suất thì phụ thuộc vào tốc độ biến dạng và trị số biến dạng
Khi nghiên cứu tính lưu biến của bê tông nhựa có thể xác định các hằng số lưu biến
sau đây để đặc trưng cho các tính chất cơ học và cấu trúc của nó: mô đun đàn hồi,
độ nhớt, giới hạn chảy dẻo, thời gian chậm trễ của biến dạng đàn hồi, thời gian
chùng ứng suất Và trên cơ sở các hằng số lưu biến ấy có thể xác định được các yêu
cầu cụ thể đối với hỗn hợp bê tông nhựa
Bê tông nhựa có quy luật chung về biến dạng phụ thuộc vào trị số của ứng suất thể
hiện trên đường cong lưu biến (hình 2.4) Mỗi đoạn của đường cong lưu biến đặc
trưng cho các tính chất lưu biến của vật liệu làm việc trong từng giai đoạn, phụ
thuộc vào trị số của ứng suất
Trang 10Góc nghiêng của đoạn thẳng thứ nhất của đường cong lưu biến đặc trưng cho độ
nhớt lớn nhất của vật liệu khi cấu trúc chưa bị phá hoại, tương ứng với giai đoạn
biến dạng rất chậm của vật liệu khi ứng suất còn bé
0
P d dt
Đoạn cong AB của đường cong lưu biến tương ứng với giai đoạn mà cấu trúc ban
đầu của vật liệu đã bị phá hoại phần nào, độ nhớt của vật liệu đã giảm đi ít nhiều vì
ứng suất đã tăng lên dần dần cho đến gần giá trị Pk và gọi là trị số giới hạn chảy
dẻo
Hình 2.4 Đường cong lưu biến
Khi ứng suất vượt quá giới hạn chảy dẻo Pk thì tốc độ biến dạng tăng nhanh và trở
lại tỷ lệ với sự tăng của ứng suất, mức độ phá hoại cấu trúc của vật liệu tăng lên
nhiều Giai đoạn làm việc này của vật liệu thể hiện ở đoạn thẳng thứ 2 của đường
cong lưu biến và tương ứng với giai đoạn này trị số độ nhớt của vật liệu bằng độ
nhớt ở giai đoạn chảy dẻo d có thể tính bằng công thức:
0
k d
Trang 11Hình 2.5 Quan hệ giữa độ nhớt của vật liệu () và mức độ phá hoại cấu trúc vật liệu () với ứng
suất cắt (P) trong điều kiện chảy ổn định
Khi ứng suất tiếp tục tăng nữa thì mức độ phá hoại của cấu trúc tăng đột ngột và khi
đã ở giới hạn hoàn toàn bị phá hỏng thì độ nhớt đã giảm đến trị số bé nhất m Trị
số m không đổi nghĩa là không phụ thuộc vào trị số của ứng suất nữa Hình 2.5
biểu thị quan hệ giữa trị số độ nhớt của vật liệu và mức dộ phá hoại cấu trúc của vật
liệu với ứng suất cắt trong điều kiện chảy ổn định
Để biểu diễn một cách dễ thấy tính chất cơ học khi ngoại lực tác dụng và khi để xác
định các nội lực, ứng suất và biến dạng trong khối vật liệu bê tông nhựa, người ta đã
dùng các mô hình lưu biến khác nhau tùy theo tính chất và giai đoạn làm việc của
bê tông nhựa
2.3.1 Mô hình Maxvel
Khi làm việc ở nhiệt độ thấp, mặt đường bê tông nhựa có thể dùng mô hình Maxvel
thể hiện tính đàn-nhớt của bê tông nhựa:
Mô hình Maxvel (hình 2.6) gồm một lò xo đàn hồi lý tưởng có mô đun đàn hồi E1
ghép nối tiếp với một vật cản đựng chất lỏng có độ nhớt 1
Trang 12Hình 2.6 Mô hình Maxvel Hình 2.7 Sự chùng ứng suất trong mô hình Maxvel
Khi lực tác dụng lò xo phát sinh gây biến dạng đàn hồi và biến dạng nhớt ở vật cản
tiếp tục phát triển trong suốt cả thời gian tác dụng của lực Vì thế ở mỗi thời điểm,
biến dạng tổng thể ch sẽ là:
Trong đó:
- 1 : Biến dạng đàn hồi của lò xo
- 2 : Biến dạng không phục hồi của vật cản có độ nhớt 1
Lấy vi phân của biểu thức (2.3) sẽ có tốc độ biến dạng chung bằng:
Nếu giữ độ biến dạng không đổi trong suốt cả thời gian tác dụng lực (=const;
d/dt=0) thì từ phương trình trên (2.5) ứng suất sẽ giảm theo quy luật hình 2.7:
0
p
t t
Trang 13- 1: độ nhớt của chất lỏng chứa trong vật cản
- 0: ứng suất ứng với khi thời gian t=0
Hình 2.8 Sự phát triển của biến dạng theo thời gian trong mô hình Maxvel
Nếu lực là không đổi trong cả quá trình tác dụng (=const; d/dt=0) thì từ phương
trình (2.4) sẽ có phương trình từ biến của vật thể đàn hồi-nhớt (hình 2.8):
t E
Mô hình Maxvel chưa thể hiện một đặc tính của mặt đường bê tông nhựa là biến
dạng đàn hồi không phát sinh ngay sau khi lực tác dụng mà cần có một khoảng thời
gian chậm trễ để phát triển đó là tính đàn hồi – chậm của mặt đường bê tông nhựa
2.3.2 Mô hình Kelvin-Foigơtơ
Mô hình Kelvin-Foigơtơ có thể thể hiện được tính đàn hồi-chậm của vật liệu, nó
gồm một lò xo đàn hồi có mô đun E2 (vật thể Hook) ghép song song với vật cản có
chứa chất lỏng độ nhớt là 2 (vật thể Niutơn) (hình 2.9) Trong mô hình này ứng
suất tổng cộng bằng tổng số các ứng suất 1, 2 phát sinh trong lò xo và trong vật
cản, còn trị số biến dạng tương đối trong cả hai yếu tố ấy đều bằng nhau
với 0 là biến dạng ban đầu khi t=0
Nếu ứng suất =0=const tác dụng lên vật thể không bị biến dạng ban đầu, nghĩa là
0=0 thì từ phương trình (2.10) sẽ tìm được quy luật phát triển của biến dạng theo
thời gian như sau (hình 2.10):
Trang 14
với tch.tr là thời gian chậm trễ của biến dạng đàn hồi tch.tr=2/E2
Hình 2.9 Mô hình Kelvin-Foigơtơ Hình 2.10 Sự phát triển của biến dạng đàn hồi-chậm
theo thời gian theo mô hình Kelvin-Foigơtơ
Thực tế sử dụng mặt đường bằng hỗn hợp bê tông nhựa cho thấy tính chất biến
dạng của nó còn phức tạp hơn nhiều; nó bao gồm cả biến dạng đàn hồi, biến dạng
nhớt, biến dạng đàn hồi chậm, biến dạng dẻo tùy theo điều kiện thời tiết, nhất là
nhiệt độ và loại bê tông nhựa
Trang 152.3.3 Mô hình Burger
Mô hình Burger bao gồm mô hình Maxvel ghép nối tiếp với mô hình Kelvin (hình
2.11) Biến dạng tổng thể của vật thể Burger bằng tổng cộng biến dạng của hệ thống
Maxvel và biến dạng của hệ thống Kelvin Như vậy trong suốt cả thời gian tác dụng
lực, tổng số biến dạng bao gồm cả ba thàng phần: biến dạng đàn hồi, biến dạng
đàn hồi-chậm và biến dạng nhớt được biểu diễn bằng công thức (2.12) và hình vẽ
- t : thời gian tác dụng của lực
- tch.tr : thời gian chậm trễ trong hệ thống Kelvin
Quan hệ của biến dạng theo thời gian trong mô hình
Burger (hình 2.12) cho thấy rằng sau khi bắt đầu
biến dạng ở thời điểm t1 thì biến dạng đàn hồi thực
tế đạt được ngay giá trị AB=/E1 Tiếp theo biến
dạng nhớt của vật cản có độ nhớt 1 sẽ phát triển
dần theo thời gian đồng thời lúc ấy biến dạng đàn
hồi của lò xo có mô đun E2 cũng bắt đầu phát triển,
nhưng biến dạng đàn hồi này bị vật cản có độ nhớt
2 làm chậm lại
Đến thời điểm ứng với điểm C thì biến dạng đàn
hồi của lò xo E2 đã phát triển xong Tiếp theo là
biến dạng nhớt phát triển, biểu diễn bằng đoạn
thẳng CD cho đến khi bắt đầu dỡ tải (ở điểm D)
Kéo dài đoạn DC và gặp AB kéo dài tại L Đoạn
BL biểu thị giá trị của biến dạng đàn hồi-chậm
trong hệ thống Kelvin BL=/E2, còn đoạn CC’ là
bằng giá trị của biến dạng nhớt (của vật cản có độ
nhớt 1) cho đến lúc biến dạng đàn hồi chậm của hệ
thống Kelvin đã phát triển xong
Hình 2.11 Mô hình lưu biến Burger
Khi dỡ tải thì biến dạng nhớt sẽ ngừng phát triển và ở thời điểm t2 này tổng giá trị
của biến dạng nhớt sẽ biểu thị bằng đoạn DM, theo định luật Niutơn thì:
Khi vừa dỡ tải thì biến dạng đàn hồi được phục hồi ngay tức khắc (đoạn DF=AB),
còn đoạn cong FK biểu thị sự phục hồi của biến dạng đàn hồi-chậm Điểm K ứng
với thời điểm mẫu ngừng phục hồi biến dạng, tung độ của điểm K biểu thị tổng giá
trị của biến dạng nhớt, và do đó tung độ của điểm K sẽ bằng đoạn DM
Trang 16Hình 2.12 Phát triển biến dạng theo thời gian trong mô hình lưu biến Burger
2.4 PHÂN LOẠI BÊ TÔNG NHỰA TRONG XÂY DỰNG ĐƯỜNG
Mỗi nước có sự phân loại bê tông nhựa của mình, tuy có sự khác nhau về hình thức
phân loại nhưng nói chung cũng giống nhau ở những nội dung chính trong quan
điểm phân loại đó là: cách phối hợp vật liệu, cách chế tạo và thi công, phạm vi áp
dụng,
2.4.1 Phân loại bê tông nhựa ở Việt Nam
Theo các tiêu chuẩn thi công và nghiệm thu mặt đường bê tông nhựa hiện nay ở
Việt Nam 22TCN 249-90 và 22TCN 249-98 thì có thể phân loại bê tông nhựa như
sau:
1 Theo nhiệt độ khi rải:
+ Bờ tụng nhựa rải núng: được chế tạo ở 140 - 1700C, nhiệt độ lỳc rải khụng được
dưới 100 - 1200C Thường dựng nhựa đặc chế tạo từ dầu mỏ cú độ kim lỳn 40/60,
60/90 hoặc 90/130 để chế tạo loại này Cường độ của BTN rải núng hỡnh thành rất
nhanh Sau khi lu lốn xong, mặt đường nguội xuống bằng nhiệt độ khụng khớ là
xem như cơ bản đó hỡnh thành
+ Bờ tụng nhựa rải ấm: được chế tạo ở nhiệt độ 110 - 1300C, nhiệt độ lỳc rải khụng
dưới 60 - 800C Thường dựng nhựa đặc chế tạo từ dầu mỏ cú độ kim lỳn 200/300,
130/200 hoặc nhựa lỏng cú tốc độ đông đặc trung bỡnh với độ nhớt C605 là
130/200 Tốc độ hỡnh thành cường độ của BTN ấm cú thể thay đổi từ vài giờ đến
15-20 ngày đêm, tuỳ thuộc vào loại nhựa và bột khoỏng sử dụng, vào điều kiện thời
tiết, nhiệt độ hỗn hợp lỳc rải và thành phần, mật độ xe chạy trờn đường Tuy nhiờn
BTN rải ấm cú ưu điểm là cú thể thi cụng trong lỳc thời tiết lạnh, cự ly chuyờn chở
xa hơn BTN rải núng
+ Bờ tụng nhựa rải nguội: Thường dựng nhựa lỏng cú tốc độ tốc độ đông đặc trung
bỡnh với độ nhớt C605 là 70/130 hay nhựa đặc pha dầu Nhiệt độ rải của loại này
bằng nhiệt độ khụng khớ, khoảng 250C Cú thể cất giữ BTN nguội ở kho bói từ 4 - 8
thỏng Thời gian hỡnh thành cường độ của mặt đường BTN rải nguội thông thường
chậm, cú thể từ 20 - 40 ngày đêm tuỳ thuộc vào loại nhựa và bột khoỏng sử dụng,
vào điều kiện thời tiết và thành phần, mật độ xe chạy trờn đường
Trang 17* Do sử dụng nhựa đặc, cú độ kim lỳn thấp nờn độ dớnh bỏm của nhựa với đá lớn
Do vậy BTN rải núng cú cường độ cao nhất, tiếp đến là BTN rải ấm và cuối cựng là
BTN rải nguội BTN rải núng được sử dụng làm lớp mặt trờn hay dưới của mặt
đường cấp cao
BTN rải nguội, ấm chỉ được sử dụng làm lớp dưới trong tầng mặt của cỏc loại mặt
đường cấp cao hay làm lớp mặt trờn trong của mặt đường đường cấp thấp hơn BTN
nguội thường hay sử dụng hơn cả trong việc duy tu, sửa chữa mặt đường nhựa
2 Theo độ rỗng cũn dư : phõn làm hai loại (theo 22 TCN 249 - 98)
+ BTN chặt: cú độ rỗng cũn dư từ 3 - 6% thể tớch Trong thành phần bắt buộc phải
cú bột khoỏng
+ BTN rỗng: cú độ rỗng cũn dư từ >6% đến 10% thể tớch Trong thành phần của
hỗn hợp thường khụng cú bột khoỏng hoặc bột khoỏng chỉ chiếm dưới 4% Loại
BTN rỗng chỉ dựng cho lớp dưới của mặt đường BTN hai lớp hoặc làm lớp múng
3 Theo hàm lượng đá dăm:
Đá dăm được hiểu là cốt liệu sót sàng 4.75 mm
* Theo qui trỡnh 22 TCN 249-90: BTN được phõn ra cỏc loại:
+ Bờ tụng nhựa nhiều đá dăm (ký hiệu BTN loại A): khi hàm lượng đá dăm chiếm
* Qui trỡnh 22 TCN 249-98 không phân loại bê tông nhựa theo hàm lượng đá dăm
mà cơ bản theo kích cỡ hạt lớn nhất Dự thảo qui trỡnh 22TCN 249 - 06 cũng tương
tự như qui trỡnh 22TCN - 249-98, phõn loại bờ tông nhựa theo kích cỡ danh định
lớn nhất của cốt liệu
4 Theo chất lượng của vật liệu khoỏng chất và cỏc chỉ tiờu cơ lý của BTN:
* Theo qui trỡnh 22 TCN 249-90: BTN được phõn ra 4 loại:
+ BTN loại I
+ BTN loại II
+ BTN loại III
+ BTN loại IV
Trong đó BTN loại III, loại IV chỉ được sử dụng làm lớp mặt cho đường cấp 60 trở
xuống hay làm múng đường cấp cao hơn
Trang 18* Theo qui trỡnh 22 TCN 249-98: Chỉ phõn làm hai loại
+ BTN loại I
+ BTN loại II
Trong đó BTN loại II chỉ được sử dụng làm lớp mặt cho đường cấp 60 trở xuống
hay làm múng đường cấp cao hơn
5 Theo cỡ hạt lớn nhất danh định của cấp phối đá (tương ứng với cỡ sàng trũn
tiờu chuẩn mà cỡ sàng nhỏ hơn ngay sỏt dưới nú cú lượng sút tớch luỹ lớn hơn 5%),
Theo tiêu chuẩn thiết kế mặt đường mềm của Việt Nam trước đây (tiêu chuẩn
22TCN - 211 - 93), quy định các chỉ tiêu cường độ cho bê tông nhựa theo cỡ hạt
lớn nhất BTN hạt thụ cú cường độ lớn nhất, tiếp đến là BTN hạt trung, cuối cựng là
BTN hạt mịn với giải thớch là nếu cấp phối cú cốt liệu chủ yếu kớch cỡ lớn hơn thỡ
góc ma sát trong tăng lên, do vậy cho cường độ chịu cắt cũng như là cường độ chịu
kéo và mụ đuyn đàn hồi càng cao
BTN chặt, hạt mịn có độ rỗng cũn dư thấp do vậy có thể tạo bề mặt kớn, chống hao
mũn tốt, do vậy thường được sử dụng làm lớp mặt trên cùng BTN thụ có cường độ
tốt và độ rỗng dư lớn hơn, nên thường được dùng làm lớp mặt dưới chịu lực BTN
hạt trung cú tớnh chất trung gian giữa hai loại trờn nờn cú thể làm lớp mặt trờn hay
lớp dưới
6 Theo biện pháp thi công: 2 loại
+ Bờ tụng nhựa thụng thường cần phải đầm chặt bằng lu qua các giai đoạn Loại vật
liệu này đó được sử dụng phổ biến ở Việt Nam
+ Bờ tụng nhựa khụng cấn lu lèn: bê tông nhựa đúc (gussasphalt, mastic asphalt)
đây là loại vật liệu đang được nghiên cứu áp dụng ở nước ta, nó có ưu điểm là có
cường độ cao, không cần phải lu lèn, nhưng có nhược điểm là giá thành đắt và công
nghệ chế tạo, thi công cũn mới mẻ Loại vật liệu này rất phổ biến ở Đức, Pháp, Anh,
Hà Lan, Đài Loan,
7 Theo phạm vi sử dụng:
+ Bờ tụng nhựa thụng thường: Được dựng làm cỏc lớp trong tầng mặt của mặt
đường làm mới hoặc mặt đường nõng cấp
+ Bờ tụng nhựa cải tiến: Thường cho thờm cỏc phụ gia với tỷ lệ thấp vào hỗn hợp
bờ tụng nhựa, cỏc phụ gia này tỏc động với nhựa hoặc với cốt liệu và cải thiện cỏc
đặc trưng của nhựa từ đó làm tăng một hoặc nhiều cỏc đặc trưng như: cường độ
mỏi, cường độ khỏng cắt, cường độ từ biến, làm tăng tuổi thọ của BTN (Polime,
EVA, SBS, cao su, latex, lưu huỳnh )
Trang 19+ Lớp bê tông nhựa có chức năng đặc biệt: là bê tông nhựa làm lớp tạo nhám và/
hoặc lớp thoát nước Bê tông nhựa loại này thường sử dụng nhựa đường có phụ gia
2.4.2 Phân loại bê tông nhựa của Viện Asphalt
Bê tông nhựa của Mỹ, theo định nghĩa của AI, là một hỗn hợp vật liệu đá, cát, bột
khoáng có chất lượng cao, phối hợp theo một cấp phối tốt nhất, trộn nóng với nhựa
theo một chế độ quy định chặt chẽ, đem ra rải thành lớp và đầm nén thành một lớp
chặt chẽ đồng nhất (Asphalt concrete A.C)
Hỗn hợp bê tông nhựa dùng ở Mỹ có thành phần cấp phối thay đổi rất rộng tuỳ theo
mục đích sử dụng và vị trí của từng lớp trong áo đường
Viện Asphalt của Mỹ đã phân bê tông nhựa nóng ra các loại, dựa trên hàm lượng đá
thô, cỡ hạt mịn và bột khoáng cũng như hàm lượng nhựa trong hỗn hợp (Bảng 2.1)
Nhìn vào bảng phân loại bê tông Asphalt của Mỹ ta thấy hỗn hợp IIIa, IIIb, IIIc, IIId
và IIIe giống như loại hỗn hợp bê tông nhựa nhiều đá dăm (loại A) Hỗn hợp IVb,
IVc, IVd thì tương tự như loại bê tông nhựa có vừa đá dăm (loại B) và hỗn hợp Va,
Vb giống như loại bê tông nhựa ít đá dăm (loại C) theo như quy trình thi công và
nghiệm thu mặt đường bê tông nhựa của Việt nam ban hành năm 1990
Bảng 2.1 Các loại hỗn hợp bê tông Asphalt của Mỹ
75-100
35-55 20-35
10-22 6-16 4-12 2-8 3.0-6.0
III b 100
75-100
60-85 35-55 20-35
10-22 6-16 4-12 2-8 3.0-6.0
75-100 60-85 30-50 20-35 5-20 3-12 2-8 0-4 3.0-6.0
III d 100
75-100
45-70 30-50 20-35 5-20 3-12 2-8 0-4 3.0-6.0
Trang 202.4.3 Phân loại bê tông nhựa của Pháp
Những loại bê tông nhựa chủ yếu dùng để làm lớp trên và lớp dưới của mặt đường
bao gồm:
1 Các lớp mặt đường chặt, rải nóng:
- Bê tông nhựa chặt: Là loại bê tông nhựa có hàm lượng đá dăm nhỏ, lượng cát
lớn, dễ rải, dễ đầm nhưng không chịu được lưu lượng xe lớn và tải trọng nặng vì
để lại những vệt hằn bánh xe
- Bê tông nhựa cỡ 0/10 và cỡ 0/14: Là loại dùng rất phổ biến để làm lớp mặt trên
và mặt dưới Lượng hạt nhỏ hơn 0,08mm từ 5-9% cho lớp trên và 4-8% cho lớp
dưới, chọn chính xác phải dựa vào thí nghiệm Với mỗi hàm lượng hạt nhỏ hơn
0,08mm cần phải làm thí nghiệm với 4 hàm lượng nhựa khác nhau để tìm tối ưu,
với chỉ dẫn chung quanh lượng nhựa tham khảo là 6% (cho cỡ 0/10) và 5,4%
(cho cỡ 0/14) Thông thường ở Pháp dùng loại vừa đá dăm, vì dùng loại nhiều
đá dăm rất khó thi công: chỉ cần có một sự phân tầng nhỏ thì đã xuất hiện những
vùng có quá nhiều đá dăm làm cho việc đầm chặt bê tông nhựa rất khó khăn
- Bê tông nhựa 0/10 +găm đá con tạo bề mặt nhám: Là dùng một lớp bê tông
nhựa cỡ hạt 0/10 dày khoảng 5cm rải lên lớp dưới hoặc trên mặt đường cũ, sau
Trang 21đó dùng các viên đá dăm cứng (cường độ lớn và ít bị bào mòn) cỡ 10/14 hoặc
12/14 hoặc 14/16 được gia công trước với nhựa, rải một lượt lên trên và dùng lu
ấn xuống Lượng đá con này cần khoảng 6kg cho 1m2 Mặt sẽ trở lên nhám, có
thể không cho nước tạo thành mảng mỏng làm trơn trượt khi xe chạy
- Bê tông nhựa cỡ 0/6; 0/10 và 0/14 làm thành lớp mỏng để phục hồi độ nhám và
chống thấm nước: Thường dùng loại cỡ 0/6 rải lớp dày 3cm, trên đó rải đá con
cỡ 0/14 gia công trước với nhựa sẽ có một lớp có độ nhám cao và không thấm
nước
- Bê tông nhựa cát: Bê tông nhựa cát cỡ 0/4 hay 0/6, dùng cát sông, cát xay hàm
lượng nhựa khoảng 7% loại nhựa đặc 60/70 hoặc 80/100 Thường dùng cho
đường xe đạp, đường ít xe trong khu phố với bề dày lớp rải có thể rất mỏng
1,5-2cm, loại này ít nhám và không kín nước
2 Các lớp mặt đường hở, rải nóng: Bê tông nhựa thoát nước nhanh, có độ rỗng
đến 20% và hơn nữa, dùng bitum thông thường hoặc tốt hơn là dùng loại bitum
polyme Lớp bê tông nhựa này dùng cỡ 0/10 hay 0/14 rải dày khoảng 4cm Nước
mưa thoát rất nhanh ở ngay lỗ hổng bên trong của lớp nhất là khi có áp lực của
bánh xe chạy qua Tuy nhiên chỉ nên dùng loại này khi đã có một lớp dưới thật
kín nước Lớp này có cường độ yếu, thường chỉ dùng ở những đoạn khó thoát
nước ở bề mặt đường, đoạn chuyển tiếp siêu cao có độ dốc ngang nhỏ
3 Bê tông nhựa đúc: rải ở nhiệt độ rất cao và không dùng lu
4 Bê tông nhựa dạng vữa
5 Bê tông nhựa dùng cho đường băng sân bay
6 Bê tông nhựa rải nguội
7 Các loại bê tông nhựa đặc biệt: có dùng các chất phụ gia khác nhau như
polyme, copolyme,
2.4.4 Bê tông nhựa không dùng lu
Bê tông nhựa đúc-BTNĐ (Gussasphalt, mastic asphalt) là loại bê tông nhựa ít lỗ
rỗng, về mặt lịch sử có thể xem BTNĐ có ngay từ đầu khi người ta dùng nhựa để
xây dựng đường, nhưng xét về kỹ thuật thì BTNĐ chỉ được dùng cho những mặt
đường cao cấp, loại mặt đường này vượt qua tất cả những loại mặt đường khác về
mặt tuổi thọ khi chịu lượng giao thông lớn
Xuất xứ của BTNĐ ngày nay là từ Béc-lin, được P Héc-man phát triển đầu tiên vào
những năm 1920-1930 Từ cuối năm 1950, ở CHLB Đức người ta đã áp dụng
BTNĐ vào xây dựng đường ô tô cao tốc, đường đô thị và đặc biệt là những đường
chịu tải trọng nặng
Hiện nay bê tông nhựa đúc được nghiên cứu phát triển và sử dụng ở hầu khắp các
nước tiên tiến như Anh, Mỹ, Đức, Pháp, Hà Lan, Đài Loan, Thành phần, tính
chất, công nghệ chế tạo, công nghệ thi công và tên gọi của BTNĐ cũng có khác biệt
như : Đức, Đài Loan “Guss asphalt (guasfalt)”; Hà Lan “Gietasfalt”; Anh “Mastic
asphalt”; hoặc “Poured Asphalt”,
Trang 22Trên cơ sở các nghiên cứu, phát triển của BTNĐ trên thế giới có thể tóm tắt những
đặc tính, ưu nhược điểm và phạm vi áp dụng của loại vật liệu này như sau:
Bê tông nhựa đúc là hỗn hợp của cốt liệu, bột khoáng và chất liên kết, trong đó thể
tích tích luỹ của bột khoáng và chất liên kết lớn hơn nhiều thể tích các lỗ rỗng của
bộ khung cốt liệu, như vậy có thể thi công bằng đúc nóng, không cần lu lèn
Đặc điểm đặc biệt của BTNĐ là sử dụng thừa chất liên kết: ở BTNĐ những lỗ rỗng
còn lại của cốt liệu đá luôn luôn được chèn đầy bằng chất liên kết (Overfilled
mixes) và ở trạng thái nóng quan sát thấy rất rõ rệt lượng chất liên kết thừa, có
nghĩa là tất cả các hạt khoáng chất “bơi chậm chạp” trong chất liên kết
BTNĐ nóng có tính dẻo hay có sự di động rất cao, nó không cần phải đầm nén sau
khi rải nhưng cần phải san trên lớp móng để đạt được chiều dày mong muốn và sau
khi nguội thì mặt đường hoàn toàn dùng được
Hỗn hợp ít rỗng được xem là hệ thống ba pha (vật liệu khoáng, chất liên kết và
không khí) mà phần không khí tạo nên do cấu trúc hạt, khi đầm nén thì giảm đến trị
số tối thiểu Ngược lại với hỗn hợp ít rỗng, BTNĐ chỉ có hệ thống hai pha, lập nên
từ vật liệu khoáng và chất liên kết, không khí hoàn toàn biến mất (chỉ đôi khi xuất
hiện các bọt khí rất nhỏ) Loại vật liệu này đặc biệt thích hợp để làm lớp chống
thấm
BTNĐ mặc dù thừa chất liên kết nhưng không gây ra các biến dạng lớn khi chịu
lực, vì chất liên kết của BTNĐ có chứa rất nhiều các hạt rất nhỏ (bột khoáng) có
nghĩa là chúng rất ổn định Hỗn hợp vật liệu khoáng để chế tạo BTNĐ theo quy
định ít nhất phải chứa 20% bột đá theo trọng lượng (hạt có d<0.09 mm), thông
thường dùng bột đá với tỷ lệ 20-25% trọng lượng (khi hàm lượng nhựa trung bình
từ 7-7.5% TL thì trong chất liên kết bột đá-nhựa đường bột đá chiếm gấp 3 lần)
Một chất liên kết có tính dính như vậy thì một lượng chất liên kết nhỏ thừa ra cũng
hoàn toàn không gây tác hại gì, nhưng phải khống chế chất liên kết thừa đến mức
nhỏ nhất, nếu không BTNĐ ở mùa nóng nó sẽ trở nên mềm Nhựa để chế tạo bê
tông nhựa đúc là loại nhựa đặc, thường là loại có độ kim lún từ 25-45
BTNĐ có thể rải thành lớp rất mỏng từ 2-5cm, nhiệt độ hỗn hợp khi chế tạo và rải >
2000 C (từ 200-2300C), trộn hỗn hợp trong trạm trộn, rải bằng loại máy rải có bộ
phận làm nóng, chạy trên ray Vận chuyển bằng loại ô tô có thùng chứa và thiết bị
quấy
BTNĐ có thể xem là loại mặt đường nhựa cứng nhất, có độ bền cao nhất vì khi
BTNĐ khi xây dựng không cần đầm nén cho nên có thể loại bỏ được những hư
hỏng mà những loại mặt đường khác hay gặp phải do đầm nén thiếu Lớp mặt trên
BTNĐ dính bám với lớp dưới tốt hơn so với BTN đầm chặt bằng lu và khả năng
chống nứt cũng cao hơn
BTNĐ đặc biệt thích hợp khi làm các lớp mỏng phủ mặt cầu, lớp mặt trên của áo
đường, lớp phủ sàn công nghiệp, lớp phòng nước cho hầm,
Những ưu điểm của nó cũng gây ra một số khó khăn khi vận chuyển và khi rải Đặc
biệt hay gặp phải hiện tượng thừa chất liên kết trên bề mặt của BTNĐ khi rải và
trong quá trình BTNĐ nguội đi (bởi vì chất liên kết nhẹ hơn vật liệu khoáng)
Trang 23Khi rải BTNĐ phải té thêm đá cỡ hạt 2-5mm bởi vì bề mặt đường được tạo nên chủ
yếu bằng chất liên kết và bột đá khi ẩm rất dễ gây trượt Vật liệu đá té ra đường
thường được lu bằng lu nhẹ Khi những viên đá nhỏ được ấn vào hỗn hợp sẽ tạo nên
lớp tạo nhám, đặc biệt ở lớp mặt các đường cao tốc
Vấn đề cần quan tâm của BTNĐ là việc hình thành vệt lượn sóng do khi rải gặp
móng đường quá ẩm, móng đường ẩm khi bị BTNĐ phủ lên sẽ xuất hiện các túi hơi
nước, các túi này đội lớp BTNĐ lên và gây hiện tượng lượn sóng
2.5 YÊU CẦU VỀ CÁC CHỈ TIÊU CƠ LÝ CỦA BÊ TÔNG NHỰA
Về các chỉ tiêu cơ lý quy định cho bê tông nhựa làm đường thì được bổ sung dần
dần và điều chỉnh Cho đến nay những yêu cầu về các chỉ tiêu cơ lý của bê tông
nhựa ở Mỹ, Nga, Pháp càng xích lại gần nhau Các nhà khoa học đều có chung một
quan điểm như sau :
- Bê tông nhựa phải có đủ độ bền (độ ổn định) ở nhiệt độ 50o-60oC hoặc bằng
phương pháp Masshall, Hubbart-Field, Hveem, hoặc bằng phương pháp nén nở
tự do ở 50oC (ở Nga, ở Pháp, ở Việt nam), vì đó là một chỉ tiêu đặc trưng một
cách gián tiếp sự ổn định (độ bền) chống cắt của bê tông nhưạ, khi ở nhiệt độ
cao
- Bê tông nhựa phải đủ cường độ nén ở nhiệt độ bình thường (ở Mỹ là 25oC, ở
Pháp là 18oC, ở Nga và Việt nam là 30oC) nó biểu thị khả năng làm việc trong
đa số thời gian chịu đựng tải trọng xe của mặt đường
- Bê tông nhựa phải có một độ rỗng còn dư tối thiểu và không quá một độ rỗng
còn dư tối đa (ở tất cả các nước đều quy định và các trị số đều xấp xỉ như nhau)
Độ rỗng còn dư của bê tông nhựa đặc trưng cho độ chặt cuối cùng của bê tông
nhựa, nó là dấu hiệu chứng tỏ việc chọn lựa cấp phối vật liệu khoáng có đúng
không, hàm lượng nhựa đã tối ưu chưa, độ lu lèn đã đúng mức độ chưa Độ rỗng
còn dư của bê tông nhựa nóng không thể bằng không được vì các nguyên nhân
khác nhau: Do độ rỗng của cốt liệu, do thể tích không khí lẫn vào trong hỗn hợp
khi trộn và không thể thoát ra hết được khi lu đầm, và do khi hỗn hợp bê tông
nhựa nguội lại thì lượng nhựa tự do lấp các lỗ rỗng của hỗn hợp bị co rút mà để
lại các lỗ rỗng Hơn nữa bê tông nhựa nóng phải có một tỉ lệ lỗ rỗng nào đó
(min) để nhựa có thể nở ra mà không trồi lên mặt khi mặt đường làm việc trong
thời tiết nắng nóng
- Độ trương nở trong phương pháp Hveem, cũng được quy định ở Nga, Việt nam,
Pháp dưới hình thức thí nghiệm khác Chỉ tiêu này đòi hỏi bê tông nhựa không
những chỉ được có một số độ rỗng nhất định, hút một lượng nước không quá quy
định mà còn đòi hỏi tính hút ẩm (tính nở) của bột khoáng, tính hút nước của loại
nhựa sử dụng phải nằm trong phạm vi cho phép Độ trương nở càng lớn càng
kém ổn định nước và băng giá
- Để làm lớp mặt, bê tông nhựa cần phải đảm bảo tạo bề mặt có độ bằng phẳng
tốt, đủ nhám, có độ rỗng dư trong khoảng hợp lý để tạo lớp có tính năng thích
hợp trong kết cấu mặt đường
Sau đây là các chỉ tiêu cơ lý của bê tông nhựa theo tiêu chuẩn của Việt Nam và một
số nước khác
Trang 242.5.1 - Chỉ tiêu cơ lý của bê tông nhựa theo tiêu chuẩn hiện hành của Việt Nam
Yêu cầu về các chỉ tiêu cơ lý của bê tông nhựa theo quy trình thi công và nghiệm
thu mặt đường bê tông nhựa (22TCN 249 – 98) được thể hiện ở các bảng sau:
Bảng 2.2 Yêu cầu về các chỉ tiêu cơ lý của bê tông nhựa chặt (BTNC) (22TCN 249 – 98)
Yêu cầu đối với bê tông
6 Hệ số ổn định nước, không nhỏ hơn 0,90 0,85
7 Hệ số ổn định nước, khi cho ngậm nước
trong 15 ngày đêm; không nhỏ hơn
8 Độ nở, % thể tích, khi cho ngậm nước
trong 15 ngày đêm, không lớn hơn
Chỉ số dẻo quy ước (flow) mm max 5,0 max 5,0 hoặc
4 Độ ổn định còn lại sau khi ngâm mẫu ở
60oC, 24h so với độ ổn định ban đầu, %
Trang 25TT Các chỉ tiêu
Yêu cầu đối với bê tông
Trang 26Bảng 2.3 Yêu cầu các chỉ tiêu cơ lý của hỗn hợp bê tông nhựa rỗng (BTNR)
6 Hệ số ổn định nước, khi cho ngâm nước
trong 15 ngày đêm, không nhỏ hơn
0,6
Yêu cầu về các chỉ tiêu cơ lý của bê tông nhựa theo dự thảo quy trình thi công và
nghiệm thu mặt đường bê tông nhựa (22TCN 249 – 06) được thể hiện ở các bảng
BTNC19;
BTNC12,5;
BTNC 9,5
Bê tông nhựa cát BTNC4,75
AASHTO T245-97(2001)
2 Độ ổn định ở 600C, kN min 8,0 min 5,5
4
Độ ổn định còn lại (sau khi ngâm mẫu
ở 600C trong 24 giờ) so với độ ổn
Trang 27TT Chỉ tiêu
Quy định
Phương pháp thí nghiệm
BTNC19;
BTNC12,5;
BTNC 9,5
Bê tông nhựa cát BTNC4,75 các phương pháp thí nghiệm sau)
- Thiết bị APA -Asphalt Pavement
Analizer (8000 chu kỳ, áp lực 7
daN/cm2, nhiệt độ thí nghiệm
600C)
- Thiết bị HWTD - Hamburg Wheel
Tracking Device (20000 chu kỳ,
BTNR 19, BTNR 25
BTNR 37,5 (**)
AASHTO T245-97(2001)
2 Độ ổn định ở 600C, kN min 5,5 min 12,5
4
Độ ổn định còn lại (sau khi
ngâm mẫu ở 600C trong 24
giờ) so với độ ổn định ban
Bảng 2.6 Yêu cầu về các chỉ tiêu kỹ thuật của bê tông nhựa Polyme (22TCN356 -06)
Trang 28TT Chỉ tiêu Quy định Phương pháp thí nghiệm
4
Độ ổn định còn lại (sau khi ngâm mẫu ở
600C trong 24 giờ) so với độ ổn định
ban đầu, %
min 85
5 Độ rỗng dư bê tông nhựa polime, % 3-6 AASHTO T 269-97 (98)
6 Độ rỗng cốt liệu (tương ứng với độ rỗng
dư 4%), %
- Cỡ hạt danh định lớn nhất 9,5 mm min 15
- Cỡ hạt danh định lớn nhất 12,5 mm min 14
- Cỡ hạt danh định lớn nhất 19 mm min 13
7 Độ sâu vệt hằn bánh xe, mm (chưa bắt
buộc) (1 trong các phương pháp thử sau)
- Thiết bị APA -Asphalt Pavement
Analizer (8000 chu kỳ, 0,7 Mpa, 60
0C )
max 8
- Thiết bị HWTD - Hamburg Wheel
Tracking Device (20000 chu kỳ, 0,7
Mpa, 50 0C )
max 10
- Thiết bị FRT- French Rutting Tester
(30000 chu kỳ, 0,7 Mpa, 60 0C ) max 10
2.5.2 - Chỉ tiêu cơ lý của bê tông nhựa theo các tiêu chuẩn của Mỹ
Bảng 2.7 Yêu cầu về các chỉ tiêu kỹ thuật của bê tông nhựa ở Mỹ
+ Số cú đập vào mỗi đầu
Trang 294) Độ rỗng của cốt liệu Tuỳ theo cỡ hạt lớn nhất của hỗn hợp
Trang 30CHƯƠNG 3 – SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC THÀNH PHẦN VẬT LIỆU
ĐẾN CÁC TÍNH CHẤT CỦA BTN
3.1 CỐT LIỆU SỬ DỤNG TRONG HỖN HỢP BÊ TÔNG NHỰA VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA
NÓ ĐẾN BÊ TÔNG NHỰA
3.1.1 - Cốt liệu và nguồn gốc cốt liệu
Cốt liệu sử dụng cho xây dựng đường ô tô thường có nguồn gốc từ các loại đá tự
nhiên, hoặc có thể là vật liệu nhân tạo (thường là vật liệu nhẹ, như sỉ lò cao) Một số
cốt liệu có nguồn gốc tự nhiên và nhân tạo phổ biến:
- Đá mác ma, được hình thành từ các dòng nham thạch được làm nguội khi di
chuyển lên bề mặt hoặc gần bề mặt của trái đất, phân loại của đá mác ma theo
một số chỉ tiêu hoá - lý học, theo bảng 3.1 như sau:
- Đá trầm tích, được hình thành từ quá trình trầm tích các mảnh đá phong hoá hoặc
từ các thành phần vô cơ từ các xác động vật phân hoá Phân loại của đá trầm tích
theo thành phần khoáng vật chủ yếu như can xi (đá vôi, đá phấn ), silic (đá
phiến cát, cát kết ), hoặc thành phần sét (sét kết )
- Đá biến chất, là loại đá mác ma hoặc trầm tích đã trải qua quá trình chịu nhiệt độ
hay áp suất làm biến đổi cấu trúc khoáng vật của đá so với đá gốc ban đầu Các
đá biến chất thường là đá kết tinh tự nhiên có dạng hạt có thể là hạt thô hoặc hạt
mịn
- Sỏi được hình thành từ các mảnh đá tự nhiên Sỏi thường có ở các dòng suối, có
dạng tròn cạnh Sỏi dùng cho hỗn hợp bê tông nhựa thường được yêu cầu nghiền
để có ít nhất một mặt vỡ
- Cát là các mảnh đá tự nhiên được mài mòn do tác dụng của dòng nước, có kích
thước nằm trong khoảng từ 75m đến 2.36 mm Khi dùng cho hỗn hợp bê tông
nhựa, cát tự nhiên phải được yêu cầu chặt chẽ về hàm lượng hạt sét, bụi và hàm
lượng các chất hữu cơ có hại
- Sỉ lò cao là phụ phẩm của quá trình luyện thép, gang, đúc đồng Loại cốt liệu
này thường xốp và sử dụng cho bê tông nhựa mặt đường sẽ cho độ nhám mặt
đường cao Do xốp nên cốt liệu này hấp thụ nhiều nhựa đường, nên hàm lượng
nhựa thường yêu cầu lớn hơn so với cốt liệu có nguồn gốc tự nhiên
3.1.2 Các tính chất khoáng vật học và hoá học của cốt liệu
Lựa chọn loại cốt liệu với tính chất khoáng vật học và hoá học hợp lý cho hỗn hợp
bê tông nhựa đóng vai trò quan trọng trong đặc tính sử dụng và độ bền khai thác của
Trang 31mặt đường bê tông nhựa Các tính chất cơ lý cơ bản (dung trọng, độ rỗng và cường
độ) và tính chất hóa học/ hoá - lý học (như khả năng hút ẩm, tính dính bám với nhựa
đường) là những hàm số phụ thuộc vào các tính chất khoáng vật học và hoá học của
cốt liệu, được đề cập sau đây
Tính chất khoáng vật học của cốt liệu
Các khoáng vật thông thường có trong thành phần của cốt liệu là khoáng vật silic,
khoáng chất fen fát, sắt từ, các bon nát và các khoáng vật sét Tuỳ thuộc mỗi loại
cốt liệu, các thành phần khoáng vật này có thể khác nhau Các tính chất của cốt liệu
(cường độ, độ bền, độ ổn định với các hoá chất, đặc tính bề mặt, và hàm lượng các
chất có hại ) cũng phụ thuộc vào các thành phần khoáng vật này Tuy nhiên, cho
dù cốt liệu được hình thành từ các loại khoáng vật thành phần nhưng tính chất của
cốt liệu có thể bị thay đổi do quá trình ô xy hoá, thuỷ hoá, phong hoá nên chỉ
thành phần khoáng vật không thể quyết định được hoàn toàn tính chất của cốt liệu
sử dụng trong hỗn hợp bê tông nhựa
Độ cứng (đặc tính mài mòn của cốt liệu) ảnh hưởng đến lực chống trượt của bê tông
nhựa làm mặt đường Khi thí nghiệm đặc tính này cốt liệu cho hỗn hợp bê tông
nhựa, người ta có thể sử dụng thí nghiệm mài mòn cơ học đối với cốt liệu hoặc
dùng thí nghiệm ăn mòn sử dụng hóa chất là axít (cho cốt liệu có thành phần
khoáng vật cácbonnát lớn)
Một yếu tố quan trọng đối với cốt liệu ảnh hưởng đến đặc tính khai thác của bê tông
nhựa mặt đường có liên quan đến thành phần khoáng vật của cốt liệu, đó là thành
phần khoáng vật của lớp bao quanh cốt liệu và các thành phần chất có hại trong cốt
liệu Các chất này bao gồm: sét, sét phiến, bụi, ô xít sắt, thạch cao, muối hoà tan
trong nước làm ảnh hưởng đến khả năng dính bám giữa cốt liệu và nhựa đường
Các tính chất hoá học của cốt liệu
Tính chất hóa học của cốt liệu phụ thuộc vào thành phần hoá học của nó Tính chất
hoá học của cốt liệu không ảnh hưởng quá lớn đến đặc tính khai thác của mặt đường
bê tông nhựa, ngoại trừ việc ảnh hưởng đến khả năng dính bám giữa cốt liệu với
nhựa đường, mà có liên quan đến loại hình hư hỏng bong tróc của mặt đường
Nhựa đường khi được trộn với cốt liệu tạo hỗn hợp bê tông nhựa làm mặt đường
cần phải theo quá trình: làm ẩm bề mặt cốt liệu, tạo màng nhựa đều đặn dính vào bề
mặt cốt liệu và giữ được cơ chế dính bám đó khi có tác dụng của nước Như vậy,
đặc tính hoá học của bề mặt cốt liệu đóng vai trò quan trọng trong cơ chế dính bám
này Có một số lý thuyết để lý giải cho cơ chế dính bám này, và phổ biến nhất là lý
thuyết về tương tác hoá học, mà giải thích cơ chế dính bám theo điện cực trên bề
mặt của cốt liệu tự nhiên
Các loại cốt liệu ưa nước có khả năng thấm nước tốt hơn nhiều so với nhựa đường
Với các loại cốt liệu này, màng nhựa tạo thành quanh hạt cốt liệu rất dễ bị bóc tách
khi chịu tác dụng của nước Chúng được gọi là cốt liệu thích nước và có xu hướng
hoá học là gốc axit Các cốt liệu này được giải thích là có điện cực âm trên bề mặt
khi có nước Chúng là các loại đá cát kết, thạch anh và sỏi silic
Trang 32Ngược lại có loại cốt liệu có khả năng hấp thụ nhựa đường tốt hơn nước, gọi là cốt
liệu ghét nước, thường có xu thế hoá học gốc bazơ Chúng có điện cực dương trên
bề mặt khi gặp nước Đó là các loại cốt liệu từ đá vôi hoặc có chứa đá vôi
Ngoài ra, có nhiều loại cốt liệu mà bề mặt của nó bao gồm cả các khoáng vật silic,
tạo điện cực âm, và cả khoáng vật gốc bazơ, tạo điện cực dương Các loại cốt liệu
dạng này điển hình gồm: đá tráp, đá bazan, đá Pocfia, đá vôi silíc
Phân loại cốt liệu đá theo điện cực bề mặt được thể hiện trong hình 3.4
Ophit
0 10 20 30 40 50 60 70 80 90 100
Hµm l-îng kiÒm hoÆc « xÝt kiÒm, %
Hình 3.9: phân loại cốt liệu đá theo điện cực bề mặt
3.1.3 Các tính chất vật lý của cốt liệu
Cốt liệu sử dụng trong hỗn hợp bê tông nhựa được phân loại theo kích cỡ là cốt liệu
hạt thô, cốt liệu hạt mịn bao gồm cả bột khoáng Theo tiêu chuẩn ASTM, cốt liệu
thô là cốt liệu sót trên sàng số 4 (4.75 mm), cốt liệu mịn là cốt liệu lọt qua sàng số 4
và bột khoáng lọt qua sàng số 200 (75 m) Viện Asphalt có ranh giới phân loại
khác giữa cốt liệu hạt thô và hạt mịn là sàng số 8 (2.36 mm), giống như phân loại
theo sàng vuông ở Việt Nam
Cốt liệu sử dụng cho hỗn hợp bê tông nhựa mặt đường cần phải cứng, bền chắc và
được phối hợp theo thành phần cỡ hạt hợp lý, chúng phải bao gồm các hạt hình khối
với độ xốp rỗng nhỏ, sạch, bề mặt thô nhám và ghét nước Chất lượng của cốt liệu
sử dụng trong hỗn hợp bê tông nhựa được đánh giá qua một số chỉ tiêu sau:
Trang 33Các tính chất vật lý của cốt liệu thể hiện tính thích ứng sử dụng trong hỗn hợp bê
tông nhựa được thể hiện trong bảng 3.2
Bảng 3.3: Tóm tắt các đặc tính cốt liệu và tính thích ứng sử dụng trong hỗn hợp bê tông nhựa
mặt đường
Chức năng thể hiện trong
kết cấu mặt đường
Đặc tính cốt liệu tương ứng
Vai trò đối với tính chất của hỗn hợp
bê tông nhựa
(xuống cấp) do thời tiết và
5 Khả năng chống lại đóng - tan băng
6 Cấu trúc lỗ rỗng trong hạt cốt liệu
trọng giao thông
1 Khả năng chống lại sự thay đổi thành phần cấp phối
I
Khả năng chống lại các lựa
bên trong như co ngót,
đường sử dụng trong hỗn
hợp
1 Phản ứng hoá học với hoá chất
2 Phản ứng với các chất hữu cơ
Trang 34Khả năng duy trì các tiêu chuẩn chấp nhận được của đặc tính bề mặt theo
1 Khả năng chống lại thay đổi cấp phối
2 Khối lượng riêng
2 Khả năng chống lại thay đổi cấp phối
3 Tính toàn khối khi nung
Cốt liệu trong hỗn hợp BTN đóng vai trò là bộ khung chịu lực chính của lớp mặt
đường, hỗn hợp cốt liệu, thông qua ma sát giữa các hạt cốt liệu, phải có khả năng
truyền tải trọng bánh xe xuống các lớp móng phía dưới và phải có khả năng chống
lại khả năng mài mòn do tải trọng bánh xe Trong qua trình sản xuất hỗn hợp, cốt
liệu được trộn, rải và đầm nén và như vậy chúng phải đảm bảo độ cứng và độ bền
LA là thông số đặc trưng cho độ bền chống mài mòn của cốt liệu, xác định bằng thí
Trang 35nghiệm Log-Angeles (tiêu chuẩn ASTM C 131 cho hạt thô và ASTM C535 cho cốt
liệu hạt mịn) Số LA càng nhỏ thì thì cốt liệu có có cường độ chống mài mòn và va
đập càng lớn Trị số LA đối với loại cốt liệu đá tự nhiên thông thường thay đổi từ
10% đối với các loại đá rất cứng có nguồn gốc mác ma đến 60% đối với các loại đá
vôi mềm được dùng để đánh giá chất lượng này của cốt liệu
Độ bền chắc
Cốt liệu phải có khả năng chống lại sự phá vỡ và phân rã do ảnh hưởng của độ ẩm
(quá trình nhiễm ẩm và khô) hoặc do ảnh hưởng của đóng và tan băng, và các ảnh
hưởng khác trong quá trình phong hoá
Thí nghiệm để đánh giá tính chất này của cốt liệu là thí nghiệm độ bền sun fát của
cốt liệu (tiêu chuẩn ASTM C88 hoặc AASHTO T103) Cốt liệu được ngâm trong
dung dịch sun fát - natri và sun fát- ma giê bão hoà Trong quá trình ngâm, các tinh
thể muối thạch anh thoát ra từ các lỗ rỗng của cốt liệu, làm cho các hạt có khả năng
bị phân rã ra thành các hạt cốt liệu nhỏ hơn % khối lượng cốt liệu còn lại sau 5 chu
trình ngâm thể hiện độ bền chắc của cốt liệu
Hình dạng và cấu trúc bề mặt của hạt cốt liệu
Hình dạng và độ xù xì bề mặt hạt cốt liệu là một đặc điểm mang tính lý học của cốt
liệu có ảnh hưởng đến BTN Theo yêu cầu của hỗn hợp BTN, cốt liệu phải có dạng
hình khối và được khống chế tỉ lệ phần trăm hạt nghiền và tỉ lệ hạt dẹt ở mốt trị số
nhất định Các hạt có hình dạng góc cạnh trong hỗn hợp BTN đã đầm nén cho lực
ma sát và chèn móc giữa các hạt lớn hơn, nghĩa là có thể tạo lập được bộ khung cốt
liệu vững chắc hơn và do đó có độ bền cơ học cao hơn còn đối với cốt liệu có dạng
hình tròn như sỏi thiên nhiên thì việc dùng chúng trong hỗn hợp BTN làm cho hỗn
hợp linh động, dễ đầm nén (mất ít công đầm nén), tuy nhiên với bộ khung chịu lực
kém bền chắc làm cho mặt đường có khả năng xuất hiện vệt lún bánh xe do giảm độ
rỗng còn dư và biến dạng chảy dẻo Tỉ lệ hạt dẹt quá lớn làm cho hỗn hợp khó đầm
nén đạt độ chặt yêu cầu và làm cho hỗn hợp không đảm bảo cường độ
Độ nhám bề mặt hạt cốt liệu cũng giống như hình dạng hạt có ảnh hưởng đến độ
linh động và cường độ của BTN Cốt liệu nghiền có độ thô ráp bề mặt cũng làm
vững chắc hơn bộ khung chịu lực của hỗn hợp nhưng tất nhiên sẽ cần lượng bitum
lớn hơn để giảm lực cản ma sát trong quá trình đầm nén Độ rỗng dư của hỗn hợp
sử dụng cốt liệu thô nhám cũng lớn hơn hỗn hợp sử dụng cốt liệu trơn nhẵn Cốt
liệu có bề mặt trơn nhẵn làm cho bitum dễ bao bọc hạt cốt liệu (quá trình trộn có thể
nhanh hơn) nhưng dính bám cơ học giữa bitum và cốt liệu kém hơn cốt liệu có bề
mặt thô nhám rất nhiều
Thông số tổng hợp đại diện cho hình dạng hạt và độ nhám của bề mặt hạt cốt liệu là
chỉ số hạt Ia xác đinh theo tiêu chuẩn ASTM D3398 Thí nghiệm được tiến hành
đơn giản bằng cách đầm cốt liệu trong các cối đầm tiêu chuẩn, bằng các thanh đầm
tiêu chuẩn phù hợp với mỗi loại cốt liệu, sử dụng công đầm tiêu chuẩn (số lớp đầm,
chiều cao rơi của thanh đầm và số lần đầm cho mỗi lớp) Khối lượng riêng của các
cốt liệu đã đầm nén và độ rỗng cốt liệu tương ứng được xác định Chỉ số hạt được
xác định bằng phương trình:
Ia = 1.25 V10 - 0.25 V50 - 32.0 (3.10)
Trang 36với
Ia = giá trị chỉ số hạt
V10 = % độ rỗng cốt liệu đầm nén với 10 lần đầm cho một lớp
V50 = % độ rỗng cốt liệu đầm nén với 50 lần đầm cho một lớp Chỉ số hạt cốt liệu được tiến hành xác định riêng rẽ cho mỗi thành phần cỡ hạt Thí
nghiệm cho thấy các cốt liệu tròn cạnh cho chỉ số hạt từ 6 - 7, còn các cốt liệu góc
cạnh có thể cho giá trị này từ 15 - 20 Kết quả nghiên cứu về ảnh hưởng (quan hệ)
giữa chỉ số hạt cốt liệu và độ ổn định Marshall thể hiện trong hình 3.2
Hình 3.10 - Ảnh hưởng của chỉ số hạt đến độ ổn định Marshall
Thí nghiệm xác định chỉ số Ia tốn thời gian nên không được sử dụng rộng rãi trên
thực tế, người ta sử dụng các thí nghiệm xác định các thông số khống chế chất
lượng của cốt liệu sử dụng trong hỗn hợp như thí nghiệm các định hàm lương hạt
dẹt AASHTO M283 hoặc ASTM D4791
Hình dạng và cấu trúc bề mặt thể hiện qua số mặt vỡ của hạt cốt liệu thể hiện khả
năng chống lại sự xuất hiện vệt lún bánh xe Hình dạng và số mặt vỡ của hạt cốt liệu
chính là cơ sở để nghiên cứu cho ổn định của hỗn hợp bê tông nhựa kể cả cấp phối
chặt và cấp phối hở
Độ sạch và hàm lượng các chất có hại
Độ sách và hàm lượng các chất có hại (chủ yếu trên bề mặt của cốt liệu như lượng
bụi, sét và các chất hữu cơ) và lượng các hạt sét, hạt bở, có ảnh hưởng đến cường
độ chung của hỗn hợp và khả năng dính bám giữa cốt liệu và nhựa đường
Chất lượng này của cốt liệu được xác định nhờ hai thí nghiệm
- Thí nghiệm xác định hàm lượng hạt sét và hạt bở (ASTM C142), áp dụng
cho cốt liệu hạt thô
- Thí nghiệm đương lượng cát (ASTM D2419), áp dụng cho cốt liệu hạt mịn
Trang 37Các tiêu chuẩn thông thường cho hỗn hợp bê tông nhựa mặt đường hạn chế hàm
lượng hạt sét và hạt bở trong cốt liệu thô dưới 1% và đương lượng cát cho cốt liệu
hạt mịn là 25 - 35
3.1.4 Dung trọng của cốt liệu
Dung trọng của cốt liệu được sử dụng để tính toán độ rỗng dư trong hỗn hợp bê
tông nhựa đã đầm nén, Nghĩa là nó là một thông số ảnh hưởng đến độ rỗng của
BTN Về độ rỗng dư người ta đã nghiên cứu và phát hiện ra những giới hạn về độ
rỗng là ranh giới cho thấy các tính chất của BTN thay đổi nhiều Nừu độ rỗng dư ≤
2, tính ổn định toàn khối giảm BTN trở nên dễ đầm nén Loại bê tông này khi sử
dụng hoàn toàn khôn cho nước thấm qua Những điều kiện như vậy chỉ thích hợp
khi tải trọng xe nhỏ Khi độ rỗng đạt xấp xỉ 5%, hỗn hợp BTN có cường độ đảm
bảo ổn định toàn khối và đủ thấm nước khi tải trọng giao thông cao Nhưng khi độ
rỗng tăng đến 7%, lớp BTN có tính ổn định toàn khối cao nhưng loại BTN này cho
phép nước thấm qua Bắt đầu từ 9% trở nên, tính ổn định toàn khối giảm đi rõ rệt,
BTN trở nên dễ đầm nén và luôn bị hở, dính kết giữa các hạt trở nên thiếu bền vững
tạo nên nguy cơ giảm sự ổn định của kết cấu dưới tác dụng của tải trọng xe và điều
kiện khí hậu Loại bê tông này chỉ có thể được sử dụng trong điều kiện như là: lớp
móng dưới, lớp nền cơ sở, lớp móng chống thấm từ dưới nên (trừ trường hợp BTN
độ rỗng lớn làm lớp bề mặt đường có giá thành cao được thiết kế cấp phối đặc biệt
và sử dụng loại bitum đặc biệt)
Trọng lượng riêng của cốt liệu phụ thuộc vào loại cốt liệu, hình dạng, kích cớ và
thành phần cỡ hạt (cấp phối cốt liệu) Phương trình tính toán dung trọng cốt liệu
thông thường là:
Thể tích * (khối lượng đơn vị của nước) Một đơn vị thể tích cốt liệu hạt thô bao gồm các thành phần như sau:
- Hạt rắn, có thể tích Vs
- Thể tích lỗ rỗng, Vpp
- Thể tích lỗ rỗng có khả năng hấp thụ nhựa đường, Vap
- Thể tích lỗ rỗng khí còn lại, Vpp - Vap
Với các ký hiệu về thể tích như trên, với khối lượng cốt liệu đã sấy khô ký hiệu là
Ws và w là trọng lượng đơn vị của nước Hình vẽ 3.3 sau và các công thức tương
ứng thể hiện các loại dung trọng của cốt liệu
Vpp-Vap
Vs
Trang 38W G
W G
W G
Thí nghiệm xác định dung trọng và khả năng hấp thụ (nhựa đường) của cốt liệu hạt
thô được xác định bằng thí nghiệm (tiêu chuẩn AASHTO T85 hoặc ASTM C127)
Trình tự thí nghiệm:
Khoảng 5kg cốt liệu rửa sạch trên sàng số 4 (4.75mm) và sấy khô Ngâm cốt liệu đã
sấy khô trong nước 24 giờ Lấy cốt liệu ra để ráo nước và làm khô bề mặt (Cốt liệu
lúc này được gọi là bão hoà nước với bề mặt khô) Cân khối lượng được giá trị B
Đem cốt liệu này cân trong nước được khối lượng C Lấy mẫu ra, lau khô bề mặt và
sấy khô, cân được khối lượng A Các giá trị được tính toán như sau:
- Dung trọng hạt
(3.15)
sa
A G
B C
Khả năng hấp thụ, (%) =
Thí nghiệm xác định dung trọng và khả năng hấp thụ (nhựa đường của cốt liệu hạt
mịn được xác định bằng thí nghiệm (tiêu chuẩn AASHTO T84 hoặc ASTM C128)
Trình tự thí nghiệm:
Trong thí nghiệm này, tỷ trọng kế được dụng để xác định dung trọng được đổ đầy
nước và cân được khối lượng B Lấy khoảng 1000 g cốt liệu mịn, sấy khô Cốt liệu
(3.17)
B A A
Trang 39khô sau đó được ngâm nước trong 24 giờ Cốt liệu sau ngâm được tãi rộng và để
khô, để đạt đến trạng thái bão hoà với bề mặt khô Lấy khoảng 500 g cốt liệu mịn ở
trạng thái này đổ vào tỷ trọng kế, cân được khối lượng D Nhúng tỷ trọng kế vào
trong nước, theo quy trình đo và ghi được giá trị khối lượng là C Lượng hạt mịn
sau đó được lấy ra và sấy khô, cân có khối lượng A Các công thức tính toán tương
- Khả năng hấp thụ, (%) =
Sau khi xác định dung trọng của các loại thành phần cỡ hạt, dung trọng trung bình
của hỗn hợp cốt liệu dùng cho bê tông nhựa được xác định theo phương trình:
n n n
G = dung trọng trung bình của hỗn hợp cốt liệu
G1, G2, Gn = dung trọng của mỗi thành phần cỡ hạt 1, 2 n của cốt liệu
P1, P2, Pn = % theo khối lượng của mỗi thành phần cỡ hạt 1, 2 n của cốt liệu
Thí nghiệm trên dùng để xác định lượng nhựa hấp thụ (hoặc hàm lượng nhựa có
hiệu) đối với các loại cốt liệu (hoặc có thể tính qua dung trọng có hiệu của cốt liệu)
Mỗi loại cốt liệu có khả năng hấp phụ nhựa đường khác nhau Lượng nhựa hấp thụ
là chỉ tiêu quan trọng để có được hàm lượng nhựa đủ (hợp lý) đối với một loại cốt
liệu cụ thể
3.1.5 Kích cỡ và thành phần cỡ hạt của cốt liệu
3.1.5.1 Đường cong cấp phối cốt liệu
Cấp phối cốt liệu là phân bố thành phần cỡ hạt theo % của tổng khối lượng Cấp
phối cốt liệu cho hỗn hợp được xác định bằng thí nghiệm sử dụng bộ sàng tiêu
chuẩn
Cấp phối cốt liệu là đặc tính quan trọng nhất của hỗn hợp cốt liệu Nó ảnh hưởng
đến hầu hết các đặc tính quan trọng của hỗn hợp, bao gồm độ cứng, độ ổn định, độ
Trang 40bền, độ thấm nước, độ linh động, khả năng chịu mỏi, cường độ chống trượt và khả
năng chống lại các hư hỏng do ảnh hưởng của nước Chính vì vậy, thiết kế thành
phần cấp phối cốt liệu là quan trọng nhất đối với thiết kế thành phần bê tông nhựa
Theo lý thuyết, thì cấp phối cốt liệu tốt nhất là cấp phối cốt liệu có độ chặt lớn nhất,
để các hạt cốt liệu sát với nhau, chèn móc vào nhau và tăng lực ma sát trong bộ
khung cốt liệu Tuy nhiên, với hỗn hợp bê tông nhựa, cần phải có đủ đỗ rỗng tương
ứng với lượng nhựa đủ để tạo thành hỗn hợp có độ bền, tránh hiện tượng chảy nhựa
hoặc vệt lún bánh xe Chính vì vậy BTN phải có độ rỗng (VMA) nằm trong phạm vi
quy định
Một trong những cấp phối tiêu chuẩn được nhiều người biết đến là cấp phối liên tục
theo họ đường cong Fuller cho đường cong cấp phối có độ chặt lớn nhất
n
d P
cấp phối cốt liệu được sử dụng cho bê tông nhựa chặt có hệ số mũ n = 0,45
Hình 3.11 thể hiện các đường cong dung trọng lớn nhất (n = 0,5) Fuller vẽ trên biểu
đồ bán logarit
Hình 3.6 thể hiện các đường cấp phối xác định từ hàm phương trình với các số mũ
0,45, được vẽ trên biểu đồ cấp phối Federal Highway Administration
40 50
70
60
80 90 100
3/4'' 1'' 1 1/2'' 2''
1 1/4'' 1 3/4''
2 1/2'' 3'' 325