BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIAO THÔNG VẬN TẢI NGUYỄN THÀNH LUÂN NGHIÊN CỨU CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO AN TOÀN GIAO THÔNG TRÊN TUYẾN TỈNH LỘ 25B VÀ 769 ĐOẠN TỪ NGÃ BA NHƠN TRẠCH
TỔNG QUAN VỀ AN TOÀN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ; TÌNH HÌNH TAI NẠN GIAO THÔNG TRONG NƯỚC VÀ TRÊN THẾ GIỚI
Tổng quan về tình hình an toàn giao thông trên Thế Giới
Trong thế kỷ XX, sự phát triển nhanh chóng của các phương tiện giao thông đã diễn ra mạnh mẽ Từ những phương tiện thô sơ, hiện nay thế giới đã có hàng tỷ loại phương tiện, bao gồm xe đạp, xe gắn máy, ô tô và máy bay hiện đại.
Hàng năm, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) ghi nhận khoảng 1,3 triệu người chết và từ 20 đến 50 triệu người bị thương do tai nạn giao thông đường bộ, chủ yếu ở nhóm tuổi 15 - 29 Tổng thiệt hại về tài sản lên đến 518 tỷ đô la Nếu không có biện pháp phòng ngừa, tai nạn giao thông đường bộ có thể dẫn đến cái chết của khoảng 1,9 triệu người vào năm 2020.
1.1.1.Tỷ lệ số người chết/100.000 dân của một số nước trên thế giới:
Theo số liệu thống kê, tỷ lệ số người chết/100.000 dân của các nước trên thế giới
Biểu đồ 1.1 Tỷ lệ số người chết/100.000 dân các nước trên Thế Giới.[Nguồn:
Theo biểu đồ 1.1, Malaysia (23,64) và Nga (23,37) có tỷ lệ số người chết cao nhất trên thế giới, trong khi Philippines có tỷ lệ thấp nhất (1,35) Việt Nam cũng không phải là ngoại lệ với tỷ lệ số người chết cao (11,99), đứng thứ 7 trong số 16 quốc gia được khảo sát.
Theo số liệu từ tổ chức quốc tế, trung bình mỗi 30 giây trên thế giới có 1 người chết và 10 người bị thương nghiêm trọng do tai nạn giao thông Con số này đang gia tăng, và Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) dự báo rằng số ca tử vong vì tai nạn giao thông sẽ đạt gần 2 triệu người mỗi năm vào năm 2030, tăng 1,3 triệu so với hiện tại Đặc biệt, WHO nhận định tai nạn giao thông sẽ trở thành nguyên nhân gây tử vong hàng đầu, đặc biệt ở các nước có thu nhập trung bình và thấp.
Dự báo đến năm 2030, số tử vong do tai nạn giao thông ở các nước nghèo và có thu nhập trung bình sẽ tăng mạnh, theo số liệu từ WHO.
Theo tổ chức từ thiện iRAP, tử vong và thương tích do tai nạn giao thông chiếm khoảng 5% GDP của các quốc gia có thu nhập trung bình và thấp Tổng chi phí liên quan đến y tế, chăm sóc, giảm thu nhập và thiệt hại tài sản do tai nạn giao thông ước tính lên tới 1.900 tỉ USD mỗi năm Trung bình, 500 tỉ USD được đầu tư hàng năm để cải thiện và nâng cấp hạ tầng giao thông, nhằm kết nối cộng đồng, tạo điều kiện di chuyển thuận lợi cho người dân, tăng cường việc làm và phát triển đô thị.
1.1.2.Tỷ lệ tai nạn giao thông một số khu vực trên Thế Giới:
Tai nạn giao thông là một mối đe dọa lớn đối với nhân loại Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), các khu vực có tần suất tai nạn giao thông cao được thể hiện rõ trong biểu đồ 1.3.
Biểu đồ 1.3Tỷ lệ tai nạn giao thông một số khu vực trên thế giới[Nguồn: WHO]
Theo biểu đồ 1.3, tỷ lệ tai nạn giao thông cao nhất thuộc về khu vực Châu Phi với 44%, tiếp theo là Bắc Mỹ và Châu Âu với 14%, Trung Mỹ 13%, Đông Âu 12%, Châu Á 11%, và khu vực Trung Đông có tỷ lệ tai nạn thấp nhất chỉ 6%.
1.1.3.Tỷ lệ chết do TNGT theo nhóm tuổi và theo mức thu nhập trên thế giới:
Theo thống kê, trung bình mỗi ngày có khoảng 3.400 người tử vong do tai nạn giao thông đường bộ, trong đó 59% là người trong độ tuổi từ 15 đến 44 và 77% số nạn nhân là nam giới.
Biểu đồ 1.4Tỷ lệ chết do TNGT theo nhóm tuổi và theo mức thu nhập
[ Nguồn: Tạp chí CSND Chuyên đề An toàn giao thông - Số 01/tháng 11/2014]
Tỷ lệ người chết do tai nạn giao thông (TNGT) vẫn không giảm, với các nước có mức thu nhập trung bình ghi nhận tỷ lệ cao nhất là 20,1 người chết/100.000 dân Ngược lại, các nước có mức thu nhập cao có tỷ lệ thấp nhất, chỉ 8,7 người chết/100.000 dân Trung bình toàn cầu hiện nay là 18 người chết/100.000 dân do TNGT.
Các quốc gia có mức thu nhập trung bình sở hữu 52% tổng số phương tiện giao thông toàn cầu, trong khi các quốc gia có mức thu nhập cao chiếm 47% Điều này cho thấy số lượng phương tiện giữa hai nhóm quốc gia này gần như tương đương.
Biểu đồ 1.5Số người chết do tai nạn giao thông, dân số, số phương tiện giao thông theo các nước trên thế giới theo mức thu nhập bình quân
[ Nguồn: Tạp chí CSND Chuyên đề An toàn giao thông - Số 01/tháng 11/2014]
Biểu đồ 1.6Tỷ lệ người chết do tai nạn giao thông /100.000 dân theo vị trí địa lý các khu vực
[ Nguồn: Tạp chí CSND Chuyên đề An toàn giao thông - Số 01/tháng 11/2014]
Biểu đồ 1.5 và hình 1.6 cho thấy rõ rằng số người chết do tai nạn giao thông không chỉ phụ thuộc vào số lượng phương tiện, mà còn bị ảnh hưởng bởi các yếu tố quan trọng khác như trình độ dân trí, hiểu biết về luật giao thông, ý thức của người tham gia giao thông và chất lượng kết cấu hạ tầng giao thông.
1.1.4.Tỷ lệ chết do TNGT theo nhóm đối tƣợng tham gia giao thông khác nhau theo mức thu nhập:
Số lượng thống kê cho thấy rằng, 1/2 số trường hợp chết do TNGT là người đi bộ (23%), đi xe đạp (22%) và đi xe gắn máy (5%)
Tổ chức Y tế Thế giới xác định những người tham gia giao thông dễ bị tổn thương Theo thống kê, tỷ lệ tử vong do tai nạn giao thông (TNGT) ở tài xế và hành khách chiếm 31%, trong khi 19% còn lại là các đối tượng tham gia giao thông khác.
Các quốc gia có thu nhập thấp và trung bình ghi nhận tỷ lệ tử vong do tai nạn giao thông ở người đi bộ, xe đạp và xe gắn máy cao hơn nhiều so với các nước thu nhập cao Ở Châu Phi, đi bộ và đi xe đạp là hai phương thức di chuyển phổ biến, trong khi tại Đông Nam Á và Tây Thái Bình Dương, xe gắn máy là phương tiện chính do chi phí thấp và dễ điều khiển Tại Châu Phi, 38% trường hợp tử vong do tai nạn giao thông là người đi bộ, trong khi ở Tây Thái Bình Dương, con số này là 36% đối với người đi xe gắn máy.
Biểu đồ 1.7 cho thấy tỷ lệ người chết do tai nạn giao thông ở các nhóm đối tượng tham gia giao thông khác nhau, được phân loại theo thu nhập bình quân trên toàn cầu Dữ liệu này được trích dẫn từ Tạp chí, cung cấp cái nhìn sâu sắc về mối liên hệ giữa thu nhập và an toàn giao thông.
CSND Chuyên đề An toàn giao thông - Số 01/tháng 11/2014]
Tổng quan về tình hình an toàn giao thông ở Việt Nam
1.2.1.Tình hình giao thông đường bộ của Việt Nam thời gian qua:
Theo thống kê của UBATGTQG cho thấy, mỗi năm nước ta có từ 11.000 -
Mỗi năm, có khoảng 12.000 trường hợp tử vong do tai nạn, trong đó tai nạn giao thông đường bộ chiếm tỷ lệ cao nhất, với 96,5% số vụ, 97,4% số người chết và 98,7% số người bị thương trong tổng số tai nạn giao thông.
Xét về thiệt hại kinh tế do tai nạn giao thông đường bộ gây ra:
SỐ TT CHỈ SỐ GIÁ TRỊ
2 Tính theo USD 2.041 triệu đô la
3 Tính theo đồng 32.619 tỷ đồng
[Nguồn: JICA ] Tình hình TNGT ở Việt Nam những năm gần đây:
Bảng 1.3 TNGT ở Việt Nam qua các năm gần đây
TT Năm Số vụ Số người chết
TT Năm Số vụ Số người chết
29.385 9.369 29.500 [Nguồn: Uỷ ban ATGT Quốc gia ]
Theo bảng 1.3, năm 2002 ghi nhận số vụ tai nạn giao thông cao với ba tiêu chí (số vụ, số người chết, số người bị thương) đều tăng Tuy nhiên, từ đó, số vụ tai nạn đã giảm dần qua các năm, đến năm 2009, số vụ giảm 53%, số người bị thương giảm 74%, trong khi số người chết chỉ giảm 12,66% Đáng chú ý, năm 2011 lại chứng kiến sự gia tăng đột biến với 44.548 vụ tai nạn, tăng 256% so với năm 2009 Từ năm 2011 đến 2013, số vụ tai nạn có xu hướng giảm, với 36.376 vụ vào năm 2012.
Năm 2013, cả nước ghi nhận 29.385 vụ tai nạn giao thông (TNGT), với số người bị thương tỷ lệ thuận với số vụ Tuy nhiên, điều đáng mừng là số người chết do TNGT đã giảm dần qua các năm, từ 11.516 người vào năm 2009 xuống còn 9.369 người vào năm 2013 Mặc dù vậy, tình hình TNGT, đặc biệt là tai nạn giao thông đường bộ (TNGTĐB), vẫn diễn biến phức tạp, nhất là ở khu vực nông thôn, nơi có xu hướng gia tăng.
Biểu đồ 1.8 TNGTĐB phân theo loại đường
[Nguồn: Cục CSGT Đường bộ - Đường sắt]
Theo hình 1.8, tai nạn giao thông (TNGT) trên Quốc lộ có xu hướng giảm, với mức giảm 30% vào năm 2011 so với năm 2007 Ngược lại, TNGT trên các đường địa phương, đặc biệt là đường đô thị, lại tăng nhanh từ 14,69% năm 2008 lên 34,60% vào năm 2011.
Biểu đồ 1.9 TNGTĐB phân theo loại phương tiện
[Nguồn: Cục CSGT Đường bộ - Đường sắt]
Theo hình 1.9, tỷ lệ tai nạn giao thông (TNGT) liên quan đến xe mô tô và xe gắn máy chiếm hơn 66%, trong khi đó, hơn 22% các vụ tai nạn do xe ô tô gây ra Đồng thời, các vụ tai nạn liên quan đến người đi bộ và xe đạp có xu hướng gia tăng Ngược lại, tỷ lệ tai nạn do ô tô đã giảm từ 28,74% vào năm 2009 xuống còn 22,29% vào năm 2011.
Biểu đồ 1.10 TNGTĐB theo mức độ thương tích
[Nguồn: Cục CSGT Đường bộ - Đường sắt]
Theo hình 1.10, các tai nạn giao thông nghiêm trọng chiếm 70% tổng số vụ, trong khi tai nạn rất nghiêm trọng chỉ chiếm dưới 6% Từ năm 2008, tỷ lệ tai nạn ít nghiêm trọng đã giảm từ 16,08% xuống 5,80% vào năm 2009, nhưng sau đó lại tăng lên 23,30% vào năm 2010 và 26,05% vào năm 2011.
Số lượng phương tiện giao thông tăng tốc độ chóng mặt (xem biểu đồ 1.11)
Biểu đồ 1.11Bảng thống kê, biểu đồ số lượng phương tiện (Mô tô màu nâu,Ô tô màu đỏ) ở Việt Nam [Nguồn: Cục CSGT Đường bộ - Đường sắt]
Tỷ lệ phương tiện cơ giới đường bộ trong khu vực xem bảng 1.4:
Bảng 1.4 Tỷ lệ mô tô trên tổng PTCGĐB Việt Nam so với các nước
TỶ LỆ MÔ TÔ/TỔNG PTCGĐB (%)
Theo bảng 1.4 và biểu đồ 1.11, phương tiện cơ giới đường bộ tại Việt Nam đang bùng nổ, với mức tăng hàng năm trước 2001 khoảng 300.000 đến 600.000 phương tiện Từ năm 2001, sự gia tăng trở nên đột biến, với mô tô tăng từ 6.210.823 lên 8.359.042 chiếc và ô tô từ 438.917 lên 557.092 chiếc Mô tô chiếm hơn 94% tổng số phương tiện, tập trung chủ yếu ở các thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng và TP.HCM Cơ cấu phương tiện này không chỉ bất hợp lý mà còn tiềm ẩn nguy cơ cao về tai nạn giao thông đường bộ, tạo ra thách thức lớn trong việc hạn chế tai nạn.
1.2.2.Tình hình giao thông đường bộ của Việt Nam trong năm 2015, 2016 và 3 tháng đầu năm 2017:
Theo báo cáo của Ủy ban An toàn giao thông Quốc gia, trong năm
Năm 2015, từ ngày 16/12/2014 đến 15/12/2015, tai nạn giao thông (TNGT) tiếp tục giảm ở cả ba tiêu chí: số vụ, số người chết và số người bị thương Toàn quốc ghi nhận 22.404 vụ tai nạn, làm chết 8.671 người và làm bị thương 20.556 người So với năm 2014, số vụ giảm 2.918 vụ (-11,52%), số người chết giảm 325 người (-3,61%) và số người bị thương giảm 3.861 người (-15,81%).
Trong năm qua, tai nạn giao thông đã xảy ra 10.167 vụ, dẫn đến 8.671 người chết và 5.984 người bị thương So với cùng kỳ năm 2014, số vụ tai nạn giảm 434 vụ (-4,09%), số người chết giảm 325 người (-3,61%) và số người bị thương giảm 281 người (-4,49%).
Trong năm qua, đã xảy ra 12.237 vụ va chạm giao thông, làm bị thương nhẹ 14.572 người, giảm 2.484 vụ (-16,87%) và 3.580 người bị thương (-19,72%) so với cùng kỳ năm 2014 Tuy nhiên, tình hình trật tự an toàn giao thông vẫn phức tạp, với số vụ tai nạn gây thiệt hại về người và tài sản vẫn ở mức cao Nguyên nhân chính dẫn đến tai nạn giao thông bao gồm việc lưu thông không đúng phần đường, không chấp hành hiệu lệnh đèn tín hiệu, vi phạm tốc độ và tránh, vượt không đúng quy định, cho thấy sự thiếu ý thức của người tham gia giao thông.
Năm 2016, từ ngày 16/12/2015 đến 15/12/2016, toàn quốc ghi nhận 21.589 vụ tai nạn giao thông, làm chết 8.685 người và bị thương 19.280 người So với năm 2015, số vụ tai nạn giảm 1.261 vụ (-5,52%), số người chết giảm 43 người (-0,49%) và số người bị thương giảm 1.792 người (-8,5%).
Tai nạn giao thông đường bộ đã giảm 1.232 vụ, tương ứng với mức giảm 5,52%, và số người chết giảm 18 người, giảm 0,21% Số người bị thương cũng giảm 1.780, tương đương 8,55% Hầu hết các địa phương đều ghi nhận sự giảm sút trên cả ba tiêu chí này Tuy nhiên, vẫn xảy ra 62 vụ tai nạn giao thông đặc biệt nghiêm trọng, dẫn đến 196 người chết và 222 người bị thương.
Trong năm qua, tai nạn giao thông đường sắt đã xảy ra 360 vụ, dẫn đến 191 người thiệt mạng và 229 người bị thương So với năm 2015, số vụ tai nạn giảm 45 vụ (-11,11%), số người chết giảm 27 người (-12,38%) và số người bị thương giảm 10 người (-4,18%) Đặc biệt, có một vụ tai nạn nghiêm trọng tại Hà Nội, làm chết 6 người và làm 1 người bị thương.
Trong năm 2015, tai nạn giao thông đường thủy ghi nhận 114 vụ, làm chết 72 người và 16 người bị thương So với năm trước, số vụ tăng 18 vụ (+18,75%), trong khi số người chết giảm 02 người (-2,7%) và số người bị thương tăng 01 người (+6,66%) Đặc biệt, có 07 vụ tai nạn nghiêm trọng xảy ra trên đường thủy nội địa, khiến 17 người thiệt mạng và gây thiệt hại tài sản lên đến hàng trăm tỷ đồng.
Biểu đồ 1.12So sánh TNGT năm 2015 - 2016
Biểu đồ 1.13Phân tích tuyến đường xảy ra TNGT
Biểu đồ 1.14Phân tích nguyên nhân TNGT 2016
Theo báo cáo của Cục Cảnh sát Giao thông, trong năm qua, cả nước xảy ra 9.776 vụ tai nạn giao thông, làm chết 4.197 người và bị thương 7.801 người So với cùng kỳ năm 2016, số vụ tai nạn giảm 478 vụ (-4,66%), số người chết giảm 123 người (-2,85%) và số người bị thương giảm 1.315 người (-14,43%) Trong đó, trên đường bộ xảy ra 9.597 vụ, làm chết 4.094 người và bị thương 7.706 người, với sự giảm lần lượt là 402 vụ (-4%), 93 người chết (-2,22%) và 1.277 người bị thương (-14,21%).
Tổng quan về tình hình ATGT tại tỉnh Đồng Nai
1.3.1.Tổng quan về tình hình ATGT trên địa bàn tỉnh Đồng Nai
Theo báo cáo của Ban ATGT tỉnh, trong 9 tháng đầu năm 2016, tình hình tai nạn giao thông trên địa bàn tỉnh đã giảm cả về số vụ, số người chết và số người bị thương so với cùng kỳ năm 2015.
Trong 9 tháng qua, toàn tỉnh ghi nhận 291 vụ tai nạn giao thông (TNGT), dẫn đến 226 người tử vong và 182 người bị thương, với thiệt hại tài sản ước tính hơn 23,3 tỷ đồng Đặc biệt, tai nạn giao thông đường bộ chiếm tỷ lệ cao nhất với 280 vụ, làm chết 218 người và gây thương tích cho nhiều người khác.
181 người; đường sắt xảy ra 7 vụ làm chết 6 người và bị thương 1 người; đường thủy xảy ra 4 vụ làm chết 2 người
Báo cáo của Ban ATGT tỉnh chỉ ra rằng tình trạng tai nạn giao thông (TNGT) đường bộ vẫn ở mức cao, với 95% vụ tai nạn do ý thức chủ quan của người tham gia giao thông Các lỗi phổ biến bao gồm lưu thông không đúng làn đường, vi phạm quy tắc tránh vượt, và thiếu chú ý quan sát Mặc dù một số địa phương như TP Biên Hòa và các huyện Tân Phú, Long Thành, Vĩnh Cửu ghi nhận giảm số vụ tai nạn, nhưng các huyện Thống Nhất, Trảng Bom, Nhơn Trạch, Cẩm Mỹ và TX Long Khánh lại có tình trạng TNGT gia tăng, đặc biệt trên các tuyến đường cao tốc.
TP Hồ Chí Minh - Long Thành - Dầu Giây và quốc lộ 56
Trong 9 tháng qua, toàn tỉnh đã ghi nhận 4 vụ ùn tắc giao thông kéo dài trên 30 phút, bao gồm 1 vụ trên quốc lộ 20, 1 vụ trên quốc lộ 51 và 2 vụ tại các tuyến đường khác.
Tại TP Biên Hòa, tình trạng ùn tắc giao thông xảy ra do nhiều nguyên nhân, bao gồm tai nạn giao thông, công nhân đình công tràn ra quốc lộ, mưa lớn gây ngập lụt và thi công hầm chui tại ngã tư Vũng Tàu.
1.3.2.Phân loại tai nạn giao thông: Đề xuất có 9 loại sau:
TNGT xảy ra do sự tương tác giữa nguyên nhân nội tại và bên ngoài; khi cả hai yếu tố này được cải thiện, an toàn giao thông sẽ được đảm bảo Ngoài ra, TNGT có thể được phân loại thành TNGT thuần túy và TNGT suy đoán dựa trên kết quả của sự lựa chọn.
Tai nạn giao thông (TNGT) có thể được phân loại thành hai cách xử lý: TNGT tập trung và TNGT phân tán Điều này có nghĩa là tai nạn không chỉ do một nguyên nhân cố định mà phát sinh từ nhiều yếu tố khác nhau Chẳng hạn, khi lưu thông qua một đoạn đường, tai nạn có thể xảy ra do ý thức tham gia giao thông kém hoặc do các phương tiện tham gia giao thông không đảm bảo an toàn.
Theo tác động dẫn xuất: TNGT trực tiếp và tai nạn giao thông gián tiếp
Theo đối tượng tổn thất: Về tài sản, con người, tổn thất về thời gian, tâm lý và gắn liền với trách nhiệm pháp lý
Tốc độ xảy ra của tai nạn có thể nhanh hoặc chậm, tùy thuộc vào từng tình huống cụ thể Mức độ cảm nhận tai nạn cũng có thể được dự đoán hoặc không, ảnh hưởng đến khả năng phản ứng của người tham gia giao thông.
Theo Phạm vi ảnh hưởng: Tai nạn mang tính chất cơ bản, tai nạn mang tính chất riêng biệt
Theo Mức độ: Rất cao (Người chết), cao (Chấn thương nặng), thông thường (Chấn thương nhẹ), không phân loại (Chấn thương không phân loại)
1.3.3.Nguyên nhân gây ra tai nạn giao thông:
Biến đổi khí hậu là một vấn đề phức tạp, ảnh hưởng đến an toàn giao thông (ATGT) thông qua các hiện tượng như bão lũ và triều cường Các yếu tố thời tiết như mưa, nắng, gió, cùng với điều kiện đường xá và tình trạng xe cộ, cũng như khí hậu trong buồng lái, đều có tác động đáng kể đến ATGT.
Thông tin từ môi trường là yếu tố quan trọng giúp người lái kịp thời xử lý các tình huống bất ngờ, như điều chỉnh tốc độ hoặc thay đổi hướng đi Ngược lại, nếu thông tin không phù hợp, người lái có thể rơi vào tình huống bị động, dẫn đến nguy cơ tai nạn giao thông.
Khi lái xe, người điều khiển cần thực hiện ba nhiệm vụ chính: xác định và giám sát hành trình, điều khiển phương tiện, và đảm bảo sự ổn định trong quá trình di chuyển.
* Cơ sở hạ tầng giao thông:
- Hạ tầng lạc hậu, yếu kém Số lượng đường có nhiều làn xe còn rất ít, các loại khác nhau cùng lưu thông trên cùng một phần xe chạy
- Dân số và số lượng phương tiện nhanh cơ sở hạ tầng chưa kịp đáp ứng
Việc sửa chữa, nâng cấp các tuyến đường thực sự gây trở ngại, ùn tắc
Dòng xe mô tô, xe máy chưa được quản lý và tổ chức khai thác hợp lý
Các yếu tố hình học (Bình đồ, trắc dọc, trắc ngang, ) của đường đóng vai trò rất quan trọng trong việc đảm bảo ATGTĐB
Chất lượng thi công, quản lý khai thác đường cũng rất quan trọng
* Phương tiện tham gia giao thông:
Xe máy chiếm tỷ lệ lớn trong giao thông Việt Nam, tạo nên một dòng xe hỗn hợp phức tạp, điều này tiềm ẩn nguy cơ tai nạn giao thông cao.
Chất lượng của các phương tiện này không được kiểm tra định kỳ có khả năng cao gây TNGT
Phương tiện công cộng tham gia giao thông như xe buýt lưu hành và đỗ đón khách gây cản trở không nhỏ trong giao thông đô thị
Ý thức tham gia giao thông của người dân còn yếu kém và thiếu tự giác, với hơn 60% tai nạn giao thông do người điều khiển phương tiện gây ra Bên cạnh các yếu tố như môi trường, đường xá và phương tiện, ý thức của người tham gia giao thông đóng vai trò quan trọng trong việc gây ra tai nạn.
Các nguyên nhân gây ra tai nạn giao thông đường bộ bao gồm phán đoán sai tốc độ, thu hẹp giới hạn an toàn, và sao nhãng các quy tắc luật lệ giao thông Bên cạnh đó, áp lực xã hội và áp lực khi tham gia giao thông, cùng với việc lạm dụng các chất kích thích, cũng có ảnh hưởng đáng kể đến an toàn giao thông.
Hệ thống các yếu tố cơ bản tác dụng lên người lái xe xem bảng 1.5:
Bảng 1.5 Bảng tổng hợp các yếu tố tác dụng lên người lái xe
Mức độ Sự hiểu biết
Các nhân tố gia tăng nguy cơ rủi ro Tự đánh giá
Mục đích và kĩ năng cho cuộc sống
Nhận thức /kiểm soát các mục tiêu, hành vi của người tham gia giao thông…đến quá trình xe chạy
Nhận thức và kiểm soát rủi ro là yếu tố quan trọng trong việc kết nối các mục tiêu cuộc sống với hành vi của người tham gia giao thông Áp lực xã hội và mức độ lạm dụng các chất kích thích cũng ảnh hưởng đáng kể đến hành vi này.
Nhận thức về xu hướng cá nhân như: điều khiển hành vi, động cơ, lối sống và các giá trị nhận thức khác
Mức độ Sự hiểu biết
Các nhân tố gia tăng nguy cơ rủi ro Tự đánh giá
Mục đích và tình huống trong quá trình điều khiển xe
Hành trình có sự Xác định, ảnh hưởng đến những mục tiêu, lựa chọn môi trường, ảnh hưởng của áp lực xã hội và các đánh giá cần thiết
Tổng quan về điểm đen tai nạn giao thông trên tuyến tỉnh lộ 25B và
Điểm đen có thể định nghĩa theo số lượng, hoặc theo thống kê, hoặc theo mô hình, một số nước có định nghĩa điểm đen như sau:
Quốc gia Đức: Đoạn đường 300m có ít nhất 5 tai nạn tương tự trong một năm hoặc 03 tai nạn trong 03 năm
Quốc gia Đan Mạch ghi nhận rằng một đoạn đường hoặc nút giao có số vụ tai nạn giao thông cao có ý nghĩa thống kê hơn so với các nút giao tương tự với lưu lượng giao thông tương đương, thường yêu cầu tối thiểu 04 vụ tai nạn trong vòng 05 năm.
Na Uy ghi nhận một đoạn đường dài 100 m với hơn 04 người chết Trong khi đó, Áo yêu cầu ít nhất 03 tai nạn có thương tật trở lên trên một đoạn đường, với hệ số tương quan Rk tối thiểu là 0.8, được xác định theo công thức cụ thể.
U: Tổng số người chết và thương tật trong 03 năm trên đoạn đường 200m AADT: Lưu lượng xe ngày đêm trung bình năm
Quốc gia Hy Lạp ghi nhận tỷ lệ tai nạn giao thông có người chết và bị thương cao hơn từ 90% đến 97% so với phân phối Poison, dựa trên số liệu từ các đoạn đường tương tự.
Theo Tiểu ban ATGT thuộc Uỷ ban châu Âu, "Điểm đen" là thuật ngữ chỉ những vị trí, đoạn đường hoặc nút giao thông trên mạng lưới đường bộ của một quốc gia hoặc khu vực, nơi đã xảy ra nhiều vụ tai nạn giao thông (TNGT) trong một khoảng thời gian nhất định, dẫn đến thương vong và thiệt hại lớn về người và tài sản Thời gian này thường được xác định trong khoảng từ 3 năm trở lên.
5 năm gần nhất trở lại
Theo Thông tư số 26/2012/TT-BGTVT, điểm đen giao thông tại Việt Nam được định nghĩa là nơi thường xảy ra tai nạn giao thông "Điểm" ở đây có thể hiểu là một vị trí, đoạn đường hoặc khu vực nút giao Để xác định điểm đen, cần dựa vào tình hình tai nạn trong một năm, cụ thể là: có từ 02 vụ tai nạn có người chết; hoặc từ 03 vụ tai nạn trở lên, trong đó có ít nhất 01 vụ có người chết; hoặc từ 04 vụ tai nạn trở lên, nhưng chỉ có người bị thương.
Hiện nay vẫn chưa có định nghĩa chuẩn mực quốc tế về điểm đen TNGT
“Điểm đen” được xác định và phân loại dựa trên việc đánh giá, nhận xét và thống kê mức độ tai nạn giao thông (TNGT) trong một khoảng thời gian nhất định Mỗi quốc gia có khái niệm về “Điểm đen” phù hợp với điều kiện giao thông và kết cấu hạ tầng riêng của mình.
Vị trí tiềm ẩn tai nạn bao gồm các đoạn đường có hư hỏng mặt đường như nứt do mỏi, lún vệt bánh xe, nứt do nhiệt, xô đẩy mặt đường, bong bật và nứt phản ảnh Cần xem xét thêm các đoạn đường có lún sụt nền móng, tăng tải trọng và lưu lượng xe, cùng với các yếu tố hình học đường ô tô thiết kế chưa hợp lý, vì chúng có thể dẫn đến xung đột nguy hiểm.
Theo Thông tư số 26/2012/TT-BGTVT ngày 20/7/2012, điểm tiềm ẩn tai nạn giao thông đường bộ tại Việt Nam được định nghĩa là nơi có khả năng xảy ra tai nạn Để xác định điểm tiềm ẩn, cần xem xét hiện trạng công trình đường bộ, tổ chức giao thông và tình hình tai nạn trong vòng 12 tháng Các tiêu chí bao gồm: hiện trạng công trình và khu vực xung quanh có yếu tố gây mất an toàn giao thông, hoặc xảy ra từ 05 vụ va chạm trở lên, hoặc ít nhất 01 vụ tai nạn có người bị thương.
1.4.3.Các giải pháp đặc trƣng để xử lý điểm đen:
* Các tiêu chí và nguyên tắc xác định điểm đen:
Bảng 1.6Các yếu tố hình thành nên điểm đen
STT Yếu tố ảnh hưởng trực tiếp góp phần tạo nên điểm đen
Các biểu hiện bất lợi và nguy hiểm
1 Cấp hạng kỹ thuật và các yếu tố hình học của tuyến
- Bán kính lồi lõm nhỏ
STT Yếu tố ảnh hưởng trực tiếp góp phần tạo nên điểm đen
Các biểu hiện bất lợi và nguy hiểm
- Mặt đường ẩm ướt, bụi
- Thiếu biện pháp thi công
- Thiếu biển báo, sơn kẻ đường
- Không có dải phân cách
- Không có tường hộ lan
5 Điều kiện xe chạy trên đường
- Khu vực bệnh viện, trường học, chợ ở ngay ven đường
- Khu vực đông dân cư
- Khu vực có sương mù, nhiều mưa
- Khu vực có sạt lở đất
- Khu vực thiếu ánh sáng
6 Yếu tố ý thức con người
- Chạy quá tốc độ cho phép
- Uống rượu bia, buồn ngủ
- Thiếu tự giác chấp hành luật
* Trình tự và biện pháp xử lý điểm đen:
Theo Thông tư số 26/2012/TT-BGTVT ban hành ngày 20/7/2012 của Bộ Giao thông vận tải, có hiệu lực từ 15/9/2012, quy định trình tự xử lý điểm đen và điểm tiềm ẩn tai nạn giao thông gồm 08 bước Thông tư này thay thế Quyết định số 13/2005/QĐ-BGTVT ngày 02/02/2005.
Bước 1: Xác định và sơ bộ xếp hạng ưu tiên xử lý
Bước 2: Thị sát hiện trường lần đầu
Bước 3: Phân tích và sơ bộ xác định nguyên nhân
Bước 4: Nghiên cứu hiện trường lần hai để xác định nguyên nhân
Bước 5: Lựa chọn biện pháp khắc phục
Bước 6: Xác định cơ quan chịu trách nhiệm xử lý
Bước 7: Thực hiện xử lý điểm đen, điểm tiềm ẩn tai nạn giao thông
Bước 8: Theo dõi và đánh giá kết quả
Sơ đồ các giải pháp đặc trưng để xử lý điểm đen:
1.4.4.Tình hình ATGT tại điểm đen tai nạn tại đường tỉnh 25B Đường tỉnh 25B là một trong những điểm nóng về tai nạn giao thông của huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai trong những năm vừa qua Nhiều vụ tai nạn thảm khốc chết người đã xảy ra tại đây
Theo thống kê từ Công An huyện Nhơn Trạch, trong giai đoạn 2015 – 2016, tỉnh lộ 25B ghi nhận 24 vụ tai nạn giao thông, khiến 9 người thiệt mạng và 17 người bị thương Đặc biệt, khu vực quanh ngã tư Hiệp Phước xảy ra 15 vụ, trong khi đoạn rừng cao su có 9 vụ Đây là khu vực có mật độ phương tiện giao thông cao, đặc biệt là xe container, xe tải, ô tô và xe máy.
Nguyên nhân chính gây ra tai nạn giao thông chủ yếu là do sự chủ quan của người điều khiển phương tiện, bao gồm việc vượt sai quy định, chuyển hướng đột ngột, và không tuân thủ quy định về tốc độ cũng như nơi giao nhau Bên cạnh đó, một nguyên nhân khách quan là do mất phanh Đặc biệt, xe máy là phương tiện thường xuyên gặp phải va chạm, bên cạnh đó còn có xe tải và ô tô.
Tuyến đường 25B, từ công ty Hwa Seung đến ngã tư Hiệp Phước, không chỉ gặp phải tai nạn chết người mà còn thường xuyên bị quá tải và ùn ứ Tình trạng này diễn ra chủ yếu vào hai khung giờ cao điểm: từ 6 - 8 giờ sáng và 16 giờ 30 - 18 giờ chiều.
Tình trạng giao thông tại tuyến đường chính vào trung tâm huyện và khu công nghiệp Nhơn Trạch đang diễn biến phức tạp Các phương tiện như xe máy, ô tô và container phải chia sẻ mặt đường, dẫn đến không gian di chuyển chật chội Sự tập trung đông đúc của các phương tiện vào giờ cao điểm thường xuyên gây ra tình trạng ùn ứ.
Kết luận chương 1
Để cải thiện an toàn giao thông và giảm số vụ tai nạn, cần thực hiện các chính sách pháp luật kết hợp với việc giáo dục và tuyên truyền luật giao thông đường bộ Nâng cao ý thức của người tham gia giao thông và xây dựng văn hóa giao thông là rất quan trọng, trong đó yếu tố nhận thức của con người được đặt lên hàng đầu Đồng thời, cần đầu tư vào hạ tầng giao thông với chiến lược và tầm nhìn lâu dài, xây dựng hệ thống giao thông thông minh (ITS).
TNGT ở Việt Nam ngày càng phức tạp, với số vụ tai nạn không giảm đáng kể Hệ thống hạ tầng giao thông yếu kém không đáp ứng nhu cầu thực tế, cùng với các yếu tố kỹ thuật, khai thác đường và ý thức của người tham gia giao thông, đã gây thiệt hại lớn về người và phương tiện, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển kinh tế - xã hội Để giảm thiểu tai nạn giao thông một cách hiệu quả, cần có sự nỗ lực và chỉ đạo quyết liệt từ các cấp Trung ương đến địa phương.
Để đảm bảo an toàn giao thông, cần thực hiện một số biện pháp quan trọng như: thiết kế, khai thác và quản lý đường với quan điểm an toàn; nâng cao năng lực cho cơ quan quản lý an toàn giao thông; phát triển các cơ chế và chính sách nhằm xã hội hóa công tác đảm bảo an toàn giao thông; tăng cường công tác tuyên truyền và giáo dục về an toàn giao thông đường bộ; và đầu tư xây dựng các công trình, trang thiết bị đảm bảo an toàn giao thông.
Trước tình hình tai nạn giao thông (TNGT) diễn biến phức tạp trên toàn cầu và tại các thành phố lớn như Hà Nội, Thành Phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, việc nghiên cứu giải pháp giảm thiểu TNGT là rất cần thiết Đặc biệt, tập trung vào tuyến tỉnh lộ 25B và 769, đoạn từ ngã ba Nhơn Trạch đến phà Cát Lái thuộc tỉnh Đồng Nai, sẽ góp phần quan trọng trong việc cải thiện an toàn giao thông.
ĐIỀU TRA PHÂN TÍCH, ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG AN TOÀN GIAO THÔNG TRÊN TUYẾN TỈNH LỘ 25B VÀ 769 ĐOẠN TỪ NGÃ BA NHƠN TRẠCH ĐẾN PHÀ CÁT LÁI, TỈNH ĐỒNG NAI
Thực trạng ATGT trên tuyến tỉnh lộ 25B và 769
2.1.1.Về cơ sở hạ tầng giao thông chung ở Nhơn Trạch – Đồng Nai:
Giây - Long Thành - TP.Hồ ệ
Hình 2.1 Điều chỉnh quy hoạch giao thông huyện Nhơn Trạch – Đồng Nai
2.1.2.Cơ sở hạ tầng giao thông trên tuyến tỉnh lộ 25B và 769 đoạn từ ngã ba Nhơn Trạch đến phà Cát Lái
Mặt bằng tổng thể hiện trạng tuyến tuyến tỉnh lộ 25B và 769 đoạn từ ngã ba Nhơn Trạch đến phà Cát Lái như sau:
Hình 2.2Mặt bằng tổng thể hiện trạng tuyến tuyến tỉnh lộ 25B và 769 đoạn từ ngã ba Nhơn Trạch đến phà Cát Lái
Hình 2.3Mặt cắt ngang Tỉnh lộ 769 đoạn từ ngã ba rừng cao su đến phà Cát Lái
Tỉnh lộ 25B, đoạn từ ngã ba Nhơn Trạch đến ngã ba rừng cao su, là đường trục chính kết nối Quốc lộ 51 với trung tâm huyện Mỗi ngày, con đường này tiếp nhận hàng ngàn lượt xe các loại, phục vụ cho việc di chuyển vào các khu công nghiệp trong khu vực.
Hình 2.5 Tuyến đường 25B đoạn qua công ty Hwa Seung vào giờ cao điểm
Mặc dù tỉnh lộ 25B và 769 là trục đường chính với hàng ngàn lượt xe lưu thông mỗi ngày, nhưng hệ thống đèn tín hiệu giao thông vẫn còn cũ kỹ và không phù hợp với nhu cầu thực tế Nhiều biển báo bị che khuất, và một số trụ đèn tín hiệu được sử dụng chung cho nhiều làn đường, gây khó khăn cho người tham gia giao thông trong việc xác định tín hiệu và chấp hành luật lệ.
2.1.3 Khảo sát hiện trạng và các vấn đề bất cập trên tuyến tỉnh lộ 25B và 769 đoạn từ ngã ba Nhơn Trạch đến phà Cát Lái
Tỉnh lộ 25B từ ngã tư Hiệp Phước đến gần bùng binh huyện và đoạn rừng cao su hiện đang là đường cấp 3 đồng bằng, với bề rộng mặt đường 7m, nằm giữa khu vực đông dân cư và các khu công nghiệp Tuy nhiên, nhiều đoạn đường đang xuống cấp nghiêm trọng, đặc biệt vào mùa mưa, khi xuất hiện nhiều ổ gà gây khó khăn cho việc tham gia giao thông Mặc dù đơn vị quản lý đã tiến hành sửa chữa, nhưng tình hình vẫn không cải thiện do lưu lượng xe tải và container dày đặc.
Hệ thống an toàn giao thông hiện trạng gồm biển báo vào đường cong, cọc tiêu, vạch sơn phản quang: đã hư hỏng hoặc không còn tác dụng
Việc lấn chiếm vĩa hè làm nơi kinh doanh buôn bán làm mất trật tự
Hệ thống chiếu sáng trên đoạn đường qua rừng cao su đã cũ và hư hỏng, dẫn đến việc phương tiện giao thông phải sử dụng đèn chiếu xa, gây nguy hiểm cho các phương tiện đi ngược chiều Tình trạng kẹt xe cục bộ xảy ra do hàng chục xe khách đưa đón công nhân, làm cho việc đón trả trở nên phức tạp vào giờ cao điểm Tại tỉnh lộ 769, đoạn từ doanh trại quân đội đến khu dân cư, không có hệ thống đèn tín hiệu giao thông mặc dù có nhiều con hẻm nhỏ với lượng xe lớn Hệ thống cảnh báo tại trường THPT rất sơ sài, và vạch ngang dành cho người đi bộ lại ở quá xa cổng trường, khiến học sinh và phụ huynh thường xuyên băng qua đường một cách nguy hiểm.
Hệ thống cọc tiêu và biển báo trong lĩnh vực an toàn giao thông hiện tại đang gặp vấn đề nghiêm trọng, với nhiều biển báo vào đường cong, cọc tiêu và vạch sơn phản quang đã hư hỏng hoặc không còn hiệu quả.
Hình 2.6Rất nhiều loại phương tiện chen chúc tham gia giao thông trên mặt đường
Hình 2.7Đoạn qua rừng cao su rất thiếu ánh sáng vào buổi tối do hệ thống đèn đã cũ và hư hỏng
Hình 2.8Giao thông phức tạp tại ngã tư Hiệp Phước trong khi đường 25B đã xuống cấp trầm trọng.
Khảo sát và phân tích các phương tiện giao thông lưu thông hiện hành trên tuyến tỉnh lộ 25B và 769 đoạn từ ngã ba Nhơn Trạch đến phà Cát Lái
Tuyến tỉnh lộ 25B và 769 từ ngã ba Nhơn Trạch đến phà Cát Lái là khu vực có mật độ giao thông cao, với sự hiện diện của nhiều loại phương tiện như xe tải, xe container, ô tô, xe gắn máy và xe tải trọng lớn, đặc biệt vào các giờ cao điểm.
Trên tuyến đường này, mật độ xe vận tải và xe container rất cao, đặc biệt là tại các khu công nghiệp, với lưu lượng xe hướng về quốc lộ 51 rất lớn.
Mật độ xe công cộng ( xe khách đưa đón công nhân khu công nghiệp ) cao vào thời điểm buổi sáng 6h30 và chiều hết giờ làm việc
Mật độ xe máy tại các khu công nghiệp ra vào tập nập
Ngoài các phương tiện giao thông hiện đại, còn tồn tại nhiều loại phương tiện thô sơ như xe lôi và xe chở hàng nông sản bán trên vỉa hè Những phương tiện tự chế này thường được sử dụng để lấn chiếm vỉa hè phục vụ cho hoạt động kinh doanh.
2.2.2.Các loại phương tiện thường gây tai nạn trên tuyến tỉnh lộ 25B và 769 đoạn từ ngã ba Nhơn Trạch đến phà Cát Lái
Từ đầu năm 2016 đến giữa tháng 5/2016, trên tuyến tỉnh lộ 25B và đoạn từ ngã ba Nhơn Trạch đến phà Cát Lái đã xảy ra 22 vụ tai nạn giao thông, khiến 18 người thiệt mạng và hơn 25 phương tiện hư hỏng Nguyên nhân chủ yếu của các tai nạn này là do va chạm giữa các loại phương tiện như xe khách, xe container, xe máy, xe con và phương tiện thô sơ.
Qua nhưng con số “biết nói” ở trên chung ta cần phải có cái nhìn thay đổi về
An toàn giao thông trên tuyến tỉnh lộ 25B và 769 đoạn từ ngã ba Nhơn Trạch đến phà Cát Lái một cách thiết thực hơn nữa.
Khảo sát và phân tích các yếu tố của người tham gia giao thông ảnh hưởng đến an toàn xe chạy trên tuyến tỉnh lộ 25B và 769 đoạn từ ngã ba Nhơn Trạch đến phà Cát Lái
Người tham gia giao thông và nhận thức đầy đủ là yếu tố quyết định đến an toàn giao thông, đặc biệt là ở khu vực nông thôn, nơi mà khả năng nhận thức thường yếu kém và thiếu tự giác Ngoài các nguyên nhân về môi trường, đường xá và phương tiện, ý thức của người tham gia giao thông đóng vai trò quan trọng trong việc gây ra tai nạn giao thông Các nguyên nhân chính dẫn đến tai nạn bao gồm việc không làm chủ tốc độ, phán đoán sai tốc độ, thiếu tập trung quan sát và đi ngược chiều.
2.3.1.Không làm chủ tốc độ:
Khi tham gia giao thông, nhiều lái xe, đặc biệt là thanh thiếu niên, thường có xu hướng chạy quá tốc độ Trong những tình huống bất ngờ, việc kiểm soát tốc độ trở nên khó khăn, dẫn đến nguy cơ va chạm với các phương tiện khác và tăng khả năng xảy ra tai nạn giao thông.
Hình 2.9Tai nạn do không chấp hành qui định về tốc độ
2.3.2.Sang đường, chuyển hướng không đúng quy định:
Vào buổi trưa, khi đường phố vắng xe, người đi bộ thường không chú ý đến phương tiện giao thông, trong khi trẻ em ở nông thôn lại coi đường phố như sân chơi, dẫn đến việc tụ tập và băng qua đường một cách nguy hiểm Hơn nữa, nhiều người điều khiển phương tiện không tuân thủ luật giao thông, thường xuyên chuyển hướng đột ngột mà không báo hiệu, gây ra phản ứng chậm trễ từ các xe khác và làm tăng nguy cơ tai nạn giao thông.
Vào ngày 19/02/2017, tại Km2+200 Tỉnh lộ 769, xã Đại Phước, Nhơn Trạch, đã xảy ra một vụ va chạm giữa ba xe máy, dẫn đến cái chết của một người Nguyên nhân của tai nạn được xác định là do việc qua đường không đúng quy định và không kiểm soát được tốc độ.
Hình 2.10Hiện trường vụ tai nạn ngày 19/2/2017
2.3.3.Đi sai phần đường, làn đường: Đây là hiện tượng khá phổ biến ở các tuyến đường tỉnh, trên đường có bố trí làn dành riêng cho xe máy, tuy nhiên do phương tiện lưu thông trên đường vào giờ rảnh, hoặc giờ cao điểm cũng vậy người điều khiển xe thấy đường trống sẵn sàng lấn chiếm và chạy với tốc độ nhanh, bất chấp các phương tiện khác phía sau, khả năng xảy ra va chạm, nguy hiểm là rất lớn
Vào lúc 10h00 ngày 24/11/2016, tại Km7 Tỉnh lộ 25B, huyện Nhơn Trạch, đã xảy ra một vụ va chạm nghiêm trọng giữa xe máy và xe tải, dẫn đến cái chết của một người và làm hư hỏng tất cả các phương tiện liên quan.
Lý do tai nạn là do xử lý tay lái yếu đi không đúng chiều đường làn đường quy định
Hình 2.11Hiện trường vụ tai nạn ngày 24/11/2016 giữa moto và xe tải
2.3.4.Không đảm bảo khoảng cách an toàn:
Các phương tiện giao thông trên đường cần duy trì một khoảng cách an toàn nhất định để tránh va chạm và đảm bảo lưu thông dễ dàng Tuy nhiên, do mật độ phương tiện chưa cao, vấn đề này thường ít xảy ra trên các tuyến đường nông thôn.
Vào ngày 16/05/2016, một vụ tai nạn nghiêm trọng đã xảy ra tại 682 Tỉnh lộ 769, xã Phước Thiền, huyện Nhơn Trạch, khi xe tải va chạm với xe máy, dẫn đến cái chết của một người Nguyên nhân chính của vụ tai nạn là do không giữ khoảng cách an toàn với xe phía trước và đi không đúng làn đường quy định.
Hình 2.12Hiện trường vụ tai nạn ngày 16/05/2016
2.3.5.Thiếu tập trung quan sát:
Người điều khiển phương tiện cần chú ý quan sát để xử lý và phán đoán tình huống giao thông một cách hiệu quả Thiếu quan sát có thể dẫn đến nguy cơ tai nạn giao thông cao.
Vào ngày 28/11/2016, một vụ tai nạn giao thông xảy ra do sự thiếu chú ý quan sát, khiến xe tải chở hàng bị lật ngang trên đường Rất may, vụ tai nạn không gây thiệt hại về người.
Hình 2.13Vụ lật xe tại đường cong do thiếu quan sát
2.3.6.Đi ngƣợc chiều, vƣợt đèn đỏ:
Nhiều người điều khiển phương tiện thường xuyên chạy ngược chiều tại các khu vực có giải phân cách để tiết kiệm thời gian Hành vi này xuất phát từ ý thức kém của một số người dân, khi họ cho rằng đường vắng sẽ dễ lưu thông, bất chấp những nguy hiểm có thể ảnh hưởng đến tính mạng.
2.3.7.Uống rƣợu, bia khi tham gia giao thông: Đây là vấn đề bức xúc và là vấn nạn đối với các tuyến đường tỉnh, đường nông thôn Người điều khiển phương tiện khi có nồng độ cồn trong máu, thường phóng nhanh, vượt ẩu, nhất là thanh thiếu niên chạy xe lạng lách, đánh võng cá biệt có trường hợp đua xe khi tham gia trên đường,…
Phân tích và đánh giá các yếu tố hình học đường trên tuyến tỉnh lộ
769 đoạn từ ngã ba Nhơn Trạch đến phà Cát Lái
2.4.1.Yếu tố trên bình đồ:
Các khu vực có địa hình bằng phẳng thường được thiết kế theo đường thẳng dài để tối ưu chiều dài, nhưng điều này lại tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn giao thông Theo thống kê từ CHLB Đức, số vụ tai nạn giao thông (TNGT) trên đoạn đường thẳng có hệ số triển tuyến 1,04 và 80% chiều dài là đường thẳng cao gấp 3 lần so với đoạn đường cong có hệ số triển tuyến 1,18 và 60% chiều dài là đường cong Nguyên nhân chính là do cảnh quan đơn điệu trên đường thẳng khiến lái xe dễ bị mất tập trung, dẫn đến phản ứng chậm chạp và mệt mỏi Khi lái xe trên đoạn thẳng dài, người lái thường chủ quan, không kiểm tra tốc độ và có thể chạy vượt quá giới hạn cho phép, gây ra nguy cơ tai nạn khi gặp sự cố bất thường.
Khi thiết kế đoạn thẳng dài, cần áp dụng giải pháp thay đổi cảnh quan dọc tuyến để giảm thiểu sự đơn điệu Việc trồng cây xanh và xây dựng các công trình hỗ trợ như trạm sửa chữa kỹ thuật, trạm dừng sẽ tạo điểm nhấn thu hút sự chú ý của lái xe.
Chiều dài tối đa và tối thiểu của các đoạn thẳng giữa hai đường cong cần được kiểm soát để đảm bảo điều kiện chạy xe ổn định Cụ thể, chiều dài tối thiểu cho đoạn thẳng giữa hai đường cong cùng chiều là 6V, trong khi giữa hai đường cong ngược chiều là 2V Việc không tuân thủ các quy định này có thể dẫn đến sự thay đổi lớn trong điều kiện chạy xe và không đủ không gian để bố trí đoạn chêm.
* Ảnh hưởng trị số bán kính đường cong nằm được lựa chọn đến an toàn xe chạy:
Khi thiết kế đường cong có bán kính R nhỏ hơn 300m, mức độ nguy hiểm và khả năng xảy ra tai nạn giao thông (TNGT) rất cao Ngược lại, khi bán kính tăng lên, giá trị nguy hiểm giảm dần do tốc độ V85 tăng chậm Theo thống kê, tai nạn xảy ra trên đường cong chiếm từ 10-12% tổng số TNGT.
Biểu đồ 2.1Rủi ro tai nạn (UR) khi thay đổi bán kính đường cong bằng R.[ Nguồn:
Theo LIPPOLD (1997), đường cong có bán kính nhỏ làm tăng nguy cơ tai nạn Cụ thể, đường cong với bán kính R < 200m có số vụ tai nạn gấp đôi so với đường cong R > 400m Tại vùng núi, do địa hình khó khăn, việc xây dựng nhiều đường cong bán kính nhỏ buộc lái xe phải giảm tốc độ, dẫn đến số vụ tai nạn thấp hơn so với đường đồng bằng có bán kính tương đương Tuy nhiên, đường có nhiều đường cong nhỏ sẽ giảm mức độ an toàn, đặc biệt khi lái xe với tốc độ cao trên đường ẩm ướt và bẩn.
* Ảnh hưởng của chiều dài đường cong, độ cong, mức độ thay đổi góc ngoặt của đường cong nằm:
Biểu đồ 2.2Rủi ro tai nạn (UR) khi thay đổi số lượng góc ngoặt (k) trên 1 km chiều dài đường (góc/km).[ Nguồn : KREBS/ KLOECKNER, 1977) và (DUNG, 2008)]
Biểu đồ rủi ro tai nạn cho thấy rằng khi số lượng góc ngoặt trên 1 km chiều dài tăng, rủi ro tai nạn cũng gia tăng, dẫn đến sự gia tăng đáng kể về tai nạn giao thông Việc thiết kế phối hợp giữa đường cong cơ bản và đường cong chuyển tiếp có thể làm thay đổi góc ngoặt Mức độ biến đổi góc ngoặt của đường cong ảnh hưởng trực tiếp đến tốc độ khai thác.
Bán kính đường cong ảnh hưởng trực tiếp đến an toàn khi xe chạy, đặc biệt là khi có sự kết hợp giữa các đường cong bán kính lớn và nhỏ Đường cong bán kính lớn nằm cạnh hoặc kẹp giữa hai đường cong bán kính nhỏ có thể tạo ra những tình huống nguy hiểm cho người lái Ngược lại, đường cong bán kính nhỏ nằm kẹp giữa hai đường cong bán kính lớn cũng có thể gây ra rủi ro tương tự.
Các thiết kế này khiến lái xe không kịp điều chỉnh tốc độ khi xe di chuyển trên đường cong có bán kính lớn, dẫn đến việc giảm tốc đột ngột để phù hợp với đường cong bán kính nhỏ liền kề, và ngược lại.
* Ảnh hưởng của tầm nhìn trên bình đồ đến an toàn xe chạy:
Có 3 loại: tầm nhìn hãm xe, tầm nhìn ngược chiều và tầm nhìn vượt xe Theo thống kê tai nạn giao thông ở Cộng hòa Liên bang Đức cho biết 25% số tai nạn là do không đủ tầm nhìn, ở Việt Nam 17,32% (thống kê 2003) Phân tích tai nạn tại
Mỹ cho biết khi khoảng cách tầm nhìn S750m Mức độ tai nạn tăng cao khi S