1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Kỹ năng nghiên cứu hồ sơ vụ án của thẩm phán

11 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Kỹ Năng Nghiên Cứu Hồ Sơ Vụ Án Của Thẩm Phán
Trường học Đại Học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật học
Thể loại Nghiên cứu hồ sơ vụ án
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 96 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thông qua nghiên cứu hồ sơ vụ án Thẩm phán sẽ nắm vững được nội dung vụ án, yêu cầu của đương sự và các vấn đề liên quan, từ đó xác định được phương hướng giải quyết vụ án đúng đắn, thu

Trang 1

CHƯƠNG III NGHIÊN CỨU HỒ SƠ VỤ ÁN

1 KỸ NĂNG NGHIÊN CỨU HỒ SƠ VỤ ÁN CỦA THẨM PHÁN

1.1 Kỹ năng chung về nghiên cứu hồ sơ vụ án

1.1.1 Xác định nội dung cần nghiên cứu Hồ sơ vụ án là tài liệu tổng hợp, liên

quan với nhau về vụ án Hồ sơ vụ án phản ánh diễn biến của vụ án Để giải quyết đúng vụ án sau khi thu thập các chứng cứ, tài liệu của vụ án thì Thẩm phán phụ trách việc giải quyết vụ án phải tiến hành đọc, xem xét, tìm hiểu các tài liệu của hồ sơ vụ án Hoạt động này được gọi là nghiên cứu hồ sơ vụ án Nghiên cứu hồ sơ vụ án là hoạt động của Thẩm phán phụ trách việc giải quyết vụ án trong việc đọc, xem xét, tìm hiểu tài liệu của vụ án nhằm xác định những căn cứ cần thiết cho việc giải quyết vụ án

Trong tố tụng dân sự, nghiên cứu hồ sơ có một ý nghĩa rất quan trọng Nghiên cứu tốt hồ sơ vụ án là cơ sở để Thẩm phán giải quyết nhanh chóng và đúng đắn vụ án Thông qua nghiên cứu hồ sơ vụ án Thẩm phán sẽ nắm vững được nội dung vụ án, yêu cầu của đương sự và các vấn đề liên quan, từ đó xác định được phương hướng giải quyết vụ án đúng đắn, thu thập thêm chứng cứ, ra quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ việc giải quyết vụ án, chuyển vụ án cho Tòa án khác giải quyết, tổ chức việc hòa giải vụ án hoặc đưa vụ án ra xét xử

Trên thực tế việc lập hồ sơ vụ án là do Thẩm phán phụ trách việc giải quyết vụ án tiến hành Qua đó, Thẩm phán đãbiết trước được các tình tiết của vụ

án Nhưng thực tiễn xét xử của Tòa án lại cho thấy trước khi quyết định các biện pháp giải quyết vụ án Thẩm phán vẫn phải tiến hành nghiên cứu lại hồ sơ vụ án

Vì nhiều vấn đề của vụ án đòi hỏi Thẩm phán phải nghiên cứu kỹ, nghiên cứu trong một thời điểm cùng với các vấn đề khác mới có thể thấy được các mối liên

hệ giữa chúng, mới đánh giá đúng Trước khi quyết định các biện pháp giải quyết vụ án, Thẩm phán không được coi nhẹ việc nghiên cứu kỹ hồ sơ vụ án

Nghiên cứu hồ sơ vụ án phải làm rõ được những nội dung cơ bản sau: 1.1.1.1 Yêu cầu của các đương sự

Trong tố tụng dân sự, Toà án giải quyết vụ án theo yêu cầu của đương sự Những vấn đề đương sự không yêu cầu Tòa án không giải quyết Khi nghiên cứu hồ sơ, Thẩm phán phải xác định được các yêu cầu của đương sự; phạm vi các vấn đề đương sự yêu cầu Tòa án giải quyết Đây là cơ sở pháp lý xác định phạm vi giải quyết của Tòa án Từ yêu cầu của đương sự, Thẩm phán xác định quan hệ pháp luật cần giải quyết Cần căn cứ vào pháp luật nội dung để xác định đúng quan hệ pháp luật trong vụ án Từ quan hệ pháp luật cần giải quyết, Thẩm phán xác định thành phần đương sự trong vụ án, các chứng cứ tài liệu cần thiết làm sáng tỏ quan hệ ấy và pháp luật áp dụng giải quyết vụ án

Tùy từng trường hợp trong một vụ án có thể có một hoặc nhiều hệ pháp luật cần giải quyết Khi nghiên cứu hồ sơ quan vụ án Thẩm phán phải xác định được đầy đủ và đúng các quan hệ pháp luật giữa các đương sự cần giải quyết trong vụ án

1.1.1.2 Thành phần và vị trí tố tụng của đương sự trong vụ án

Đương sự là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án Việc xác định đúng được thành phần các đương sự trong vụ án giúp Tòa án triệu tập

Trang 2

được đầy đủ các đương sự đến tham gia tố tụng để họ bảo vệ quyền lợi của mình ở mỗi vị trí tố tụngđương sự lại có những quyền và nghĩa vụ nhất định Vì vậy, qua việc nghiên cứu hồ sơ phải làm rõ thành phần của đương sự, vị trí tố tụng của từng đương sự Nếu thấy việc xác định trước đó chưa đúng, thì Thẩm phán xác định lại, trên cơ sở đó có kế hoạch triệu tập họ đến để lấy lời khai bổ sung, hòa giải xét xử vụ án

1.1.1.3 Các chứng cứ, tài liệu để giải quyết vụ án

Việc giải quyết vụ án chỉ đúng đắn khi các vấn đề của án được làm sáng

tỏ Khi nghiên cứu hồ sơ vụ án Thẩm phán xác định xem các chứng cứ, tài liệu

đã đủ làm rõ các tình tiết vụ án chưa Nếu thấy các chứng cứ, tài liệu cần thiết để giải quyết vụ án chưa thu thập đủ thì Thẩm phán phải có kế hoạch thu thập thêm Nếu vụ án có vấn đề cần phải có ý kiến của các nhà chuyên môn thì Thẩm phán phải trưng cầu giám định theo quy định của pháp luật tố tụng

Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án làm rõ được các quan hệ pháp luật cần giải quyết trong vụ án, Thẩm phán xác định pháp luật áp dụng đối với việc giải quyết vụ án Đối chiếu các tình tiết với pháp luật áp dụng giải quyết vụ án Thẩm phán phải xác định phương hướng giải quyết vụ án

Đây chính là quá trình mà Thẩm phán có những đánh giá cần thiết đối với việc giải quyết vụ án Để làm được điều này, trước hết cần xác định trong vụ

án, những vấn đề nào các bên đương sự thống nhất được, vấn đề nào còn mâu thuẫn Chính những vấn đề mà đương sự có mâu thuẫn, chưa thống nhất sẽ là những vấn đề trọng tâm cần được chứng minh trong vụ án

Ví dụ trong một vụ kiện đòi nợ, bị đơn thừa nhận toàn bộ khoản nợ gốc

và khoản lãi mà nguyên đơn yêu cầu, nhưng lý do mà bị đơn chưa trả được nợ là

do làm ăn thua lỗ, không có điều kiện thanh toán thì không cần thiết phải xác định có vay nợ hay không, nếu có thì khoản nợ là bao nhiêu Tòa án chỉ căn cứ quy định của pháp luật để quyết định nghĩa vụ của bên phải trả nợ

Nhưng cũng là vụ án đòi nợ, bị đơn không thừa nhận khoản nợ mà cho rằng nguyên đơn đã lợi dụng chữ ký của bị đơn để dùng vào việc đòi nợ, thì trong trường hợp này, vấn đề cần tập trung chứng minh trong vụ án là có quan

hệ vay nợ hay không, chữ ký của bị đơn được ký trong hoàn cảnh nào, nguyên đơn đã sử dụng chữ ký này như thế nào trong việc tạo ra giấy biên nhận nợ để làm cơ sở đòi nợ

Hoặc cũng là vụ án đòi nợ, nhưng nếu bị đơn cho rằng mình chỉ vay nợ 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng) mà không phải là 40.000.000 (bốn mươi triệu đồng) như yêu cầu đòi nợ của nguyên đơn thì vấn đề chứng minh trong vụ

án này lại khác hai trường hợp đòi nợ ở trên Theo bị đơn, anh ta vay nợ của nguyên đơn tổng cộng hai lần, vào hai thời điểm khác nhau, mỗi lần ghi một giấy vay riêng, một lần vay 12.000.000 đồng, một lần vay 8.000.000 đồng Do không trả nợ đúng hạn, hai bên thống nhất hai khoản nợ lại tổng cộng là

20.000.000 đồng Hai bên cũng thỏa thuận là sẽ hủy hai giấy vay nợ trước đó đi Khi đó bên nguyên có đưa ra lý do là chồng cầm chìa khóa nên không lấy được hai giấy vay đã cất kỹ trong tủ nên có hứa là sau đó sẽ tự hủy hai giấy vay này Nhưng bên nguyên đã không giữ lời hứa và đã sử dụng cả ba giấy biên nhận vay

nợ với tổng số là 40.000.000 đồng để đòi nợ bị đơn Trong vụ án này, vấn đề cần

Trang 3

tập trung làm sáng tỏ không phải là quan hệ vay nợ hay không, mà là vay nợ bao nhiêu, 20.000.000 đồng hay 40.000.000 đồng Từ vấn đề mâu thuẫn này, mỗi bên phải dùng chứng cứ, tài liệu, lý lẽ, lập luận để chứng minh Tòa án sẽ căn cứ vào pháp luật, căn cứ chứng cứ sẽ phải đưa ra kết luận phù hợp

Có thể coi mục tiêu lớn nhất của quá trình nghiên cứu hồ sơ vụ án là việc phải tìm ra những điểm có mâu thuẫn, chưa rõ ràng trong lời trình bày, trong yêu cầu của các bên đương sự Điều này cho phép Thẩm phán xác định được trọng tâm giải quyết của vụ án, hướng phải tập trung xác minh làm rõ Có một số trường hợp tình tiết đã rõ ràng, có sự thống nhất giữa các bên đương sự mà không cần phải chứng minh, nhưng sử dụng tình tiết đó thể nào thì Thẩm phán phải căn cứ vào quy định của pháp luật Vẫn lấy ví dụ vụ án đòi nợ, trong đó các bên có thỏa thuận về lãi suất tương đương 7%/tháng Thời điểm này, lãi suất cơ bản mà ngân hàng nhà nước quy định là 0,6%/tháng, như vậy tối đa các bên chỉ

có thể thỏa thuận lãi suất không vượt quá 0,9%/tháng Bên vay đã trả lãi, bên cho vay thừa nhận khoản lãi này, nay bên vay đề nghị Tòa án tính lãi theo quy định của pháp luật Căn cứ khoản 1 Điều 476 BLDS: “mức lãi suất do các bên thỏa thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do ngân hàng nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng”, Thẩm phán tính lại khoản lãi

đã trả theo mức mà Ngân hàng nhà nước đã quy định Trong vụ án, vấn đề tập trung làm sáng tỏ là cách tính các khoản tiền lãi, gồm số tiền lãi đã trả, số tiền lãi phải trả, từ đó xác định số lãi còn phải trả là bao nhiêu hay bên vay đã trả lãi vượt quá số lãi phải trả

Ngoài ra, quá trình nghiên cứu hồ sơ, Thẩm phán cần chú ý những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại Điều 80 BLTTDS Đó có thể là những sự kiện, tình tiết rõ ràng mà mọi người đều biết và được Tòa án thừa nhận; những tình tiết, sự kiện đã được xác định trong các bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật hoặc quyết định của cơ quan nhà nước

có thẩm quyền đã có hiệu lực pháp luật; Những tình tiết, sự kiện đã được ghi trong văn bản và được công chứng, chứng thực hợp pháp Tổng hợp tất cả các tình tiết, sự kiện, Thẩm phán sẽ có một cách nhìn tổng quan về vụ án, có những kết luận, đánh giá cần thiết và phù hợp với pháp luật về vụ án

1.1.2 Phương pháp nghiên cứu hồ sơ υμ án

Việc nghiên cứu hồ sơ vụ án phải đáp ứng được những yêu cầu sau:

- Việc nghiên cứu phải tiến hành toàn diện và nhanh chóng

Để giải quyết đúng đắn các vụ án dân sự, Thẩm phán phải tiến hành nghiên cứu hồ sơ vụ án một cách toàn diện Thẩm phán phải nghiên cứu tất cả các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, không bỏ sót một chứng cứ tài liệu nào Khi nghiên cứu, Thẩm phán phải xem xét tới tất cả các mặt, các mối liên hệ giữa các chứng cứ, tài liệu; phải xem xét cả hình thức và nội dung của các chứng

cứ, tài liệu Ngoài việc nghiên cứu riêng từng chứng cứ, tài liệu thì Thẩm phán phải nghiên cứu và đặt chúng trong mối liên hệ với các chứng cứ, tài liệu khác của hồ sơ vụ án dân sự Việc nghiên cứu hồ sơ của Thẩm phán phải tiến hành khẩn trương, để bảo đảm thời hạn chuẩn bị xét xử pháp luật quy định

- Việc nghiên cứu phải khách quan

Trang 4

Quá trình nghiên cứu hồ sơ vụ án củng cố nhận thức về vụ án, hình thành quan điểm của Thẩm phán về việc giải quyết vụ án, do đó Thẩm phán phải thực

sự khách quan trong việc nghiên cứu hồ sơ vụ án Đối với những vụ án phức tạp, Thẩm phán có thể tham khảo ý kiến của đồng nghiệp, cấp trên về nhận định, đánh giá chứng cứ; về áp dụng pháp luật, đường lối, chính sách giải quyết vụ án, nhưng nhất thiết không để cho các ý kiến này chi phối việc nghiên cứu hồ sơ Khi xem xét và đánh giá các chứng cứ Thẩm phán không được phân biệt chứng

cứ do nguyên đơn hay bị đơn cung cấp, không được coi trọng chứng cứ này coi nhẹ chứng cứ kia và ngược lại Trong trường hợp Thẩm phán có liên quan đến

vụ án thì phải từ chối tiến hành tố tụng Thẩm phán không được kết luận trước

về giá trị của các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ cũng như không được có định kiến trước về hướng giải quyết vụ kiện trước khi nghiên cứu hồ sơ vì như vậy dẫn đến tình trạng chỉ nghiên cứu và tổng hợp những chứng cứ, tài liệu khẳng định cho định kiến của mình mà không quan tâm đến những chứng cứ, tài liệu khác của hồ sơ vụ án làm cho việc giải quyết vụ án không đúng

- Việc nghiên cứu hồ sơ phải được tiến hành theo một trình tự logic Mỗi tình tiết của vụ án đều có mối liên quan đối với các tình tiết khác của

vụ án vì chúng phát sinh trong một trật tự nhất định Để nắm được nội dung vụ

án một cách có hệ thống, Thẩm phán phải tiến hành nghiên cứu hồ sơ vụ án theo một trình tự lôgíc Thông thường Thẩm phán phải nghiên cứu từng vụ vấn đề của vụ án Nghiên cứu xong vấn đề này, Thẩm phán mới chuyển sang nghiên cứu vấn đề khác Đối với mỗi vấn đề của án Thẩm phán cần nghiên cứu theo trình tự thời gian

Sau khi đã nghiên cứu toàn bộ hồ sơ vụ án Thẩm phán cần sắp xếp lại các vấn đề theo một hệ thống để dễ phát hiện những vấn đề chưa rõ cần nghiên cứu thêm

1.1.2.1 Kiểm tra, sắp xếp lại hồ sơ trước khi nghiên cứu

Thông thường các tài liệu trong hồ sơ vụ án dân sự gồm có:

(1) Đơn khởi kiện của nguyên đơn, của tổ chức xã hội hoặc quyết định khởi tố của viện kiểm sát;

(2) Lời khai của các đương sự;

(3) Lời khai của người làm chứng; bóng đèn

(4) Các chứng cứ, tài liệu do đương sự hoặc người khác cung cấp;

(5) Các chứng cứ, tài liệu do Tòa án xác minh thu thập được

Trước khi nghiên cứu hồ sơ vụ án Thẩm phán cần kiểm tra, đối chiếu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án với danh mục tài liệu của hồ sơ vụ án để đề phòng

có tài liệu bị thất lạc không biết nên nghiên cứu không đủ Qua kiểm tra nếu thấy thiếu thì Thẩm phán cần tìm hiểu lý do, có kế hoạch thu thập lại và đưa vào

hồ sơ để nghiên cứu, sử dụng

Các chứng cứ, tài liệu của hồ sơ vụ án cần được sắp xếp thành từng tập

để tiện cho việc nghiên cứu Có nhiều cách sắp xếp, như sắp xếp theo các vấn đề của vụ án, sắp xếp theo các bên đương sự Nhưng dù sắp xếp theo cách nào thì các chứng cứ tài liệu vẫn phải được sắp xếp theo trình tự thời gian, đánh số trang (bút lục) trong hồ sơ, để tiện cho việc nghiên cứu, sử dụng Danh mục tài liệu hồ

sơ phải được lưu trong hồ sơ vụ án

Trang 5

1.1.2.2 Cách nghiên cứu chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án

Hồ sơ vụ án gồm nhiều chứng cứ, tài liệu Khi nghiên cứu hồ thi sơ vụ

án, Thẩm phán lần lượt đọc và xem xét kỹ tất cả các chứng cứ, tài liệu có trong

hồ sơ vụ án Trước khi xem xét về nội dung, Thẩm phán cần phải nghiên cứu xem xét về hình thức các chứng cứ, tài liệu Trong quá trình nghiên cứ hồ sơ vụ

án Thẩm phán phải ghi chép lại những nội dung chính của từng chứng cứ, tài liệu đã nghiên cứu; những vấn đề của vụ án đã được làm rõ bởi các chứng cứ, tài liệu nào; những vấn đề nào của vụ án chưa được để làm rõ cần thu thập thêm chứng cứ, tài liệu để làm rõ

a/ Nghiên cứu đơn khởi kiện Khi nghiên cứu hồ sơ vụ án Thẩm phán phải đọc và xem xét kỹ đơn khởi kiện của nguyên đơn trước Nếu vụ án do cơ quan,

tổ chức theo quy định tại Điều 162 BLTTDS Thẩm phán đất phải đọc và xem xét văn bản khởi kiện của cơ quan, tổ chức này

Theo khoản 2 Điều 164 BLTTDS, nội dung đơn khởi kiện phải thể hiện được các vấn đề: Tên họ, địa chỉ của nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; nội dung sự việc; tiểu yêu cầu và những tài liệu, lý lẽ chứng minh cho yêu cầu đó Đây là những vấn đề ảnh hưởng rất lớn tới việc tiến hành các thủ tục tố tụng để giải quyết vụ án nên khi nghiên cứu đơn khởi kiện, như liên quan đến thời hiệu khởi kiện, vấn đề thẩm quyền, thế nên, dù trách nhiệm của Tòa án là đã phải kiểm tra những vấn đề này trước khi thụ lý thì khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, Thẩm phán cần thiết xem xét đơn khởi kiện đã thể hiện được những nội dung đó chưa

Việc nghiên cứu đơn khởi kiện bước đầu là để xác định các yêu cầu của người khởi kiện, khởi tố, thẩm quyền của Tòa án nên Thẩm phán cần tập trung xem xét những vấn đề cơ bản sau: (1) Người đã khởi kiện có quyền khởi kiện vụ

án không; (2)Yêu cầu của người khởi kiện tổ là gì; (3) Thẩm quyền của Tòa án; (4) Thời hiệu đối với việc giải quyết vụ án;

Khi đã xác định được việc khởi kiện là hợp pháp, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án mình thì Thẩm phán tiến hành nghiên cứu các tài liệu khác của vụ án

b/ Nghiên cứu lời khai của đương sự

Việc nghiên cứu lời khai của đương sự giúp Thẩm phán xác định được đối tượng chứng minh trong vụ án Thông thường để nghiên cứu lời khai của đương sự, Thẩm phán phải lần lượt đọc và xem xét lời khai của nguyên đơn trước sau đó đến lời khai của bị đơn, cuối cùng là lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và các chứng cứ, tài liệu khác Tuy nhiên, nếu xét thấy cần thiết thì bên cạnh việc nghiên cứu lời khai của nguyên đơn, Thẩm phán có thể đồng thời nghiên cứu lời khai của bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ khác

Do đương sự là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án nên họ chỉ khai báo những điều có lợi cho họ Để nghiên cứu, đánh giá lời khai của đương sự Thẩm phán phải lưu ý đặc điểm tâm lý đó

Khi nghiên cứu lời khai của nguyên đơn Thẩm phán cần chú ý tới những vấn đề nguyên đơn giữ nguyên hoặc thêm bớt so với đơn khởi kiện, các chứng

cứ, lý lẽ nguyên đơn nêu ra làm cơ sở cho yêu cầu của họ Qua việc nghiên cứu

Trang 6

lời khai của nguyên đơn, Thẩm phán bước đầu phải rút ra được nhận xét nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề gì Trên cơ sở nhận xét ban đầu đó Thẩm phán sẽ xác định tiếp các vấn đề của vụ án khi nghiên cứu lời khai của bị đơn và các chứng cứ, tài liệu khác

Khi nghiên cứu lời khai của bị đơn Thẩm phán phải chú ý tới những yêu cầu của nguyên đơn được bị đơn chấp nhận, những yêu cầu của nguyên đơn không được bị đơn chấp nhận và những căn cứ lý lẽ mà bị đơn đưa ra để làm cơ

sở chấp nhận haykhông chấp nhận những yêu cầu đó Thẩm phán có thể sử dụng phương pháp loại trừ trong trường hợp này bằng cách chỉ đối với những yêu cầu của nguyên đơn không được bị đơn chấp nhận mới cần được tập trung nghiên cứu giải quyết Thẩm phán cần nghiên cứu kỹ lý do, căn cứ mà nguyên đơn yêu cầu; lý do, căn cứ bị đơn không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn; đối chiếu,

so sánh những tài liệu, chứng cứ mà các đương sự để rút ra kết luận Đối với những yêu cầu nào của nguyên đơn được bị đơn chấp nhận, nếu điều này là phù hợp với pháp luật, thì sẽ là cơ sở để sau này Tòa án chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Nếu bị đơn có yêu cầu lại đối với nguyên đơn thì Thẩm phán phải xem mối quan hệ của nó với yêu cầu của nguyên đơn để xác định có thể giải quyết yêu cầu lại của bị đơn trong cùng vụ án không Đồng thời Thẩm phán cần xem xét căn cứ, lý lẽ bị đơn dựa vào để đưa ra yêu cầu

Đối với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, khi nghiên cứu Thẩm phán cần xác định xem yêu cầu của họ như thế nào; mối quan hệ giữa yêu cầu của họ với vụ án; yêu cầu của họ là độc lập hay phụ thuộc vào yêu cầu của nguyên đơn hay bị đơn; căn cứ, lý lẽ cho yêu cầu của họ

Trong trường hợp đương sự có người đại diện tham gia tố tụng và trong

hồ sơ đã có lời khai của họ thì Thẩm phán cũng phải nghiên cứu lời khai của người đại diện Việc nghiên cứu lời khai của người đại diện cũng giống như việc nghiên cứu lời khai của đương sự mà họ đại diện Tuy nhiên, trước khi nghiên cứu lời khai của người đại diện Thẩm phán phải xem xét tính hợp pháp của việc đại diện và phạm vi đại diện Vì nếu việc đại diện không hợp pháp hoặc yêu cầu của người đại diện vượt quá phạm vi đại diện thì việc tham gia tố tụng của họ không có giá trị

c/ Nghiên cứu lời khai của người làm chứng

Việc nghiên cứu lời khai của người làm chứng là để xác định rõ thêm các tình tiết của vụ án Để nghiên cứu lời khai của người làm chứng Thẩm phán cũng phải đọc và xem xét kỹ lời khai của người làm chứng Nếu trong vụ án có nhiều người làm chứng thì Thẩm phán lần lượt nghiên cứu lời khai của từng người Thông thường lời khai của người làm chứng chứng minh cho yêu cầu của nguyên đơn được nghiên cứu trước sau đó đến lời khai của người làm chứng chứng minh cho yêu cầu của bị đơn và những người khác

Người làm chứng là người biết được các tình tiết liên quan đến vụ án, không có quyền lợi liên quan đến vụ án nên lời khai của họ giúp Thẩm phán rất nhiều trong việc xác định các tình tiết của vụ án Nhưng việc khai báo chính xác của người làm chứng lại vụ phụ thuộc rất nhiều vào những yếu tố khác nhau, như khả năng nhận thức, nhớ và phản ánh lại sự việc của họ, việc họ tham gia tổ tụng có khách quan hay không Do vậy, khi nghiên cứu lời khai của người làm

Trang 7

chứng ngoài việc quan tâm xem xét tới những thông tin người làm chứng đưa ra thì Thẩm phán phải xem xét cả độ tuổi, khả năng nhận thức sự kiện, năng lực khai báo của người làm chứng, hoàn cảnh, điều kiện họ chứng kiến sự việc và mối quan hệ giữa họ với các bên đương sự

Khi nghiên cứu lời khai của người làm chứng, Thẩm phán cần hướng vào mục đích là để làm rõ những vấn đề mà đương sự đã đề xuất, yêu cầu Trước khi nghiên cứu lời khai của người làm chứng, Thẩm phán cần xác định những điểm mâu thuẫn trong lời khai, trong chứng cứ, tài liệu mà đương sự xuất trình, trên

cơ sở này Thẩm phán tìm kiếm trong lời khai của người làm chứng có thể làm sáng tỏ được những mâu thuẫn này hay không

d/ Nghiên cứu các chứng cứ, tài liệu khác liên quan đến vụ án

Việc nghiên cứu các chứng cứ, tài liệu khác liên quan vụ án là nhằm xác định tính xác thực lời khai của đương sự người làm chứng và các tình tiết của vụ

án Vì thế tất cả các chứng cứ tài liệu liên quan đến vụ án đã thu thập được Thẩm đến phán đều phải nghiên cứu sau đó đối chiếu so sánh với lời khai của đương sự, người làm chứng

Thông thường các chứng cứ, tài liệu liên quan đến vụ án được Thẩm phán tiến hành nghiên cứu sau khi đã nghiên cứu lời khai của đương sự, người làm chứng Tuy vậy, trong trường hợp cần làm rõ ngay những vấn đề mà đương

sự, người làm chứng nêu trong lời khai của họ thì khi nghiên cứu lời khai của đương sự, người làm chứng Thẩm phán có thể nghiên cứu luôn các chứng cứ, tài liệu liên quan

Mỗi loại chứng cứ tài liệu mà cách thức nghiên cứu có khác nhau, như đối với chứng cứ viết, tài liệu thì Thẩm phán đọc và xem xét, đối với vật chứng thì Thẩm phán xem xét Qua việc nghiên cứu chứng cứ, tài liệu Thẩm phán phải xác định được xuất xứ, điều kiện hình thành, nội dung cơ bản và giá trị chứng minh của chứng cứ, tài liệu

Khi nghiên cứu các chứng cứ, tài liệu Thẩm phán phải chú ý: (1) Những chứng cứ, tài liệu viết phải chú ý nghiên cứu cả nội dung và hình thức; (2) Các chứng cứ phải được nghiên cứu riêng, sau đó nghiên cứu đối chiếu so sánh cùng với các chứng cứ khác; (3) Đối với kết luận giám định ngoài việc xem xét nội dung kết luận giám định phải xem xét cả tính hợp pháp, tính khách quan, tính khoa học của kết luận giám định; (4) Đối với các tài liệu dịch ngoài việc xem xét nội dung tài liệu phải xét tính khách quan trong việc tham gia tố tụng của người phiên dịch và tính chính xác của các tài liệu dịch; (5) Đối với các biện bản đối chất phải xem kỹ mâu thuẫn trong lời khai của người tham gia đối chất; (6) Đối với biên bản định giá tài sản, ngoài việc xem xét kết luận của hội đồng định giá (hoặc cơ quan chuyên môn) thì phải xem xét sự phù hợp của giá tài sản được hội đồng định giá đã xác định với giá tài sản tại thị trường địa phương trong thời điểm định giá và những ý kiến trái ngược với quyết định của hội đồng định giá

Khi đã nghiên cứu toàn bộ hồ sơ vụ án Thẩm phán hệ thống, tóm tắt lại những vấn đề cơ bản của vụ án cần giải quyết, sau đó tiến hành nghiên cứu văn bản pháp luật áp dụng giải quyết vụ án Khi nghiên cứu pháp luật áp dụng giải quyết vụ án Thẩm phán phải nghiên cứu các quy định đang còn hiệu lực và nghiên cứu trên văn bản, đề phòng nhớ không chính xác, không đầy đủ

Trang 8

Sau khi đã nghiên cứu hồ sơ vụ án, pháp luật áp dụng giải quyết vụ án, Thẩm phán xác định phương hướng giải quyết vụ án, như cần ra quyết định chuyển vụ án cho Tòa án khác giải quyết, quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án, quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án, quyết định đưa vụ án ra xét xử hoặc tổ chức việc hòa giải giúp các đương sự thỏa thuận giải quyết các vấn đề của vụ án

1.2 Kỹ năng đặc thù khi nghiên cứu hồ sơ một số loại vụ án dân sự

1.2.1 Nghiên cứu hồ sơ vụ án tranh chấp hợp đồng mua bán nhà

Khi nghiên cứu hồ sơ vụ án tranh chấp hợp đồng mua bán nhà Thẩm phán cần chú ý những tài liệu sau:

- Giấy tờ chứng minh nguồn gốc, hoặc quyền sở hữu nhà là đối tượng mua bán;

Hợp đồng mua bán giữa các bên Nếu nhà đã được mua bán nhiều lần, phải nghiên cứu đầy đủ quá trình đó theo thứ tự thời gian;

Tài liệu để chứng minh các bên đã thực hiện hoặc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo hợp đồng đã ký kết;

Các tài liệu liên quan đến nội dung tranh chấp trong từng vụ án cụ thể Khi nghiên cứu Thẩm phán phải đánh giá được các vấn đề cơ bản sau:

- Thời điểm xác lập giao dịch về nhà ở;

- Về hình thức hợp đồng mua bán nhà có tuân thủ những quy định của pháp luật tại thời điểm xác lập không;

- Về nội dung hợp đồng mua bán nhà có hợp pháp không

- Các bên đã thực hiện nghĩa vụ đến đâu? Bên vi phạm hợp đồng mua bán nhà, lỗi và mức độ lỗi cụ thể của bên vị phạm để từ đó xác định trách nhiệm của bên vi phạm;

- Giá trị của nhà bị tranh chấp (Theo sự thoả thuận, hoặc theo biên bản định giá của cơ quan chuyên môn hoặc hội đồng định giá); công sức tu bổ, sửa chữa nâng giá trị nhà ngoài giá trị gốc của nhà tranh chấp so với khi mua bán;

- Yêu cầu cụ thể của nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Yêu cầu nào là có thể được chấp nhận, yêu cầu nào không được chấp nhận, các chứng cứ, tài liệu và qui định của pháp luật căn cứ vào đó chấp nhận hoặc không chấp nhận yêu cầu của đương sự

Những văn bản pháp luật để áp dụng, tham khảo để giải quyết loại vụ án này gồm có: Pháp lệnh nhà ở (Hợp đồng giao kết từ ngày 1-7-1991 đến trước ngày 7-1996); Nghị quyết 58 NQ-QH-1998 (Hợp đồng giao kết trước ngày 1-7-1991); Nghị quyết số 01/2003/NQ-HĐTP ngày 16/4/2003 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết một số loại tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình; Riêng đối với các giao dịch dân sự giao kết từ 17 1996 đến trước ngày 1-1-2006 sẽ áp dụng BLDS 1995 hay BLDS năm 2005 thì cần căn cứ vào nghị quyết số 45/2005/QH11 Ngày

14/6/2005 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật dân sự năm 2005; Luật Nhà ở ngày 29/11/2005; Nghị quyết số 1037/2006/NQ-UBTVQH11 Ngày 27/7/2006 của ủy ban thường vụ Quốc hội về giao dịch dân sự về nhà ở xác lập trước 1/7/1991 mà có người Việt Nam định cư ở nước ngoài tham gia; các văn bản

Trang 9

liên ngành hướng dẫn giải quyết các loại việc này của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao

1.2.2 Nghiên cứu hồ sơ vụ án thừa kế

Tranh chấp về thừa kế thường là loại việc phức tạp vì đây là tranh chấp giữa những người thân thích Đối với loại việc nàythường giữa các đương sự đã

có quá trình thương lượng giải quyết nhưng không thành, mâu thuẫn nội bộ gay gắt, có trường hợp cổ tình chiếm đoạt di sản, giả mạo chứng cứ khi kiện đến Toà án

Khi nghiên cứu hồ sơ vụ án loại việc này Thẩm phán phải đánh giá, làm

rõ được những vấn đề sau:

- Thời điểm mở thừa kế (ngày, tháng, năm người có tài sản chết)

- Di sản thừa kế gồm những gì, nguồn gốc, quá trình biến đổi và thực trạng từng loại di sản; nghĩa vụ dân sự của người chết trước khi để lại di sản; công sức duy trì, phát triển tài sản là di sản; công sức chăm sóc, ma chay cho người chết của người khác phải tính khi chia di sản

- Những người thuộc diện thừa kế được hưởng thừa kế theo pháp luật (hàng thứ 1,2,3), những người thừa kế bắt buộc, khước từ thừa kế, bị truất quyền thừa kế, thừa kế thế vị

- Nếu có thừa kế theo di chúc thì phải xác định đó là di chúc miệng hay

di chúc viết Xác định tính hợp pháp của di chúc Nếu di chúc không phù hợp với pháp luật thì không chấp nhận thừa kế theo di chúc mà phải chia thừa kế theo pháp luật Nếu di chúc phù hợp pháp luật, được chấp nhận thì phải chú ý đến trường hợp được hưởng thừa kế không phụ thuộc di chúc

- Yêu cầu của các bên đương sự về việc hưởng di sản thừa kế bằng hiện vật hay bằng tiền, và cụ thể như thế nào? Xác định điều kiện và hoàn cảnh của các thừa kế, thực trạng tài sản để chia hiện vật hay chia tiền cho phù hợp

- Nguyên nhân dẫn đến việc tranh chấp; tâm tư, nguyện vọng của đương

sự trong việc giải quyết tranh chấp

- Đối với một số di sản nếu pháp luật quy định là loại tài sản phải đăng

ký, quản lý thì phải xác định được tính chất pháp lý của loại tài sản đó để có đường lối giải quyết phù hợp Không được coi tất cả những tài sản mà người chết để lại đương nhiên là di sản đều được phân chia mà không quan tâm đến tính hợp pháp của nó

- Phải xác định được giá trị và thực trạng tài sản có tranh chấp, xem xét các yêu cầu của đương sự để có sự phân chia dị sản phù hợp

- Xác định được các điều luật cụ thể áp dụng giải quyết án (Từ Điều 631 đến Điều 687 BLDS 2005)

1.2.3 Nghiên cứu hồ sơ vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất

- Đối với tranh chấp quyền sử dụng đất, trước tiên phải chú ý xác định có thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án không Toà án có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp quyền sử dụng đất đối với đất đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc các giấy tờ theo Điều 51 Luật đất đai năm 2002

- Trường hợp tranh chấp về tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất, nếu chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì phải có giấy chứng nhận của Uỷ ban nhân dân xã, phường cho biết đất đang sử dụng là hợp pháp, không nằm

Trang 10

trong quy hoạch, không có tranh chấp, đương sự sẽ được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Trường hợp tranh chấp quyền sử dụng đất mà người sử dụng đất chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và không có các giấy tờ khác, trên đất lại không có vật kiến trúc, cây lâu năm hoặc có nhưng họ không yêu cầu giải quyết tranh chấp về tài sản thì Toà án không có thẩm quyền giải quyết

- Sau khi xác định được thẩm quyền giải quyết của Toà án, tiếp tục

nghiên cứu các chứng cứ, tài liệu khác của vụ án để làm rõ nội dung vụ án Tài liệu cần nghiên cứu, đánh giá trước là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (bìa

đỏ theo Luật đất đai 1993), hoặc văn bản của Uỷ ban nhân dân xã, phường xác nhận, ý kiến của cơ quan quản lý đất có tranh chấp, sơ đồ, trích lục bản đồ thửa đất tranh chấp

Về nội dung tuỳ vào quan hệ pháp luật mà các đương sự tranh chấp như tranh chấp về quyền sử dụng, về việc chuyển nhượng, cho mượn, cho thuê, thừa

kế, thế chấp quyền sử dụngđất v.v mà khi nghiên cứu cần đặc biệt quan tâm làm

rõ những vấn đề liên quan đến vụ án Nếu tranh chấp về hợp đồng chuyển

nhượng, cho mượn, cho thuê, thế chấp quyền sử dụng đất v.v thì cần đánh giá tính chất hợp pháp của hợp đồng, từ đó xác định được quyền và nghĩa vụ của mỗi bên tham gia giao kết, việc vi phạm nghĩa vụ của họ

Việc nghiên cứu hồ sơ vụ án để giải quyết các tranh chấp về quyền sử dụng đất và những vấn đề liên quan cần phải được xem xét trên cơ sở các quy định của pháp luật đất đai, pháp luật dân sự và thực tế cuộc sống

1.2.4 Nghiên cứu hồ sơ vụ án bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

Đây là loại tranh chấp thường gặp ở các Tòa án dưới dạng tranh chấp về bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, tài sản v.v Đối với loại việc này việc giải quyết nhiều khi rất phức tạp do việc khó xác định được lỗi và mức lỗi của bên gây ra thiệt hại

Theo qui định của BLDS và hướng dẫn của các cơ quan có thẩm quyền thì người gây thiệt hại chỉ phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng khi có đủ 4 yếu tố sau: (1) Có thiệt hại xảy ra; (2) Hành vi gây thiệt hại trái pháp luật; (3) Người gây thiệt hại có lỗi; (4) Có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại và hành vi trái pháp luật

Do đó, khi nghiên cứu hồ sơ loại việc này Thẩm phán cần chú ý đến các chứng cứ, tài liệu để làm rõ 4 yếu tố đó Đồng thời tuỳ từng vụ án cụ thể mà Thẩm phán còn phải nghiên cứu những tài liệu khác có liên quan để làm rõ các vấn đề như năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, mức độ lỗi của mỗi bên, mỗi người trong trường hợp lỗi hỗn hợp hoặc nhiều người cùng gây thiệt hại.v.v

Qua quá trình nghiên cứu hồ sơ vụ án Thẩm phán xác định được các quy phạm pháp luật cụ thể áp dụng giải quyết vụ án (Từ Điều 604 đến Điều 630 BLDS) Đặc biệt Nghị quyết số03/2006/NQ-HĐTP ngày 8/7/2006 hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật dân sự năm 2005 về BTTHNHĐ

1.2.5 Nghiên cứu hồ sơ vụ án ly hôn

Các vụ án ly hôn chiếm một tỷ lệ rất lớn trong số các vụ án hàng năm mà Toà dân sự đã giải quyết Nguyên nhân dẫn tới việc ly hôn rất nhiều nguyên

Ngày đăng: 31/05/2023, 08:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w