Trong nền kinh tế thị trường tồn tại nhiều doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau cùng tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh với một môi trường kinh tế luôn biến động phức
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo
Trường đại học giao thông vận tải
lÊ VĂN HOA
Một số biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp vận tải
hành khách công cộng bằng
ô tô buýt trong thành phố Hà Nội
Luận văn Thạc sỹ khoa học kinh tế
Giáo viên hướng dẫn: PGS TS Từ Sỹ Sùa
Trang 2
Chương I Cơ sở lý luận về hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của 4 doanh nghiệp vận tải
1.1 Tổng quan về doanh nghiệp và doanh nghiệp vận tải trong nền 4 nền kinh tế thị trường
1.1.1 Nền kinh tế thị trường 4 1.1.2 Doanh nghiệp và phân loại doanh nghiệp 5 1.1.3 Những vấn đề cơ bản về doanh nghiệp vận tải 8 1.2 Môi trường kinh doanh và định hướng phát triển 9 doanh nghiệp
1.2.1 Môi trường kinh doanh 9 1.2.2 Định hướng phát triển doanh nghiệp 12 1.3 Cơ sở lý luận về hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh 14 của doanh nghiệp vận tải
1.3.1 Khái niệm về hiệu quả kinh doanh 14 1.3.2 Các nguyên tắc và phương pháp dùng để phân tích 16 hiệu quả sản xuất kinh doanh
1.3.3 Các nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất 19 kinh doanh của doanh nghiệp
1.3.4 Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sản xuất 23 kinh doanh của doanh nghiệp vận tải
Trang 3VTHKCC bàng xe buýt trong thành phố Hà nội
2.3.2 Cơ cấu tổ chức của Tổng công ty vận tải Hà Nội 46 2.3.3 Công tác tổ chức điều hành và khai thác VTHKCC 49 2.3.4 Những kết quả đạt được của hoạt động VTHKCC 50 bằng xe buýt từ năm 2001 đến nay
2.4 Đánh giá thực trạng về tổ chức quản lý hoạt động sản xuất 51 kinh doanh tại xí nghiệp xe buýt 10 - 10 Hà Nội
2.4.1 Khái quát về chức năng nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức 51 2.4.2 Luồng tuyến và cơ sở vật chất kỹ thuật của xí nghiệp 53 2.4.3 Phân tích các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động của 54
xí nghiệp xe buýt 10 - 10 Hà Nội
2.5 Đánh giá tình hình tổ chức quản lý hoạt độngsản xuất 56 kinh doanh của xí nghiệp xe buýt Hà Nội
2.5.1 Những nét khái quát về xí nghiệp xe buýt Hà Nội 56 2.5.2 Luồng tuyến chủ yếu của xí nghiệp xe buýt Hà Nội 57 2.5.3 Năng lực thiết bị phương tiện vận tải của xí nghiệp 57 2.5.4 Phân tích các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động 58 sản xuất kinh doanh của xí nghiệp xe buýt Hà Nội 2.6 Những nguyên nhân chủ yếu làm cho các doanh nghiệp 61 VTHKCC bằng xe buýt ở Hà Nội hoạt động hiệu quả chưa cao 2.6.1 Mạng lưới giao thông, cơ sở hạ tầng chưa phát triển 61 2.6.2 Cơ chế chính sách đầu tư phát triển VTHKCC 61 2.6.3 Quy mô phát triển các doanh nghiệp VTHKCC 62 Kết luận chương II
Chương III Những biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động cho các 64 Doanh nghiệp VTHKCC bằng xe buýt trong thành phố Hà Nội
3.1 Cơ sở đề xuất các giải pháp nâng cao hiệụ quả hoạt 64
động cho các doanh nghiệp VTHKCC trong thành phố
3.1.1 Mục tiêu, quan điểm phát triển giao thông vận tải trong 64 các thành phố đến năm 2020
3.1.2 Căn cứ quy hoạch phát triển giao thông vận tải ở Hà Nội 67 3.2 Những biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động cho các 72 doanh nghiệp VTHKCC bằng xe buýt trong thành phố Hà Nội
3.2.1 Biện pháp hoàn thiện về cơ sở vật chất - kỹ thuật cho 72 VTHKCC bằng xe buýt
Trang 43.2.2 Hoàn thiện về cơ cấu tuyến, tổ chức chạy xe trên tuyến 75
3.3.1 Hoàn thiện công tác tổ chức quản lý xí nghiệp 83 3.3.2 Đổi mới hoạt động của phương tiện và các trang thiết bị 86 vận tải trong xí nghiệp
3.3.3 Biện pháp về nâng cao hoạt động tài chính trong xí nghiệp 87 3.3.4 Biện pháp nâng cao chất lượng dịch vụ VTHKCC 89
Trang 5I Tính cấp thiết của đề tài luận văn
Giao thông vận tải đô thị giữ vị trí quan trọng trong đời sống sinh hoạt của mỗi đô thị và được xem như là “mạch máu” trong cơ thể nền kinh tế đô thị
Nó đảm bảo sự liên hệ thường xuyên, thông suốt và ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả hoạt động giữa các khu chức năng chủ yếu của đô thị với nhau và cung cấp các dịch vụ vận tải công cộng cho mọi người dân đô thị
Trang 6Trong nền kinh tế thị trường tồn tại nhiều doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau cùng tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh với một môi trường kinh tế luôn biến động phức tạp, có nhiều rủi ro và cạnh tranh gay gắt thì việc nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp sẽ quyết định
sự tồn tại và phát triển các doanh nghiệp đó Các doanh nghiệp vận tải nói chung và bản thân các doanh nghiệp vận tải hành khách công cộng nói riêng cần phải biết rõ được vị trí hiện tại, khả năng cạnh tranh, sự phát triển trong tương lai và những nguy cơ có thể gây ra cho doanh nghiệp trên thị trường Để
từ đó có thể đưa ra được các chiến lược, kế hoạch nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh cho doanh nghiệp, giảm ô nhiễm môi trường và hướng tới phát triển bền vững trên thị trường
Như vậy việc đưa ra các biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt là hoạt đông thường xuyên đối với mỗi doanh nghiệp Tuy đã có rất nhiều tài liệu đề cập đến việc phát triển vận tải hành khách công cộng trong các thành phố lớn ở nước ta nhưng hiện nay vẫn chưa có tài liêụ nào đề cập đến việc đưa ra các biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt trong thành phố Hà Nội Do vậy việc nghiên cứu “Một số biện
pháp nâng cao hiệu quả hoạt đông của doanh nghiệp vận tải hành khách công cộng bằng ô tô buýt trong Thành phố Hà Nội” là hết sức cần thiết,
cấp bách đối với lý luận và thực tiễn kinh doanh cho các doanh nghiệp vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt trong thành phố hiện nay
II Mục tiêu nghiên cứu đề tài luận văn
Luận văn nghiên cứu những nội dung chủ yếu về hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp VTHKCC bằng xe buýt Từ đó đề xuất các biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp VTHKCC trong các thành phố lớn nói chung và thành phố Hà Nội nói riêng bao gồm:
- Làm rõ những vấn đề lý luận về hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp vận tải trong nền kinh tế thị trường
Trang 7- Thông qua phân tích, đánh giá tình hình thực tế về tổ chức quản lý hoạt động và sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp VTHKCC bằng xe buýt nhằm chỉ ra những thành tựu, những hạn chế và những nguyên nhân cơ bản của những tồn tại đó
III Phạm vi và phương pháp nghiên cứu đề tài luận văn
Nội dung của đề tài chỉ tập trung đề cập đến các biện pháp nâng cao hiêụ quả kinh doanh của các doanh nghiệp vận tải hành khách công cộng bằng
xe buýt trong thành phố Trên cơ sở các tài liệu, nguồn số liệu thực tế về hoạt
động sản xuất kinh doanh của một số doanh nghiệp vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt ở thành phố Hà Nội
Các số liệu phân tích, tính toán được sử dụng trong luận văn chủ yếu dựa vào nguồn số liệu thống kê chuyên ngành và các nguồn tài liệu tham khảo khác về giao thông vận tải trong đô thị
Đề tài nghiên cứu dựa trên các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước và của Ngành giao thông vận tải đối với việc phát triển vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt trong thành phố Hà Nội
Đề tài sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, kết hợp với các phương pháp chuyên ngành khác như: phương pháp thống kê, phương pháp điều tra, Phương pháp so sánh đối chiếu, phương pháp hệ thống hóa và phương pháp phân tích về tâm lý xã hội học để hiểu rõ tâm lý người tiêu dùng và thị trường vận tải Nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp VTHKCC bằng xe buýt trong thành phố Hà Nội
IV Nội dung kết cấu của đề tài luận văn
Nội dung luận văn ngoài phần mở đầu, kết luận và phần phụ lục được chia thành 3 chương với các vấn đề sau:
Chương I: Cơ sở lý luận về hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp vận tải
Chương II: Phân tích, đánh giá thực trạng về tổ chức quản lý hoạt động
và sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp VTHKCC bằng xe buýt trong thành phố Hà Nội
Trang 8Chương III: Những biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động cho các doanh nghiệp VTHKCC bằng xe buýt trong thành phố Hà Nội
Trang 9Chương I Cơ sở lý luận về hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp vận tải 1.1 Tổng quan về doanh nghiệp và doanh nghiệp vận tải trong nền kinh tế thị trường
1.1.1 Nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước
Lịch sử phát triển kinh tế xã hội của loài người luôn luôn gắn liền với lịch sử phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội Từ thấp đến cao Từ kinh
tế tự nhiên, tiếp theo là kinh tế tự cung, tự cấp, kinh tế hàng hóa và phát triển cao là kinh tế thị trường
Kinh tế thị trường là nền kinh tế hàng hóa phát triển ở trình độ cao, sản xuất hàng hóa mang tính phổ biến, quan hệ hàng hóa tiền tệ trở thành hình thức nội tại của sản xuất - hàng hóa Mà mọi mối quan hệ kinh tế với lợi ích kinh tế cơ bản được giải quyết thông qua thị trường
Thị trường là tập hợp phần bắt buộc vốn có của nền kinh tế hàng hóa, nó
ra đời và phát triển cùng sự ra đời và phát triển của kinh tế hàng hóa Cơ chế thị trường là một kiểu tổ chức kinh tế dựa hẳn vào các quan hệ về lợi ích diễn
ra trên thị trường
Do vậy, nền kinh tế thị trường có những ưu thế như:
- Thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, nâng cao được năng suất lao
động xã hội, sự vận hành của cơ chế thị trường buộc người sản xuất cạnh tranh với nhau để tồn tại, phát triển và đạt được lợi nhuận tối đa
- Đẩy nhanh được quá trình xã hội hóa lực lượng sản xuất, đẩy nhanh quá trình tập trung và tích tụ sản xuất để mở rộng quy mô, lôi cuốn được những người sản xuất riêng lẻ độc lập vào phân công lao động xã hội, hình thành mối liên hệ ràng buộc nhau thông qua thị trường, làm cho sản xuất có hiệu quả hơn
- Thị trường luôn phản ánh khá rõ nét nhu cầu tiêu dùng của xã hội cả về
số lượng, chất lượng, cơ cấu, chủng loại sản phẩm nên đã phát huy được tính năng động và khả năng tự điều chỉnh của nền kinh tế Qua đó các doanh nghiệp tự điều chỉnh kịp thời kế hoạch sản xuất kinh doanh nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của xã hội phù hợp hơn, làm cho thị trường về sản phẩm và dịch
vụ phát triển đa dạng, phong phú và luôn luôn được cải tiến mới
Nền kinh tế thị trường còn có những hạn chế như:
- Kinh tế thị trường làm cho xã hội phát sinh nhiều tiêu cực, tệ nạn xã hội gắn liền với sa sút kinh tế, gây rối loạn xã hội Các nhà kinh doanh tìm mọi
Trang 10thủ đoạn, mánh khoé làm hàng giả, buôn lậu, trốn thuế, lừa đảo nhằm đạt
được lợi nhuận cao
- Cơ cấu kinh tế được hình thành tự phát, các doanh nghiệp sẽ tập trung vào các ngành có lợi nhuận cao, dễ thu hồi vốn, còn ngành có lãi ít và cơ sở hạ tầng đòi hỏi nhiều vốn và thời gian thu hồi vốn dài ít được quan tâm Từ đó dẫn đến mất cân đối kinh tế về cơ cấu ngành và cơ cấu lãnh thổ Vì lợi ích và lợi nhuận siêu ngạch, dẫn đến sử dụng bừa bãi, tàn phá tài nguyên và huỷ diệt môi trường sinh thái
Đối với nền kinh tế nước ta, nền kinh tế thị trường đang còn ở giai đoạn thấp, hệ thống pháp luật chưa hoàn chỉnh, chưa đồng bộ, những ưu thế của nền kinh tế thị trường chưa thể hiện đầy đủ, rõ nét, nhưng những khuyết tật đã có cơ hội nẩy sinh Nhà nước phải tăng cường điều chỉnh và quản lý vĩ mô một cách kiên quyết và kịp thời để đưa mọi sự hoạt động vào khuôn khổ và tuân theo pháp luật Với những thành tựu đã đạt được của nền kinh tế trên mọi lĩnh vực nhưng vẫn còn nhiều hạn chế đòi hỏi Nhà nước can thiệp vào thị trường phải tập trung giải quyết một số nội dung chủ yếu như:
+ Xoá bỏ cơ chế quản lý tập trung, những thủ tục hành chính phiền hà,
đổi mới thể chế, chính sách quản lý, tạo điều kiện và môi trường thuận lợi cho các đơn vị kinh tế hoạt động trong cơ chế thị trường theo định hướng XHCN + Xoá bỏ độc quyền Nhà nước không cần thiết, khuyến khích các thành phần kinh tế khác phát triển, trên cơ sở thực hiện hoạch toán kinh tế, bù đắp chi phí và có lãi Thực hiện cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước Tinh giảm
bộ máy Nhà nước, nâng cao năng lực quản lý, sắp xếp lại doanh nghiệp Nhà nước nhằm giúp các doanh nghiệp ngày càng kinh doanh có hiệu quả hơn
1.1.2 Doanh nghiệp và phân loại doanh nghiệp
a Các khái niệm về doanh nghiệp
Doanh nghiệp là một đơn vị kinh tế được thành lập nhằm mục đích kinh doanh hoặc các hoạt động công ích Nếu Doanh nghiệp hoạt động kinh doanh
là việc thực hiện một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm trên thị trường nhằm mục đích kiếm lợi nhuận Nếu Doanh nghiệp hoạt động công ích phải thực hiện các dịch vụ trên thị trường theo mục tiêu nhiệm vụ Nhà nước giao cho doanh nghiệp
Nói đến khái niệm về doanh nghiệp có nhiều quan điểm Nhưng tuỳ theo mục đích nghiên cứu, cách tiếp cận ta có thể đưa ra các định nghĩa bao gồm:
Trang 11* Theo quan điểm tổ chức quá trình và nội dung hoạt động của doanh nghiệp
Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế, với một số lượng tài sản nhất định, con người sẽ lựa chọn những phương pháp kết hợp với các yếu tố đầu vào một cách tối ưu nhằm tạo ra những khoản chênh lệch giữa giá bán và chi phí bỏ ra
* Theo quan điểm mục tiêu cơ bản
Mỗi doanh nghiệp khi được thành lập, mọi hoạt động của doanh nghiệp
là vì mục tiêu lợi nhuận M.Francois Perroux - một nhà kinh tế người Pháp đã
định nghĩa, "Doanh nghiệp là một tổ chức sản xuất thông qua đó trong khuôn khổ một số tài sản nhất định, người ta kết hợp nhiều yếu tố sản xuất khác nhau nhằm tạo ra những sản phẩm hoặc dịch vụ để bán trên thị trường, nhằm thu về khoản chênh lệch giữa giá thành và giá bán sản phẩm
* Theo quan điểm lý thuyết hệ thống
Doanh nghiệp là một bộ phận hợp thành trong hệ thống kinh tế, mỗi đơn
vị trong hệ thống đó phải tác động tương hỗ lẫn nhau, phải tuân thủ những
điều kiện hoạt động mà nhà nước đặt ra trong hệ thống kinh tế đó nhằm phục
vụ cho mục đích tiêu dùng của xã hội
Khi tổng hợp các định nghĩa và các quan điểm nêu trên chúng ta có thể
đưa ra một khái niệm toàn diện về doanh nghiệp "Doanh nghiệp là một đơn vị sản xuất kinh doanh được tổ chức nhằm tạo ra sản phẩm và dịch vụ đáp ứng yêu cầu tiêu dùng trên thị trường, thông qua đó để tối đa hóa lợi nhuận trên cơ
sở tôn trọng pháp luật của nhà nước và quyền lợi chính đáng của người tiêu dùng"
b Phân loại doanh nghiệp
Có nhiều cách phân loại doanh nghiệp, tùy theo mục tiêu nghiên cứu, tuỳ theo cách tiếp cận người ta có thể đưa ra các cách phân loại như sau:
* Căn cứ vào hình thức pháp lý và trách nhiệm pháp lý
Doanh nghiệp được phân thành 2 loại doanh nghiệp:
- Doanh nghiệp chịu trách nhiệm vô hạn Là loại hình doanh nghiệp mà chủ doanh nghiệp chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của doanh nghiệp và tài sản của chủ doanh nghiệp Doanh nghiệp chịu trách nhiệm vô hạn là các doanh nghiệp tư nhân và các công ty hợp doanh
- Doanh nghiệp chịu trách nhiệm hữu hạn Là những doanh nghiệp có tư cách pháp nhân độc lập tự chịu trách nhiệm tài sản trong phạm vi phần vốn
Trang 12góp vào doanh nghiệp về mọi khoản nợ của doanh nghiệp Những Doanh nghiệp chịu trách nhiệm hữu hạn bao gồm: doanh nghiệp nhà nước, các loại hình công ty và các doanh nghiệp tập thể
* Căn cứ vào quy mô về vốn, về lao động của doanh nghiệp
Doanh nghiệp có thể phân loại doanh nghiệp theo 3 loại doanh nghiệp:
- Doanh nghiệp có quy mô nhỏ
- Doanh nghiệp có quy mô vừa
- Doanh nghiệp có quy mô lớn
* Căn cứ theo yêu cầu của cơ chế thị trường hay phục vụ lợi ích công
cộng của xã hội
Doanh nghiệp có thể được phân thành 2 loại doanh nghiệp:
- Doanh nghiệp hoạt động kinh doanh với mục đích tối đa hóa lợi nhuận
- Doanh nghiệp hoạt động phục vụ lợi ích công cộng của xã hội với mục
đích hoạt động không phải vì lợi nhuận, là những doanh nghiệp được thành lập
để thực hiện các hoạt động công ích phục vụ lợi ích chung của toàn xã hội
* Căn cứ vào tính chất sở hữu tài sản doanh nghiệp
Doanh nghiệp được chia thành 2 loại doanh nghiệp:
- Doanh nghiệp một chủ sở hữu bao gồm: Doanh nghiệp 100% vốn của nhà nước và 100% vốn của cá nhân, tổ chức trong nước hoặc cá nhân và tổ chức nước ngoài
- Doanh nghiệp có nhiều chủ sở hữu bao gồm: các loại hình công ty TNHH, công ty cổ phần và các doanh nghiệp tập thể
Vậy thông qua cách phân loại doanh nghiệp trên, ta có thể đưa ra mô hình về các loại doanh nghiệp ở nước ta hiện nay theo hình 1.1 như sau
Trang 13Hình:1.1 sơ đồ các loại doanh nghiệp ở việt nam
Tổng Công ty Nhà
nước
Các loại doanh nghiệp
Doanh nghiệp Nhà Nước Doanh nghiệp ngoài quốc doanh
Doanh nghiệp độc
lập
Doanh nghiệp tập thể
Doanh nghiệp tư
nhân
Công
ty hợp doanh
Công
ty Trách nhiệm hữu hạn
Công
ty Cổ phần
Doanh nghiệp liên doanh
Doanh nghiệp
có 100% vốn nước ngoài
động kinh doanh
Doanh nghiệp hoạt
động công ích
Trang 141.1.3 Những vấn đề cơ bản về doanh nghiệp vận tải bằng ô tô
a Khái niệm về doanh nghiệp vận tải
Vận tải là một hoạt động kinh tế có mục đích của con người nhằm thay
đổi vị trí của con người và hàng hóa từ nơi này đến nơi khác Do vậy khi có vận tải con người đã chinh phục được khoảng cách không gian và tạo ra khả năng sử dụng rộng rãi giá trị sử dụng của hàng hóa để thoả mãn nhu cầu đi lại của con người
Vận tải là một quy trình thay đổi (di chuyển) vị trí của hàng hoá, hành khách trong không gian và thời gian cụ thể để nhằm thoả mãn nhu cầu nào đó của con người Do vậy sự phát triển của vận tải luôn luôn gắn liền với sự phát triển của xã hội loài người
Doanh nghiệp vận tải là một tổ chức kinh tế có đầy đủ tư cách pháp nhân
được Nhà nước thành lập hoặc cho phép thành lập và hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực vận tải theo quy định của pháp luật
b Phân loại doanh nghiệp vận tải
Tuỳ theo mục đích quản lý có thể phân loại doanh nghiệp vận tải theo các tiêu thức khác nhau:
* Căn cứ vào đối tượng kinh doanh
Doanh nghiệp vận tải được phân ra thành hai loại:
- Vận tải hàng hóa bao gồm: vận tải hàng hóa trong nước hoặc quốc tế
Doanh nghiệp vận tải được phân ra thành hai loại:
- Vận tải đơn Là loại hình vận tải chỉ có môt phương thức vận tải tham gia vào sản xuất vận tải như: các doanh nghiệp vận tải đường bộ, đường sắt,
đường thuỷ, đường hàng không và đường ống
- Vận tải đa phương thức Là sự kết hợp giữa các loại hình vận tải và các dịch vụ hỗ trợ kèm theo nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng
mà trong quá trình di chuyển vị trí của đối tượng vận tải chỉ có một chủ vận
đơn
Trang 15* Căn cứ theo hình thức sở hữu và quản lý
Doanh nghiệp vận tải được phân thành hai loại doanh nghiệp vận tải:
- Doanh nghiệp vận tải quốc doanh
- Doah nghiệp vận tải ngoài quốc doanh bao gồm: doanh nghiệp vận tải tư nhân, các công ty cổ phần, TNHH, công ty liên doanh và HTX vận tải
* Căn cứ vào quy mô của doanh nghiệp
Doanh nghiệp vận tải được phân thành ba loại doanh nghiệp
- Doanh nghiệp có quy mô lớn
- Doanh nghiệp có quy mô trung bình bình
- Doanh nghiệp có quy mô nhỏ
1.2 Môi trường kinh doanh và định hướng phát triển doanh nghiệp
1.2.1 Môi trường kinh doanh của doanh nghiệp
a Khái niệm về môi trường sản xuất kinh doanh
Doanh nghiệp là một bộ phận quan trọng trong cơ cấu tổ chức nền kinh
tế quốc dân Nơi sản xuất ra các hàng hóa hoặc dịch vụ phục vụ nhu cầu đời sống kinh tế - xã hội Với chức năng quản lý của nhà nước trong nền kinh tế thị trường thì việc tạo ra môi trường kinh doanh thuận lợi cho các doanh nghiệp là chức năng chủ yếu và quan trọng nhất
Môi trường hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường được khái quát hóa theo một trình tự mhất định Khi doanh nghiệp muốn hoạt động sản xuất kinh doanh luôn phải chú ý đến các yếu tố đầu vào, liên quan đến thị trường như: thị trường nguyên vật liệu, thị trường lao động, thị trường vốn, thị trường công nghệ Doanh nghiệp với tư cách là người mua, thì doanh nghiệp sẽ phản ứng bằng những biện pháp nhằm trả lời các câu hỏi như: mua ở đâu, của ai và mua với giá như thế nào? Khi doanh nghiệp đưa hàng hóa hoặc các dịch vụ ra thị trường, luôn luôn phải đối mặt với các vấn đề như: Giá bán, đối thủ cạnh tranh và người tiêu dùng Do đó môi trưòng kinh doanh của doanh nghiệp được cấu thành hai yếu tố tự nhiên và xã hội
- Nhóm yếu tố tự nhiên: là nguồn tài nguyên, đất đai và môi sinh
- Nhóm yếu tố xã hội: là các quan hệ xã hội, quan hệ pháp luật, quy chế của chính phủ nhóm yếu tố này quyết định chính đến môi trường kinh doanh của doanh nghiệp mà doanh nghiệp muốn tồn tại phải thích ứng và quan tâm
đến nhóm các yếu tố xã hội
Trang 16Vây khái niệm về môi trường kinh doanh của doanh nghiệp là tổng hợp các yếu tố và điều kiện khách quan, chủ quan bên trong và bên ngoài có mối quan hệ tương tác với nhau, có ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến hoạt
động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
b Đăc điểm môi trường kinh doanh
Đặc điểm của môi trường kinh doanh được thể hiện qua nội dung các loại loại môi trường cơ bản sau:
* Môi trường kinh tế
Môi trường kinh tế phản ánh thực trạng của nền kinh tế và xu hướng phát triển trong tương lai có ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp Khi nền kinh tế ở giai đoạn có tốc độ tăng trưởng phát triển cao sẽ tạo điều kiện, tạo nhiều cơ hội cho đầu tư mở rộng hoạt động sản xuất của doanh nghiệp Ngược lại khi nền kinh tế sa sút, suy thoái, dẫn đến giảm chi cho tiêu dùng và hạn chế đầu tư Dẫn đến làm tăng lực lượng cạnh tranh về giá cả trong các ngành sản xuất, đặc biệt là các ngành đã trưởng thành Mức lãi suất sẽ quyết
định mức cầu cho các sản phẩm của doanh nghiệp Khi lạm phát tăng làm cho việc kiểm soát giá cả và tiền tệ không thể làm chủ được, các dự án đầu tư sẽ mạo hiểm thì các doanh nghiệp sẽ giảm đầu tư mở rộng phát triển sản xuất
* Môi trường văn hóa
Hình thành các phong tục tập quán, tín ngưỡng mà các doanh nghiệp phải tính đến thái độ người tiêu dùng Trình độ văn hóa của người tiêu dùng ngày càng cao đã và sẽ là một thách thức đối với mỗi doanh nghiệp khi tiến hành các hoạt động sản xuất - kinh doanh
* Môi trường chính trị, pháp luật
Tác động đến doanh nghiệp theo các hướng khác nhau, nó có thể tạo ra cơ hội, trở ngại hoặc gây rủi ro cho doanh nghiệp Khi chính trị ổn định, sự nhất quán về các chính sách phát triển kinh tế luôn luôn hấp dẫn các nhà đầu tư Hệ thống pháp luật được xây dựng và hoàn thiện sẽ là cơ sở để kinh doanh
ổn định vì các doanh nghiệp đều quan tâm đến các vấn đề sau:
Trang 17- Luật thuế và các loại phí có thể vừa tạo ra cơ hội, lại vừa có thể gây ra những cản trở cho sự phát triển sản xuất của doanh nghiệp
- Luật lao động, quy chế tuyển dụng, thất nghiệp cho người lao động là những điều doanh nghiệp phải quan tâm
* Môi trường quốc tế (theo khu vực, toàn cầu hóa)
Môi trường quốc tế đang và sẽ là một xu hướng tất yếu mà mọi doanh nghiệp, mọi ngành, mọi chính phủ phải quan tâm Ví dụ như: Khi Việt Nam trở thành viên chính thức của tổ chức thương mại quốc tế (WTO), Việt Nam sẽ phải mở cửa thị trường trong nước, được rộng thị trường xuất khẩu ra các nước trên thế giới, được hưởng quy chế tối hậu quốc, không bị phân biệt đối sử trong quan hệ thương mại quốc tế Nhưng ngược lại những thách thức trong cạnh tranh quốc tế sẽ quyết liệt hơn rất nhiều
* Môi trường tự nhiên
Môi trường tự nhiên gồm: khí hậu, sinh thái và sự thay đổi của nó làm cho các doanh nghiệp sản xuất và dịch vụ luôn luôn tính đến mùa vụ, đặc biệt những doanh nghiệp sản xuất - kinh doanh phụ thuộc nhiều vào yếu tố tự nhiên
* Môi trường ngành
Vì mỗi ngành kinh tế kỹ thuật có nhiều doanh nghiệp có thể đưa ra các sản phẩm và dịch vụ giống nhau hoặc tương tự nhau, có thể thay thế cho nhau Thì các doanh nghiệp luôn luôn phải phân tích và phán đoán thế cạnh tranh trong nội bộ ngành để xác định cơ hội hoặc sự đe doạ đối với doanh nghiệp của mình Thông qua xem xét đối thủ cạnh tranh hiện tại, cạnh tranh tiềm ẩn, phân tích các nhà cung cấp và phân tích khách hàng trên thị trường
* Môi trường nội bộ doanh nghiệp
Chủ yếu đánh giá các mặt mạnh, mặt yếu trong nội bộ doanh nghiệp để
có những biện pháp cần thiết nhằm duy trì sự tồn tại và phát triển ổn định Khi xem xét môi trường nội bộ doanh nghiệp cần xem xét các hoạt động như:
- Quản trị sản xuất tác nghiệp
- Hoạt động tài chính, kế toán
- Hoạt động Marketing
- Hoạt động tổ chức nhân lực
- Hệ thống thông tin
Sự tương tác các yếu tố môi trường kinh doanh của doanh nghiệp có thể
được khái quát theo hình 1.2 như sau
Trang 18Hình 1.2 Sơ đồ phản ánh sự tác động của môi trường kinh doanh đối với Doanh
nghiệp
1.2.2 Định hướng phát triển doanh nghiệp
Sự tồn tại và phát triển của các loại hình doanh nghiệp đã góp phần vào việc phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia, đáp ứng được nhu cầu của xã hội Chủ trương của Đảng và Nhà nước ta luôn luôn tập trung khuyến khích phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp để các doanh nghiệp nước ta có đủ sức cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài nước theo các chính sách và mục tiêu cụ thể
a Đối với doanh nghiệp Nhà Nước
Được coi là những doanh nghiệp giữ vị trí vai trò chỉ đạo trong nền kinh
tế, cung ứng những hàng hóa và dịch vụ công cộng cần thiết trong các lĩnh vực
Môi trường kinh tế
Trang 19kết cấu hạ tầng kỹ thuật như: Điện, nước, giao thông, thuỷ lợi, thông tin liên lạc, giáo dục, y tế, quốc phòng, an ninh và một số ngành sản xuất kinh doanh trọng yếu khác nhằm phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
Hội nghị lần thứ 3 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa IX đã chỉ rõ
"việc sắp xếp đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp Nhà nước
là nhiệm vụ cấp bách và cũng là nhiệm vụ lâu dài với nhiều khó khăn, phức tạp, mới mẻ" Việc sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp Nhà nước là những việc làm ngay, nhưng quan trọng hơn, cơ bản hơn là phải đổi mới, sắp xếp như thế nào? Để có hiệu quả thiết thực, đưa doanh nghiệp Nhà nước giữ được vai trò chủ đạo trong nền kinh tế Thực hiện sắp xếp lại doanh nghiệp Nhà nước theo hình thức cổ phần hóa, đa dạng các doanh nghiệp Nhà nước đã thu được những kết quả ban đầu làm cho các doanh nghiệp luôn luôn kinh doanh có hiệu quả hơn Trong những năm gần đây từ năm 2003-2005, Nhà nước ta sẽ
dự kiến cổ phần hóa, giao bán, khoán và cho thuê hơn một nghìn doanh nghiệp nhà nước và dự kiến đến đầu năm 2006 sẽ duy trì khoảng 3500 doanh nghiệp nhà nước, tập trung ở các lĩnh vực hoạt động độc quyền và quan trọng
có khả năng điều tiết vĩ mô nền kinh tế
b Đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh
Nhà nước đã thực hiện nhiều chính sách phát triển các doanh nghiệp ngoài quốc doanh theo các quan điểm sau:
- Không hạn chế sự phát triển của các doanh nghiệp, cho phép các doanh nghiệp có đủ điều kiện được phép mở rộng sản xuất, liên doanh, liên kết với cá nhân, tổ chức và pháp nhân trong và ngoài nước
- Khuyến khích các doanh nghiệp tổ chức hoạt động kinh doanh theo mô hình tổng hợp, đa dạng hóa sản phẩm
- Nhà nước có chính sách hỗ trợ ban đầu cho các loại sản phẩm Các lĩnh vực mà nhà nước khuyến khích đầu tư hoạt động phục vụ lợi ích công cộng-phúc lợi được ưu đãi về giá thuê đất, miễn giảm thuế và hỗ trợ đầu tư khoa học công nghệ mới
Định hướng phát triển các doanh nghiệp ngoài quốc doanh đã được Đảng
và nhà nước ta rất coi trọng và quan tâm Các doanh nghiệp ngoài quốc doanh
là một bộ phận không thể tách rời của nền kinh tế, là yếu tố duy trì và là động lực phát triển kinh tế xã hội Với những định hướng phát triển của Đảng và nhà nước đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh đã được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền nghiên cứu, triển khai và cụ thể hóa bằng các văn bản
Trang 20pháp quy Quá trình thực hiện các chủ trương chính sách phát triển doanh nghiệp ngoài quốc doanh đã tạo ra môi trường pháp lý thuận lợi cho sự phát triển của các doanh nghiệp nước ta nói chung và các doanh nghiệp ngoài quốc doanh nói riêng, tạo tiền đề thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội và góp phần
đưa các doanh nghiệp nước ta có đủ sức cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài khi thực hiện hội nhập kinh tế thế giới Đồng thời góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đưa Việt Nam trở thành nước công nghiệp phát triển trên thế giới
1.3 Cơ sở lý luận về hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp vận tải
1.3.1 Khái niệm về hiệu quả kinh doanh
Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế nó phản ánh trình độ sử dụng và năng lực quản lý các yếu tố đầu vào để hoạt động sản xuất kinh doanh đạt được kết quả cao với chi phí thấp nhất Tuy nhiên khi đưa ra khái niệm về hiệu quả kinh doanh từ nhiều lĩnh vực khoa học đã đưa ra các khái niệm khác nhau về hiệu quả sản xuất kinh doanh
* Theo quan điểm thứ nhất: Nhà kinh tế học người Anh Adam Smith cho rằng "Hiệu quả sản xuất kinh doanh là kết quả đạt được trong hoạt động sản xuất kinh doanh là doanh thu tiêu thụ hàng hóa" Theo quan điểm này khi xem xét hiệu quả sản xuất kinh doanh đồng nhất với kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh Do đó khó giải thích kết quả kinh doanh có thể tăng lên do đầu tư, chi phí mở rộng sử dụng các nguồn được sản xuất và cùng một kết quả sản xuất kinh doanh cũng có các mức chi phí sản xuất khác nhau nhưng cũng có cùng hiệu quả
* Theo quan điểm thứ hai: "Hiệu quả kinh doanh được đo bằng hiệu số giữa kết quả đạt được với chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó"
Hiệu quả kinh doanh phản ánh quan hệ với toàn bộ chi phí, là sự phản
ánh trình độ sử dụng các yếu tố chi phí, có thể viết dưới dạng:
Hiệu quả tuyệt đối H = K - C (1.1)
Trong đó: K là kết quả đầu ra
C là chi phí đầu vào
Hiệu quả tương đối H =
C
Do đó hiệu quả là chỉ tiêu dùng để phân tích, đánh giá và lựa chọn các phương án kính doanh
Trang 21Đối với hiệu quả kinh doanh tương đối phản ánh việc sử vốn đã bỏ ra để thu được kết quả cao hơn, với hiệu suất giá trị gia tăng là điều kiện để cho các doanh nghiệp tồn tại và phát triển thì H >1 Khi H càng lớn thì phản ánh doanh nghiệp với quá trình kinh doanh càng có hiệu quả Do vậy các doanh nghiệp muốn tăng hiệu quả H thì thường dùng các biện pháp như:
- Giảm các chi phí đầu vào (C) và giữ nguyên kết quả đầu ra hoặc tăng kết quả đầu ra
- Giữ nguyên các yếu tố chi đầu vào (C) và tăng kết quả đầu ra Nếu tình trạng quản lý điều hành sản xuất của doanh nghiệp bất hợp lý, thì doanh nghiệp phải cải tiến, bố trí hợp lý nó, nhằm sử dụng các nguồn lực một cách hợp lý để tăng giá trị đầu ra Khi quá trình sản xuất kinh doanh mà việc tổ chức quản lý điều hành sản xuất đã tương đối hợp lý, để doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả thì phải nâng cao chất lượng sản phẩm, nâng cao chất lượng đầu vào bằng cách sử dụng nguyên vật liệu tốt, lao động có tay nghề cao hơn, đổi mới dây chuyền công nghệ, phát huy sáng kiến cải tiến kỹ thuật sản xuất Từ đó có thể tiết kiệm chi phí về nguyên vật liệu, về lao động, tăng năng suất lao động làm cho sản phẩm có chất lượng cao, giá thành hạ Do vậy các doanh nghiệp muốn tăng hiệu quả kinh doanh thì phải không ngừng
đầu tư công nghệ, áp dụng các phương thức quản lý tiên tiến và sử dụng lao
động hợp lý, có tay nghề cao thì giá trị đầu ra càng có khả năng tăng cao Giúp cho doanh nghiệp có thể nâng cao vị trí, sức cạnh tranh sản phẩm trên thị trường
* Quan điểm thứ 3: Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế biểu hiện tập trung sự phát triển kinh tế theo chiều sâu, phản ánh trình độ khai thác các nguồn lực và mức chi phí các nguồn lực đó trong quá trình tái sản xuất nhằm đạt được các mục tiêu kinh doanh Theo quan điểm này hiệu quả kinh doanh gắn với cơ sở lý luận kinh tế hiện đại phù hợp với chính sách phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia là khi phát triển nền kinh tế phải được tiến hành đồng thời theo chiều rộng và chiều sâu
Khi phát triển kinh tế theo chiều rộng là huy động mọi nguồn lực vào sản xuất Sản xuất, tăng theo nguồn vốn, bổ xung thêm nguồn lao động và nâng cao kỹ thuật, đổi mới công nghệ, hiện đại hóa sản xuất sản phẩm Khi phát triển kinh tế theo chiều sâu là coi trọng và đẩy mạnh phát triển cách mạng khoa học - kỹ thuật Cách mạng khoa học - kỹ thuật được coi là then chốt, thường xuyên để nâng cao chất lượng sử dụng các nguồn lực, coi
Trang 22trọng chất lượng sản phẩm hoặc dịch vụ và coi đó là cơ sở để nâng cao hiệu quả kinh tế
Vậy hiệu quả kinh doanh là một chỉ tiêu tổng hợp nhất về chất lượng của quá trình sản xuất kinh doanh Nội dung của nó là so sánh kết quả thu được với chi phí bỏ ra mà các nhà kinh doanh cần phải biết với số vốn nhất định khi
bỏ ra, xem việc gì đem lại số lãi bằng tiền lớn nhất trong thời gian ngắn nhất,
được coi là có hiệu quả kinh tế cao Xét hiệu quả kinh doanh luôn luôn phải
đặt trong hoàn cảnh, trình độ phát triển chung về kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia và phải tính đến sự biến động kinh tế - xã hội ở khu vực và quốc tế Qua
đó thấy tính phức tạp về việc đánh giá hiệu quả kinh tế đòi hỏi phải xét đến nhiều yếu tố, phải cân nhắc nhiều mặt, phải dựa vào thực tiễn hoạt động kinh doanh, để dự báo tương lai, phải coi trọng lợi ích chung, lợi ích cơ sở sản xuất kinh doanh trong từng thời kỳ
Hiệu quả kinh doanh được xem xét về hiệu quả xã hội là chỉ tiêu phản
ánh mức độ đóng góp của doanh nghiệp vào sự nghiệp phát triển chung của nền kinh tế Nó thể hiện sự đóng góp của doanh nghiệp vào ngân sách Nhà nước thông qua hình thức thuế, giải quyết lao động có việc làm, tăng thu nhập cho người lao động góp phần xoá đói giảm nghèo, từng bước thay đổi cơ cấu của nền kinh tế Vậy nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp là vấn
đề cấp bách và cần thiết nhằm thúc đẩy tăng trưởng chung của toàn bộ kinh tế nước ta hiện nay Thì việc đánh giá hiệu quả thì phải dựa vào cơ sở nào, các phương pháp nào?
1.3.2 Các nguyên tắc và các phương pháp dùng để phân tích hiệu quả sản xuất kinh doanh
a Các nguyên tắc đánh giá hiệu quả hiệu quả sản xuất kinh doanh
Đánh giá hiệu quả sản xuât kinh doanh của mỗi doanh nghiệp, ngành kinh tế là công việc hết sức quan trọng Do đó khi đánh giá cần phải xem xét một cách toàn diện về mặt thời gian và không gian trong mối quan hệ với toàn ngành và của toàn bộ nền kinh tế quốc dân Vì vậy đánh giá hiệu quả phải dựa trên các nguyên tắc sau:
* Nguyên tắc về thời gian
Hiệu quả đạt được trong từng giai đoạn, từng thời kỳ không được làm giảm sút hiệu quả các giai đoạn, các thời kỳ tiếp theo Đồng thời không vì lợi ích trước mắt mà quên lợi ích lâu dài
Trang 23b Các phương pháp phân tích hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh
* Phương pháp so sánh đối chiếu
Phương pháp so sánh đối chiếu được sử dụng rộng rãi và phổ biến trong phân tích để xác định xu hướng, mức độ biến động của các chỉ tiêu phân tích hiệu quả sản xuất kinh doanh Do đó khi sử dụng phương pháp này cần phải giải quyết các vấn đề cơ bản như:
- Xác định số gốc để so sánh:
Số gốc để so sánh khi xác định nó phụ thuộc vào mục đích cụ thể của phân tích Khi phân tích nhịp độ biến động, tốc độ tăng trưởng của các chỉ tiêu, số gốc để so sánh là trị số của chỉ tiêu kỳ trước Khi nghiên cứu mức độ thực hiện nhiệm vụ kinh doanh trong từng khoảng thời gian như: một năm thường so sánh với cùng kỳ năm trước (hoặc theo quý hay tháng trong năm) Khi đánh giá mức độ biến động so với các mục tiêu đã dự kiến, trị số thực tế sẽ được so sánh với mục tiêu đề ra trong kế hoạch sản xuất sản xuất kinh doanh
Khi nghiên cứu khả năng đáp ứng nhu cầu một loại sản phẩm hàng hóa hoặc dịch vụ trên thị trường có thể so sánh số thực tế với mức độ hợp đồng hoặc nhu cầu Do đó giá trị của các chỉ tiêu ở kỳ trước, kế hoạch hoặc cùng
kỳ trước đều được gọi là trị số kỳ gốc Thời kỳ chọn để phân tích gọi tắt là kỳ phân tích
do phát triển của hoạt động kinh doanh, nên nội dung kinh tế của các chỉ tiêu
có thể thay đổi theo các chiều hướng khác nhau Nội dung kinh tế của chỉ tiêu
Trang 24có thể bị thu hẹp hoặc mở rộng do phân ngành kinh doanh, do phân chia các
đơn vị quản lý hoặc do thay đổi chính sách quản lý kinh tế Nội dung kinh tế của chỉ tiêu cũng thay đổi theo chiều hướng "quốc tế hóa" chỉ tiêu để tiện so sánh, để có thể so sánh được thì cần tính toán lại trị số gốc của chỉ tiêu theo nội dung mới hoặc quy định lại
+ Đảm bảo tính thống nhất về phương pháp tính các chỉ tiêu vì trong kinh doanh các chỉ tiêu có thể được tính toán theo các phương pháp khác nhau
từ các chỉ tiêu giá trị sản lượng, doanh thu, thu nhập, năng suất lao động, giá thành có thể được tính toán theo những phương pháp khác nhau Khi so sánh cần lựa chọn hoặc tính toán lại các trị số của chỉ tiêu theo một phương pháp thống nhất
+ Đảm bảo tính thống về đơn vị tính các chỉ tiêu cả về hiện vật, giá trị
và thời gian
- Xác định mục tiêu so sánh
Mục tiêu so sánh khi xác định trong phân tích là xác định mức biến động tuyệt đối hoặc tương đối với cùng xu hướng biến động của chỉ tiêu phân tích như: khi năng suất tăng lên, giá thành sản phẩm sẽ giảm Mức biến động tuyệt
đối được xác định trên cơ sở so sánh trị số của chỉ tiêu giữa hai kỳ là kỳ phân tích và kỳ gốc Mức biến động tương đối là kết quả so sánh giữa chỉ tiêu kỳ phân tích với trị số kỳ gốc, nhưng đã được điều chỉnh theo một hệ số của chỉ tiêu phân tích
* Phương pháp loại trừ
Khi phân tích một quá trình kinh doanh thường có nhiều nhân tố ảnh hưởng và có thể dẫn đến các kết quả nhất định Do đó thông qua phương pháp loại trừ nhằm xác định mức độ ảnh hưởng lần lượt của từng nhân tố đến kết quả kinh doanh, bằng cách khi xác định ảnh hưởng của nhân tố này, thì loại trừ ảnh hưởng của từng nhân tố khác khi phân tích chỉ tiêu tổng hợp như: mức lợi nhuận thu được từ một hoạt động sản xuất kinh doanh, một loại sản phẩm hoặc dịch vụ của doanh nghiệp có thể quy về sự ảnh hưởng của hai nhân tố:
- Số lượng hàng hóa hoặc dịch vụ bán ra được tính bằng các đơn vị tự nhiên (cái, chiếc ) hoặc đơn vị trọng (tấn, tạ, kg ) hoặc khối lượng dịch vụ vận tải vận chuyển( luân chuyển) bằng các đơn vị đo(Tấn.km, hành khách.km)
- Tỷ suất lợi nhuận trên một đơn vị sản phẩm hàng hóa hoặc dịch vụ với hai nhân tố trên đều ảnh hưởng đến doanh thu, đến lợi nhuận của một chu
Trang 25kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp Nhưng để xác định mức độ ảnh hưởng của một nhân tố này phải loại trừ sự ảnh hưởng của các nhân tố khác, đến chỉ tiêu kết quả đạt được thực hiện bằng hai phương án: Phương án 1 Xét ảnh hưởng của nhân tố số lượng trước nhân tố tỷ suất lợi nhuận
Phương án 2 Xét ảnh hưởng của nhân tố tỷ suất lợi nhuận trước nhân tố
số lượng
Khi chỉ tiêu kết quả phụ thuộc vào khối lượng sản phẩm hàng hóa tiêu thụ là nhân tố số lượng, còn lợi nhuận là nhân tố chất lượng Ta có thể tiến hành xem xét đánh giá nhân tố số lượng, sau đó đến nhân tố chất lượng
Khi chỉ tiêu kết quả bị ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố thì phải xác định thứ
tự đánh giá bằng cách khai triển các chỉ tiêu kết quả theo các nhân tố hoặc nhóm nhân tố Nhưng phải chú ý đến mối liên quan các chỉ tiêu có nhân tố số lượng ảnh hưởng đến điều kiện sản xuất, thì trước hết đánh giá ảnh hưởng nhân tố thay đổi cơ cấu và cuối cùng là nhân tố chất lượng
* Phương pháp số chênh lệch
Phương pháp số chênh lệch là phương pháp được sử dụng trong phân tích kinh tế Khi có hai nhân tố cá biệt ảnh hưởng đến quá trình kinh tế thì sử dụng phương pháp số chênh lệch vì nó đơn giản hơn so với phương pháp thay thế liên hoàn
Có thể viết dưới dạng z = x.y (1.3)
Trong đó: z là chỉ tiêu phân tích; x, y là chỉ tiêu nhân tố Khi có 3 nhân tố ảnh hưởng đến quá trình kinh tế thì sử dụng phương pháp chênh lệch viết dưới dạng: z = x.y.v
Vậy khi phân tích kinh tế sử dụng phương pháp số chênh lệch có bao nhiêu nhân tố thì sẽ có bấy nhiêu nhóm tích số và mỗi nhóm tích số có một nhóm chênh lệch của một nhân tố nhất định
1.3.3 Các nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
a Các nhân tố vĩ mô
Chất lượng của sản phẩm hoặc dịch vụ là kết quả của quá trình thực hiện các biện pháp sản xuất, kinh tế, kỹ thuật, cơ chế quản lý và môi trường cạnh tranh trên thị trường Do vậy khi xem xét nhân tố vĩ mô ảnh hưởng đến hiệu quả cần xem xét các nhân tố sau:
Trang 26* Nhân tố nhu cầu nền kinh tế
Nhu cầu nền kinh tế thể hiện các mặt cụ thể của nền kinh tế đối với chất lượng sản phẩm hoặc các dịch vụ như:
- Thị trường đòi hỏi về trình độ, khả năng cung ứng của sản phẩm hoặc dịch vụ, chính sách kinh tế
- Nền kinh tế lại có hạn về nguồn tài nguyên, vốn đầu tư, trình độ kỹ thuật công nghệ và đổi mới trang thiết bị
Nhân tố kinh tế có tác động trực tiếp đến môi trường kinh doanh của doanh nghiệp Nó có thể trở thành cơ hội hoặc nguy cơ đối với hoạt động của doanh nghiệp như: tốc độ tăng trưởng nền kinh tế, lãi suất, chính sách tài chính tiền tệ của Nhà Nước, thu nhập dân cư, tỷ lệ thất nghiệp Mặt khác khi
điều kiện nền kinh tế suy thoái, tỷ lệ thất nghiệp cao, lãi suất tín dụng tăng lên
đều không gây ảnh hưởng gì đến tính chất của các khoản tiêu dùng của người
có thu nhập cao và họ vẫn là thị trường chủ yếu tiêu thụ những loại sản phẩm
và dịch vụ đắt tiền Còn những người có thu nhập thấp ( hoặc trung bình) chỉ
sử dụng các loại sản phẩm hoặc các dịch vụ cần thiết thuộc nhu cầu cơ bản của họ và gia đình thì trong quá trình tiêu dùng luôn tính đến yếu tố tiết kiệm
* Nhân tố sự phát triển của khoa học - kỹ thuật
Ngày nay khoa học - kỹ thuật phát triển như vũ bão trên quy mô toàn cầu Cách mạng khoa học - kỹ thuật đang xâm nhập và chi phối hầu hết các lĩnh vực hoạt động của xã hội Chất lượng sản phẩm hoặc các dịch vụ luôn gắn liền với sự phát triển của khoa - học kỹ thuật hiện đại, chu kỳ công nghệ sản phẩm được rút ngắn, công dụng sản phẩm ngày càng đa dạng phong phú Do
đó các doanh nghiệp phải thường xuyên theo dõi biến động thị trường, về sự
đổi mới của khoa học - kỹ thuật liên quan đến nguyên vật liệu, kỹ thuật, công nghệ, thiết bị, phương tiện để điều chỉnh kịp thời nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm hoặc dịch vụ và phát triển doanh nghiệp Qua đó biết được các thay
đổi, tốc độ thay đổi về mặt khoa học công nghệ và khả năng ứng dụng các tiến
bộ khoa học - kỹ thuật đó vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
* Nhân tố về văn hóa xã hội phong tục, tập quán người tiêu dùng
Nhân tố về văn hóa xã hội, phong tục tập quán người tiêu dùng từng vùng, lãnh thổ, khu vực thị trường đã hình thành nên thói quen tiêu dùng và sở thích của họ để thoả mãn những yêu cầu về số lượng và chất lượng sản phẩm hoặc dịch vụ, thì cần phải nghiên cứu các vấn đề sau:
Trang 27- Thái độ của con người khi tiêu dùng sản phẩm hoặc các dịch vụ có thể tuỳ theo mức độ, tập trung thoả mãn nguyện vọng cá nhân hoặc nhu cầu vui chơi, giải trí
- Thái độ đối với xã hội mà con người đang sống được chia thành nhiều loại người khác nhau: người yêu nước có thái độ bảo vệ xã hội, người bất mãn với xã hội muốn vứt bỏ xã hội, thái độ của họ sẽ ảnh hưởng đến cơ cấu tiêu dùng và mức độ đóng góp của họ cho xã hội
- Thái độ của người tiêu dùng đối với thể chế xã hội Con người khác nhau về thái độ của họ đối với cơ quan nhà nước, tập đoàn kinh doanh và các
tổ chức khác Khi đó họ sẵn sàng lao động vì lợi ích cơ bản của các thể chế và mong đợi ở những thể chế đó đem lại cho họ những quyền lợi nhất định hoặc ngược lại có thái độ tiêu cực
* Môi trường về cơ chế quản lý và sự cạnh tranh trên thị trường
Trong nền kinh tế thị trường có sự quản lý điều tiết của nhà nước bằng nhiều biện pháp như: kinh tế, hành chính nhằm ổn định sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm, hướng dẫn tiêu dùng sản phẩm hoặc dịch vụ trên thị trường Hiệu lực của cơ chế quản lý luôn luôn là đòn bảy quan trọng trong việc quản lý chất lượng sản phẩm, đảm bảo cho sự phát triển ổn định của sản xuất, đảm bảo uy tín và quyền lợi của nhà sản xuất và người tiêu dùng Môi trường cạnh tranh mà các doanh nghiệp cần phải nghiên cứu để vạch ra các chiến lược cạnh tranh cho phù hợp, đặc biệt trong ngành vận tải các doanh nghiệp vận tải đều phải chấp nhận sự cạnh tranh phức tạp như:
- Sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp cùng sử dụng một loại phương tiện vận tải như: Trang thiết bị - kỹ thuật tương tự nhau, hình thức tổ chức sản xuất tương tự nhau Nên các doanh nghiệp cạnh tranh khá gay gắt, muốn thắng lợi trong cuộc cạnh tranh này họ phải biết tối ưu hóa mọi hoạt động của mình so với các doanh nghiệp khác đặc biệt đối với các doanh nghiệp vận tải đường
bộ, đường sắt
- Sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp có các phương tiện vận tải khác nhau như: Đối với vận tải đường bộ, đường sắt, đường sông và hàng không Mỗi loại phương tiện đều có những ưu thế riêng, phạm vi riêng, nên sự cạnh tranh của các loại doanh nghiệp này được thể hiện thông qua đặc điểm của từng loại phương tiện như:
Trang 28+ Đối với vận tải đường bộ là loại phương tiện vận tải phổ biến nhất có khả năng hoạt động ở thành phố, nông thôn, có khả năng cạnh tranh với các phương vận tải của các ngành khác khi vận chuyển hàng hóa hoặc hành khách trên cự ly ngắn và khối lượng vận chuyển nhỏ
+ Đối với vận tải đường sắt có nhiều ưu thế trong vận chuyển đường dài, khối lượng vận chuyển lớn và giá thành vận chuyển tương đối thấp, độ an toàn trong quá trình vận chuyển cao
b Các nhân tố vi mô
Nhân tố vi mô hưởng đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp là những yếu tố đầu vào, yếu tố công nghệ - kỹ thuật, yếu tố con người, tổ chức quản lý và các yếu tố đầu ra
* Các yếu tố đầu vào hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Là thu thập tất cả các thông tin số liệu đã và đang diễn ra, các chỉ tiêu phản ánh các yếu tố đầu vào trong quá trình kinh doanh thông qua các phòng ban chuyên môn như: phòng kế hoạch, điều độ, phòng kế toán và các phòng ban nghiệp vụ khác trong doanh nghiệp
Phân tích tình hình biến động của các yếu tố đầu vào, so sánh với năm trước, với cùng kỳ năm trước, tìm ra mối liên hệ tương quan với các chỉ tiêu kết quả đầu ra theo thời gian, theo kế hoạch được giao Qua đó tìm ra các nguyên nhân đã và đang ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến các chỉ tiêu yếu
tố đầu vào, xác định chính xác các nguyên nhân gây ra các biến động đó trong quá trình sản xuất kinh doanh Nhằm đưa ra các kiến nghị chuyên môn, nghiệp vụ đến lãnh đạo và các bộ phận quản lý kinh doanh của doanh nghiệp
* Nhóm yếu tố kỹ thuật - công nghệ - thiết bị
Trong quá trình sản xuất hàng hóa yếu tố kỹ thuật - công nghệ - thiết bị
có tầm quan trọng đặc biệt, nó quyết định đến việc hình thành chất lượng sản phẩm hoặc dịch vụ Yếu tố nguyên vật liệu là yếu tố cơ bản quyết định tính chất và chất lượng sản phẩm Do đó nắm vững được đặc tính của nguyên vật liệu để thiết kế sản phẩm là cần thiết, song quá trình chế tạo, việc theo dõi khảo sát chất lượng sản phẩm theo tỷ lệ pha trộn là điều kiện quan trọng để
mở rộng mặt hàng, thay thế nguyên vật liệu xác định đúng đắn các chế độ gia công để không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm hoặc dịch vụ Quá trình
kỹ thuật - công nghệ - thiết bị có ảnh hưởng lớn đến quyến định chất lượng sản phẩm nó vừa làm thay đổi ít nhiều hoặc bổ sung cải thiện tính chất ban
đầu của nguyên vật liệu theo hướng sao cho phù hợp với công dụng của sản
Trang 29phẩm Công nghệ - kỹ thuật - thiết bị luôn có mối quan hệ tương hỗ mật thiết, chặt chẽ với nhau nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm mà còn nâng cao tính cạnh tranh của sản phẩm hoặc dịch vụ trên thị trường Thực tế cho thấy khi kỹ thuật công nghệ được đổi mới nhưng thiết bị cũ kỹ thì không thể nào nâng cao chất lượng sản phẩm hoặc dịch vụ
* Nhóm yếu tố tổ chức quản lý và con người
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh khi có kỹ thuật - công nghệ - thiết
bị hiện đại, nếu không biết tổ chức quản lý lao động, sử dụng lao động thì không thể nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Trong mỗi doanh nghiệp từ cán bộ lãnh đạo, các phòng ban chuyên môn công nhân viên cần có nhận thức về hiệu quả sản xuất kinh doanh để có thể thực hiện tốt những chủ trương, chính sách, mục tiêu đề ra về hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Sử dụng các biện pháp khuyến khích vật chất và tinh thần được coi đó là sự sống còn là quyền lợi thiết thực đối với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp
* Nhân tố đầu ra của doanh nghiệp
Thể hiện ở các chỉ tiêu như: tổng sản lượng, doanh thu, thị phần thị trường Qua đó tìm ra các nguyên nhân đã và đang ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến tình hình hoàn thành kế hoạch từng chỉ tiêu kết quả đầu ra trong hoạt động sản xuất kinh doanh Đồng thời dự báo quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh về sản phẩm hoặc dịch vụ của doanh nghiệp trên thị trường
1.3.4 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp vận tải
- K là kết quả đầu ra được đo bằng các chỉ tiêu như: khối lượng hàng hóa vận chuyển, khối lượng hành khách luân chuyển, tổng doanh thu và lợi nhuận ròng
Trang 30* Phương pháp thứ hai: Hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp được tính theo dạng số tương đối:
b Các chỉ tiêu kinh tế chi tiết
Các chỉ tiêu kinh tế chi tiết khi đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp vận tải thường sử dụng các chỉ tiêu như:
* Chỉ tiêu đánh giá hệ quả sử dụng về lao động sống
Lao động sống là một yếu tố cơ bản tạo nên sản phẩm dịch vụ vận tải và
là nhân tố quan trọng trong quá trình tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh Do vậy trong qúa trình sử dụng lao động trong doanh nghiệp nói chung
và các doanh nghiệp vận tải nói riêng phải xác định nhân tố lao động luôn ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sản xuất kinh doanh qua xem xét theo 3 chỉ tiêu
- Chỉ tiêu doanh thu hoặc sản lượng bình quân 1 lao đông (hay năng xuất lao động theo doanh thu)
NLĐ số lao động bình quân sử dụng trong kỳ
Chỉ tiêu doanh thu bình quân 1 lao động nó phản ánh một lao động có thể làm được bao nhiêu đồng doanh thu hoặc sản lượng trong kỳ
Khi chỉ tiêu W càng cao thì phản ánh quá trình sử dụng lao động trong doanh nghiệp càng có hiệu quả và ngược lại
- Chỉ tiêu về mức doanh thu hoặc sản lượng đạt được từ 1 đơn vị chi phí tiền lương
HTL = D
Trong đó: D là tổng doanh thu
P là tổng quỹ tiền lương trong doanh nghiệp
Chỉ tiêu này nó phản ánh cứ 1 đồng chi phí tiền lương thì làm ra được bao nhiêu đồng doanh thu hoặc sản lượng trong kỳ
- Chỉ tiêu sức sinh lời của lao động
Trang 31* Chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn
Khi đánh giá hiệu quả sử dụng vốn là vấn đề then chốt gắn liền với sự tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp nói chung đặc biệt là các doanh nghiệp vận tải nói riêng Nó có tác dụng đánh giá chất lượng công tác sản xuất kinh doanh, chất lượng quản lý vốn Qua đó đề ra được các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và nâng cao kết quả sản xuất kinh doanh
Đánh giá hiệu quả sử dụng vốn ta thường sử dụng các chỉ tiêu
(1) Sức sản xuất của đồng vốn sản xuất kinh doanh
HSX.V =
V P
∑ hoặc Hsx.v =
V
D (1.9) Trong đó: Hsxv là Sức sản xuất của đồng vốn
Hslv =
V
Trong đó: L là lợi nhuận thuần
V là vốn sản xuất kinh doanh bình quân
Chỉ tiêu này cho biết doanh nghiệp bỏ ra một đồng vốn thì đem lại bao nhiêu đồng lợi nhuận
(3) Sức sản xuất của vốn cố định
Hsxvcđ =
cdV
D
(1.11) Trong đó: D là tổng doanh thu
Vcđ là vốn cố định bình quân
Trang 32Chỉ tiêu này phản ánh trong một kỳ kinh doanh nhất định doanh nghiệp
bỏ ra một đồng vốn cố định bình quân thì thu được bao nhiêu đồng doanh thu (4) Sức sản xuất của vốn lưu động
(6) Sức sinh lời của đồng chi phí
Hslcp = L
C
(1.14) Trong đó: L là lợi nhuận thuần
C là tổng chi phí
Chỉ tiêu này phản ánh cứ một đồng chi phí thì mang lại bao nhiêu đồng lợi nhuận, cho phép ta đánh giá chính xác hiệu quả sản xuất kinh doanh của toàn doanh nghiệp Khi chỉ tiêu này càng lớn thì hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp càng cao
c Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả xã hội đối vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt
* Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả xã hội của VTHKCC
Khi VTHKCC đựơc phát triển không những đem lại hiệu quả kinh tế
được xem xét thông qua hệ thống các chỉ tiêu kinh tế phản ánh khối lượng vận chuyển hành khách ngày càng tăng trong các đô thị Mà VTHKCC còn đem lại hàng loạt các hiệu quả về xã hội và chống ô nhiễm môi trường, thể hiện mức văn minh đô thị, cải thiện đời sống xã hội Phản ánh số lượng dân cư trên
địa bàn sử dụng phương tiện VTHKCC bằng xe buýt trong thành phố, phản
Trang 33ánh khả năng đáp ứng nhu cầu dịch vụ vận tải của các doanh nghiệp VTHKCC bằng xe buýt trong thành phố Do vậy khi đánh giá hiệu quả xã hội của VTHKCC biểu thị qua hình 1.4
Hình: 1.4 hiệu quả xã hội của vthkcc bằng xe buýt
* Một số đặc thù của ngành VTHKCC ảnh hưởng đến tính hiệu quả hoạt
động kinh doanh của các doanh nghiệp vận tải
Vì VTHKCC bằng xe buýt không phải là hoạt động kinh doanh thuần tuý mà là một hoạt động mang tính xã hội cao VTHKCC không chỉ là một yêu cầu quan trọng đối với sự phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội ở đô thị mà còn là một trong các tiêu chuẩn đánh giá trình độ phát triển văn minh đô thị
Nó góp phần thiết lập và duy trì trật tự kỷ cương đô thị, hạn chế ách tắc giao thông, tai nạn giao thông và gây ô nhiễm môi trường trong thành phố
Kết luận chương I
Chương I đã đề cập và phân tích một số nội dung cụ thể như sau:
- Giới thiệu hệ thống hóa những vấn đề về doanh nghiệp và doanh nghiệp vận tải Về môi trường kinh doanh và định hướng phát triển các doanh nghiêp hiện nay
- Những vấn đề cơ sở lý luận về hiệu quả sản xuất kinh doanh trong các doanh nghiệp và doanh nghiệp vận tải bao gồm các nội dung:
+ khái niệm hiệu quả kinh tế, các nguyên tắc, phương pháp sử dụng để phân tích và nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh + Hệ thống các chỉ tiêu phân tích đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp vận tải như: chỉ tiêu kinh tế tổng hợp, chỉ tiêu kinh tế tiết, chỉ tiêu hiệu quả xã hội
Hiệu quả phát triển VTHKCC
Giảm
chi phí
đi lại
Tiết kiệm
thời gian
Trật tự
an ninh xã hội
An toàn và sức khoẻ
Tạo mạng lưới giao thông thống nhất
Giảm chi phí
đầu tư
khai thác
Phục vụ nhcầu sinh hoạt, du lịch
Bảo vệ môi trường
Trang 34Chương II Phân tích, đánh giá về tổ chức quản lý hoat động và sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp vận tải hành khách công cộng bằng xe
buýt trong thành phố Hà Nội 2.1 Tổng quan về giao thông vận tải đô thị
2.1.1 Khái niêm vê giao thông vận tải đô thị
a Khái niệm về vận tải
Vận tải là ngành sản xuất vật chất đặc biệt có một vai trò hết sức quan trọng và có tác dụng lớn đối với nền kinh tế quốc dân Đối tuợng của vận tải là con người và những sản phẩm do con người làm ra, do vậy vận tải luôn mang tính xã hội hóa rất cao
Sản phẩm vận tải là việc vận chuyển hàng hóa và hành khách có tính chất đặc biệt mà quá trình sản xuất và tiêu thụ diễn ra đồng thời trên một quãng đường nhất định Chất lượng của sản phẩm vận tải là đảm bảo cho hàng hóa không bị hư hỏng, mất mát, hao hụt và đảm bảo phục vụ hành khách đi lại thuận tiện, an toàn, nhanh chóng với chi phí thấp
Sản phẩm vận tải không thể dự trữ và tích luỹ được Đơn vị đo là tấn
km, hành khách.km
Khi xem xét khái niệm về vận tải thì trong luận cương của Mác đã định nghĩa: Giao thông vận tải như một lĩnh vực thứ tư của sản xuất vật chất mà sản lượng của nó trong không gian và thời gian là tấn cây số và hành khách cây số”
Sản phẩm vận tải khi nghiên cứu theo góc độ không gian, kỹ thuật và nội dung kinh tế ta có thể đưa ra các định nghĩa như sau:
Theo góc độ về không gian
Vận tải là một hoạt động nhằm thay đổi vị trí của hàng hóa và hành khách trong không gian, sự thay đổi này thoả mãn nhu cầu của chủ hàng và hành khách
Theo góc độ kỹ thuật của hoạt động
Vận tải sẽ xuất hiện khi có sự kết hợp và sử dụng phương tiện vận tải, tuyến đường, nhà ga, đối tượng vận chuyển, khi đó vận tải sẽ thực hiện được một khoảng cách vận chuyển nào đó
Theo góc độ kinh tế
Trang 35Vận tải là một hoạt động tìm kiếm lợi nhuậm từ việc bán sản phẩm phục vụ của mình, vận tải sử dụng hệ thống giá cước riêng, nhưng chịu sự chi phối mạnh mẽ của các quy luật cung cầu, quy luật giá trị, quy luật cạnh tranh đến hoạt đông sản xuất và tiêu thụ sản phẩm vận tải
b Khái niệm về VTHKCC
VTHKCC khi định nghĩa có thể đưa ra các khái niệm như sau:
* VTHKCC được hiểu là một hoạt động trong đó có sự vận chuyển
được cung cấp cho khách hàng đề thu tiền cước bằng những phương tiện không phải của họ
* VTHKCC là tập hợp các phương thức vận tải mhằm thực hiện chức năng vận chuyển hành khách phục vụ sự đị lại của người dân trong các đô thị
* VTHKCC là hệ thống vận tải với các tuyến đường và lịch trình cố
định, có sẵn để phục vụ nhu cầu đi lại của mọi đối tượng chấp nhận chi trả mức giá vé đã quy định
c Khái niệm về giao thông vận tải đô thị
Giao thông vận tải đô thị là tập hợp các công trình, các con đường và các phương tiện vận tải khác nhau Chúng đươc tổ chức và quản lý điều hành nhằm bảo đảm sự liên hệ giữa các khu vực với nhau của đô thi
Chức năng của giao thông đô thị là đảm bảo sự liên hệ thường xuyên và thông suốt giữa các khu chức năng chủ yếu của đô thị với nhau như: các khu dân cư, khu công nghiệp, thương mại, du lịch, các điểm văn hóa, khu nghỉ ngơi và giải trí
Quá trình đô thị hóa dẫn đến sự gia tăng dân số, số lượng và quy mô đô thị Đối với nước ta dân cư đô thị chiếm khoảng gần 25% dân số với tốc độ tăng bình quân hàng năm là 3,5% Tỷ lệ dân cư đô thị trên thế giới khoảng 40
Trang 36ngày càng tăng được phản ánh thông qua bảng 2.1 số lượng và cư ly đi lại bình quân ở các đô thị như sau:
Bảng 2.1 Số lượng và cự ly đi lại bình quân của người dân ở các đô thị
Chỉ tiêu
Số TT
Diện tích thành phố (km2)
Dân số 1000 người
Khoảng cách
đi lại b.q( km)
Số lần đi lại của một người / năm
Qua bảng số liệu trên ta thấy khi dân cư đô thị càng lớn thì nhu cầu đi lại tăng lên cả về số lượng chuyến đi và cự ly bình quân Đối với thành phố có dân cư từ 50 -100 nghìn người, tần suất đi lại của dân cư ở mức từ 200 - 250 chuyến đi / người / năm Đối với các thành phố có từ 3 - 4 triệu người tần suất
đi lại tăng lên ở mức từ 600 - 800 chuyến đi / người / năm, gấp 3 lần so với các đô thị có dân cư thưa thớt Vậy đô thị hóa đã và đang diễn ra nhanh chóng
là một tất yếu khách quan, là sản phẩm củạ sự phát triển và mang tính toàn cầu Cùng với sự đô thị hóa là nguy cơ thách thức lớn đặt ra với giao thông đô thị của thành phố là:
- Sự bùng nổ về xe máy và ô tô con cá nhân Mà thực tế ở các thành phố lớn ở các nước Châu á như: Băng kok (Thái Lan); Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh
- Nạn tắc nghẽn và luồng giao thông chậm là do sự mất cân đối giữa tốc
độ gia tăng của phương tiện vận tải tham gia giao thông và năng lực thông qua của mạng lưới đường trong thành phố
- Nạn ô nhiễm môi trường và sự thiếu hụt quỹ đất cho giao thông tĩnh là
do xu hướng cá nhân hóa và cơ giới hóa phương tiện vận tải đi lại đã kéo theo
Trang 37sự gia tăng nhu cầu sử dụng nhiên liệu trong giao thông và kéo theo nạn ô nhiễm môi trường Sự mất cân đối giữa quỹ đất và các điểm đỗ xe công cộng trong thành phố, đặc biệt là các khu trung tâm đô thị
2.1.2 Thành phần của hệ thống giao thông vận tải đô thị
Hệ thống giao thông vận tải đô thị bao gồm hai hệ thống: Hệ thống giao thông và hệ thống vận tải đô thị
a Hệ thống giao thông đô thị
Là tập hợp các công trình, con đường và cơ sở hạ tầng khác để phục vụ cho việc di chuyển hàng hóa và hành khách trong thành phố được thuận tiện, thông suốt, nhanh chóng, an toàn và đạt hiệu quả cao
Nếu theo tính chất phục vụ cho sự di chuyển hàng hóa và hành khách trong thành phố, người ta có thể chia hệ thống giao thông đô thị thành hai bộ phận cấu thành gồm: Giao thông động và giao thông tĩnh
Giao thông động là bộ phận của hệ thống GTĐT phục vụ cho hoạt động của phương tiện và hành khách trong thời gian di chuyển như: mang lưới
đường, nút giao thông, cầu vượt
Giao thông tĩnh là bộ phận của hệ thống GTĐT phục vụ phương tiện và hành khách trong thời gian không (hay tạm dừng) hoạt động như: chờ đợi, nghỉ ngơi, bảo dưỡng Đó là hệ thống các điểm đỗ, điểm dừng, depot, bến xe Giao thông động và giao thông tĩnh có mối liên hệ mật thiết, chúng phụ thuộc vào nhau và bổ sung cho nhau Chúng có đối tương phục vụ chung là các phương tiện vận tải và hành khách trong thành phố
định Hiện nay những Quy định tạm thời về vận chuyển hành khách công cộng trong thành phố của Bộ giao thông vận tải về VTHKCC là tập hợp các phương thức, phương tiện vân chuyển hành khách đi lại trong thành phố với cự
ly nhỏ hơn 50km và có sức chứa lớn hơn 8 hành khách (không kể lái xe)
Trang 38Vận tải cá nhân là tập hợp các phương tiện vận tải được cá nhân sử dụng để đáp ứng nhu cầu đi lại riêng mình hoặc cho người khác đi nhờ không lấy tiền
Trong hệ thống vận tải đô thị, VTHKCC giữ vai trò quan trọng nhất vì bất cứ đô thị nào, nếu phát triển GTVT đô thị thoả mãn nhu cầu đi lại của hành khách thì việc giải quyết nhu cầu vận chuyển hàng hóa có thể giải quyết một cách dễ dàng thông qua việc tổ chức quản lý và phân luồng giao thông trong thành phố
2.1.3 Vai trò của giao thông vận tải đô thị
Giao thông vận tải đô thị giữ vị trí quan trọng trong đời sống sinh hoạt của thành phố Nó đảm bảo sự liên hệ thường xuyên và thông suốt giữa các khu chức năng chủ yếu của đô thị như: khu dân cư với các khu công nghiệp, khu thương mại, các điểm phục vụ văn hóa xã hội
Giao thông vận tải đô thị ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả hoạt động của các cơ quan chức năng đô thị, đồng thời nó đáp ứng yêu cầu vận chuyển hành khách và hàng hóa trong phạm vi thành phố
Hệ thống giao thông vận tải đô thị phát triển góp phần rất quan trọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của thành phố, đồng thời khuyến khích các nhà đầu tư vào thành phố
Giao thông vận tải góp phần đáng kể trong việc giảm chi phí sản xuất
và giảm giá thành sản phẩm của các ngành khác trong nền kinh tế quốc dân
Mà mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của các ngành khác phụ thuộc rất nhều vào giao thông vận tải và chi phí vận tải chếm tỷ trọng đáng kể trong cơ cấu giá thành sản phẩm
2.1.4 Vai trò của VTHKCC trong thành phố
- VTHKCC đáp ứng tốt nhất nhu cầu đi lại của nhân dân trong thành phố
Do quá trình đô thị hóa mạnh mẽ, dân số ngày càng tăng lên, đời sống xã hội được nâng cao kéo theo sự gia tăng nhanh chóng nhu cầu đi lại của người dân, đồng thời khi thành phố được mở rộng đã làm tăng khoảng cách đi lại của họ Khi nhu cầu đi lại của người dân tăng lên, trên các đưòng phố công suất luồng hành khách rất lớn, cho nên việc sử dụng các phương tiện cá nhân
sẽ không đáp ứng nổi Do đó chỉ có thể sử dụng phương tiện VTHKCC vì các phương tiện VTHKCC thường có công suất vận chuyển lớn như: xe buýt có thể vận chuyển từ 6000-8000HK/ h, tàu điện ba toa vận chuyển từ 10000-
15000 HK/ h
Trang 39- VTHKCC là giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng cơ sở hạ tầng giao thông vận tải
Trong giao thông vận tải phải sử dụng hệ thống giao thông động và hệ thống giao thông tĩnh như: cầu, đường, bến bãi, ga ra và các điểm dừng đỗ cho các phương tiện vận tải Trong đó diện tích chiếm dụng giao thông tĩnh của các phương tiện cá nhân thường cao hơn nhiều so với phương tiện VTHKCC
Ví dụ: Nếu tính theo chuyến đi thì diện tích chiếm dụng giao thông tĩnh của
xe buýt là 1,5m2/ 1 chuyến đi, xe máy là 3m2/ 1 chuyến đi, xe con là 8 10m2/ 1chuyến đi Do vậy khi phát triển VTHKCC sẽ nâng cao hiệu quả sử dựng cơ sở hạ tầng giao thông đô thị
- VTHKCC là biện pháp hữu hiệu để giảm thiểu mật độ phương tiện giao thông trên đường phố
Thực tế cho ta thấy đối với mỗi thành phố thì việc mở rộng lòng đường
là rất khó khăn và điều đó khó có thể làm được Trong khi đó nhu cầu đi lại ngày một gia tăng, mật độ phương tiện tham gia giao thông ngày càng nhiều,
điều này làm cho tốc độ lưu thông phương tiện thấp và kéo theo sự ùn tắc giao thông
- VTHKCC là giải pháp làm giảm tai nạn giao thông và giảm ô nhiễm môi trường
Thông qua việc sử dụng rãi phương tiện VTHKCC sẽ giảm mật độ phương tiện giao thông trên đường cả về số lượng và chủng loại đặc biệt là các phương tiện xe thô sơ và xe máy Qua đó sẽ hạn chế được các vụ tai nạn giao thông Khi số lượng phương tiện tham gia giao thông giảm thì lượng khí thải
sẽ được hạn chế và sẽ giảm được ô nhiễm môi trường
Vậy VTHKCC là ngành phục vụ lợi ích công cộng Quá trình hoàn thiện và phát triển chúng luôn gắn liền với sự phát triển, sự đổi mới của cơ sở hạ tầng kỹ thuật và mức tăng trưởng kinh tế đô thị Do vậy thông qua phát triển VTHKCC thì phải thực hiện các giải pháp phát triển cơ sở hạ tầng đô thị thì mới đảm bảo phát triển VTHKCC bền vững
2.2 Thực trạng về VTHKCC ở thành phố Hà Nội
2.2.1 Hiện trạng mạng lưới giao thông khu vực thàng phố Hà Nội
Hiện nay nội thành phố Hà Nội có trên 335 đường phố với tổng chiều dài trên 325km đường, diện tích trên 100 km2 Số liệu thống kê đường phố 9 quận nội thành được thể hiện ở bảng 2.2 Trong đó hai quận Long Biên và Hoàng Mai mới thành lập vẫn chưa có số liệu chính thức
Trang 40B¶ng: 2.2 HiÖn tr¹ng ®êng phè chÝn quËn néi thµnh phè Hµ Néi
TT ChØ tiªu Q.Ba
§×nh
Q.Hoµn KiÕm
Q.Hai Bµ Trng
Q.Thanh Xu©n
Q.Long Biªn
Q.Hoµng Mai Tæng sè