Trong lĩnh vực Bưu chính Viễn thông đối tượng loại này là dự báo sản lượng công nghiệp viễn thông, dự báo doanh thu, số máy điện thoại phát triển của các bưu điện tỉnh thành… - Dự báo ng
Trang 1Chương I Cơ sở khoa học của dự báo nhu cầu sử dụng dịch vụ điện thoại di động
1.1 Những vấn đề cơ bản của dự báo trong Bưu chính Viễn thông
1.1.1 Khái niệm dự báo
Dự báo là sự tiên đoán có căn cứ khoa học và mang tính chất xác suất về nội dung, mức độ, trạng thái, các mối quan hệ và xu hướng phát triển của đối tượng dự báo hoặc con
đường và thời gian để đạt được các trạng thái nhất định của đối tượng dự báo trong tương lai
Tiên đoán là hình thức phản ánh vượt trước thời gian của con người Có thể chia tiên đoán thành 3 loại:
- Tiên đoán không khoa học: dựa trên mối quan hệ qua lại có tính chất tưởng tượng không hiện thực được cấu trúc giả tạo hoặc những phát hiện bất chợt để phát biểu lời tiên đoán Các hình thức bói toán, tiên tri, chiêm tinh… thuộc loại tiên đoán này
- Tiên đoán kinh nghiệm: hình thành qua kinh nghiệm thực tế dựa vào các mối quan hệ qua lại thường xuyên thực tế hay tưởng tượng mà không trên cơ sở phân tích cấu trúc lý thuyết, nghiên cứu quy luật hay đánh giá kinh nghiêm
- Tiên đoán khoa học: là kết quả thu được từ suy luận khoa học trong khuôn khổ của một hệ thống lý luận khoa học nhất định Chỉ có tiên đoán dựa trên việc phân tích tính quy luật của sự phát triển của hiện tượng dự báo và các điều kiện như các giả thuyết mới có khả năng đảm bảo độ chính xác và đáng tin cậy Khái niệm dự báo bao hàm trong nó loại tiên đoán khoa học
Tập hợp các điều kiện ban đầu lập nên một hệ thống các giả thiết gọi là phông dự báo Mỗi dự báo về một vấn đề hay lĩnh vực nào đó có thể được tiến hành trên những phông dự báo khác nhau Vì thế dự báo bao giờ cũng mang tính chất đa phương án Ngoài ra, dự báo thực chất là sự phản ánh vượt trước trên cơ sở những tri thức hiện có
về quy luật vận động phát triển của đối tượng và những điều kiện ban đầu Những hiểu biết của con người dù sao cũng có hạn so với thực tế vô cùng phong phú Những thông tin có được về đối tượng trong tương lai thường nghèo hơn so với hiện tại Vì vậy, dù phương pháp dự báo có hoàn chỉnh đến đâu cũng không thể khẳng định chắc chắn rằng các phương án dự báo là hoàn toàn chính xác
1.1.2 Đặc điểm của dự báo trong Bưu chính Viễn thông
Trang 2Dự báo trong lĩnh vực Bưu chính Viễn thông có những đặc trưng cơ bản như đặc trưng của dự báo trong các lĩnh vực khác Đó là:
1.1.2.1 Tính thống nhất về không gian và thời gian của chỉ tiêu dự báo và số liệu dự báo
Phạm vi của dự báo phụ thuộc và phạm vi của môi trường mà đối tượng dự báo tồn tại Nếu chỉ tiêu dự báo ở phạm vi toàn quốc thì các số liệu dùng để dự báo chỉ tiêu này cũng phải là số liệu ở phạm vi toàn quốc Nếu chỉ tiêu dự báo ở phạm vi địa phương thì ố liệu dùng để dự báo chỉ tiêu này cũng phải là số liệu ở phạm vi địa phương Tính thống nhất về thời gian dự báo được thể hiện ở chỗ: nếu dự báo cho một năm thì số liệu dùng phải là số liệu của năm, tương tự như dự báo cho quý, tháng…
1.1.2.2 Tính xác suất của dự báo
Các nhân tố sẽ tác động đến sự tồn tại, vận động và phát triển của hiện tượng kinh tế xã hội trong tương lai mang tính xác suất
Mỗi một hiện tượng kinh tế xã hội sẽ chịu tác động của nhiều nhân tố xảy ra trong quá khứ, hiện tại và tương lai Ngay các nhân tố tác động đến sự tồn tại, vận
động, phát triển của hiện tượng từ trong quá khứ nếu không có được một hệ thống thống kê hoạt động có hiệu quả thì việc thu thập thông tin cuãng có thể bị bỏ sót, thiếu chính xác khi phản ánh Điều này sẽ làm cho việc khái quát hoá xu thế vận động và phát triển của hiện tượng trong quá khứ và tương lai kém chính xác Trong khi đó các nhân tố tác động đến sự tồn tại và phát triển của hiện tượng kinh tế xã hội trong tương lai lại mang tính giả định, do vậy các nhân tố tác động trong tương lai đều mang tính xác suất và các kết quả do dự báo mang lại cũng có tính xác suất
1.1.2.3 Tính thời gian của dự báo
Dự báo là xem xét đến tương lai của hiện tượng, là những điều chưa xảy ra đối với hiện tượng đó và mô phỏng xu thế vận động và phát triển của hiện tượng đó trong tương lai Mức độ bất định của các yếu tố giả định tác động đến hiện tượng nghiên cứu trong tương lai sẽ càng lớn khi thời gian dự báo càng dài Do đó tính giả định của sự tác
động càng cao và càng thiếu chính xác Mức chênh lệch giữa thời điểm tiến hành dự báo với thời điểm hiện tại gọi là khoảng thời gian dự báo Khoảng thời gian dự báo không thể tuỳ tiện mà phụ thuộc vào độ ổn định tương đối của sự vận động và phát triển của hiện tượng Chính vì thế mà kết quả dự báo bao giờ cũng chỉ có ý nghĩa trong một khoảng thời gian dự báo hữu hạn mà thôi
1.1.3 Các nguyên tắc trong dự báo Bưu chính Viễn thông
Trang 3Dự báo nói chung có 5 nguyên tắc cơ bản mà dự báo trong Bưu chính Viễn thông cũng phải tuân theo:
1.1.3.1 Nguyên tắc liên hệ biện chứng
Nguyên tắc này yêu cầu khi tiến hành dự báo một đối tượng kinh tế phải xem xét
đến tính hệ thống và những nhân tố ảnh hưởng cùng vận động đồng thời Ví dụ: Khi dự báo nhu cầu sử dụng dịch vụ điện thoại di động phải động thời phân tích mối quan hệ giữa nhu cầu với các nhân tố quan trọng khác như thu nhập, giá cước
1.1.3.2 Nguyên tắc kế thừa lịch sử
Nguyên tắc này yêu cầu khi tiến hành dự báo một đối tượng phải nghiên cứu sâu sắc quá trình vận động của đối tượng đó trong quá khứ và hiện tại, tạo ra cơ sở thực nghiệm để tiên đoán và đánh giá xu hướng trong tương lai Chỉ có thể phán đoán về tương lai mà không rơi vào trạng thái không tưởng với điều kiện phải thu thập thông tin quá khứ và hiện tại của đối tượng dự báo
1.1.3.3 Nguyên tắc đặc thù về bản chất đối tượng dự báo
Nguyên tắc này đòi hỏi nhất thiết phải tính đến những nét đặc thù về bản chất của đối tượng dự báo Những nét đặc thù này sẽ tạo ra những giới hạn nhất định về xu thế phát triển đối tượng kinh tế trong tương lai Nguyên tắc này càng quan trọng khi dự báo sử dụng các phương pháp ngoại suy định lượng, nếu không có giới hạn thì dễ dàng
đi đến những kết luận sai lầm trong dự báo
Ví dụ: Dự báo mật độ sử dụng điện thoại di động với chuỗi số liệu lịch sử có xu hướng tăng, đến một thời kỳ tương lai nào đó mật độ sử dụng di động hơn 100% tức là một người sử dụng đến vài máy di động Điều này ít xảy ra
1.1.3.4 Nguyên tắc mô tả tối ưu đối tượng dự báo
Dự báo nhằm phục vụ cho những lợi ích kinh tế, do đó con người chỉ thực hiện trong chừng mực so sánh giữa chi phí cần thiết và hiệu quả mang lại Nguyên tắc này yêu cầu phải mô tả đối tượng dự báo với một số biến số và tham số tối thiểu nhưng vẫn
đảm bảo độ chính xác cho trước, kết hợp việc mô tả đối tượng bằng phương pháp hình thức với mô tả phi hình thức, sử dụng các thang đo phù hợp để đo lường các biến số sao cho vẫn đảm bảo độ chính xác đặt ra với chi phí thấp nhất
1.1.3.5 Nguyên tắc tương tự của đối tượng dự báo
Trang 4Khi dự báo một đối tượng nào đó cần thường xuyên so sánh những tính chất của
nó với những đối tượng tương tự đã biết và những mô hình sẵn có của đối tượng đó nhằm mục đích sử dụng mô hình có sẵn này phục vụ cho dự báo Nguyên tắc này có ưu
điểm tiết kiệm chi phí bằng cách sử dụng mô hình dự báo sẵn có đồng thời kiểm tra dự báo bằng cách so sánh với các đối tượng tương tự
Ví dụ: Dự báo về sự phát triển điện thoại ở Việt Nam có thể căn cứ vào mô hình
dự báo của những nước có điều kiện kinh tế xã hội, quá trình phát triển điện thoại tương đồng với Việt Nam để dự báo
1.1.4 Phân loại dự báo trong Bưu chính Viễn thông
Có nhiều tiêu thức để phân loại dự báo, dưới đây là một số cách chủ yếu:
1.1.4.1 Phân loại theo tính chất của đối tượng dự báo
- Dự báo nhu cầu phát triển dịch vụ Bưu chính Viễn thông
- Dự báo thị phần Bưu chính Viễn thông
- Dự báo lưu lượng viễn thông
- Dự báo doanh thu Bưu chính Viễn thông
- Dự báo nhu cầu theo khả năng thanh toán của khách hàng
1.1.4.2 Phân loại theo tầm xa dự báo
- Dự báo tác nghiệp với thời hạn rất ngắn như ngày giờ, tuần, tháng, quý… Các loại dự báo này mang tính thường xuyên, liên tục làm cơ sở cho hoạt động hàng ngày Sai số của loại này quy định không vượt quá 3% Trong lĩnh vực Bưu chính Viễn thông đối tượng loại này là dự báo sản lượng công nghiệp viễn thông, dự báo doanh thu, số máy điện thoại phát triển của các bưu điện tỉnh thành…
- Dự báo ngắn hạn với thời hạn từ thời hạn từ 1 đến 3 năm l căn cứ xây dựng và
điều chỉnh kế hoạch ngắn hạn Sai số cho phép không vượt quá 5% Đối tượng dự báo trong lĩnh vực Bưu chính Viễn thông là tất cả các chỉ tiêu kế hoạch như sản lượng, doanh thu, số máy điện thoại phát triển, số bưu cục phát triển…
- Dự báo trung hạn với thời hạn từ 5 đến 7 năm làm căn cứ để xây dựng các kế hoạch phát triển Bưu chính Viễn thông trung hạn, các quy hoạch phát triển
Trang 5- Dự báo dài hạn với thời hạn từ 10 đến 15 năm làm căn cứ cho việc hoạch định các chiến lược phát triển tổng thể Bưu chính Viễn thông
- Ngoài ra còn có loại dự báo siêu dài hạn với khoảng thời gian dự báo 20,25 năm hoặc lâu hơn nữa nhằm vạch ra định hướng phát triển cho các lĩnh vực cần quan tâm
1.1.4.3 Phân loại theo mức độ bao trùm của dự báo
- Dự báo tổng thể: như dự báo phát triển Bưu chính Viễn thông trên toàn quốc
- Dự báo đơn lẻ: như dự báo phát triển Bưu chính Viễn thông của từng tỉnh…
1.1.4.4 Phân loại theo cấp độ vùng dự báo
- Dự báo vĩ mô: ví dụ cho cả một quốc gia, rất nhiều các nghiên cứu tỷ mỷ cần phải thực hiện để thu thập các số liệu thống kê về xã hội
- Dự báo vi mô: cho một vùng, một địa phương
Thông thường có một vài sự khác biệt giữa tổng giá trị dự báo vi mô và kết quả dự báo vĩ mô Các số liệu thống kê ổn định khó có thể thu thập được ở những vùng nhỏ và
điều này có thể dẫn tới kết luận sai lệch Bởi vậy, dự báo trực tiếp ở những vùng lớn thường cho kết quả chính xác hơn là tổng kết quả dự báo vi mô Việc điều chỉnh giữa các kết quả dự báo là cần thiết Nhưng đôi khi một yếu tố bị bỏ qua ở dự báo vĩ mô lại cần thiết cho dự báo vi mô
1.1.5 Vai trò của dự báo trong hoạt động quản lý Bưu chính Viễn thông
1.1.5.1 Vai trò của dự báo trong quy hoạch và lập kế hoạch mạng viễn thông
Đảng và nhà nước ta đã xác định những nội dung cơ bản nhằm đổi mới công tác
kế hoạch hóa trong đó chú trọng nâng cao chất lượng công tác xây dựng chiến lược và quy hoạch phát triển Bưu chính Viễn thông gồm các nội dung chủ yếu sau:
- Đánh giá thực trạng phát triển Bưu chính Viễn thông
- Dự báo các xu hướng phát triển Bưu chính Viễn thông đã và đang hình thành, dự kiến những xã hội phát triển trong tương lai
- Xác định chiến lược tổng thể phát triển Bưu chính Viễn thông trong thời kỳ dài hạn
- Xây dựng các kế hoạch phát triển Bưu chính Viễn thông 5 năm và hàng năm
- Soạn thảo các chính sách nhằm đạt được các mục tiêu đặt ra trong chiến lược dài hạn và kế hoạch 5 năm
Trong toàn bộ quá trình đó dự báo đóng vai trò hết sức quan trọng Nó cung cấp những thông tin cần thiết giúp các nhà hoạch định chính sách có những quyết định về
đầu tư, lựa chọn công nghệ, chính sách cước phí… Nó là cơ sở để xây dựng chiến lược
Trang 6phát triển, các quy hoạch tổng thể, cho phép xem xét khả năng thực hiện kế hoạch và
điều chỉnh kế hoạch
1.1.5.2 Vai trò của dự báo trong hoạt động nghiên cứu thị trường của doanh nghiệp
Nền kinh tế càng phát triển thì đòi hỏi về số lượng hàng hoá ngày càng lớn, chủng loại ngày càng đa dạng chất lượng ngày càng cao Mặt khác, nền kinh tế phát triển đặc biệt là sự phát triển trong một ngành nào đó cũng tạo ra sự cạnh tranh gay gắt trong ngành đó Vì vậy, vấn đề cung cấp hàng hoá đúng về nhu cầu, đủ về số lượng với chất lượng cao và giá cả thấp là những yếu tố không thể thiếu để giành thắng lợi trong cạnh tranh Để có được những lợi thế đó thì doanh nghiệp không thể sản xuất ra sản phẩm rồi tìm ra cách tiêu thụ như kiểu kinh doanh truyền thống mà phải thực hiện nghiên cứu thị trường trước khi sản xuất - đó là điều kiện tiên quyết để doanh nghiệp có thể đáp ứng
đúng và tốt nhất nhu cầu khách hàng Nghiên cứu thị trường để nhận biết nhu cầu, sau
đó doanh nghiệp phải xác định xem lượng cầu về sản phẩm của doanh nghiệp hiện nay
sẽ là bao nhiêu và trong tương lai sẽ có thể thay đổi như thế nào Nếu không dự báo
được cầu sản phẩm của doanh nghiệp thì sẽ rất khó khăn khi xây dựng các kế hoạch sản xuất, dự trữ vật tư, tài chính, tiêu thụ và có thể dẫn đến tình trạng thừa sản phẩm (tăng lượng tồn kho), thừa năng lực sản xuất, giảm lợi nhuận và có thể dẫn đến lỗ vốn hoặc có thể không đáp ứng đủ nhu cầu thị trường (bỏ lỡ mất cơ hội kinh doanh)
Như vậy trong quản lý kinh tế vi mô, các dự báo về thị trường, giá cước, sự thay
đổi các nguồn đầu vào, các tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ, các đối thủ cạnh tranh… có tầm quan trọng sống còn với các doanh nghiệp Bưu chính Viễn thông
1.2 Nhu cầu và các yếu tố tác động đến nhu cầu sử dụng dịch vụ điện thoại di
động ở Việt Nam
1.2.1 Đặc điểm dịch vụ điện thoại di động
1.2.1.1 Đặc điểm dịch vụ Viễn thông
Dịch vụ là vô hình Vì hầu hết các dịch vụ không thể sờ mó hoặc sử dụng trước
khi mua, khách hàng khó có thể đánh giá được là họ đang mua gì trước khi mua Không thể kiểm tra, trưng bày hoặc bao gói dịch vụ Khách hàng thường cảm thấy rủi
ro hơn khi mua dịch vụ so với hàng hoá và điều này cản trở trao đổi dịch vụ Các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông vượt qua các hạn chế này để tạo ra lợi thế cạnh tranh thông qua các cửa hàng bán lẻ, hình ảnh tượng trưng và sử dụng các biểu tượng để thay thế
Trang 7hàng hoá vì bản thân dịch vụ không thể nhìn thấy hoặc cầm nắm được Các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông sẽ phải tạo ra các ý niệm hữu hình cho các dịch vụ của họ
Không thể bảo vệ dịch vụ bằng bản quyền Khi thị trường dịch vụ viễn thông trở nên cạnh tranh hơn, việc không thể sử dụng bản quyền để bảo vệ dịch vụ sẽ dẫn đến hiện tượng các dịch vụ bắt chước sẽ ra đời gần như đồng thời với dịch vụ nguyên bản Các nhà cung cấp dịch vụ không thể duy trì lợi nhuận cao từ các dịch vụ mới sau khi
đối thủ cạnh tranh phát triển các dịch vụ thay thế Hơn nữa, công nghệ thông tin có vòng đời ngắn hơn các công nghệ khác Do vậy, các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông sẽ phải xem xét việc dẫn đầu về công nghệ có đáng chi phí bỏ ra hay không
Khách hàng khó đánh giá giá trị của bất cứ dịch vụ nào Khách hàng không thể hình dung các dịch vụ viễn thông họ sử dụng được tạo ra như thế nào hay chi phí của dịch vụ là bao nhiêu Điều này cộng với tình trạng chi phí cố định cao, thu hồi trong thời gian dài và sự biến dạng của giá cả do những can thiệp vì các mục tiêu xã hội là các thách thức khi định giá dịch vụ trong một thị trường cạnh tranh
Dịch vụ là không chia tách được Dịch vụ được sản xuất và tiêu dùng cùng một
lúc Khách hàng của dịch vụ viễn thông mong đợi dịch vụ đạt chất lượng cao và luôn sẵn sàng bất cứ lúc nào họ cần Ngoài kinh nghiệm ra, các nhà cung cấp dịch vụ không
có nhiều công cụ để dự báo nhu cầu một cách chi tiết và cũng có ít thời gian để củng cố
hệ thống cơ sở cung cấp dịch vụ nếu như nhu cầu về dịch vụ luôn cao
Dịch vụ là thiếu ổn định Đối với khách hàng, dịch vụ và người cung cấp dịch
vụ là một Chất lượng dịch vụ phụ thuộc vào các yếu tố nằm ngoài sự kiểm soát của nhà cung cấp dịch vụ, như đại diện của nhà cung cấp dịch vụ, khách hàng và môi trường cung cấp dịch vụ Các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông có thể giảm tính không ổn định của dịch vụ bằng tự động hoá, tiêu chuẩn hoá quy trình cung cấp dịch vụ, tăng cường
đào tạo nhân viên và củng cố nhãn hiệu
Không thể dự trữ được dịch vụ Hệ thống cơ sở hạ tầng của dịch vụ được dùng
chung và thiết kế để có thể cung cấp một công suất nhất định tại bất cứ thời điểm nào Thời lượng dịch vụ không bán được cũng có nghĩa là bị thất thu vĩnh viễn Cũng tương
tự như vậy thất thu xảy ra khi hệ thống bị quá tải
1.2.1.2 Đặc điểm dịch vụ điện thoại di động
Ngoài những đặc điểm chung về dịch vụ viễn thông, dịch vụ điện thoại di động còn mang những đặc điểm riêng và đặc trưng của công nghệ:
Trang 8Thứ nhất: Dịch vụ điện thoại di động mang lại hiệu quả thông tin liên lạc có độ
linh hoạt cao trong việc sử dụng mọi nơi, mọi lúc nhờ sử dụng các máy đầu cuối điện thoại di động khác nhau Nó cho phép người sử dụng có thể chủ động thực hiện và tiếp nhận cuộc gọi ở bất cứ thời điểm nào, chính vì vậy mà nó dần trở thành công cụ liên lạc ngày càng thiết yếu của người dân
Thứ hai: Dịch vụ điện thoại di động có tính bảo mật cao, đảm bảo tính cá nhân
cho mỗi thuê bao, cuộc gọi được ở trạng thái tốt nhất có thể nhờ sự điều chỉnh tối ưu;
dễ thích ứng với nhu cầu tăng nhanh của xã hội vì dễ tối ưu hoá và mở rộng mạng lưới Tuy nhiên nó lại có nhược điểm là tín hiệu dễ bị nhiễu và phụ thuộc vào vùng phủ sóng
Thứ ba: Giá cước, giá thiết bị đầu cuối của dịch vụ điện thoại di động cao hơn của
dịch vụ điện thoại cố định (là sản phẩm thay thế chủ yếu) Nguyên nhân chủ yếu là do đầu tư xây dựng mạng lưới cao và khả năng phục vụ của dịch vụ điện thoại di động là rất cao Dịch vụ điện thoại di động là dịch vụ có tính công nghệ cao Sử dụng một máy
điện thoại di động và khai thác hết các tính năng, tác dụng của nó là một đòi hỏi lớn
đối với chất lượng của máy và cách thức sử dụng máy, đồng thời người sử dụng dịch vụ cũng phải có sự hiểu biết nhất định Do vậy đi cùng với dịch vụ điện thoại di động là các dịch vụ như : Dịch vụ chăm sóc khách hàng, dịch vụ bảo hành sửa chữa máy điện thoại di động để phục vụ nhu cầu của khách hàng
Thứ tư: Việc sản xuất dịch vụ chỉ được tiến hành khi có người đến mua; không thể chủ
động sản xuất sẵn sản phẩm dự trữ cho nên việc sản xuất thường không đồng đều, khi dồn dập khi thưa thớt Vì vậy đối với các nhà cung cấp, việc tiến hành xúc tiến các hoạt động Marketing là rất quan trọng để đảm bảo hoạt động liên tục, khai thác có hiệu quả nhất công suất máy móc, đẩy nhanh tốc độ khấu hao, chống hao mòn vô hình
Quá trình cung cấp dịch vụ điện thoại di động được chia thành nhiều giai đoạn Cơ bản nhất là hai giai đoạn: thuê bao dịch vụ và sử dụng dịch vụ Thuê bao là khách hàng mua dịch vụ ở giai đoạn thứ nhất, trả cước để hoà mạng và duy trì thuê bao tháng
Về bản chất có thể nói lúc này khách hàng đã mua một nửa dịch vụ vì đã có thể tự động nhận các cuộc gọi đến để trao đổi thông tin Giai đoạn này thường chỉ diễn ra một lần
và liên quan nhiều nhất đến kênh bán hàng và chăm sóc khách hàng và cũng là giai
đoạn khó khăn nhất, gắn bó chặt chẽ với hoạt động phát triển thị trường Giai đoạn này
có sự tiếp xúc trực tiếp giữa người mua và người bán và là điều kiện tiên quyết đề tiếp tục giai đoạn 2 Giai đoạn thứ hai là lúc khách hàng thực hiện cuộc gọi đi nghĩa là chủ
động gọi cho người xung quanh để đàm thoại Khi này khách hàng đã mua các phút
Trang 9thông tin (hoặc các đơn vị thông tin khác) và chấp nhận trả (trả trước và trả sau) cước thông tin Giai đoạn 2 diễn ra tự động không có sự tiếp xúc giữa người bán và người mua mà chủ yếu liên quan nhiều đến các vấn đề chất lượng dịch vụ (chất lượng mạng lưới, chất lượng tính cước ) Ngoài 2 giai đoạn bán hàng nói trên, còn có thể có một giai đoạn bán hàng thứ ba tồn tại trong các dịch vụ diện thoại di động trả trước Loại hình dịch vụ trả trước yêu cầu khách hàng mua thẻ trả trước Hoạt động bán thẻ trả trước là giai đoạn bán hàng thứ 3, lặp đi lặp lại nhiều lần (suốt đời thuê bao trả trước) Giai đoạn này có sự tiếp xúc trực tiếp giữa người mua và người bán Trong giai đoạn này quyết định của người mua phụ thuộc vào giá cả, chính sách khuyến mại
Thứ năm: Dịch vụ điện thoại di động mang tính chất vùng Mỗi vùng phụ thuộc vào vị
trí địa lý, trình độ phát triển kinh tế xã hội cũng như là nhu cầu sử dụng thông tin khác nhau, phủ sóng hay không Tính chất vùng như vậy sẽ hình thành tương quan cung cầu về việc sử dụng di động là rất khác vì vậy khó có thể điều hoà sản phẩm từ nơi có chi phí thấp, giá bán thấp đến nơi có giá bán cao
Thứ sáu: Quan hệ cung cầu có khả năng phản ánh đúng nhu cầu thực tế và khả năng
cung ứng của các nhà cung cấp Đó là thuận lợi cho các nhà cung cấp trong việc xác định kế hoạch đầu tư từng vùng lãnh thổ Cũng chính bởi đặc tính vùng này đòi hỏi cao trong công tác tổ chức sản xuất của các nhà cung cấp đối với từng trung tâm, phải biết đầu tư trang thiết bị kỹ thuật ở thành phố nào là có hiệu quả nhất để tận dụng tối đa công suất của máy móc, tránh tình trạng đầu tư tràn lan không có hiệu quả
Thứ bảy: Tính chất kinh tế mạng Kinh doanh dịch vụ điện thoại di động gắn liền
với quá trình thông tin liên lạc giữa các thuê bao với nhau Mỗi thuê bao có thể coi là một nút trong một mạng liên kết gồm nhiều thuê bao khác nhau Khi có nhiều nút, mối liên hệ giữa các nút tăng lên thì cơ hội để xuất hiện một cuộc liên lạc giữa các nút tăng lên Nói cách khác càng nhiều thuê bao thì mỗi thuê bao gọi đi càng nhiều, lưu lượng
đàm thoại tăng nhanh hơn cấp số cộng Thêm một thuê bao sẽ bán được không phải một mà nhiều hơn một đơn vị sản phẩm Đây là hiệu ứng "càng đông càng vui" hay
"hiệu ứng câu lạc bộ” hay "Hiệu ứng ngoại sai" của kinh tế mạng Hiệu ứng này càng
được gia tăng nhờ vào tính chất 2 chiều của dịch vụ điện thoại di động, nghĩa là có thể gọi đi và nhận cuộc gọi Một thuê bao trên mạng dù không gọi đi thì vẫn có ý nghĩa làm phát sinh lưu lượng vì các thuê bao khác sẽ gọi đến thuê bao này Do tính 2 chiều
và tính kinh tế mạng nói trên, phát triển thuê bao là yếu tố quan trọng bậc nhất trong kinh doanh dịch vụ điện thoại di động Thực tế trong nhiều năm qua, VNPT đã nhiều
Trang 10lần giảm cước mạnh dịch vụ điện thoại đi động nhưng vẫn duy trì được tốc độ phát triển doanh thu và lợi nhuận chính là vì số lượng thuê bao trên mạng tăng nhanh
1.2.2 Nhu cầu và nhu cầu dịch vụ điện thoại di động
1.2.2.1 Khaựi nieọm nhu caàu:
Nhu caàu ủửụùc hieồu laứ taỏt caỷ nhửừng ủoứi hoỷi, nhửừng ửụực muoỏn cuỷa con ngửụứi caàn ủửụùc ủaựp ửựng vaứ thoỷa maừn
Nhu caàu cuỷa con ngửụứi vaứ xaừ hoọi raỏt ủa daùng vaứ khoõng ngửứng naõng cao ẹoự laứ nhu caàu veà aờn ụỷ, ủi laùi, thoõng tin lieõn laùc, trao ủoồi tỡnh caỷm,
nhu caàu hieồu bieỏt Nhử vaọy khoõng phaỷi nhu caàu naứo cuừng ủửụùc thoaỷ maừn Do vaọy, ngửụứi ta coự theồ phaõn bieọt nhu caàu vụựi caực caỏp ủoọ khaực nhau nhử sau:
+ Nhu caàu tửù nhieõn: Bao goàm toaứn boọ nhu caàu cuỷa moói caự nhaõn,
cuỷa caực nhoựm ngửụứi, caực toỏ chửực kinh teỏ xaừ hoọi ẹaõy laứ nhu caàu bao truứm coự phaùm vi roọng nhaỏt
+ Nhu caàu thũ trửụứng: goàm caực nhu caàu tửù nhieõn coự khaỷ naờng ủaựp ửựng
treõn thũ trửụứng
+ Nhu caàu coự khaỷ naờng thanh toaựn: Bao goàm caực nhu caàu thũ trửụứng
maứ ngửụứi coự nhu caàu coự khaỷ naờng thanh toaựn veà taứi chớnh ủeồ thoaỷ maừn nhu caàu cuỷa mỡnh (dú nhieõn laứ haứng hoaự ủaừ coự saỹn cho ngửụứi mua) Nhu caàu coự khaỷ naờng thanh toaựn laứ nhu caàu maứ nhaứ kinh doanh phaỷi quan taõm trửụực heỏt ẹoự chớnh laứ cụ hoọi kinh doanh caàn phaỷi naộm baột Ngửụứi ta coứn goùi nhu caàu coự khaỷ naờng thanh toaựn laứ nhu caàu cuỷa thũ trửụứng
Caờn cửự vaứo caỏp ủoọ vaứ tớnh chaỏt cuỷa nhu caàu, ngửụứi ta chia nhu caàu thaứnh naờm mửực ủoọ tửứ thaỏp ủeỏn cao nhử sau:
Nhu caàu tửù khaỳng ủũnh Nhu caàu ủửụùc toõn troùng Nhu caàu veà lieõn keỏt xaừ hoọi
Nhu caàu veà an ninh vaứ an toaứn
Trang 11Nhu caàu veà sinh lyự
Hỡnh 1.1: Sụ ủoà nhu caàu thửự baọc cuỷa Maslow
Nhu cầu hàng húa và dịch vụ rất đa dạng và phong phỳ Cú thể chia nhu cầu thành 4 nhúm: Nhu cầu vật chất, nhu cầu tinh thần, nhu cầu về xó hội và nhu cầu
giả tạo (do thúi quen tiờu dựng mà cú) Cỏc loại nhu cầu đú được thỏa món bằng cỏc hàng húa và dịch vụ, vỡ thế cú khỏi niệm nhu cầu hàng húa và nhu cầu dịch vụ
1.2.2.2 Một số khái niệm liên quan đến nhu cầu
Trong hệ thống dự bỏo kinh tế - xó hội, dự bỏo nhu cầu hàng húa và dịch vụ
cú ý nghĩa quan trọng Cú thể thấy, nhu cầu hàng húa và dịch vụ vừa là căn cứ vừa
là mục tiờu của nền sản xuất xó hội Trong kinh tế, để phục vụ trực tiếp cụng tỏc
quản lý, người ta nghiờn cứu hỡnh thức biểu hiện bờn ngoài của nhu cầu, đú chớnh
là khỏi niệm cầu Trờn thực tế người ta thường phõn biệt cỏc khỏi niệm:
- Nhu cầu: là trạng thái cảm giác thiếu hụt một sự thoả mãn cơ bản nào đó
- Mong muốn: là sự ao ước có được những thứ cụ thể để thoả mãn nhu cầu
- Cầu: Cầu về hàng húa và dịch vụ là hỡnh thức biểu hiện bờn ngoài của nhu
cầu về hàng húa và dịch vụ, là số lượng hàng húa và dịch vụ mà người mua cú khả
năng và sẵn sàng mua ở cỏc mức giỏ khỏc nhau trong một thời gian nhất định
Như vậy khi đề cập đến cầu phải chỳ ý rằng đú chớnh là nhu cầu cú khả năng thanh toỏn hay núi cỏch khỏc, khỏch hàng cú khả năng mua và sẵn sàng mua hàng húa và dịch vụ đú để thỏa món nhu cầu
- Lượng cầu là lượng hàng hoá hoặc dịch vụ mà người mua sẵn sàng mua hoặc có khả năng mua ở các mức giá đã cho trong một thời gian nhất định
- Luật cầu: số lượng hàng hoá hoặc dịch vụ được mua trong khoảng thời gian đã cho tăng lên khi giá của hàng hoá hoặc dịch vụ giảm xuống
- Độ co giãn của cầu theo giá: Đường cầu nói chung là dốc xuống nhưng độ dốc lại khác nhau với từng loại hàng hoá Ta có thể sử dụng độ dốc của đường cầu để đo mức độ phản ứng của cầu đối với giá Tuy nhiên, thước đo đó sẽ thay đổi theo tỷ lệ sử dụng Để biểu thị giá và lượng trên các trục, rõ ràng là thước đo đó là không thoả mãn
Do vậy để đo mức độ phản ứng của cầu đối với những thay đổi trong giá người ta sử
Trang 12dụng khái niệm độ co giãn của cầu theo giá của bản thân hàng hoá: % thay đổi trong lượng cầu khi thay đổi giá 1%
-Hàm cầu
Qd = f (Po, Pc, Ps, Yd, T, Ao, Ac, As, I, C, E) Trong đó:
- Giá của bản thân sản phẩm (Po): theo luật cầu giá hàng hoá tăng cầu hàng hoá giảm
+ Sản phẩm thay thế (Ac): Ac tăng thì cầu hàng hoá giảm
+ Sản phẩm bổ sung (As): As tăng thì cầu hàng hoá tăng
- Lãi suất (I) lãi suất tăng thì cầu hàng hoá giảm
- Sự sẵn có của tín dụng(C)
- Kỳ vọng của người tiêu dùng về giá cả, về cung trong tương lai (E): Nếu người tiêu dùng hy vọng rằng giá cả của hàng hoá nào đó sẽ giảm xuống trong tương lai thì cầu hiện tại đối với hàng hoá của họ sẽ giảm xuống và ngược lại Các kỳ vọng về thu nhập, thị hiếu, số lượng người tiêu dùng đều tác động đến cầu đối với hàng hoá
1.2.2.3 Quy luaọt taõm lyự veà nhu caàu:
% thay đổi trong lượng cầu % thay đổi trong giá Ed=
Trang 13- Quy luật 1: Nhu cầu và tình cảm vốn bất tận, luôn luôn tồn
tại, phát triển trong mỗi con người Nhu cầu nảy sinh và xuất hiện phụ thuộc vào lứa tuổi, hoàn cảnh sống của xã hội, trình độ văn minh của loài người, đặc tính của dân tộc và thời đại Mỗi cá nhanâ con người khi gia nhập vào tổ chức xã hội đều có mang theo những nhu cầu và tình cảm riêng của họ Khi nhu cầu này đã được thỏa mãn thì nhu cầu khác lại xuất hiện
- Quy luật 2: Bất cứ nhu cầu nào cũng có đối tượng như của đói
nghèo là cơm no, người giàu là ăn ngon
- Quy luật 3: Nhu cầu kích thích sản xuất phát triển và ngược lại,
khi sản xuất phát triển lại kích thích nhu cầu từ đó ta có công thức :
- Quy luật 4: Quá trình thoả mãn nhu cầu của người trải qua ba
giai đoạn tương ứng với ba trạng thái xúc cảm (hay tình cảm)
+ Giai đoạn khởi đầu của nhu cầu chỉ xuất hiện khi con người cảm thấy mất cân bằng với những xúc cảm có thể khó chịu, bứt rứt, háo hức
+ Giai đoan hai là chiếm lĩnh và hưởng thụ đối tượng của nhu cầu
+ Giai đoạn ba là nhu cầu đã được thỏa mãn một cách bảo hòa, xuất hiện cảm giác chán ngán đối tượng cũ do cơ thể được cân bằng về phương diện đó Cũng lúc đó trong cơ thể lại xuất hiện sự mất cân bằng mới về phương diện khác, lại là sự bắt đầu của một nhu cầu mới, lại thúc đẩy con người hoạt động và đi tìm đối tượng mới
Từ quy luật này, chúng ta phải luôn đoán trước được những nhu cầu để vừa thỏa mãn, phát triển sản xuất, vừa có sự hướng dẫn nhu cầu, hoạt động làm cho xã hội phát triển tốt đẹp
- Quy luật 5: Nhu cầu cũng như tình cảm của con người có nhiều
mức độ khác nhau, tùy theo hoàn cảnh khách quan, tùy theo trình độ nhận thức của chủ thể
1.2.2.4 Nhu cầu dịch vụ điện thoại di động:
Trang 14Lờ Thị Thu Giang – Cao học Quả n trị Kinh doanh Khoỏ 10 14
Nhu cầu dịch vụ điện thoại di động cũng giống như cỏc loại dịch vụ và hàng húa khỏc, là nhu cầu kinh tế Vỡ vậy cú thể đo lường nhu cầu dịch vụ điện thoại di động bằng giỏ trị, hay hỡnh thức hữu hiệu bờn ngoài cỏc giỏ trị là giỏ cả Ngoài ra cú thể đo lường nhu cầu dịch vụ điện thoại di động bằng cỏc đơn vị phản ỏnh số lượng khỏc như số đơn vị thụng tin (block)
Nhu caàu dũch vuù ủieọn thoaùi di ủoọng laứ soỏ lửụùng khaựch haứng lụựn nhaỏt hoaởc mửực ủoọ sửỷ duùng ủieọn thoaùi lụựn nhaỏt tớnh cho toaứn khu vửùc hoaởc tớnh bỡnh quaõn cho moói khaựch haứng
Nhu caàu ủieọn thoaùi di ủoọng coự nhửừng ủaởc ủieồm sau :
- Laứ nhu caàu phaựt sinh trong sửù vaọn ủoọng vaứ hoaùt ủoọng giao lửu cuỷa con ngửụứi (khoõng phaỷi nhu caàu baỷn naờng)
- Ít coự khaỷ naờng thay theỏ
- Giaự caỷ taực ủoọng chaọm ủeỏn nhu caàu dũch vuù Tuy nhieõn rieõng
ụỷ Vieọt Nam taực ủoọng naứy laứ lụựn vaứ khaự nhanh do giaự cửụực di ủoọng coứn cao
- Nhu caàu dũch vuù ủieọn thoaùi di ủoọng mang tớnh ủaởc trửng theo hửụựng vaứ mang tớnh thụứi ủieồm roừ reọt (khaực nhau theoự hai chieàu ủi vaứ ủeỏn)
- Nhu caàu dũch vuù ủieọn thoaùi coự ủoọ co giaừn chaọm vaứ mang tớnh xaừ hoọi saõu saộc
1.2.3 Các yếu tố tác động đến nhu cầu dịch vụ điện thoại di động
Nhu cầu dịch vụ điện thoại di động bị tác động bởi nhiều yếu tố Các yếu tố đó có thể được phân chia thành các yếu tố nội sinh và các yếu tố ngoại sinh, được thể hiện như trong sơ đồ sau:
Các yếu tố ngoại sinh Các yếu tố nội sinh
Trang 15Hình 1.2: Các yếu tố tác động đến nhu cầu dịch vụ điện thoại di động
a) Các yếu tố ngoại sinh: bao gồm các yếu tố kinh tế như tỷ lệ tăng trưởng kinh
tế, tỷ lệ tiêu dùng dân cư và các yếu tố xã hội như dân số, số hộ gia đình và số người
đang làm việc
Các yếu tố về kinh tế:
- Tổng sản phẩm quốc nội (GDP): nền kinh tế Việt Nam hiện nay đang trên đà phát triển GDP ngày càng tăng nâng mức tích luỹ nội bộ của nền kinh tế từ mức không
đáng kể lên đến 27% vào năm 2000 Tốc độ tăng trưởng GDP hàng năm của Việt Nam
là khoảng 7-8% năm Đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân được cải thiện rõ rệt, tỷ
lệ hộ nghèo giảm xuống còn 11% Song trình độ phát triển kinh tế của Việt Nam còn thấp so với mức trung bình của thế giới và kém nhiều nước xung quanh Sức cạnh tranh còn yếu, tích luỹ nội bộ và sức mua trong nước còn thấp Đời sống của một bộ phận nhân dân còn nhiều khó khăn, nhất là ở vùng sâu, vùng thường bị thiên tai Tóm lại sự phát triển nền kinh tế ảnh hưởng rất lớn đến nhu cầu dịch vụ điện thoại di động
- Mức độ sử dụng dịch vụ: Việt Nam cũng như các nước đang phát triển, cũng sẽ chịu sự tác động mang tính quy luật của xu thế tăng nhu cầu sử dụng các dịch vụ điện thoại di động, nếu nền kinh tế giữ tốc độ ổn định và phát triển Cho tới hiện tại, mức độ
sử dụng dịch vụ điện thoại di động còn chưa cao trong khi ở các nước phát triển con số này lớn hơn rất nhiều lần
- Yếu tố phân vùng kinh tế, phân bố lực lượng sản xuất của đất nước: cũng có tác
động đáng kể, cùng với phân vùng kinh tế sẽ có phân bố lại dân cư, nên nhu cầu trao
đổi thông tin, tình cảm càng tăng
- Mở cửa hội nhập quốc tế: trong những năm tới, thị trường các dịch vụ điện thoại
di động cũng sẽ bị chia sẻ bởi nhiều nhà khai thác trong và ngoài nước Ngành Viễn thông Việt Nam bắt buộc phải chia sẻ thị phần với nhiều nhà khai thác trong và ngoài nước là điều hiển nhiên Nhưng với một thị trường dịch vụ điện thoại di động đầy tiềm
Trang 16năng khai thác ở Việt Nam, và với cơ hội của người đi trước, với lợi thế sẵn có về hạ tầng kỹ thuật, Viễn thông Việt Nam sẽ có ưu thế vượt trội về khai thác nhu cầu sử dụng dịch vụ điện thoại di động
Các yếu tố về xã hội và pháp lý
- Dân số: Sản lượng dịch vụ phụ thuộc và dân số Việt Nam là một nước đông dân trong khu vực và trên thế giới, có tỷ lệ tăng trưởng dân số với mức thấp nhất trong
10 năm qua là 1,35% (mỗi năm tăng hơn 1 triệu người), nếu với tốc độ tăng trưởng dân
số như ở mức thấp nhất trong 10 năm qua thì đến năm 2010 dân số Việt Nam sẽ xấp xỉ khoảng 90 triệu dân - vượt hơn 11 triệu dân so với thời điểm hiện tại Như vậy tăng trưởng dân số sẽ tạo đà phát triển nhu cầu sử dụng các dịch vụ nói chung và dịch vụ
điện thoại di động nói riêng
- Cơ cấu xã hội, trình độ văn hoá: nhu cầu điện thoại di động còn phụ thuộc vào cơ cấu xã hội, trình độ văn hoá và địa vị xã hội
- Môi trường pháp lý: môi trường trong nước luôn thay đổi cũng ảnh hưởng tới kinh doanh Viễn thông Trong hoàn cảnh hiện nay, tự do hoá thị trường và thương mại tăng, tính độc quyền dần mất đi, cạnh tranh diễn ra ngày càng quyết liệt hơn
b) Các yếu tố nội sinh: bao gồm các loại giá cước như giá thiết bị, cước hoà
mạng, cước thuê bao tháng, cước thông tin…, chính sách Marketing như chính sách sản phẩm dịch vụ , chính sách quảng cáo Uy tín của nhà cung cấp cũng là một yếu tố quan trọng tác động tới nhu cầu sử dụng dịch vụ điện thoại di động
Giá cước: giá cước bao giờ cũng là nhân tố mà khi bỏ ra chi phí cho bất cứ hàng hoá, dịch vụ nào cũng được người tiêu dùng quan tâm hàng đầu
Chính sách Marketing là những tác động mà nhà cung cấp có thể chủ động nhằm kích thích nhu cầu của khách hàng
▪ Uy tớn (danh tieỏng) cuỷa nhaứ cung caỏp ủửụùc laọp thoõng qua nhaọn thửực cuỷa caực khaựch haứng veà taỏt caỷ caực khớa caùnh cuỷa dũch vuù Uy tớn coự yự nghúa ủaởc bieọt quan troùng ủoỏi vụựi taõm lyự khaựch haứng vaứ trụỷ thaứnh lụùi theỏ quan troùng trong caùnh tranh
Uy tớn cuỷa nhaứ cung caỏp ủửụùc taùo neõn qua caực ủaựnh giaự veà chaỏt lửụùng saỷn phaồm, dũch vuù trong quaự trỡnh tieõu duứng, noự phuù thuoọc vaứo:
Trang 17Lờ Thị Thu Giang – Cao học Quả n trị Kinh doanh Khoỏ 10 17
+ Qui moõ saỷn xuaỏt cuỷa nhaứ cung caỏp: Haù taàng cụ sụỷ, trang thieỏt bũ kyừ thuaọt, coõng ngheọ sửỷ duùng, ủũa ủieồm phuùc vuù vaứ caực trang trớ noọi thaỏt phuùc vuù taùi nụi giao dũch
+ Saỷn phaồm dũch vuù vaứ lụùi ớch cho ngửụứi sửỷ duùng
+ Thửụng hieọu treõn thũ trửụứng
+ Caực dũch vuù khaựch haứng
Bên cạnh đó, nhu cầu sử dụng dịch vụ điện thoại di động rất lớn, không còn bó hẹp trong phạm vi các doanh nhân và một số cán bộ có thu nhập cao như trước đây mà
sẽ phát triển mạnh sang các đối tượng thanh niên và trung niên có thu nhập ổn định Tỷ
lệ thu nhập dành cho tiêu dùng của dân chúng ngày càng tăng, thói quen tiêu dùng của người Việt Nam đã thay đổi đáng kể, chuyển dần từ thói quen để dành tiết kiệm và tích trữ sang khuynh hướng sử dụng thu nhập cho tiêu dùng, trong đó tỷ lệ dành cho dịch vụ ngày càng cao
Căn cứ vào các yếu tố này và phân tích chúng, từ đó có thể dự báo được được nhu cầu tương lai về số lượng khách hàng và mức độ sử dụng của các dịch vụ
1.3 Công tác dự báo nhu cầu dịch vụ điện thoại di động
1.3.1 Khái niệm dự báo nhu cầu và công tác dự báo nhu cầu
Dự báo nhu cầu là việc nắm bắt và phân tích các nhân tố nhu cầu để đoán trước
xu thế vận động và lượng nhu cầu trong tương lai Cụ thể đối với dịch vụ điện thoại di
động, dự báo nhu cầu bao gồm dự báo số thuê bao và lưu lượng sử dụng Dự báo nhu cầu phục vụ cho việc xác định mục tiêu và lập kế hoạch cho quy hoạch mạng trong các thời hạn khác nhau
Các công việc của dự báo nhu cầu được cho trong hình sau:
Dự báo theo nghĩa rộng
Số liệu phân tích Kết quả dự báo Số liệu cơ bản
Dự báo theo nghĩa hẹp
Dự báo nhu cầu
Trang 18Hình 1.3 Công tác dự báo nhu cầu
Dự báo theo nghĩa rộng không chỉ bao gồm việc dự báo mà còn bao gồm việc thu thập và sắp xếp dữ liệu, quản lý các giá trị dự báo Ba bước này có quan hệ chặt chẽ với nhau
- Thu thập và xử lý số liệu: gồm các chuỗi số liệu bên trong doanh nghiệp phản ánh nhu cầu (doanh thu về dịch vụ, cước phí, số cuộc gọi, thời gian gọi); các số liệu bên ngoài về các nhân tố ảnh hưởng tới nhu cầu dịch vụ như các số liệu điều tra dân số, số hộ gia đình, các chỉ tiêu kinh tế Các số liệu này cần được lưu trữ và quản lý một cách thích hợp, thuận tiện cho việc tính toán (sử dụng hệ thống thông tin máy tính)
- Điều chỉnh nhu cầu: sự khác biệt giữa giá trị dự báo và giá trị thực phải được phân tích và giá trị dự báo sẽ được điều chỉnh theo kết quả của sự phân tích này
- Tính toán dự báo nhu cầu: các giá trị nhu cầu trong tương lai được tính toán hoặc tiên đoán Đây là công việc chính của dự báo và được coi là dự báo theo nghĩa hẹp
1.3.2 Các dự báo định lượng
1 Dự báo về số lượng người sử dụng
Các đại lượng đặc trưng cho số lượng người sử dụng dịch vụ ở một khu vực nào
đó có thể được tính bằng:
- Số thuê bao: tổng số thuê bao trong cả vùng
- Mật độ thuê bao còn gọi là tỷ lệ thâm nhập: là tỷ lệ thuê bao/dân số, đơn vị tính là thuê bao/100 dân
2 Dự báo lưu lượng
Trong viễn thông, lưu lượng đặc trưng cho mức độ sử dụng dịch vụ, cho khả năng và mức độ hoạt động của mạng lưới Để đặc trưng cho lưu lượng người ta sử dụng các đại lượng sau:
Điều chỉnh nhu cầu Thu thập và xử lý số liệu
Trang 19- Số cuộc gọi: tùy thuộc vào đối tượng dự báo, có thể là:
+ Số cuộc gọi phát sinh trong vùng trong giờ cao điểm + Số cuộc gọi nội hạt, liên tỉnh, quốc tế đi hoặc đến thuê bao của một vùng + Số cuộc gọi mà mỗi tổng đài cần phải xử lý trong giờ cao điểm của ngày, của tuần
- Lưu lượng: bằng tổng số thời gian liên lạc của tất cả các cuộc gọi phát sinh trong thời gian quan sát/ khoảng thời gian quan sát
1.3.3 Thông tin, số liệu cho dự báo nhu cầu
Cú khối lượng thụng tin tư liệu phong phỳ và đa dạng, đầy đủ số liệu và thụng tin cần thiết mới làm cho người lónh đạo và cỏc chuyờn gia nhỡn nhận vấn đề
một cỏch khỏch quan, giảm tới mức thấp nhất sự suy luận chủ quan và đưa ra
những kiến nghị đỳng đắn Thụng tin tư liệu thu thập được đầy đủ và đa dạng giỳp cho người phõn tớch dễ dàng tỡm ra bản chất nội dung thực sự của số liệu tớnh toỏn
và tổng hợp được, chỉ ra được những yếu tố chủ quan và khỏch quan dẫn đến sự
biến động của hiện tượng kinh tế - xó hội, những mối quan hệ tỏc động qua lại tạo nờn kết quả Qua phõn tớch hiện tượng, mới tỡm ra được cỏc nhõn tố tớch cực để
lợi dụng và phỏt huy, những nhõn tố tiờu cực để hạn chế và xoỏ bỏ Đú là những
vấn đề vụ cựng cần thiết đối với người làm dự bỏo và cỏc nhà hoạch định chiến
lược
Các số liệu liên quan đến dự báo nhu cầu trong BCVT thường bao gồm:
- Số liệu về đối tượng dự báo các năm quá khứ Ví dụ dự báo nhu cầu điện thoại thì phải thu thập số liệu về thuê bao điện thoại, mật độ điện thoại của các năm trước
- Dân số, số hộ gia đình
- Số lượng các cơ quan
- Tổng sản phẩm quốc nội (GDP)/người dân, tốc độ tăng trưởng kinh tế
- Doanh thu của dịch vụ, giá cước dịch vụ
- Các quy hoạch, kế hoạch phát triển đô thị…
Các số liệu được thu thập từ các nguồn tài liệu sơ cấp và thứ cấp
- Tài liệu thứ cấp: là các thông tin có sẵn ở đâu đó, tức là đã được thu thập trước đây có thể cho mục tiêu khác, bao gồm:
Trang 20+ Nguồn tài liệu bên trong: là toàn bộ tài liệu sẵn có phản ánh nhiều mặt của quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp (gồm các bản thuyết minh về lỗ lãi, các bản quyết toán, các doanh số, các báo cáo trước đây…)
+ Nguồn tài liệu bên ngoài: các ấn phẩm, tài liệu (điều tra dân số, niên giám thống kê, báo, tạp chí do các tổ chức trong và ngoài nước xuất bản có liên quan đến thông tin cần thu thập trong quá trình nghiên cứu
Ví dụ: thu nhập GDP/người để xác định sự phát triển của máy điện thoại qua các năm là nguồn tài liệu thứ cấp có thể lấy từ Tổng cục Thống kê
Thông thường, các nhà nghiên cứu bắt đầu công việc bằng cách thu thập dữ liệu thứ cấp, cả nội bộ và bên ngoài vì dữ liệu thứ cấp có thể thu thập nhanh chóng, ít tốn kém hơn dữ liệu sơ cấp Tuy nhiên, dữ liệu thứ cấp cũng có nhiều vấn đề như thông tin cần đến không có, không đầy đủ Mặt khác, việc tìm kiếm thông tin từ một núi tài liệu cũng rất khó khăn, nếu tìm ra cũng có thể chưa dùng được và khi sử dụng thông tin thứ cấp các nhà nghiên cứu cần kiểm tra kỹ độ chính xác, kịp thời, khách quan của chúng
Dữ liệu thứ cấp cung cấp bước khởi động tốt cho việc nghiên cứu thị trường và trợ giúp cho việc xác định vấn đề cùng các mục tiêu của cuộc nghiên cứu Trong hầu hết các trường hợp vẫn cần tiến hành thu thập dữ liệu sơ cấp
- Tài liệu sơ cấp: là các thông tin được thu thập cho một mục tiêu cụ thể nào
đó, dữ liệu sơ cấp thu thập được có độ chính xác và tin cậy cao, phù hợp với yêu cầu đặt
ra song khá tốn kém và mất công, do đó khi thu thập cần xác định thông tin nào cần thu thập trực tiếp, thông tin nào có thể lấy từ tài liệu sẵn có Ví dụ: Số máy điện thoại do một bưu điện tỉnh nào đó phải thống kê hàng năm là nguồn tài liệu sơ cấp
Khi dự báo về dịch vụ điện thoại di động, dữ liệu còn được phân chia theo sự tác động sau:
- Yếu tố ngoại sinh: Gồm các yếu tố kinh tế như: tỷ lệ tăng trưởng kinh tế, tỷ lệ tiêu dùng dân cư và các yếu tố xã hội như: dân số, số hộ gia đình, số người đang làm việc
- Yếu tố nội sinh: Giá cả, thiết bị, cước cơ bản hàng tháng, chiến lược Marketing, chiến lược sản phẩm…
1.3.4 Quy trình dự báo nhu cầu dịch vụ điện thoại di động
Dự báo nhu cầu dịch vụ BCVT nói chung và dịch vụ điện thoại di động nói riêng
đều có thể được tiến hành theo trình tự sau:
Trang 21Lờ Thị Thu Giang – Cao học Quả n trị Kinh doanh Khoỏ 10 21
- Xác định mục tiêu, phạm vi dự báo: mục tiêu dự báo bao gồm nhu cầu của
hộ gia đình hay của các tổ chức, thời gian dự báo là ngắn hạn, trung hạn hay dài hạn, phạm vi dự báo là trên cả nước hay chỉ trong chỉ trong vùng phục vụ giới hạn
- Thu thập và xử lý số liệu: Xác định các nhân tố ảnh hưởng tới nhu cầu và những số liệu cần thu thập; Thu thập đầy đủ cỏc thụng tin số liệu về điều kiện tự nhiờn, kinh tế- xó hội của địa bàn quy hoạch, xu hướng phỏt triển của ngành kết
hợp với hiện trạng và nhu cầu sử dụng cỏc dịch vụ; phân loại số liệu để việc phân tích được dễ dàng Chất lượng thụng tin đầu vào cú ảnh hưởng lớn đến chất
lượngdự bỏo
- Lựa chọn phương pháp dự báo: phương pháp dự báo được xác định tuỳ theo
số liệu thu thập được và mục tiêu dự báo Tuy nhiên để có thể đưa ra kết quả dự báo
đáng tin cậy, cần tính toán bằng các phương pháp khả thi và chọn những giá trị tối ưu
- Lựa chọn mô hình dự báo: tuỳ theo từng loại dự báo, yêu cầu dự báo, yêu cầu thời gian, dữ liệu đầu vào và kết quả đầu ra… Ví dụ: mô hình tuyến tính, mô hình kinh tế xã hội…
- Dự báo nhu cầu dịch vụ
- Phân tích, đánh giá kết quả dự báo, đưa ra giá trị dự báo tối ưu
1.3.5 Các phương pháp dự báo nhu cầu dịch vụ điện thoại di động
1.3.5.1 Phương pháp ngoại suy tuyến tính
Phương pháp ngoại suy tuyến tính dựa trên một giả định là diễn biến của các biến dự báo trong tương lai cũng giống như trong quá khứ
Nhược điểm cơ bản của phương pháp ngoại suy tuyến tính là chỉ dựa duy nhất vào yếu tố thời gian mà không phân tích được ảnh hưởng của các nhân tố tác động khác
Trường hợp áp dụng: khi đối tượng dự báo phát triển tương đối ổn định theo thời gian, những nhân tố ảnh hưởng lớn nhất vẫn được duy trì trong một khoảng thời gian trong tương lai, không có những tác động mạnh từ bên ngoài dẫn tới những bước phát triển nhảy vọt của đối tượng dự báo
Lượng bán trong tương
Lượng
bán
Trang 22Nội dung phương pháp:
- Xử lý chuỗi thời gian kinh tế: Bổ sung chuỗi (giá trị thiếu bổ sung bằng trung bình cộng 2 giá trị đứng trước và sau nó); xử lý dao động ngẫu nhiên bằng cách san chuỗi để loại bỏ ảnh hưởng của các yếu tố ngẫu nhiên; loại bỏ sai số "thô"…
- Phát hiện xu thế đối tượng kinh tế: có các phương pháp như phân tích số liệu quan sát, phương pháp sai phân, phương pháp đồ thị Trong ngành BCVT ta thường sử dụng phương pháp đồ thị để phát hiện xu thế Các dạng hàm xu thế thường gặp trong BCVT là:
+ Đường logistic y= k/abt : khi nhu cầu đạt tới trạng thái bão hoà sau giai đoạn tăng tốc thì hàm logistic sẽ được áp dụng cho dự báo dài hạn
Việc lựa chọn xu thế theo phương pháp đồ thị hoàn toàn phụ thuộc vào suy lý và kinh nghiệm của người nghiên cứu, do vậy rủi ro của việc lựa chọn chủ quan ở đây là rất lớn Tuy nhiên, ở bước này ta mới hoàn toàn kết luận chuỗi thời gian có khả năng tuân theo một hoặc nhiều dạng hàm xu thế, việc lựa chọn một hàm xu thế tối ưu cần phải qua bước kiểm định
- Xây dựng hàm xu thế: xác định các tham số của hàm, phương pháp tổng bình phương bé nhất hoặc phương pháp điểm chọn, trong đó phương pháp đầu thường
được áp dụng do có độ chính xác cao
- Kiểm định hàm xu thế: có 2 tiêu thức để đánh giá:
Trang 23+ Tiêu thức sai số tuyệt đối
+ Tiêu thức sai số tương đối
- Dự báo bằng hàm xu thế:
+ Xác định khoảng cách dự báo thích hợp: phụ thuộc rất nhiều vào mức độ ổn
định của đối tượng, thông thường để đảm bảo độ chính xác, người ta chỉ lấy khoảng cách lmax <= n/3
+ Dự báo điểm với khoảng cách dự báo đã được xác định
1.3.5.2 Phương pháp hồi quy tương quan
a Bản chất của phương pháp hồi quy tương quan
Bài toỏn hồi quy là tỡm mối liờn hệ của một đại lượng được gọi là biến phụ thuộc với một hoặc nhiều đại lượng khỏc (được gọi là cỏc biến độc lập) Nếu mối quan hệ là tuyến tớnh thỡ ta gọi là hồi quy tuyến tớnh Hồi quy khụng phải là tuyến tớnh thỡ được gọi là hồi quy phi tuyến Nếu chỉ cú một biến độc lập ta gọi là hồi quy đơn, cũn trường hợp cú nhiều biến độc lập ta gọi là hồi quy bội Thụng thường
với trường hợp hồi quy bội thỡ người ta chỉ xột trường hợp tuyến tớnh Với hồi quy đơn người ta xột thờm một số dạng khỏc nhưng phần lớn là cú thể biến đổi đưa về
dạng tuyến tớnh
Giữa các hiện tượng kinh tế xã hội luôn tồn tại mối liên hệ ràng buộc lẫn nhau, gọi là mối liên hệ tương quan, phương pháp này cho phép đưa vào mô hình dự báo các nhân tố ảnh hưởng đến đối tượng cần dự báo Nếu chỉ có 1 nhân tố ảnh hưởng thì đó là tương quan đơn; nếu có từ 2 nhân tố ảnh hưởng trở lên thì là tương quan bội
Nhìn chung các yếu tố kinh tế xã hội đều có liên quan đến nhu cầu, đó là:
b Điều kiện áp dụng
Dự báo trong khoảng thời gian dài nên không áp dụng được phương pháp ngoại suy tuyến tính; đối tượng dự báo không chỉ phụ thuộc vào một nhân tố thời gian mà còn nhiều nhân tố khác
c Trình tự dự báo
Trang 24Bước 1: Xác định mục đích và nhiệm vụ của việc xây dựng mô hình
Đây là bước quan trọng nhất vì nó xác định phương hướng nghiên cứu và đảm bảo nội dung, ý nghĩa kinh tế của mô hình kết quả Nó còn quyết định tới việc lựa chọn
đúng đắn các nhân tố đưa vào mô hình Trong bước này cần vạch rõ phạm vi cần nghiên cứu, xác định các giả thiết cơ bản (ví dụ giả định về tốc độ tăng trưởng GDP thời kỳ dự báo, tốc độ tăng trưởng dân số…)
Kiểm tra các tiêu chuẩn:
- Tiờu chu ẩn 1: Sai số chuẩn của hàm là nhỏ nhất
)1(
1+
y y S
n
i
i i
- Tiờu chu ẩn 2: Miêu tả đúng mối quan hệ giữa các nhân tố: Có thể tìm được
hàm số có Su nhỏ nhất nhưng lại không miêu tả đúng mối quan hệ kinh tế, khi đó ta phải đi tìm một hàm khác
- Tiờu chu ẩn 3: Hệ số tương quan bội đủ lớn: Đây là tiêu chuẩn đặc trưng cho
mức độ chặt chẽ của mối liên hệ giữa tiêu thức kết quả và các tiêu thức nguyên nhân
Trang 25
2 1
2 1
) (
) ( 1
n i
y y
y y R
R luôn ở trong khoảng (0,1); càng gần 1 thì quan hệ càng chặt chẽ
Nếu 0,65<R<0,75: tương đối chặt chẽ, nếu không có hàm khác với R lớn hơn thì có thể chấp nhận hàm này
Nếu R<0,65: không đủ chặt chẽ, cần tìm hàm khác
- Tiờu chu ẩn 4: Không có hiện tượng tự cộng tuyến
Khi xõy dựng mụ hỡnh hồi qui bội việc chọn nhõn tố đưa vào mụ hỡnh là rất quan trọng Yờu cầu của phương phỏp là cỏc nhõn tố phải độc lập với nhau nhưng điều đú rất khú thực hiện trong kinh tế và chỳng ta phải chọn cỏc nhõn tố mà cú thể coi như độc lập Đưa nhiều nhõn tố quỏ vào mụ hỡnh sẽ khụng trỏnh khỏi hiện
tượng đa cụng tuyến, nú sẽ làm sai lệch kết quả thu được Hiện tượng cộng tuyến hay đa cộng tuyến xuất hiện khi một cặp nhõn tố hay nhiều cặp nhõn tố cú mối quan
hệ hàm số Để giải quyết vấn đề này trong thực tế khi lựa chọn nhõn tố người ta cú
thể tớnh trước cỏc hệ số tương quan cặp giữa cỏc tiờu thức nhõn tố Nếu hệ số nào
lớn hơn hoặc bằng 0,8 thỡ hai nhõn tố đú coi như là cộng tuyến và phải loại bỏ một trong hai nhõn tố đú ra khỏi mụ hỡnh hồi qui bội
8,0
i
x x
i j j
i x
x
x x x
x r
δ δ
2
) (
= δMuốn biết loại bỏ xi hay xj thì tính thêm ryxi và ryxj Cái nào nhỏ hơn thì loại bỏ Ngoài ra cũn cú tiờu chuẩn sai số của tham số đủ bộ
Đây là công việc quan trọng và phức tạp đòi hỏi phải kiểm tra các tiền đề của mô hình Tuy nhiên với các mô hình kinh tế không đòi hỏi nhất thiết mọi phép kiểm định phải thoả mãn, mà cần chú trọng tính chất thích hợp của mô hình với thực tiễn
Bước 5: Rút ra kết luận cho đối tượng nghiên cứu
1.3.5.3 Phương pháp chuyên gia
Trang 26Phương phỏp chuyờn gia là phương phỏp dự bỏo sẽ đưa ra những dự đoỏn khỏch quan về tương lai phỏt triển của một lĩnh vực hẹp của khoa học kỹ thuật hoặc
sản xuất dựa trờn việc xử lý cú hệ thống cỏc đỏnh giỏ của chuyờn gia Thường dùng
để dự bỏo những hiện tượng cú cỏc đặc điểm: tầm bao quỏt rộng, cấu trỳc nội dung
phức tạp, nhiều nhõn tố chi phối, hỡnh thức biểu hiện đa dạng, khú định lượng bằng
tiếp cận trực tiếp để tớnh toỏn đo đạc Những bài toán phức tạp như vậy đòi hỏi lượng thông tin lớn, khoảng thời gian điều tra, khảo sát dài, trên thực tế khó đạt được Vì vậy phương pháp này thích hợp trong các trường hợp sau:
- Đối tượng dự báo thiếu thông tin, thiếu thống kê đầy đủ, toàn diện và đáng tin cậy về hình thức biểu hiện thực tế quy luật vận động của đối tượng dự báo trong quá khứ và hiện tại
- Đối tượng dự báo thiếu hoặc không có cơ sở lý luận, thực tiễn chắc chắn, đảm bảo cho việc mô tả quy luật vận động của đối tượng bằng cách sử dụng các phương pháp giải tích thực nghiệm và mô hình toán học nói chung Nó đặc biệt phù hợp cho dự báo phát triển mạng viễn thông trong hoàn cảnh nhiều công nghệ mới ra đời, kéo theo nhiều nhu cầu dịch vụ mới nảy sinh nhưng chưa hề có trong quá khứ
- Đối tượng dự báo có độ bất ổn định cao, độ tin cậy thấp về hình thức biểu hiện,
về chiều hướng biến thiên, về quy mô và cơ cấu trong phạm vi mạng chuyển từ đơn dịch vụ sang đa dịch vụ
- Đối tượng dự báo chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố trong đó nhiều nhân tố không thể lượng hoá được hoặc chỉ lượng hoá một cách chưa rõ ràng như thói quen sử dụng dịch vụ viễn thông, tiến bộ công nghệ Vì vậy trong quá trình phát triển của đối tượng dự báo có nhiều đột biến về quy mô và cơ cấu mà không nhờ đến tài nghệ các chuyên gia thì mọi sự mô phỏng đều trở nên vô ích
- Khi dự báo dài hạn hoặc siêu dài hạn thì phương pháp này đặc biệt có nhiều ưu
điểm vì nó đã tính đến những tiến bộ nhảy vọt trong lĩnh vực khoa học công nghệ tác
động đến đối tượng dự báo
- Trong hoàn cảnh cấp bách với khoảng thời gian ngắn phải chọn một phương án thì tốt nhất là dùng phương pháp chuyên gia
Phương phỏp này phải thực hiện theo thứ tự sau:
a L ựa chọn và thành lập nhúm chuyờn gia dự đoỏn và nhúm cỏc nhà phõn tớch
Trang 27Nhúm chuyờn gia dự bỏo sẽ đưa ra những đỏnh giỏ dự bỏo về đối tượng cần dự bỏo Đõy là cỏc chuyờn gia cú trỡnh độ hiểu biết chung tương đối cao ngoài lĩnh vực
hẹp của mỡnh, cú kiến thức chuyờn mụn sõu về lĩnh vực dự bỏo, cú lập trường khoa
học và cú khả năng tiờn đoỏn thể hiện ở sự phản ỏnh nhất quỏn xu thế phỏt triển của đối tượng dự bỏo, cú định hướng và suy nghĩ về tương lai trong lĩnh vực mỡnh quan tõm
Nhúm chuyờn gia phõn tớch cũn gọi là nhúm cỏc nhà quản lý bao gồm những
người cú cương vị lónh đạo, những người cú quyền quyết định chọn phương phỏp
dự bỏo Đõy cũng là cỏc chuyờn gia cú trỡnh độ chuyờn mụn cao về vấn đề cần dự bỏo, cú kiến thức về dự bỏo và chuyờn gia phõn tớch cũn phải cú lũng kiờn nhẫn, tớnh lịch thiệp do quỏ trỡnh tiếp xỳc và hợp tỏc với cỏc chuyờn gia là một quỏ trỡnh
phức tạp
b Tr ưng cầu ý kiến của cỏc chuyờn gia
Trưng cầu ý kiến chuyờn gia là một giai đoạn của phương phỏp chuyờn gia Tựy theo đặc điểm thu nhận và xử lý thụng tin mà chọn những phương phỏp trưng
cầu cơ bản như: trưng cầu ý kiến theo nhúm và cỏ nhõn; trưng cầu vắng mặt và cú
mặt và trưng cầu trực tiếp hay giỏn tiếp
c X ử lý ý kiến chuyờn gia
Sau khi thu thập ý kiến của cỏc chuyờn gia, cần phải tiến hành một loạt cỏc
biện phỏp xử lý cỏc ý kiến này Đõy là bước quan trọng để đưa ra kết quả dự bỏo Núi chung lại cú hai dạng vấn đề cần giải quyết khi xử lý ý kiến chuyờn gia:
- Đỏnh giỏ thời gian hoàn thành sự kiện, thời gian xuất hiện quỏ trỡnh kinh tế
mới chẳng hạn như trong lĩnh vực Bưu chớnh, Viễn thụng đú là dự bỏo thời gian
xuất hiện cạnh tranh trong cỏc lĩnh vực dịch vụ
- Đỏnh giỏ tầm quan trọng tương đối giữa cỏc sự kiện, chẳng hạn như đỏnh giỏ vai trũ của cỏc yếu tố đầu vào đối với sự tăng trưởng ngành viễn thụng
Ứng dụng phương phỏp chuyờn gia dự bỏo trong lĩnh vực BCVT tuy cũn gặp
phải một số hạn chế như: nếu chọn chuyên gia không giỏi, kết quả dự báo có độ tin cậy thấp, việc lựa chọn được nhiều chuyờn gia giỏi trong lĩnh vực dự bỏo gặp nhiều khú khăn hay khi thu thập ý kiến của chuyờn gia lại tản mạn trỏi ngược nhau sẽ gõy
trở ngại trong việc xử lý cỏc ý kiến Hoặc nhiều chuyên gia đưa ra số liệu dự báo nhưng cơ sở lý giải không rõ ràng, biên độ dao động lớn khiến việc đánh giá sai số và khoảng tin cậy gặp khó khăn Tuy nhiờn bờn cạnh những nhược điểm đú, phương
Trang 28phỏp chuyờn gia đặc biệt thớch hợp trong việc dự bỏo những vấn đề mới, nhất là đối với dịch vụ điện thoại di động đang trong một mụi trường kinh doanh nhiều biến động như hiện nay
1.3.5.4 Phương pháp dự báo thông qua chỉ số MOBIX
Đây là phương pháp dự báo do các chuyên gia JICA thực hiện trong bản quy hoạch tổng thể phát triển viễn thông Việt Nam đến năm 2010 Các chuyên gia nhận định thị trường điện thoại di động Việt Nam sẽ phát triển song song với thị trường điện thoại cố
định và nhóm đối tượng khách hàng kinh doanh sẽ là đối tượng chính của di động, từ đó
đưa ra phương pháp dự báo nhu cầu điện thoại di động thông qua chỉ số MOBIX
MOBIX = 100*Mật độ điện thoại cố định *khách hàng kinh doanh/tổng số thuê bao điện thoại cố định)
Dự báo dựa vào mối liên hệ tương quan giữa mật độ điện thoại di động và MOBIX theo mô hình Y=aX+b
Trong đó y: mật độ điện thoại di động
X: MOBIX Căn cứ vào số liệu nhiều năm đã tính được
MOBIX= -0,028x+0,7124 Trong đó x là Mật độ điện thoại cố định
Từ đó mô hình dự báo có dạng: Y=1,4046X-0,213
Kiểm nghiệm năm 2000 thì kết quả chưa sát với thực tế do mô hình chưa tính
đến tác động mạnh mẽ của giá cước đến nhu cầu (đột biến năm 2000 do có dịch vụ di
động trả trước ra đời) Mặt khác phương pháp này cho rằng nhu cầu chỉ phụ thuộc nhóm khách hàng kinh doanh nhưng thực tế bây giờ là mọi loại hình khách hàng Do vậy phương pháp này cần được điều chỉnh khi các điều kiện giả định thay đổi
1.3.5.5 Dự báo căn cứ vào tỷ trọng số máy điện thoại di động chiếm trong tổng số máy điện thoại cố định
Phương pháp này xem xét tỷ trọng số máy điện thoại di động chiếm trong tổng
số máy điện thoại cố định của cả những thị trường đã phát triển như Nhật, úc và các thị trường trong khối ASEAN đến những thị trường mới phát triển như Trung Quốc, ấn
Độ… từ khi loại dịch vụ này mới xuất hiện cho đến khi bắt đầu phát triển dần đi vào ổn
định Từ những kinh nghiệm đó sẽ lựa chọn tỷ trọng hợp lý cho thị trường Việt Nam sau đó dự báo số máy điện thoại di động căn cứ trên kết quả dự báo số máy điện thoại
cố định
1.3.5.6 Phương pháp tính từ trên xuống (Top down) và tính từ dưới lên (Bottom up)
a Phương pháp tính từ trên xuống (Top down)
Trang 29Thường dùng để dự báo số lượng thuê bao trong các dự báo vĩ mô Các nhà dự báo sẽ dùng các thông số kinh tế vĩ mô như dân số, GDP… không liên quan tới một khu vực phục vụ cụ thể nào và xây dựng các mô hình toán để đưa ra các dự báo ở cấp quốc gia, sau đó dựa vào kết quả dự báo đó để thực hiện các dự báo ở các vùng, các khu vực tổng đài sao cho phù hợp
b Phương pháp tính từ dưới lên (Bottom up)
Thường dùng trong các dự báo vi mô Để dễ khảo sát và dự báo đúng, mỗi một vùng cần được chia thành các đơn vị nhỏ có thể quản lý được Ví dụ một thành phố có các phân vùng theo quản lý của mỗi tổng đài Các dự báo ban đầu sẽ được tiến hành cho các đơn vị vùng phục vụ nhỏ nhất, sau đó cộng lại để được dự báo cho vùng phục
vụ cấp cao hơn, cho đến khi có được dự báo trong cả khu vực lớn
Để đảm bảo rằng các dự báo đưa ra bằng phương pháp này là hợp lý cần phải so sánh với các dự báo đưa ra bằng vài phương pháp khác, thường là so sánh với phương pháp top down ở trên Chênh lệch thấp hơn mức cao nhất cho phép của nhà quản trị (thường là 10%-15%) là có thể chấp nhận được Nếu chênh lệch cao hơn, cần phải đánh giá lại các dự báo được đưa ra theo phương pháp bottom up
1.4 Các yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra trong công tác dự báo nhu cầu
1.4.1 Yêu cầu trong quá trình dự báo
Công tác dự báo nhu cầu phải được tiến hành một cách hệ thống, khoa học và hiệu quả để thông tin dự báo thực sự trở thành cơ sở cho các quyết định kinh doanh của doanh nghiệp :
- Hệ thống dự báo phải có khả năng cung cấp thông tin dự báo thống nhất cho các hoạt động khác nhau của doanh nghiệp như: kế hoạch, xây dựng chiến lược, Marketing…
- Thông tin dự báo phải có độ tin cậy cao, có sự phân công nhiệm vụ rõ ràng cho các cá nhân và tập thể tham gia Cán bộ làm công tác dự báo phải có chuyên môn về thu thập, thống kê, phân tích số liệu đồng thời có hiểu biết sâu về đối tượng cần dự báo
- Hệ thống dự báo cần thu thập thường xuyên, đầy đủ các thông tin như: kinh
tế xã hội (GDP/người, dân số…), các chính sách vĩ mô liên quan đến giá cước, thuế…, tình hình phát triển công nghệ, các thông tin nội bộ về tình hình sử dụng dịch vụ trong quá khứ, đánh giá của khách hàng về dịch vụ và mong muốn của họ…
Trang 30- Phương pháp, mô hình dự báo phải dựa trên cơ sở khoa học và phù hợp với môi trường kinh doanh cũng như hoàn cảnh của doanh nghiệp
1.4.2 Yêu cầu về chất lượng của dự báo
Một dự báo được coi là có chất lượng nếu nó thoả mãn những yêu cầu sau:
Yêu cầu 1: Dự báo chính xác và có cơ sở khoa học và thực tế Muốn vậy:
- Số liệu phải đáng tin cậy, được thu thập, phân tích một cách có bài bản, có
hệ thống
- Phương pháp dự báo phù hợp với số liệu có được và mục đích dự báo
- Dự báo không thể chỉ đưa ra một lần mà phải được đánh giá và điều chỉnh thường xuyên so với thực tế
Yêu cầu 2: Dự báo được đưa ra dưới dạng dễ sử dụng, đáp ứng được mục tiêu đề ra Yêu cầu 3: Dự báo được đưa ra kịp thời, đủ sớm để lập kế hoạch kinh doanh một cách chủ động nhất Điều này lại đòi hỏi doanh nghiệp phải thường xuyên cập nhật các thông tin về nhu cầu của khách hàng để đánh giá và điều chỉnh dự báo sao cho bám sát với nhu cầu thực tế và môi trường kinh doanh thay đổi
1.4.3 Nhiệm vụ của các nhà phân tích và dự báo nhu cầu
+ Bộ phận Marketing cần ước tính nhu cầu hiện tại và nhu cầu tương lai Những phép đo định lượng là rất quan trọng đối với việc phân tích các cơ hội hoặc thị trường, hoạch định chương trình Marketing và kiểm soát nỗ lực Marketing
+ Nhận biết người mua thực tế và tiềm ẩn sản phẩm dịch vụ của doanh nghiệp Qui mô thị phần của doanh nghiệp phụ thuộc vào chỗ có bao nhiêu người quan tâm đến sản phẩm của doanh nghiệp, thu nhập của họ như thế nào và khả năng tiếp cận hàng hóa của họ trên thị trường
+ Người làm điều tra phải phân biệt được nhu cầu của thị trường và nhu cầu của doanh nghiệp, giữa tiềm năng và dự báo và cuối cùng phải xác định cầu của doanh nghiệp là một hàm phụ thuộc vào nhiều yếu tố chứ không phải là một con số cố định + Nhiệm vụ chủ yếu là ước tính nhu cầu hiện tại và tương lai Nhu cầu tương lai của doanh nghiệp sẽ được ước tính dựa trên một số phương pháp dự báo, những phương pháp có mức độ phù hợp khác nhau đối với mục đích dự báo, kiểu sản phẩm, mức độ sẵn có và độ tin cậy của số liệu
Việc phân tích cầu thường được tiến hành theo 3 bước:
Trang 31Bước 1: Nghiên cứu thị trường để nhận biết nhu cầu
Bước 2: Sau khi xác đinh được nhu cầu của thị trường , doanh nghiệp phải xác
định xem lượng cầu về sản phẩm của doanh nghiệp hiện nay sẽ là bao nhiêu và trong tương lai sẽ có thể thay đổi như thế nào
Bước 3: Xây dựng các kế hoạch sản xuất, dự trữ vật tư, tài chính, tiêu thụ
Trong luận văn chỉ nghiên cứu nhu cầu của khách hàng đối vói dịch vụ điện thoại
di động, không phân tích luợng cầu của VNPT tức là chỉ nghiên cứu bước 1 trong 3 bước trên
Kết luận chương 1:
Chương 1 đã hệ thống hoá những lý luận chung về dự báo nhu cầu sử dụng dịch
vụ điện thoại di động, bao gồm:
- Những vấn đề cơ bản về dự báo trong Bưu chính Viễn thông
- Nhu cầu và các yếu tố tác động đến nhu cầu dịch vụ điện thoại di động ở Việt Nam
- Công tác dự báo nghiên cứu dịch vụ điện thoại di động
- Các yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra trong công tác dự báo nhu cầu
Trang 32Chương II
Thực trạng công tác dự báo nhu cầu sử dụng dịch vụ điện thoại di động của
Tổng công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT) 2.1 Thực trạng thị trường dịch vụ điện thoại di động ở Việt Nam
2.1.1 Các nhà cung cấp dịch vụ điện thoại di động
2.1.1.1 Tổng công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT)
VNPT là doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ viễn thông đầu tiên và chủ đạo của Việt Nam hiện nay VNPT được thành lập năm 1990, đến năm 1995 được thành lập lại theo quyết định số 249/TTg của Thủ tướng Chính phủ, theo đó VNPT là một tổng công
ty 91 của nhà nước, hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực Bưu chính Viễn thông
VNPT cung cấp dịch vụ điện thoại di động thông qua hai công ty thành viên là GPC và VMS Cả hai công ty này đều cung cấp dịch vụ điện thoại di động dựa trên công nghệ GSM
a Công ty thông tin di động (VMS)
Công ty thông tin di động (VMS): VMS là doanh nghiệp thành viên hạch toán
độc lập của VNPT được hình thành trên kết quả của hợp đồng hợp tác kinh doanh thời hạn 10 năm giữa Tổng công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam và hãng Convik của Thuỵ Điển Công ty VMS cung cấp mạng MobiFone, là mạng thông tin di động số đầu tiên ra đời năm 1993 dựa theo tiêu chuẩn GSM của Việt Nam VMS là đơn vị thành viên hạch toán độc lập của VNPT nhưng vẫn chịu sự quản lý của VNPT về đầu tư, phát triển mạng lưới, dịch vụ, giá cước VMS chỉ kinh doanh trên lĩnh vực điện thoại di
động VMS trực tiếp quản lý mạng lưới và ký kết hợp đồng trực tiếp với khách hàng
Đến năm 2002 hợp đồng với phía Thuỵ Điển được gia hạn và dự kiến nâng cấp hệ thống lên thế hệ cao hơn với tổng vốn đầu tư bổ sung là 100 triệu USD Tổng số thuê bao di động của MobiFone đến năm 2004 là khoảng 1,5 triệu trong đó thuê bao trả sau chiếm 34% còn trả trước chiếm 66%; đến tháng 9 năm 2005 đạt khoảng 3 triệu trong
đó thuê bao trả trước chiếm khoảng 73%
b Công ty dịch vụ viễn thông GPC
Trang 33GPC là doanh nghiệp nhà nước và là đơn vị thành viên hạch toán phụ thuộc của VNPT Khác với VMS, GPC không có chức năng trực tiếp kinh doanh dịch vụ thông tin
di dộng mà chỉ thực hiện vai trò quản lý mạng Vinaphone GPC cũng không có chức năng mở đại lý Thuê bao mạng Vinaphone ký kết hợp đồng với các bưu điện tỉnh thành phố (hoặc với đại lý của bưu điện tỉnh thành phố) GPC chỉ thực hiện công tác thiết kế, xây dựng, quản lý mạng, dịch vụ Công tác bán hàng thì do bưu điện tỉnh thành phố thực hiện Đến tháng 9/2005 có khoảng 3,5 triệu thuê bao
c Bưu điện Hà Nội và Bưu điện thành phố Hồ Chí Minh:
Tháng 12/2002 trên thị trường dịch vụ điện thoại di động xuất hiện một mạng
điện thoại di động nữa của VNPT, đó là dịch vụ Cityphone hoạt động tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh trên cơ sở giao thức IP sử dụng nền tảng hệ thống iPAS của UTStarcom Tuy nhiên do giá máy đắt, vùng phủ sóng phập phù chỗ có chỗ không, nơi mạnh, nơi yếu và nếu di chuyển bằng phương tiện giao thông với tốc độ trên 30Km/h thì chất lượng thoại rất kém dẫn đến sự xuất hiện của mạng Cityphone đã không được như mong đợi và do đó không làm ảnh hưởng nhiều đến các đối thủ hiện tại
2.1.1.2 Tổng công ty Viễn thông Quân đội (Viettel)
Viettel là doanh nghiệp thuộc Bộ Quốc phòng, được thành lập năm 1989 với tên ban đầu là Sigelco sau đó là ATC Đến năm 1995, công ty được đổi tên thành Công ty
Điện tử Viễn thông Quân đội (Viettel) và bắt đầu được phép kinh doanh dịch vụ Bưu chính Viễn thông Năm 1998, Vietel đã được Tổng cục Bưu điện cấp phép thiết lập mạng và cung cấp dịch vụ thông tin di động mặt đất
Hiện nay, Vietel đang xây dựng mạng điện thoại di động trên phạm vi toàn quốc
sử dụng công nghệ GSM -900 và sẽ nâng cấp lên công nghệ GPRS và thế hệ 3G Tuy
sử dụng công nghệ tương đồng với VNPT nhưng thực sự Vietel là một công ty có tiềm lực mạnh, có được sự ủng hộ lớn từ phía các cơ quan quản lý Nhà nước do xuất thân từ
đội ngũ quốc phòng an ninh Với hơn 600 trạm phỏt súng hiện nay và trờn 1.000 trạm
mới sẽ đầu tư trong 2005, mạng này sẽ mở rộng phạm vi phủ súng, phục vụ nhu cầu phỏt triển thuờ bao Vietel đã là đối thủ nặng ký nhất của VNPT trên lĩnh vực kinh doanh dịch vụ di động Về mặt giá cước họ không phải chịu sự kiểm soát chặt chẽ như Vinaphone và MobiFone
2.1.1.3 Công ty Cổ phần dịch vụ Bưu chính Viễn thông Sài Gòn (SPT)
Trang 34SPT là một công ty cổ phần thành lập năm 1995 theo quyết định của Uỷ ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, được góp vốn ban đầu từ 11 doanh nghiệp nhà nước trong đó VNPT góp 18% cổ phần Tháng 9/2001, Saigon Postel đã được cấp giấy phép cung cấp dịch vụ điện thoại di động Đây là công ty cung cấp mạng điện thoại di động
đầu tiên sử dụng công nghệ CDMA ở Việt Nam
S-Fone là kết quả của Hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC) giữa SPT và Công ty SLD Telecom Pte Ltd (liên doanh giữa 3 tập đoàn công nghiệp lớn của Hàn Quốc là SK telecom, LG electronics, và Dong Ah telecom) trong một dự án có tổng số vốn đầu tư
230 triệu USD, với tham vọng xây dựng và phát triển công nghệ viễn thông CDMA trên toàn Việt Nam Công nghệ CDMA 1X mà S-Fone đang sử dụng là công nghệ thế hệ thứ 3, nó đã tạo được những thành công lớn trên khắp thế giới Nó có tốc độ truyền dữ liệu cao và cho phép phát triển các dịch vụ đa dạng trên mạng di động chứ không chỉ
đơn thuần là truyền giọng nói Các nhà cung cấp đang sử dụng công nghệ này có các tên tuổi lớn như SK Telecom, LGT (Hàn Quốc), KDDI (Nhật bản), China Unicom (Trung Quốc), Verizon, Sprint PCS (Mỹ) Công nghệ này được đưa vào khai thác từ năm 1995, chỉ sau 9 năm đã có trên 130 triệu thuê bao và công nghệ này đã đưa Hàn Quốc lên vị trí dẫn đầu thế giới về các ứng dụng mạng thông tin di động
Ngày 1/7/2003, Saigon Postel chính thức cung cấp dịch vụ điện thoại di động Thời gian đầu do hạn chế về vùng phủ sóng (13/64 tỉnh thành) và gặp một số trục trặc trong kết nối với 2 mạng Vinaphone và Mobifone nên khả năng phát triển thuê bao còn hạn chế Tháng 3/2003, công ty này đã kết nối dịch vụ của mình với mạng của VNPT
Năm 2005 SPT và SLD quyết định sẽ cựng nõng tổng số vốn đầu tư lờn đến
360 triệu đụ-la nhằm nhanh chúng thực hiện chiến lược phỏt triển với mục tiờu trở thành nhà khai thỏc mạng CDMA dẫn đầu tại Việt Nam Quý 1/05 S-Fone tập trung đầu tư 75 triệu USD cho việc phủ dày và mở rộng thờm vựng phủ súng, nõng cấp dung lượng hệ thống để đỏp ứng nhu cầu tăng trưởng thuờ bao Quý II/2005, S-Fone hướng tới nối liền liờn lạc trờn suốt trục lộ chớnh của quốc gia ở những vựng kinh tế trọng điểm từ Bắc vào Nam và phủ súng rộng khắp Việt Nam trong thời gian
sớm nhất SPT có điểm mạnh là trụ sở ở Tp Hồ Chí Minh, thị trường lớn, năng động,
có BCC với SLD với số vốn lớn, cơ chế công ty cổ phần khá năng động Tuy vậy, SPT
có điểm yếu là chi phí đầu tư cao, phụ thuộc nhiều vào đối tác BCC, chưa có hạ tầng truyền dẫn và phụ thuộc nhiều vào cơ chế và khả năng kết nối với VNPT
Trang 35Dịch vụ S-Fone vẫn chưa có nhiều ưu thế so với dịch vụ sử dụng công nghệ GSM của VNPT vì nhiều lý do khác nhau như:
+ Mạng CDMA phủ sóng chưa rộng Hiện nay đã mở rộng vùng phủ sóng lên 44
tỉnh thành nhưng vẫn chưa mở ra toàn quốc
+ Khách hàng muốn sử dụng mạng S-Fone phải mua thiết bị cầm tay công nghệ
CDMA Trong khi đó, thiết bị đầu cuối sử dụng công nghệ CDMA tại thị trường Việt Nam còn ít chủng loại, chưa phong phú Nhà cung cấp thiết bị chưa phải là các nhà cung cấp hàng đầu thế giới Điều này có nghĩa là khách hàng sẽ còn phải cân nhắc về giá cả và chất lượng thiết bị Bởi vì một lợi thế của mạng GSM là thị trường máy cầm tay vô cùng phong phú với nhiều mẫu mã, chủng loại của các nhà sản xuất hàng đầu thế giới Ngoài ra, còn chưa kể đến một thị trường thiết bị cầm tay cũ đã và đang hoạt
động rất sôi động
+ Người sử dụng đang là thuê bao của VNPT ít muốn lựa chọn mạng S-Fone do công nghệ CDMA chưa sử dụng phổ biến trên thế giới nên Roaming quốc tế hạn chế
2.1.1.4 Công ty Cổ phần Viễn thông Hà Nội (Hanoi Telecom)
Hanoi Telecom là một công ty mới ra đời và được hình thành với sự tham gia của các cổ đông có kinh nghiệm lâu năm là Liên hiệp Khoa học Sản xuất công nghệ cao - Viễn thông - Tin học và Công ty Điện tử Hà Nội Liên hiệp Khoa học Sản xuất công nghệ cao - Viễn thông - Tin học đã có trên 10 năm kinh nghiệm hoạt động trong lĩnh vực viễn thông chuyên dùng, còn Công ty Điện tử Hà Nội đã có bề dày 17 năm hoạt động trong lĩnh vực điện tử-tin học, có kinh nghiệm triển khai mạng lưới và hợp tác đầu tư với các đối tác nước ngoài Hanoi Telecom đã chọn công nghệ CDMA là vì các lý do như: đây là công nghệ có nhiều đặc tính kỹ thuật tiến tiến, là công nghệ hiện
đang dần được triển khai ở nhiều nước và tại Việt Nam mới chỉ có một nhà cung cấp dịch vụ di động được cấp phép triển khai hệ thống CDMA là Sai gon Postel
Kế hoạch của Hanoi Telecom là cung cấp các dịch vụ như: dịch vụ điện thoại di
động trong nước và roaming; dịch vụ điện thoại di động thẻ trả trước; điện thoại không dây cố định; di động dùng riêng; dịch vụ truyền số liệu trên phạm vi toàn quốc nhưng trong giai đoạn đầu để đảm bảo hiệu quả, dự án xây dựng hệ thống thông tin di động sẽ
được thiết lập mạng lưới tại các vùng đông dân, vị trí địa lý thuận lợi cho việc phủ sóng Định hướng của Hanoi Telecom là xây dựng một hệ thống thông tin viễn thông
Trang 36hiện đại, có công nghệ tiên tiến, cung cấp các dịch vụ viễn thông hướng tới mạng viễn thông số đa dịch vụ băng thông rộng và thế hệ cao
Cuối tháng 4/2003, Bộ Bưu chính - Viễn thông đã chính thức cấp phép cho Hanoi Telecom tham gia cung cấp dịch vụ di động mặt đất Cụng ty này đó liờn kết
với nhà đầu tư Hàn Quốc là Hutchison Telecommunication, với vốn đầu tư 655,9 triệu USD cho mạng CDMA 3G Với mục tiờu chiếm khoảng 20% thị phần dịch vụ thụng tin di động, dự kiến ngày 31/7/2005, Hanoi Telecom sẽ thử nghiệm mạng CDMA và cuối thỏng 10/2005, cú thể cung cấp mạng ĐTDĐ 092 trờn phạm vi toàn
quốc Tiến độ triển khai mạng này khú thể thực hiện đỳng dự định nhưng dẫu sao
việc gúp mặt thờm Hanoi Telecom cũng đó làm thị trường thụng tin di động vốn
“núng” lại thờm “núng” và khiến tất cả cỏc doanh nghiệp quyết tõm hơn trong cuộc đua giành thị phần
2.1.1.5 Cụng ty thụng tin vi ễn thụng điện lực (EV Telecom)
Bộ Bưu chớnh Viễn thụng đó cấp Giấy phộp số 966-GP-BBCVT, phờ duyệt
dự ỏn cung cấp dịch vụ điện thoại di động trờn phạm vi toàn quốc của EVTelecom
với mó số 096 Tổng cụng ty Điện lực Việt Nam và Tổng cụng ty BCVT đó ký hợp đồng nguyờn tắc về việc dựng chung hạ tầng (như đuờng truyền dẫn) EVN Telecom đó chớnh thức khai trương hồi tháng 8/05 EVTelecom sẽ cung cấp mạng điện thoại di động dựa trờn cụng nghệ CDMA 2000-1X EVDO mở rộng từ dịch vụ CDMA nội vựng đang được cụng ty triển khai tại Hà Nội, Thừa Thiờn - Huế, Đà
Nẵng, TP.HCM và Đồng Nai Hiện EVTelecom đó phủ súng dịch vụ CDMA nội vựng được trờn 10 tỉnh và đõy sẽ là hạ tầng để triển khai tiếp mạng CDMA toàn quốc EVTelecom sẽ cung cấp nhiều dịch vụ giỏ trị gia tăng, bởi đõy là thế mạnh của
mạng CDMA như xỏc định vị trớ thuờ bao, một số dịch vụ về dữ liệu
EVTelecom đó thử nghiệm dịch vụ 3G nhưng do nhu cầu và nội dung cho dữ
liệu chưa nhiều nờn chưa thể cung cấp được dịch vụ này trong thời gian tới mà chủ
yếu vẫn là dịch vụ thoại EVTelecom sẽ chọn con đường cung cấp dịch vụ cú chất
lượng cao và giỏ rẻ để thu hỳt khỏch hàng EVTelecom cú điểm mạnh là: Được phộp cung cấp hầu hết cỏc dịch vụ, trực thuộc EVN, một Tổng cụng ty mạnh, mạng
lưới truyền dẫn rộng khắp, chi phớ đầu tư thấp, cú cơ hội lớn khi cụng nghệ
Trang 37Powerline thương mại húa (2-3 năm) Điểm yếu: cần 1- 2 năm ổn định tổ chức kinh doanh cỏc dịch vụ mới, phụ thuộc nhiều vào cơ chế và khả năng kết nối với VNPT, cũn chịu ảnh hưởng của cơ chế quản lý tập trung bao cấp, băng tần di động (450 MHz) bất lợi
2.1.1.6 Các đối thủ tiềm ẩn nước ngoài
Theo lộ trình của bản Hiệp định Thương mại Việt - Mỹ, giai đoạn 2005-2006, các nhà khai thác viễn thông của Mỹ bắt đầu được liên doanh với các đối tác Việt Nam kinh doanh các dịch vụ gia tăng giá trị, thông tin vô tuyến dưới hình thức liên doanh Bên cạnh đó việc Việt Nam sắp gia nhập WTO cũng sẽ là một nguy cơ rất lớn đối với các nhà cung cấp dịch vụ di động của Việt Nam do sự xuất hiện của các đối thủ nước ngoài có kinh nghiệm kinh doanh trên trường quốc tế như AT&T, Qualcom Khi đó
cuộc cạnh tranh sẽ diễn ra sôi động trên nhiều lĩnh vực như chất lượng, giá cước dịch
vụ và khâu chăm sóc khách hàng Mặc dù vậy, trong giai đoạn này, các liên doanh này không được xây dựng mạng đường trục mà phải thuê lại từ các doanh nghiệp viễn thông của Việt Nam cung cấp hạ tầng mạng Nhưng một ưu thế mà họ sẽ tận dụng được
đó là mạng lưới, thuê bao sẵn có của VNPT nên tiết kiệm được chi phí đầu tư
Chiều 20/4/2005, Telenor, tập đoàn Viễn thụng hàng đầu Na Uy, đã chớnh
thức mở văn phũng đại diện tại Hà Nội, hướng đến mục tiờu thiết lập một mối hợp tỏc lõu dài với ngành viễn thụng Việt Nam và phỏt triển Telenor thành nhón hiệu
dịch vụ điện thoại di động đỏng tin cậy trờn thị trường Hiện, Telenor cú mạng điện thoại di động ở 12 quốc gia với 53 triệu thuờ bao
Giai đoạn 2007-2010, cỏc doanh nghiệp cú vốn đầu tư nước ngoài dưới hỡnh
thức BCC, mua cổ phần cú vai trũ lớn trong việc cung cấp dịch vụ điện thoại di động
và cỏc dịch vụ gia tăng giỏ trị Tuy nhiờn sẽ khụng cú doanh nghiệp nào chiếm quỏ 50% thị phần dịch vụ di động Đến 2010 ớt cú khả năng mở cửa hoàn toàn thị
trường viễn thụng, sẽ xuất hiện một số doanh nghiệp liờn doanh với nước ngoài
nhưng chưa cung cấp được dịch vụ ở quy mụ lớn.Do nội dung thụng tin của Việt nam chưa phỏt triển mạnh nờn từ nay đến 2010, cỏc doanh nghiệp cú yếu tố nước ngoài sẽ đúng vai trũ chủ yếu trong dịch vụ cung cấp nội dung thụng tin qua mạng Internet và di động
Trang 38Sự tham gia thị trường của nhiều nhà cung cấp dịch vụ đã làm cho thị trường dịch vụ điện thoại di động ở Việt Nam trở nên sôi động, sự cạnh tranh ngày càng gay gắt Chính điều này sẽ giúp cho thị trường này có những phát triển mạnh mẽ sau này
2.1.2 Tình hình phát triển dịch vụ điện thoại di động
2.1.2.1 Tình hình phỏt tri ển thuờ bao điện thoại núi chung:
Cựng với sự phỏt triển của kinh tế xó hội, số thuờ bao điện thoại trờn mạng điện thoại cụng cộng cú tốc độ phỏt triển cao Tỡnh hỡnh phỏt triển điện thoại trờn toàn quốc và theo cỏc vựng miền được trỡnh bày trong bảng 2.1
Bảng 2.1- Phỏt triển thuờ bao điện thoại giai đoạn 1996-2004
Trang 39ĐVT: máy (Nguồn: Số liệu thống kê phát triển điện thoại 1996-2004 - Tổng cục thống kê)
Mạng điện thoại cụng cộng của VNPT đến hết thỏng 1/2005, số thuê bao điện thoại bao gồm cả cố định và di động đó đạt 10.000.000 máy, đưa mật độ điện thoại
của Việt Nam lờn hơn 12 mỏy/100 dõn; đến thỏng 5/2005 tổng số thuờ bao trờn toàn
Việt Nam là 11,498 triệu mỏy, đạt mật độ 14,02 mỏy/100 dõn Đến thỏng 8/2005
tổng số thuờ bao điện thoại là 12,41 triệu, mật độ điện thoại đạt 14,7 mỏy/100 dõn (vượt chỉ tiờu 7 - 8 mỏy/100 dõn năm 2005 do Đại hội Đảng IX đề ra)
Như thế, trong vũng 10 năm, tốc độ tăng trưởng thuờ bao điện thoại của Việt Nam đó tăng gấp 14 lần, một sự phỏt triển mạnh mẽ Theo thống kờ của ITU, trong giai đoạn 1998-2003 tăng trưởng thuờ bao điện thoại cố định của Việt Nam đạt mức 20,3%, so với mức phỏt triển trung bỡnh của ASEAN chỉ là 8,9% ITU đó nhận xột:
Tốc độ phỏt triển viễn thụng của Việt Nam đứng thứ 2 trờn toàn thế giới
2.1.2.1 Tình hình phỏt tri ển thuờ bao điện thoại di động
- Theo số liệu thống kê thường niên của ITU, số máy di động của Việt Nam từ năm 1992-2004 được thể hiện ở bảng 2.2:
Bảng 2.2: Số máy di động của Việt Nam từ năm 1992-2004
Trang 40Bảng 2.3: Một số chỉ tiêu về thuê bao di động của Việt Nam từ năm 2001-2004
Năm Số máy di động(1000) Mật độ/100d % Số hoá % trong tổng số điện thoại
- Theo thống kê của của VNPT thì tỷ lệ tăng trưởng và số thuê bao di động tại Việt Nam
từ 1994 – 2004 có sự chênh lệch so với số liệu của ITU và được trình bày trong bảng 2.4:
B ảng 2.4: Tỷ lệ tăng trưởng và số thuê bao di động tại Việt Nam từ 1994 - 2004