Trong một số các dự án đầu tư xây dựng công trình giao thông theo hình thức BOT hiện nay, khi phân tích hiệu quả tài chính của dự án ở bước lập dự án đầu tư, còn nhiều vấn đề còn không t
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIAO THÔNG VẬN TẢI
-
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG
HOÀN THIỆN CÔNG TÁCTHU THẬP, XỬ LÝ SỐ LIỆU
VỀ HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH MỘT SỐ DỰ ÁN ĐẦU TƯ
XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH GIAO THÔNG THEO HÌNH THỨC BOT Ở VIỆT NAM
MÃ SỐ : T2018 – KT – 008 CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI : THS NGUYỄN PHƯƠNG CHÂM THỜI GIAN THỰC HIỆN : 01/2018 – 12/2018
NGÀY VIẾT BÁO CÁO : 12/2018
HÀ NỘI, THÁNG 12 – 2018
Trang 2MỤC LỤC 2
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT 4
DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ 5
MỞ ĐẦU 1
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1
2 Mục tiêu của đề tài: 2
3 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU 2
3.1 Đối tượng nghiên cứu: 2
3.2 Phạm vi nghiên cứu: 2
4 CÁCH TIẾP CẬN, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2
4.1 Cách tiếp cận: 2
4.2 Phương pháp nghiên cứu: 2
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH GIAO THÔNG 3
1.1.Khái quát về đầu tư, dự án đầu tư và phân tích hiệu quả tài chính của dự án đầu tư xây dựng công trình giao thông 3
1.1.1 Khái quát về đầu tư, dự án đầu tư xây dựng công trình giao thông 3
Đặc điểm của các dự án đầu tư xây dựng công trình giao thông theo hình thức BOT 4
1.1.2 Sự cần thiết của phân tích hiệu quả tài chính của dự án đầu tư 5
1.1.3 Nguyên tắc và nội dung của phân tích hiệu quả tài chính 6
1.1.4 Sự khác nhau giữa phân tích hiệu quả tài chính và hiệu quả kinh tế xã hội 8
1.1.5 Các số liệu đầu vào phân tích tài chính dự án đầu tư 9
1.2 Các phương pháp phân tích hiệu quả tài chính của dự án đầu tư 14
1.2.1 Phương pháp dùng nhóm chỉ tiêu tĩnh 14
1.2.2 Phương pháp dùng nhóm chỉ tiêu động 18
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THU THẬP, XỬ LÝ SỐ LIỆU VỀ HIỆU QUẢ QUẢ TÀI CHÍNH CÁC DỰ ÁN XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH GIAO THÔNG THEO HÌNH THỨC BOT Ở VIỆT HIỆN NAY 29
Trang 3đang được xây dựng và hiệu quả của các dự án này 29
2.1.1 Giới thiệu một số dự án đầu tư xây dựng công trình giao thông theo hình thức BOT đã và đang được xây dựng 29
2.1.2 Hiệu quả của các dự án đầu tư xây dựng công trình giao thông theo hình thức BOT khi đưa vào khai thác sử dụng 31
2.2 Quy định của pháp luật về quản lý tài chính đối với dự án đầu tư theo hình thức BOT 33
2.2.1 Nguyên tắc xây dựng phương án tài chính 33
2.2.2 Nội dung phương án tài chính 33
2.3 Những tồn tại trong thu thập, xử lý số liệu về hiệu quả tài chính của một số dự án đầu tư xây dựng công trình giao thông theo hình thức BOT ở Việt Nam hiện nay 34
2.3.1 Những tồn tại trong xác định suất chiết khấu của dự án 34
2.3.2 Những tồn tại trong xác định dòng thu của dự án 37
2.3.3 Những tồn tại trong xác định dòng chi của dự án 40
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC 42
THU THẬP, XỬ LÝ SỐ LIỆU VỀ HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH CÁC DỰ ÁN XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH GIAO THÔNG THEO HÌNH THỨC BOT 42
Ở VIỆT NAM 42
3.1 Nhu cầu vốn đầu tư cho các dự án xây dựng công trình giao thông và danh mục một số các dự án đầu tư kêu gọi vốn đầu tư theo hình thức BOT của Việt Nam giai đoạn 2020 – 2030 42
3.1.1 Nhu cầu vốn đầu tư cho các dự án xây dựng công trình giao thông 42
3.2.2 Một số giải pháp cụ thể 45
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 49
1 KẾT LUẬN 49
2 KIẾN NGHỊ 49
TÀI LIỆU THAM KHẢO 50
PHỤ LỤC 50
Trang 4BOT : Xây dựng - kinh doanh - chuyển giao
BTO : Xây dựng - chuyển giao - kinh doanh
BT : Xây dựng - chuyển giao
BXD : Bộ xây dựng
ĐTXD : Đầu tư xây dựng
GTĐB : Giao thông đường bộ
GTVT : Giao thông vận tải
NCKT : Nghiên cứu khả thi
NCTKT : Nghiên cứu tiền khả thi
TNGT : Tai nạn giao thông
WB : World Bank, tiếng Việt: Ngân hàng Thế giới
XDCB : Xây dựng cơ bản
XDĐB : Xây dựng đường bộ
Trang 5Bảng 2.1: Danh mục một số dự án đầu tư xây dựng công trình giao thông theo hình
thức BOT đã và đang được xây dựng ở Việt Nam 29
Bảng 2.2: Biểu giá tối đa cho dịch vụ sử dụng đường bộ theo lượt 37
Bảng 2.3: Biểu giá tối đa cho dịch vụ sử dụng đường bộ theo chặng 38
Hình 3.1: Quy trình dự báo nhu cầu giao thông 46
Trang 6MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Xây dựng các công trình giao thông trong những năm trước đây thường chỉ sử dụng nguồn vốn từ ngân sách nhà nước Do vậy, khi phân tích, đánh giá các dự án đầu
tư chỉ chú trọng đến phân tích hiệu quả kinh tế xã hội (tính đến những lợi ích mang lại cho xã hội ) của dự án Trong những năm gần đây, khi ngân sách Nhà nước không còn đáp ứng được nhu cầu vốn đầu tư xây dựng cho cơ sở hạ tầng giao thông , việc huy động vốn từ khu vực ngoài nhà nước (khu vực tư nhân) trở thành đất yếu Các dự án đầu tư xây dựng công trình giao thông theo hình thức BOT trở nên phổ biến vì giải quyết được bài thoán thiếu vốn Nếu như các dự án sử dụng nguồn vốn ngân sách Nhà nước đặt lợi ích của xã hội, của cộng đồng lên trên thì các nhà đầu tư BOT lại quan tâm đến hiệu quả tài chính do dự án mang lại
Phân tích hiệu quả tài chính của dự án được tiến hành trong quá trình lập dự án đầu tư Một dự án đầu tư muốn thu hút được nhà đầu tư thì phải mang lại hiệu quả tài chính cao (lợi nhuận cao) Nhưng do lĩnh vực đầu tư ở đây là xây dựng các công trình giao thông có liên quan mật thiết đến đời sống kinh tế xã hội của người dân và doanh nghiệp cho nên việc tính toán các lợi ích cho nhà đầu tư BOT cần phải hết sức thận trọng, đảm bảo hài hòa lợi ích của Nhà nước, xã hội và nhà đầu tư nhưng những lợi ích đó cũng phải đủ lớn để hấp dẫn được nhà đầu tư đồng ý bỏ vốn vào lĩnh vực đang
vô cùng khát vốn này
Trong một số các dự án đầu tư xây dựng công trình giao thông theo hình thức BOT hiện nay, khi phân tích hiệu quả tài chính của dự án ở bước lập dự án đầu tư, còn nhiều vấn đề còn không thống nhất giữa nhà đầu tư và cơ quan quản lý Nhà nước như:
- Chọn suất chiết khấu để tính các chỉ tiêu NPV, B/C
- Tính thời gian hoàn vốn của dự án
- Một số khoản chi phí được tính và không được tính vào tổng mức vốn đầu
tư xây dựng của dự án
Những vấn đề này đều ảnh hưởng đến lợi nhuận thu được, thời gian được quyền thu phí của nhà đầu tư, mức phí mà người dân và doanh nghiệp phải chịu, số tiền thuế mà Ngân sách nhà nước thu được.Chính vì vậy, việc thu thập, xử lý số liệu
về hiệu quả tài chính các dự án xây dựng công trình giao thông theo hình thức BOT ở Việt Nam hiện nay là vô cùng cấp thiết nhằm nâng cao tính chính xác, phù hợp với thực tiễn
Trang 72 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI:
Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện công tác thu thập, xử lý số liệu về hiệu quả tài chính các dự án đầu tư xây dựng công trình giao thông theo hình thức BOT ở Việt Nam hiện nay để có thể thu hút được nhà đầu tư trên cơ sở vẫn đảm bảo lợi ích của Nhà nước và xã hội
3 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng nghiên cứu:
Việc thu thập, xử lý số liệu về hiệu quả tài chính của các dự án đầu tư xây dựng công trình giao thông
-Tìm hiểu lý luận phương pháp phân tích hiệu quả tài chính
- Nghiên cứu thực trạng thu thập, xử lý số liệu về hiệu quả tài chính một số dự
án đàu tư xây dựng công trình giao thông theo hình thức BOT của nước ta hiện nay
- Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện công tác thu thập, xử lý số liệu về hiệu quả tài chính một số dự án xây dựng công trình giao thông theo hình thức BOTphù hợp với điều kiện thực tế của Việt Nam nhằm nâng cao hiệu quả của họat động này
4.2 Phương pháp nghiên cứu:
Phân tích định tính kết hợp với phỏng vấn chuyên sâu các cán bộ trong lĩnh vực
xây dựng và khai thác các dự án BOT giao thông
Trang 8CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH GIAO THÔNG
1.1.Khái quát về đầu tư, dự án đầu tư và phân tích hiệu quả tài chính của dự án đầu tư xây dựng công trình giao thông
1.1.1 Khái quát về đầu tư, dự án đầu tư xây dựng công trình giao thông
Đầu tư theo nghĩa rộng nhất của nó có thể hiểu như quá trình bỏ vốn (bao gồm tiền, nguồn lực, công nghệ) để đạt được mục đích hay tập hợp các mục đích nhất định nào đó Mục tiêu cần đạt được của đầu tư có thể là mục tiêu chính trị, văn hóa – kinh
tế, xã hội hay cũng có thể chỉ là mục tiêu nhân đạo… hiện nay có rất nhiều khái niệm
về đầu tư và mỗi quan điểm khác nhau, ở các lĩnh vực khác nhau lại có cách nhìn nhận không giống nhau về đầu tư
Trong hoạt động kinh tế, đầu tư được biểu hiện cụ thể hơn và mang bản chất kinh tế hơn Đó là quá trình bỏ vốn (tiền,nhân lực ,nguyên vật liệu …) vào các hoạt động sản xuất, kinh doanh và dịch vụ nhằm mục đích thu lợi nhuận Đây dược xem là bản chất cơ bản của hoạt động đầu tư
Các hoạt động đầu tư có thể gọi chung là hoạt động sản xuất kinh doanh (với hoạt động đầu tư bỏ vốn để nâng cao năng lực sản xuất cả về chất lương và số lượng)
Dự án đầu tư xây dựng công trình là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc bỏ vốn
để xây dựng mới, mở rộng hoặc cải tạo những công trình xây dựng nhằm mục đích phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong một thời hạn nhất định
Theo một quan điểm khác thì dự án đầu tư là tổng thể các giải pháp nhằm sử dụng các nguồn tài nguyên hữu hạn sẵn có để tạo ra những lợi ích thiết thực cho nhà đầu tư và cho xã hội
Dự án đầu tư có thể được xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau:
như là kế hoạch chi tiết triển khai các hoạt động đầu tư nhằm đạt được mục tiêu đã đề
ra trong một khoảng thời gian nhất định, hay đó là một công trình cụ thể thực hiện các hoạt động đầu tư
chi tiết và có hệ thống các hoạt động và chi phí theo một kế hoạch để đạt được những
kết quả và thực hiện những mục tiêu nhất định trong tương lai
vốn, vật tư, lao động nhằm tạo ra những sản phẩm mới cho xã hội
Trang 9Xét trên g c đ ho ch hoá: Dự án đầu tư là kế hoạch chi tiết để thực hiện
chương trình đầu tư xây dựng nhằm phát triển kinh tế xã hội làm căn cứ cho việc ra
quyết định đầu tư và sử dụng vốn đầu tư
công, bố trí lực lượng lao động xã hội nhằm giải quyết mối quan hệ giữa các chủ thể
kinh tế khác nhau với xã hội trên cơ sở khai thác các yếu tố tự nhiên
Xét về mặt n i dung: Dự án đầu tư là một tập hợp các hoạt động cụ thể, có mối
quan hệ biện chứng, nhân quả với nhau để đạt được mục đích nhất định trong tương
lai
Yêu cầu đối với dự án đầu tư
Một dự án đầu tư để đảm bảo tính khả thi cần đáp ứng được yêu cầu sau:
trình nghiên cứu thật tỉ mỉ và kỹ càng, tính toán cẩn thận chính xác từng nội
dung cụ thể của dự án Đặc biệt có những nội dung rất phức tạp như phân tích
tài chính, phân tích kỹ thuật…đồng thời rất cần sự tư vấn của các cơ quan
chuyên môn về dịch vụ đầu tư giúp đỡ
Tính pháp lý: Các dự án đầu tư cần có cơ sở pháp lý vững chắc tức là phải
phù hợp với chính sách và pháp luật Nhà nước Do đó, trong quá trình soạn
thảo dự án phải nghiên cứu kỹ chủ trương đường lối chính sách của Nhà nước
và các văn bản quy chế liên quan đến hoạt động đầu tư
đầu tư phải tuân thủ các quy định chung của các cơ quan chức năng về hoạt
động đầu tư kể cả các quy định về thủ tục đầu tư Đối với các dự án quốc tế còn
phải tuân thủ những quy định chung mang tính quốc tế
được nghiên cứu và xác định trên cơ sở phân tích, đánh giá đúng mức các điều
kiện, hoàn cảnh cụ thể có liên quan trực tiếp hay gián tiếp tới hoạt động đầu tư
Việc chuẩn bị kỹ càng có khoa học sẽ giúp thực hiện dự án có hiệu quả cao
nhất và giảm tới mức tối thiểu các rủi ro có thể xảy ra trong quá trình đầu tư
Đặc điểm của các dự án đầu tư xây dựng công trình giao thông theo hình thức
BOT
Các dự án xây dựng công trình giao thông theo hình thức BOT ngoài những đặc
điểm của một dự án xây dựng công trình giao thông nói chung như: địa điểm sản xuất
không cố định, thời gian xây dựng công trình kéo dài, chịu ảnh hưởng nhiều bởi điều
kiện tự nhiên…,thì còn cần phải chú ý đến những đặc điểm sau:
Trang 10- Vốn đầu tư lớn: Các công trình đường cao tốc trải dài theo tuyến.Tính chất trải dài theo tuyến ảnh hưởng đến toàn bộ quá trình đầu tư xây dựng công trình không chỉ trong giai đoạn hình thành dự án, trong xây dựng mà suốt cả quá trình khai thác công trình Chi phí khảo sát thiết kế lớn, thi công trên nhiều điều kiện địa hình, địa chất khác nhau, các tiêu chuẩn thiết kế ở mức cao hơn so với các công trình giao thông thông thường rất nhiều Chính vì vậy, các dự án này đòi hỏi vốn đầu tư cho xây dựng và khai thác phải lớn Để thoả mãn nhu cầu vốn đầu tư này, Nhà nước cần có chiến lược, chính sách và giải pháp để cân đối lợi ích Nhà nước và cộng đồng, cân đối lợi ích của các ngành trong xã hội
mà tốt nhất là Nhà nước san sẻ trách nhiệm cho các tổ chức, các cá nhân cùng tham gia đầu tư, xây dựng và quản lý hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật trên cơ sở đảm bảo lợi ích của các bên tham gia
- Diện tích đất chiếm dụng để làm đường lớn: Với đường 4 làn xe, ít nhất là 30 – 35m rộng; 6 làn xe là 50 – 60m rộng và 8 làn xe ít nhất là 70 – 80m rộng; một nút giao khác mức để vào ra đường cao tốc phải chiếm tới 4 – 10 ha đất Ở nhiều nước, chi phí đất dùng cho đường chiếm tới 1/3, thậm chí 1/2 tổng mức đầu tư của dự án
- Tuổi thọ của các công trình thường rất dài và có năng lực phục vụ lớn Đặc điểm này một mặt đòi hỏi các công trình phải được xây dựng với chất lượng cao, từ khâu thiết kế đến thi công, phải đón đầu những tiến bộ kỹ thuật – công nghệ để tránh lạc hậu, mặt khác phải đảm bảo tính mỹ quan, kiến trúc của công trình xây dựng
- Tuổi thọ kinh tế của công trình thường không đồng nhất với tuổi thọ thiết kế
Nó không chỉ phụ thuộc vào độ bền vật liệu, chất lượng xây dựng mà còn phụ thuộc vào hoạt động khai thác, bảo trì công trình; phụ thuộc rất lớn vào sự tương thích giữa năng lực thông qua (công suất) thực tế sử dụng với năng lực thông qua (công suất) thiết kế Sự tồn tại lâu dài của công trình liên quan trực tiếp đến hoạt động khai thác, bảo trì công trình và sự cần thiết phải có các giải pháp khai thác, sử dụng, bảo trì công trình để chống lão hoá và phát huy tối đa năng lực phục vụ cho các yêu cầu phát triển kinh tế xã hội
1.1.2 Sự cần thiết của phân tích hiệu quả tài chính của dự án đầu tư
Phân tích tài chính một dự án đầu tư là một quá trình chọn lọc, tìm hiểu về tương quan của các chỉ tiêu tài chính và đánh giá tình hình tài chính về dụ án đầu tư nhằm giúp các nhà đầu tư đưa ra các quyết định đầu tư có hiệu quả
Các nhà đầu tư luôn mong muốn dự án thành công, phân tích tài chính sẽ giúp
họ nhìn thấy những bước tiến triển của dự án để họ đưa ra các biện pháp thích hợp
Trang 11bằng cách dự tính trước các phương án khác nhau và lựa chọn được phương án cụ thể cho dự án của mình
Phân tích tài chính sẽ giúp các nhà đầu tư thấy được hiệu quả của dự án thông qua việc so sánh giữa mọi nguồn thu của dự án với tổng chi phí hợp lý của dự án Phân tích tài chính luôn diễn ra từ nghiên cứu tiền khả thi cho đến khi đưa công trình vào vận hành, nên phân tích tài chính sẽ giúp các nhà đầu tư tính được tương lai khi có sự thay đổi về thu nhập và chi phí để kịp thời điểu chỉnh và rút kinh nghiệm Bên cạnh đó, kết quả phân tích tài chính là căn cứ để nhà tài trợ căn cứ vào và đưa ra các quyết định tài trợ tiền (đầu tư vốn) hay không
1.1.3 Nguyên tắc và nội dung của phân tích hiệu quả tài chính
1.1.3.1 Nguyên tắc của ph n tích tài chính dự án đầu tư
a Kết hợp phân tích định tính với phân tích định lượng
Phân tích định tính dựa trên phân tích và sử dụng các lý luận và kinh nghịệm đã đúc kết, chưa đi sâu vào các tính toán định lượn Phương pháp này có ưu điểm:
Ngay từ đầu chưa có các tính toán tốn kém đã có thể xác định được tính chất và định hướng của dự án
Không phải tất cả mọi vấn đề kinh tế - xã hội đều có thể tính toán thành số lượng cụ thể được và các tính toán định lương thường là rất tốn kém, cho nên phải dựa vào phân tích định tính
Tuy nhiên chỉ dừng lại ở bước phân tích định tính thì các cơ sở khoa học của quyết định chưa toàn vẹn và chưa được bảo đảm
Phân tích định lượng dựa trên các phép tính về số lượng cụ thể hoặc các công cụ tính toán hiệ đại phương pháp này có các ưu điểm:
Trong nhiều trường hợp, với tổng nguồn lực như nhau, nhờ các phương pháp tính toán định lượng ta sẽ tìm được các phương án có hiệu quả lớn nhất
Các kết quả tính toán định lượng có khi làm thay đổi hẳn chủ trương đầu tư ban đầu, ví dụ tính toán định lượng đã phát hiện ra rằng với chủ trương ban đầu là quá tốn kém, vượt quá thực lực của chủ đầu tư
Tuy nhiên việc phân tích định lượng đòi hỏi phải có các số liệu gố bảo đảm chính xác để tính toán ban đầu Nếu không đảm bảo yêu cầu này thì phương pháp tính toán dù chính xác đến mấy vẫn không có ý nghĩa, thậm chí còn có thể gây nên các tác động nguy hiểm
b Kết hợp các chỉ tiêu hiệu quả tính theo số tuyệt đối với các chỉ tiêu hiệu quả tính theo số tương đối
Trang 12Các chỉ tiêu hiệu quả tính theo số tuyệt đối như các chỉ tiêu: Tổng lợi nhuận hàng năm, hiện giá của hiệu số thu chi, các chỉ tiêu hiệu quả tính theo số tương đối như các chỉ tiêu: Tỷ suất lợi nhuận, tỷ suất thu lợi nội tại
Nếu chỉ tiêu tổng lợi nhuận rất lớn, nhưng chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận tính cho trường hợp sau khi đã nộp thuế lại bé hơn ngưỡng hiệu quả cho phép, ví dụ lãi suất trung bình của thị trường vốn, thì phương án vẫn không hiệu quả, vì lẽ không đủ tiền lợi nhuận để trả kãi vốn vay, hoặc đem vốn đầu tư tài chính sẽ lợi hơn đầu tư cho dự
số tương đối (như chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận, suất thu lợi nội tại IRR) chỉ cần đạt ngưỡng hiệu quả quy định (nếu các chỉ tiêu hiệu quả tính theo số tương đối này cũng lớn nhất thì càng tốt)
c Kết hợp các chỉ tiêu về lợi nhuận với các chỉ tiêu về an toàn
Các chỉ tiêu về lợi nhuận như: Tổng lợi nhuận thu được hàng năm, tỷ suất lợi nhuận, hiện gia của hiệu số thu chi (NPW), suất thu lợi nội tại (IRR)
Các chỉ tiêu về an toàn như: Thời hạn thu hồi vốn đầu tư, điểm hòa vốn, khả năng trả nợ…
Không được sử dụng một trong hai loại chỉ tiêu kể trên một cách riêng rẽ để lựa chọn phương án, vì chỉ kết hợp hai chỉ tiêu: Lợi nhuận và an toàn mới đảm bảo được tính phát triển bền vững của kinh doanh
d Phải tôn trọng nguyên tắc so sánh hai bước
Ở bước thứ nhất phải xét sự đáng giá của các phương án, tức là hiệu quả của các phương án phải đảm bảo một ngưỡng hiệu quả cho phép
Ở bước thứ hai, phải chọn lấy trong các phương án đáng giá một phương án có hiệu quả lớn nhất
Như vậy phương án được chọn không phải chỉ là phương án có hiệu quả lớn nhất
mà có phải là phương án có hiệu quả đạt mức yêu cầu
Trang 13e Phải đảm bảo tính có thể so sánh được của các phương án
Các điều kiện có thể đảm bảo cho tính có thể so sánh được của phương án:
Phương pháp tính toán của các phương án phải thống nhất về các mặt: Hình thành số liệu gốc, phương pháp so sánh các chỉ tiêu định mức hiệu quả
Khi muốn so sánh một chỉ tiêu thì chỉ có chỉ tiêu đó thay đổi, còn các chỉ tiêu khác phải giữ nguyên và giống nhau, cụ thể là:
+ Khi so ánh về mặt giá trị (chi phí) thì mặt giá trị sử dụng (chất lượng sản phẩm, công suất, tuổi thọ, độ bền chắc…) của phương án phải giống nhau Nếu ở đây giá trị sử dụng của các phương án khác nhau (một trường hợp phổ biến xảy
ra trong thực tế) thì phải đưa các phương án về cùng một mặt bằng giá trị sử dụng nhờ một phương pháp nhất định (trong đó có phương pháp giá trị - giá trị
sử dụng)
+ Khi tuổi thọ của các phương án khác nhau thì phải quy về bằng các cách như: Theo luật đầu tư quy định hoặc điều chỉnh thông qua giá trị thu hồi khi đào thải tài sản hoặc tính san đều hàng năm
Khi vốn đầu tư của các phương án khác nhau thì phải quy về điều kiện có thể so sánh được bằng cách so sánh theo hiệu quả của gia cố đầu tư, hoặc có phương án phụ thêm
1.1.3.2 N i dung của Ph n tích tài chính dự án đầu tư
Để đánh giá hiệu quả tài chính của một dự án đầu tư xây dựng các công trình GTVT theo hình thức BOT, cần phải xác định các chỉ tiêu sau:
- Chỉ tiêu NPV
- Chỉ tiêu IRR
- Chỉ tiêu B/C
- Các chỉ tiêu về thời gian
+ Thời gian hoàn vốn (Th)
+ Thời gian tối đa dự án hết hiệu quả (Tth)
+ Thời gian khi mà NPV bắt đầu tăng chậm lại, gần như tăng không đáng kể, (Tc)
1.1.4 Sự khác nhau giữa phân tích hiệu quả tài chính và hiệu quả kinh tế xã hội
a Về quan điểm và mục đích
Phân tích tài chính đứng trên quan điểm lợi ích của chủ đầu tư để đánh giá dự
án, còn phân tích kinh tế- xã hội lại đứng trên quan điểm lợi ích của toàn bộ nên kinh
tế quốc dân và lợi ích của toàn xã hội để xem xét vấn đề
Chủ đầu tư xuất phát từ lợi ích trực tiếp của chính mình nhưng phải nằm trong
Trang 14Phân tích tài chính đứng trên góc độ vi mô,còn phân tích kinh tế-xã hội lại đứng trên góc độ vĩ mô để xem xét vấn đề
Phân tích tài chính láy mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận kết hợp với an toàn kinh doanh là chính,còn phân tích kinh tế-xã hội là xuất phát điểm để xem xét vấn đề
b Về phương pháp tính toán
Khi tính toán các chỉ tiêu tính và các chỉ tiêu động ( như NPW,IRR, B/C) cho một số trường hợp trong phân tích kinh tế-xã hội người ta không dùng giá tài chính (giá thị trường )như khi phân tích tài chính ,mà người ta dùng cái gọi là giá kinh tế, hay còn gọi là giá tham khảo hay là giá ẩn hoặc giá quy chiếu Khi các chỉ tiêu NPW, IRR, B/C thường được đổi thành ENPW,IRRE(B/C).Suất thu lợi tối thiểu tài chính được thay bằng suất thu lợi kinh tế-xã hội
Về phương pháp phân tích, các phương pháp áp dụng khi phân tích kinh tế-xã hội phức tạp và đa dạng hơn so với khi phân tích tài chính
Phân tích kinh tế -xã hội cũng sử dụng nhóm chỉ tiêu tĩnh và nhóm chỉ tiêu động, nhưng lại phải xem xét cho hai trường hợp:
-Khi dự án đầu tư là các doanh nghiệp kinh doanhnhằm thu lợi nhuận
-Khi dự án đầu tư là dự án phục vụ lợi ích công cộng mà nguồn vốn do ngân sách nhà nước cấp
1.1.5 Các số liệu đầu vào phân tích tài chính dự án đầu tư
a Tổng mức đầu tư của dự án: bao gồm toàn bộ các khoản chi phí để thiết
lập, xây dựng và tạo dựng các điều kiện cần thiết để đưa dự án vào hoạt động kinh doanh bình thường nhằm đạt được mục tiêu mà chủ dự án đề ra
- Vốn đầu tư của một dự án thường bao gồm:
Các khoản chi tiêu trước đầu tư
Đây là toàn bộ các chi tiêu cần thiết để đảm bảo cho dự án có thể được triển khai và đi vào hoạt động Các khoản chi tiêu này gọi là các khoản chi phí trước đầu tư,
Trang 15các khoản này thường phát sinh trước khi thực hiện dự án, đây là điều kiện để thành lập nên dự án như chi phí nghiên cứu dự án, mỗi một dự án trước khi được xét duyệt thì phải có công tác nghiên cứu và công tác này đều phải tốn mất một khoản chi phí người ta tính vào chi phí trước đầu tư Tương tự như các khoản chi phí cho công tác chuẩn bị đầu tư, trả lương cho cán bộ công nhân viên trong suốt thời gian trước khi dự
án đi vào hoạt động, hay như chi phí cho việc xây dựng lán trại, nhà làm việc tạm, chi phí quản lý chung dự án
Vốn đầu tư vào tài sản cố định
*Vốn đầu tư vào tài sản cố định hữu hình: bao gồm các khoản sau:
Vốn mua sắm máy móc thiết bị: là các khoản chi phí bỏ ra để mua sắm, trang bị của toàn bộ máy móc thiết bị phục vụ cho sản xuất chính, sản xuất phụ, thiết
bị phụ trợ Chi phí này bằng giá mua phải trả cho người bán cộng với các khoản lãi vay phải trả cho khoản tiền vay đầu tư cho các tài sản cố định này trong khoảng thời gian trước khi đưa chúng vào sử dụng, các chi phí vận chuyển bốc dỡ, chi phí chữa tân trang
Vốn đầu tư xây dựng cơ bản: là toàn bộ chi phí cho việc khảo sát thiết kế và xây dựng được dự toán theo quy định của điều lệ quản lý đầu tư và xây dựng hiện hành, chi phí liên quan, cơ sở hạ tầng phục vụ cho hoạt động của dự án
Tài sản cố định được cấp, được điều chuyển đến: các tài sản này mặc dù không do chủ dự án trực tiếp bỏ vốn ra để mua sắm, nhưng vì các tài sản này tham gia vào việc cấu thành nên tài sản cố định của dự án nên nó vẫn được tính vào vốn đầu tư
Giá trị tài sản cố định được biếu, tặng, nhận vốn góp liên doanh: được xác định bằng giá trị theo đánh giá của hội đồng giao nhận, chi phí tân trang, sửa chữa, chi phí vận chuyển, giao nhận, bốc xếp, chi phí lắp đặt vận hành liên quan đến tài sản
đó
* Vốn đầu tư vào tài sản cố định vô hình bao gồm:
Vốn đầu tư cho việc sử dụng đất: Đó là toàn bộ các chi phí dự tính phải chi
ra có liên quan trực tiếp đến đất sử dụng bao gồm: tiền mua quyền sử dụng đất, chi phí cho việc đền bù giải phóng mặt bằng, san lấp mặt bằng, lệ phí trước bạ Trường hợp doanh nghiệp trả tiền thuê đất hoặc tiền sử dụng đất định kỳ hàng năm thì các chi phí này được phân bổ dần vào chi phí kinh doanh trong kỳ mà không được xem là kinh phí đầu tư vào tài sản cố định
Vốn đầu tư mua hoặc thuê phát minh, sáng chế, bí quyết kĩ thuật: Kinh phí này được xác định trên cơ sở dự trù các chi phí mà dự án cần phải chi ra cho nghiên
Trang 16cứu để có được phát minh, sáng chế, hoặc là các chi phí cần bỏ ra để mua hay thuê lại bản quyền của các phát minh sáng chế, bản quyền nhãn hiệu và các chi phí chuyển giao công nghệ để phục vụ cho hoạt động của dự án
Các khoản chi phí và lợi thế kinh doanh: Đó là các khoản mà dự án phải chi trả cho phần chênh lệch, phải trả thêm ngoài các tài sản theo đánh giá thực tế phát sinh khi dự án đi mua, sát nhập, hợp nhất hoặc liên doanh với một doanh nghiệp khác
Chênh lệch phải trả thêm = giá đi mua - giá trị của các tài sản theo đánh giá thực tế
Giá trị của các tài sản theo đánh giá thực tế = giá trị của tài sản cố định + giá trị của tài sản lưu động
Vốn đầu tư vào các tài sản cố định thuê tài chính: được tính bằng nguyên giá của các tài sản thuê tài chính được xác định theo quy định của Nhà nước mà dự án dự định thuê mướn Nguyên giá này phản ánh tại đơn vị thuê tài sản cố định là giá trị hiện tại của các khoản chi trong tương lai
* Đầu tư vào vốn lưu động ròng bao gồm:
Vốn lưu động đầu tư vào tài sản dự trữ: đây là khoản tiền mà mỗi một dự án đều phải trích ra để mua tài sản nhằm dự trữ khi cần thiết phát sinh trong quá trình thực hiện dự án
Vốn lưu động đầu tư vào dự trữ tiền mặt: cũng là một khoản tiền vốn đầu tư chuẩn bị sẵn bằng tiền mặt để chi cho các trường hợp phát sinh ngay khi dự án đang hoạt động
Vốn lưu động đầu tư vào các khoản phải thu: Khi thực hiện dự án có những khoản mà người khác mua chưa trả thì nhất thiết trước khi có sản phẩm đó ta phải trích ra nguồn vốn để sản xuất được Nguồn này cũng rất cần thiết phải có trong tổng vốn đầu tư
Vốn lưu động được tài trợ vào các khoản phải trả: Đây là vốn dự án phải bỏ
ra trước nhằm thanh toán những khoản dự án còn nợ chưa trả nhưng cũng đến lúc phải thanh toán
Dự trù tài sản của dự án khi khởi sự hoạt động
Tổng tài sản hoạt động của dự án cho chúng ta biết quy mô nguồn vốn hoạt động của dự án
Các khoản đầu tư sau đây hình thành nên tài sản của doanh nghiệp:
Trang 17 Các khoản đầu tư vào tài sản cố định sẽ hình thành nên tài sản cố định của tổng kết tài sản: đây là nguồn tài sản có giá trị lớn, thực hiện trong nhiều dự án, không biến mất sau khi hoàn thành dự án cho nên đây là khoản chắc chắn phải có khi dự án hoạt động
Các khoản đầu tư vào vốn lưu động ròng và các khoản nợ lưu động làm hình thành nên tài sản lưu động của dự án: khi dự án thực hiện đòi hỏi cần có vốn lưu động
dự tính nhằm chi trả cho những khoản cần thiết trong khi thực hiện dự án, nguồn này tạo nên tài sản lưu động ròng
b Nguồn tài trợ cho dự án
Các nguồn vốn huy động
Vốn huy động từ nội bộ: Giải pháp tài chính thông thường là chủ đầu tư phải đảm bảo được một phần kinh phí đầu tư ban đầu bằng vốn tự có của mình, chủ yếu là đầu tư vào tài sản cố định
Ưu điểm của nguồn vốn này là chi phí huy động vốn thấp, vốn sở hữu của doanh nghiệp nên chủ đầu tư có toàn quyền chủ động quyết định sử dụng chúng Mặt khác, nguồn vốn huy động từ nội bộ thường có chi phí cơ hội thấp do đó an toàn hơn cho chủ đầu tư trong quá trình đầu tư
Tuy nhiên nếu tăng quá lớn tỉ lệ tài trợ từ vốn nội bộ làm suy giảm khả năng tài chính hiện tại của công ty, ảnh hưởng đến hoạt động khác của công ty Làm giảm tỉ suất sinh lợi vốn có của doanh nghiệp
Vốn vay: Trong quá trình đầu tư, người ta thường sử dụng các nguồn vốn vay trung và dài hạn để tài trợ cho dự án, chủ yếu bổ sung vào tài sản cố định
Doanh nghiệp nhận được các khoản tài trợ này từ những thành phần không phải là chủ sở hữu của nó sau khi nó được chuyển cho doanh nghiệp Phải trả lãi cho các khoản tiền đã vay Mức lãi suất được trả cho các khoản nợ vay thường theo một mức ổn định được thoả thuận khi vay Doanh nghiệp phải hoàn trả lại toàn bộ vốn vay cho các chủ nợ vào một thời điểm nào đó trong tương lai, ngoại trừ trường hợp là phiếu tuần hoàn Công ty có thể phải thế chấp bằng các loại tài sản như hàng hoá các loại, tài sản cố định, quyền sở hữu tài sản, cổ phiếu hay các biện pháp bảo lãnh cho vay
Trường hợp này rủi ro tài chính sẽ phát sinh do doanh nghiệp phải gánh chịu một khoản lãi phải trả cố định
Vốn cổ phần: khi khả năng huy động từ nguồn vốn tích luỹ bị hạn chế, các nhà đầu tư thường tìm nguồn tài trợ mới bằng cách tăng vốn cổ phần Nhìn chung
Trang 18không có sự khác biệt đáng kể nào giữa việc huy động vốn từ nội bộ với việc phát hành thêm cổ phần mới về chi phí tăng vốn ngoại trừ việc phát hành cổ phần thường làm phát sinh thêm một khoản chi phí phát hành
Đặc điểm cơ bản của việc tài trợ bằng vốn cổ phần: vốn được tài trợ bởi chủ sở hữu của các doanh nghiệp cụ thể ở đây là của chủ dự án; không phải trả lãi cho vốn cổ phần đã huy động được mà sẽ chia lợi tức cổ phần cho các chủ sở hữu nếu doanh nghiệp là ra được lợi nhuận; lợi tức cổ phần chia cho các cổ đông tuỳ thuộc vào quyết định của Hội đồng quản trị và nó thay đổi theo mức lợi nhuận mà công ty đạt được; doanh nghiệp không phải hoàn trả những khoản tiền vốn đã nhận được cho chủ sở hữu trừ khi doanh nghiệp đóng cửa và chia tài sản; doanh nghiệp không phải thế chấp tài sản hay nhờ bảo lãnh, bởi vốn huy động là của chủ sở hữu
Trong việc sử dụng vốn cổ phần, chủ dự án nên tập trung nó cho việc đầu tư vào tài sản cố định đảm bảo một tỉ lệ hợp lý trong cơ cấu vốn đầu tư
Nếu vốn tự có và vốn cổ phần chiếm tỉ lệ quá cao trong tổng kinh phí đầu tư có thể dẫn đến lợi nhuận trên vốn tự có giảm tuy rằng lúc đó mức độ độc lập của doanh nghiệp cao hơn và doanh nghiệp có nhiều cơ hội để quyết định kinh doanh mạo hiểm hơn
Nhưng nếu vốn tự có ít, dự án thường phải tìm kiếm các khoản tài trợ tài chính thường là thông qua các khế ước vay nợ từ ngân hàng Điều này dẫn đến sự bất lợi cho doanh nghiệp vì phải chịu áp lực lớn của gánh nặng nợ nần dẫn đến việc phải hy sinh nhiều lợi ích để thanh toán các khoản lãi vay đồng thời dễ mất tự chủ trong kinh doanh, khó khăn trong việc ra quyết định kinh doanh
Nói tóm lại, tuỳ theo mục đích của từng loại chi phí mà khai thác các nguồn vốn phù hợp Đối với chi phí hình thành nên tài sản cố định và một phần tài sản lưu động thì nên khai thác nguồn vốn vay dài hạn Đối với chi phí không thu hồi được không tham gia vào hình thành tài sản của dự án nên khai thác vốn tự hoặc vay ngắn hạn Đối với kinh phí hình thành nên tài sản lưu động thì nên khai thác nguồn vốn vay ngắn hạn hoặc trung hạn
c Lợi ích và chi phí của dự án
Dự kiến các lạo chi phí về nguyên vật liệu, khấu hao, chi phí quản lý, chi phí ngoài sản xuất
Dự kiến sản lượng cung cấp hàng năm cả đời dự án, dự kiến giá bán tính ra lợi ích dự kiến
Trang 191.2 Các phương pháp phân tích hiệu quả tài chính của dự án đầu tư
1.2.1 Phương pháp dùng nhóm chỉ tiêu tĩnh
Các chỉ tiêu tĩnh là các chỉ tiêu tính cho một năm của dự án và do đó không kể đến sự biến động của các chỉ tiêu theo thời gian của cả đời dự án cũng như không tính đến giá trị của tiền tệ theo thời gian
Các chỉ tiêu này thường được dùng để tính toán giai đoạn nghiên cứu tiền khả thi hoặc cho các dự án bé Sau đay là một số chỉ tiêu hiệu quả chủ yếu:
a Phương pháp so sánh theo chỉ tiêu chi phí
Theo phương án này phương án tốt nhất là phương án có chi phí tính cho một đơn vị sản phẩm (Cđ) là bé nhất:
C đ = (K.V c R c +V l R l +C n ) min
Trong đó:
N: Năng suất năm của phương án
Vc: Vốn đầu tư cho tài sản cố định của phương án
Vl: Vốn lưu động trung bình hàng năm của dự án
Rc: lãi suất vay vốn lưu động ( nếu là vốn tự có thì nó sẽ là lãi suất để tính thiệt hại do ứ đọng vốn)
Cn: Chi phí sản xuất hàng năm, bao gồm các chi phí bất biến và chi phí khả biến, nhưng không gồm chi phí trả lãi vốn vay cho tài sản cố định và vốn lưu động
K: Hệ số chỉ mức vốn vay cho tài sản cố định trung bình phải chịu lãi hàng năm ( hay nói chung cho một thời đoạn nào đó như tháng, quý, khi đó lãi suất Rc phải thay đổi cho phù hợp với tháng hay quý) Ở đây, nếu giả dự là áp dụng phương pháp khấu hao đều đặn, các khoản khấu hao thu được khi bán hàng (và chưa đem trả nợ) được đưa vào vòng quay kinh doanh ngay với lãi suất cũng bằng Rc thì K bằng giá trị khác Nếu số tiền khấu hao thu được chỉ đợi đến cuối năm sẽ đem trả nợ thì:
2
n n
với n là thời hạn khấu hao
Ưu điểm của phương pháp so sánh theo chỉ tiêu chi phí:
- Tính toán đơn giản hơn so với các phương pháp khác
- Ít chịu ảnh hưởng bằng các quy luật cung cầu của thị trường đầu ra của sản phẩm, vì trong tính toán không phản ánh trực tiếp chỉ tiêu lợi nhuận, do đó kết quả so sánh có thể phản ánh đúng bản chất ưu việt của phương án kỹ thuật về mặt kinh tế hơn
Trang 20- Thích hợp với so sánh các phương án nhỏ và khi chúng chỉ khác nhau về chi phí
Nhược điểm của phương án so sánh theo chỉ tiêu chi phí là:
- Chỉ tính toán cho một năm nên không phản ánh được tình hình biến động của các chỉ tiêu theo dòng thời gian
- Không phản ánh được kết quả đầy đủ của cả đời dự án
- Không phản ánh được hiện tượng trượt giá theo thời gian
- Không phản ánh giá trị sản lượng của dự án và kết quả tính ra không được so sánh với một ngưỡng hiệu quả tối thiểu cho phép, không phản ánh chỉ tiêu lợi nhuận, một chỉ tiêu cơ bản của hiệu quả tài chính
- Chỉ cho kết quả so sánh trùng với khi dùng phương pháp so sánh theo chỉ tiêu lợi nhuận khi giá cả sản phẩm của các phương án bằng nhau
b Phương pháp so sánh theo chỉ tiêu lợi nhuận
Như đã trình bày ở trên, phương pháp so sánh theo chỉ tiêu chi phí chỉ phù hợp kkhi giá cả sản phẩm của các phương án giống nhau, trong khi đó thực tế giá cả sản phẩm của phương án thường khác nhau do chất lượng sản phẩm và quan hệ cung cầu khác nhau Do đó nảy sinh phương pháp so sánh theo chỉ tiêu lợi nhuận, theo đó phương án tốt nhất đạt được khi nó thỏa mãn điều kiện sau:
Ld = Gd – Cd max Trong đó:
Ld: Lợi nhuận của một sản phẩm
Gd: Giá bán một sản phẩm
Cd: Giá thành một sản phẩm
Những ưu điểm của phương pháp so sánh phương án theo chỉ tiêu lợi nhuận là:
- Tính toán tương đối đơn giản so với các phương pháp khác
- Có thể tính đến nhân tố giá trị sản lượng và do đó phù hợp với một trường hợp thường xảy ra trong thực tế là giá trị sản phẩm của các phương án có thể khác nhau hay quan hệ cung cầu khác
- Phản ánh được nhân tố lợi nhuận, một chỉ tiêu hiệu quả thường được các nhà kinh doanh quan tâm nhất
Nhược điểm của phhương pháp này là:
- Chỉ tính toán cho một năm, do đó không phản ánh được sự biến động của các chỉ tiêu theo thời gian
- Không phản ánh được kết quả của cả đời dự án
Trang 21- Không phản ánh được tình hình trượt giá qua các năm
- Không được so sánh với một ngưỡng hiệu quả tối thiểu chấp nhận được
- Chịu sự tác động của quan hệ cung cầu, do đó phương án có cùng một giải pháp kỹ thuật lại có thể có khoản thu lợi khác nhau do quan hệ cung cầu tác động ở các địa phương khác nhau hay thời gian khác nhau Do đó bản chất ưu việt về mặt kinh tế của phương án kỹ thuật bị bóp méo
- Phuơng pháp này chỉ phù hợp khi các phuơng án có số vốn đầu tư ban đầu bằng nhau hay xấp xỉ nhau, vì nó chưa xem xét vấn đề trong mối quan hệ giữa lợi nhuận và vốn đầu tư bỏ ra ban đầu
b Phương pháp so sánh theo chỉ tiêu mức doanh lợi của đồng vốn đầu tư
Theo phương pháp này phương án đang xét được coi như có hiệu quả khi điều kiện sau đây được đảm bảo
D: Mức doanh lợi của đồng vốn đầu tư
L: Lợi nhuận ròng hàng năm cộng với tiền trả lãi hàng năm cho vốn vay
để đầu tư được trích từ lợi nhuận, với giả định là doanh nghiệp phải đi vay vốn
để đầu tư Trị số L có thể tính cho một năm đại điện hay ước tính trung bình cho
Trong trường hợp đầu tư tiếp vào phương án hiện có thì các chỉ tiêu L
Vo, Vm ở công thức trên được tính theo dạng gia số với phương án cũ
Trong trường hợp đầu tư cho biện pháp hợp lý hóa sản xuất hiện có chỉ tiêu L còn được thay bằng chỉ tiêu tiết kiệm chi phí (hạ giá thành) giữa hai phương án
Ưu điểm của phương pháp này là:
- Tính toán tương đối đơn giản
- Gắn liền chỉ tiêu lợi nhuận với chỉ tiêu vốn đầu tư ra ban đầu, hiệu quả được
Trang 22thể hiện ở dạng tương đối nên mức hiệu quả được biểu diễn chính xác hơn
- Phản ánh được chỉ tiêu hiệu quả mà các nhà kinh doanh thường quan tâm
- Hiệu quả được tính ra có thể so với một ngưỡng hiệu quả cho phép
Những nhược điểm của phương án:
- Chỉ tính toán một năm không phản ánh được sự biến động của các chỉ tiêu theo thời gian
- Không phản ánh đầy dủ kết quả của cà đời dự án
- Không phản ánh được tình hình trượt giá theo thời gian
- Vì phải dùng chỉ tiêu lợi nhuận để tính toán nên chịu ảnh hưởng của quy luật cung cầu
- Một phương án có chỉ tiêu doanh lợi của đồng vốn D lớn nhất nhưng lại có chỉ tiêu lợi nhuận tính theo số tuyệt đối bé hơn thì chưa chắc đã là phương án tốt nhất Trong trường hợp này người ta thường chọn phương án có chỉ tiêu lợi nhuận theo số tuyệt đối lớn nhất, còn chỉ tiêu mức doanh lợi chỉ cần lớn hơn một ngưỡng hiệu quả cho phép
c Phương pháp so sánh theo chỉ tiêu thời hạn thu hồi vốn
* Thời hạn thu hồi vốn đầu tư nhờ lợi nhuận hàng năm
Chỉ tiêu này về thực chất là số nghịch đảo của chỉ tiêu mức doanh lợi của một đồng vốn đầu tư được tính theo công thức:
Tl =
V
L n min (2.4) Trong đó:
V: Vốn đầu tư của phương án
Ln: Lợi nhuận ròng hàng năm sau khi trả lãi vốn vay và thuế, tính cho năm đại diện hay ước lượng trung bình
* Thời hạn thu hồi vốn đầu tư nhờ lợi nhuận và khấu hao cơ bản hàng năm Khi đó ta có:
Ln: Lợi nhuận ròng hàng năm
Kn: Khấu hao cơ bản hàng năm
Nếu trị số Ln và Kn không đều đặn, trị số Tlk được xác định bằng cách trừ dần giữa trị số V và trị số Ln + Kn
Trang 23Nếu vốn đầu tư bị bỏ ra nhiều đợt thì cách tính trị số Tlk cũng tương tự nhự trường hợp a
Trị số V thường còn phải trừ đi một giá trị thu hồi khi thánh lý tài sản Phương án tốt nhất là phương án có Tlk bé nhất
Những ưu điểm của phương pháp:
- Tính toán tương đối đơn giản so với nhiều phương pháp khác
- Cho phép chủ đầu tư bảo đàm được tính an toàn của dự án, tránh được các rủi
ro của nền kinh tế thị trường thông qua việc thu hồi vốn
- Với các dự án lớn của các nước đang phát triển vốn đầu tư xây dựng vừa có phần do Nhà nước tự bỏ ra và vừa có phần phải đi vay theo Luật Thương mại, với phần vốn vay này chỉ tiêu thời hạn hoàn vốn đóng một vai trò quan trọng
Những nhược điểm của phương án:
- Trong trường hợp chỉ tiêu khấu hao cơ bản và lợi nhuận được coi là đều đặn đã không chú ý đến ự biến đọng của các chỉ tiêu thời gian cho cà đời dự án
- Trong thực tế người ta phải kế hợp hai mục tiêu lợi nhuận và an toàn kinh doanh, trong đó chỉ tiêu thời hạn hoàn vốn được dùng với tư cách là một chỉ tiêu bổ sung quan trọng Tuy nhiên chỉ tiêu thời hạn hoàn vốn không bao giờ được sử dụng một mình, vì chỉ tiêu này không đảm bảo mục tiêu cơ bản của kinh doanh là lợi nhuận, đồng thời còn bỏ qua thời gian sau khi hoàn vốn trong phép tính
1.2.2 Phương pháp dùng nhóm chỉ tiêu động
Các chỉ tiêu động là các chỉ tiêu có tính chất biến động theo thời gian trong cả đời dự án
Trang 24Chỉ xét trong trường hợp thị trường vốn hoàn hảo Như ta đã biết, một thị trường vốn hoàn hảo nó chung thường bao gồm các đặc trung chủ yếu như: không có hiện tượng độc quyền, mọi phía tham gia thị trường đều hướng tới lợi nhuận tối đa của mình, tính thông suốt của thị trường và mọi người đáp ứng với tình hình thị trường với một tốc độ vô cùng lớn
Một thị trường vốn được coi là hoàn hảo khi nó được bảo đảm các điều kiện sau đây:
Nhu cầu về vốn luôn luôn được thỏa mãn và không bị một hạn chế nào về khả năng cấp vốn
Lãi suất phải trả khi vay vốn và lãi suất nhận được khi cho vay vốn phải bằng nhau
Tính thông suất phải trả khi vay vốn và lãi suất nhận được khi cho vay vốn phải bằng nhau
Tính thông suất của thị trường vốn về mọi mặt được đàm bảo
1.2.2.1 Phương pháp dùng chỉ tiêu hiệu số thu chi
a Phương pháp dùng chỉ tiêu hiệu số thu chi được quy về thời điểm hiện tại
Chỉ tiêu hiệu số thu chi được quy về thời điểm hiện tại (NPW), còn được gọi là hiện giá của hiệu số thu chi, hiện giá thu nhập ròng Chỉ tiêu này là số thu nhập ròng sau khi đã trừ đi mọi chi phí và thiệt hại, kể cả chi phí để trả lãi vốn vay ở mức lãi suất tối thiểu, ở đây, mọi chỉ tiêu thu chi đều được quy về thời điểm hiện tại Công thức tính toán như sau:
Bt : Khoản thu ở năm thứ t
Ct: Khoản chi ở năm thứ t
n: Tuổi thọ của phương án đầu tư
r: Suất thu lợi tối thiểu chấp nhận được do chủ đầu tư tự định đoạt xuất phát
từ lãi suất của đồng vốn trên thị trường và ý đồ kinh doanh của mình
Ta thấy khi Bt là doanh thu và Ct là chi phí vận hành thì hiệu số Bt – Ct sẽ bao gồm có lợi nhuận (đã trừ thuế nhưng chưa trừ lãi vốn vay) và khấu hao cơ bản
Trang 25Như vậy thực chất của các chỉ tiêu NPW là hiệu số giữa các khoản thu bao gồm: lợi nhuận, khấu hao, giá trị thu hồi khi đào thải tài sản và các khoản chi là vốn đầu tư
bị bỏ ra ở các thời điểm với điều kiện là tốt nhất của các khoản thu chi này đều được quy về thời điểm đầu Khoản lợi nhuận ở đây đã trừ thuế nhưng chưa trừ lãi vốn vay Khi vốn đầu tư của dự án do nhiều nguồn vốn vay hợp thành với các lãi suất khác nhau người ta còn dùng phương pháp bình quân gia quyền để dự định lãi suất trung bình cho mọi nguồn vốn để làm cơ sở xác định số r Nói chung, phương pháp xác định trị số r rất phức tạp và có nhiều quan điểm tính toán khác nhau
Để tính đến trượt giá các chỉ tiêu Bt và Ct phải tăng theo phần trăm trượt giá dựa trên dự báo thống kê kinh nghiệm, đồng thời chỉ tiêu r cũng phảo được điều chỉnh có tính đến trượt giá và lạm phát
- Nếu vốn dầu tư bỏ ra ban đầu là V0, giá trị thu hồi khi thanh lý là H thì NPW được tính theo công thức sau:
- Nếu vốn đầu tư bỏ ra thành nhiều đợt trong suốt đời của dự án thì NPW được tính như sau:
* Xác định sự đáng giá (có hiệu quả) của mỗi phương án
Theo phương pháp này một phương án được coi là đáng giá khi điều kiện sau đây được thỏa mãn:
NPW = ∑
* Lựa chọn phương án tốt nhất
Trang 26- Điều kiện để so sánh và lựa chọn phương án:
+ Tuổi thọ của các phương án bằng nhau, nếu tuổi thọ các phương án khác nhau thì phải lấy tuổi thọ chung của các phương án tính bằng bội số chung nhỏ nhất của các tuổi thọ
+ Chỉ so sánh giữa các phương án đáng giá
Khi lựa chọn phương án nào đó không đảm bảo các điều kiện thì phải loại ra khỏi quá trình tính toán Trong các phương án đáng giá còn lại ta sẽ chọn lấy phương
án tốt nhất theo điều kiện sau:
NPW = max
Cần phải chú ý rằng chỉ tiêu NPW phụ thuộc rất nhiều vào độ lớn của mỗi chỉ tiêu ở mỗi thời điểm, vào sự phân bố các chỉ tiêu về độ lớn theo dòng thời gian và vào trị số của suất thu lợi tối thiểu r đã được lựa chọn để tính toán Khi mọi điều kiện giữ nguyên chỉ có trị số r thay đổi thì trị số NPW sẽ càng bé đó khi trị số r tăng lên Do đó
có thể kết luận: tùy theo độ lớn của chỉ tiêu suất thu lợi tối thiểu r được lựa chọn mà một phương án có thể là đáng giá (khi NPW dương) hay không đáng giá (khi NPW âm) Trị số r có mối liên hệ rất chặt chẽ với đọ rủi ro dự tính của dự án đầu tư, vì vậy việc lựa chọn đúng trị số r là một điều rất khó khan và rất quan trọng
Khi áp dụng chỉ tiêu NPW để so sánh phương án cần phải đảm bảo các điều kiện cho tính có thể so sánh của phương án như sau:
Thời gian tính toán phân tích của phương án bị so sánh phải bằng nhau.Vốn đầu tư của các phương án so sánh phải như nhau
Các ưu điểm của phương pháp dùng chỉ tiêu NPW:
- Có tính đến sự biến động của các chỉ tiêu theo thời gian, tính toán hiệu qua bao trùm cho cả đời dự án
- Có tính đến giá trị tiền tệ theo thời gian
- Có tính đến trượt giá và lạm phát thông qua việc điều chỉnh các chỉ tiêu Br,
Cr, r
- Có thể tính đến nhân tố rủi ro tùy theo mức độ tăng giảm chỉ tiêu suất thu lợi tối thiểu r
- Kết hợp được hai chỉ tiêu: lợi nhuận và an toàn
- Có thể so sánh các phương án có vốn đầu tư khác nhau mà không cần tính toán điều chỉnh
- Tính toán tương đối đơn giản hơn so với chỉ tiêu động khác, và là cơ sở để tính toán nhiều chỉ tiêu động khác
- Là chỉ tiêu ưu tiên khi chọn phương án tốt nhất
Các nhược điểm của phương pháp dùng chỉ tiêu NPW:
Trang 27- Nó chỉ đảm bảo kết quả chính xác trong điều kiện thị trường vốn hoàn hảo, một điều khó đảm bảo trong thực tế
- Khó dự báo chính xác các chỉ tiêu cho cả đời dự án
- Kết quả lựa chọn phương án phụ thuộc rất nhiều vào độ lớn của chỉ tiêu suất thu lợi tối thiểu r, việc xác định chỉ tiêu này rất phức tạp
- Thường nâng đỡ các phương án có vốn đầu tư nhỏ và ngắn hạn
- Hiệu quả tính toán ra là hiệu quả tính toán theo số tuyệt đối và không được biểu diễn dưới dạng số tương đối, chỉ tiêu NPW chỉ nói rõ là phương án đã đạt mức lãi suất tối thiểu r (khi NPW # 0) nhưng không nói rõ mức lãi suất đã đạt được cụ thể la bao nhiêu như chỉ tiêu IRR
b Phương pháp dùng chỉ tiêu hiện số thu chi quy về thời điểm tương lai cuối đời dự án
Chỉ tiêu này thường được kí hiệu là NFW Ý nghĩa của nó tương tự như chỉ tiêu NPW nhưng các chỉ tiêu được quy về cuối đời dự án
n t t
* Xét sự đáng giá của phương án
Theo phương pháp này một chỉ tiêu được coi là đáng giá khi điều kiện sau được đảm bảo
- Điều kiện so sánh lựa chọn phương án:
+ Tuổi thọ của các phương án bằng nhau Nếu các phương án có tuổi thọ khác
Trang 28nhau thì phải lấy tuổi thọ chung của các phương án bằng bội số chung nhỏ nhất của các tuổi thọ
+ Chỉ so sánh giữa các phương án đáng giá
Để lựa chọn phương án tốt nhất ta tìm trong số các phương án đáng giá một phương án cho trị số NFW = max
* Hệ quả rút ra từ công thức tính toán NFW
Từ công thức tính toán NFW cũng có thể tìm ra thời hạn hoàn vốn theo chỉ tiêu động Thời hạn hoàn vốn là trị số n trong công thức tính trị số NFW mà nó cho trị số này bằng không Kết quả tính toán ở đây cũng cho cùng một kết quả như khi dùng chỉ tiêu NPW
* Ưu nhược điểm của phương pháp
Theo phương pháp dùng chỉ tiêu NFW cũng có các nhược điểm tương tự như phương pháp NPW, vì công thức tính toán của chúng đều gồm các thành phần giống nhau, chỉ có một điều kiện khác nhau là chỉ tiêu NPW thì quy các chỉ tiêu về thời điểm đầu, còn chỉ tiêu NFW lại các chỉ tiêu về thời điểm cuối
c Phương pháp dùng chỉ tiêu hiệu số thu chi san đều hàng năm
Chỉ tiêu hiệu số thu chi đều hàng năm thường được kí hiệu là NAW Người ta có thể dùng chỉ tiêu NPW hay NPW để san đều nhưng trong thực tế thường dùng chỉ tiêu NPW để san đều
Các bước tính toán cũng giống như khi áp dụng chỉ tiêu NPW hay NFW, chỉ có điều khác nhau là khi dùng chỉ tiêu NAW người ta không cần phải bảo đảm điều kiện thời gian tính toán phân tích của các phương án là như nhau
* Xác định sự đáng giá của các phương án:
Trường hợp thứ nhất: Khi các trị số thu chi Bt và Ct không đều đặn hàng năm, khi đó một phương án được coi là đáng giá nếu điều kiện sau được thỏa mãn:
NAW = NPW
0
Trường hợp thứ hai: Trong trường hợp này các chỉ tiêu Bt và Ct là đều đặn, khi
đó một phương án được coi là đáng giá khi:
NAW = B td – C td – K 0
Trong đó:
Btd:Trị số thu đều đặn hàng năm
Ctd: Trị số chi đều đặn hàng năm