1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp nâng cao tính tuân thủ trong kê khai, nộp thuế của doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh sóc trăng,luận văn thạc sỹ quản trị kinh doanh

126 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giải pháp nâng cao tính tuân thủ trong kê khai, nộp thuế của doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng
Tác giả Đại Hoàng Trọng
Người hướng dẫn TS. Trần Đức Thung
Trường học Trường đại học Giao thông Vận Tải
Chuyên ngành Quản trị kinh doanh
Thể loại Luận văn thạc sỹ
Năm xuất bản 2013
Thành phố TP.HCM
Định dạng
Số trang 126
Dung lượng 1,17 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những yếu tố này, đặt ra bài toán lớn đối với cơ quan Thuế trong việc đảm bảo sự tuân thủ thuế của doanh nghiệp, vì các doanh nghiệp thường có các biểu hiện mang tính tuân thủ thấp như:

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIAO THÔNG VẬN TẢI

_

ĐÁI HOÀNG TRỌNG

GIẢI PHÁP NÂNG CAO TÍNH TUÂN THỦ TRONG

KÊ KHAI, NỘP THUẾ CỦA DOANH NGHIỆP

TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH SÓC TRĂNG

LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN TRỊ KINH DOANH

TP.HCM - 2013

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIAO THÔNG VẬN TẢI

_

ĐÁI HOÀNG TRỌNG

GIẢI PHÁP NÂNG CAO TÍNH TUÂN THỦ TRONG

KÊ KHAI, NỘP THUẾ CỦA DOANH NGHIỆP

TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH SÓC TRĂNG

Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh

Mã số: 60.34.05

LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN TRỊ KINH DOANH

CÁN BỘ HƯỚNG DẪN: TS TRẦN ĐỨC THUNG

TP.HCM - 2013

Trang 3

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THUẾ VÀ TÍNH TUÂN THỦ

TRONG KÊ KHAI, NỘP THUẾ CỦA DOANH NGHIỆP

04

1.1.1 Sơ lược lịch sử hình thành các sắc thuế 04

1.1.5 Một số điểm mới trong Luật quản lý thuế 18 1.2 Doanh nghiệp nộp thuế và tính tuân thủ trong kê khai, nộp thuế 20 1.2.1 Khái niệm về người nộp thuế (doanh nghiệp) và các loại thuế

doanh nghiệp phải nộp

Trang 4

1.2.2.2 Vai trò và tác dụng của việc tuân thủ trong kê khai, nộp

thuế

26

1.3 Công tác quản lý thuế ở nước ta trong những năm gần đây 32

1.3.1 Tác động của Luật Quản lý thuế 32

1.3.2 Những thành tựu của công tác quản lý thuế 34

1.3.3 Những hạn chế, yếu kém của công tác quản lý thuế 35 1.4 Kinh nghiệm một số nước trong việc nâng cao tính tuân thủ trong kê

khai, nộp thuế của người nộp thuế (doanh nghiệp)

37

1.4.1 Kinh nghiệm của Cơ quan thu nội địa Vương quốc Anh 37 1.4.2 Kinh nghiệm của Cục thu nội địa Singgapore (IRAS) 38 1.4.3 Kinh nghiệm của các quốc gia trong hiệp hội nghiên cứu

và quản lý thuế châu Á (SGATAR)

39

1.4.4 Những kết quả đạt được từ việc học tập kinh nghiệm của

các nước được áp dụng tại Việt Nam

41

Chương 2: THỰC TRẠNG VIỆC KÊ KHAI, NỘP THUẾ CỦA CÁC

DOANH NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH SÓC TRĂNG

43

2.1 Đặc điểm kinh tế, xã hội của tỉnh Sóc Trăng 40

2.1.2 Đặc điểm tự nhiên và các tiềm năng kinh tế xã hội 44

2.1.2.3 Tài nguyên về Thủy sản, biển 45

2.1.2.5 Tiềm năng về nguồn nhân lực 47 2.1.2.6 Tổng sản phẩm của tỉnh (GDP) 47 2.1.2.7 Số liệu một số ngành kinh tế chủ yếu khác 50 2.2 Giới thiệu tổng quan về Cục Thuế tỉnh Sóc Trăng 52 2.2.1 Chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức quản lý, cơ cấu lao động

của Cục Thuế Sóc Trăng

52

Trang 5

2.2.1.1.Vài nét về hệ thống thuế tỉnh Sóc Trăng 52

2.2.2 Kết quả thu thuế của Cục Thuế trong một số năm gần đây 56 2.3 Thực trạng kê khai, nộp thuế các doanh nghiệp tỉnh Sóc Trăng 57 2.3.1 Cơ cấu doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng 57 2.3.2 Đánh giá việc kê khai, nộp thuế của các doanh nghiệp trên địa

bàn tỉnh Sóc Trăng

58

2.3.2.1 Tình hình tuân thủ việc đăng ký thuế của doanh nghiệp 60 2.3.2.2 Tình hình việc tuân thủ kê khai thuế của doanh nghiệp 63 2.3.2.3 Tình hình việc tuân thủ trong nộp thuế của doanh

Chương 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO TÍNH TUÂN THỦ TRONG KÊ

KHAI, NỘP THUẾ CỦA DOANH NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH

3.2.3 Cơ chế chính sách có liên quan đến nộp và xử lý nợ thuế 108

Trang 6

3.2.3.1 Xây dựng cơ chế chính sách rõ ràng và đồng bộ, giảm

bớt thủ tục hành chính, tạo điều kiện thuận lợi cho người nộp thuế

trong việc thực hiện các thủ tục gia hạn nộp thuế, xóa nợ thuế Cụ

thể:

108

3.2.3.2 Hoàn thiện các phần mềm ứng dụng, các quy trình

quản lý để theo dõi chính xác, đầy đủ các khoản nợ tiền thuế, tiền

Trang 7

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BCTC: Ứng dụng Báo cáo Tài chính doanh nghiệp

CNTT: Công nghệ thông tin

DNNN: Doanh nghiệp nhà nước

DN ĐTNN: Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

DN NQD: Doanh nghiệp ngoài quốc doanh (dân doanh)

ĐTNN: Đầu tư nước ngoài

GDP: Tổng sản phẩm quốc nội

GTGT: Giá trị gia tăng

HTKK: Ứng dụng Hỗ trợ Kê khai thuế bằng mã vạch

HDI: Chỉ số phát triển con người

HDR: Báo cáo phát triển con người

IRAS: Cục Thu nội địa Singapore

KIOSK: Ứng dụng tra cứu thông tin thuế

NTK: Ứng dụng nhận tờ khai mã vạch

OECD: Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế

QHS: Ứng dụng nhận trả hồ sơ thuế theo cơ chế “một cửa”

QLT-TKN: Ứng dụng Quản lý thuế doanh nghiệp

QTN: Ứng dụng Quản lý thu nợ

QTT: Ứng dụng phân tích tình trạng thuế

TDTT: Ứng dụng trao đổi số thu Kho bạc – Thuế

TINC: Ứng dụng Đăng ký thuế cấp Cục

TINCC: Ứng dụng Đăng ký thuế cấp Chi cục

TTR: Ứng dụng hỗ trợ thanh tra, kiểm tra

TNDN: Thu nhập doanh nghiệp

TTĐB: Tiêu thụ đặc biệt

Trang 8

VATCC: Ứng dụng Quản lý thuế

DANH MỤC CÁC BẢNG

SỐ HIỆU

1.1: Nguyên tắc khai thuế, tính thuế theo Luật Quản lý thuế 24

1.2: Hồ sơ khai thuế và loại hồ sơ khai thuế phải khai theo Luật

Quản lý thuế

25

1.3: Thời hạn nộp hồ sơ khai thuế theo Luật Quản lý thuế 26

2.2: Tốc độ tăng trưởng GDP của tỉnh Sóc Trăng giai đoạn 1992 –

2011

48

2.4: Số liệu tăng trưởng công nghiệp 1992 – 2011 (theo giá cố

định 1994)

51

2.6: Số lượng biên chế hiện có năm 2010 – 2011 53

2.7: Tình hình thực hiện thu Ngân sách Nhà nước qua 02 năm 56

2.8: Số lượng doanh nghiệp phát sinh trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng 57

2.9: Số lượng doanh nghiệp và hộ kinh doanh nộp thuế ở tỉnh Sóc

Trăng (2010 – 2011)

59

2.10: Tình hình tuân thủ đăng ký thuế (2009 – 2011) 62

2.11: Tình hình nộp hồ sơ khai thuế (2009 – 2011) 64

2.12: Tình hình nộp hồ sơ khai thuế quá hạn (2009 – 2011) 65

2.13: Tình hình nợ thuế thời điểm 31/12 hàng năm (2009 – 2011) 67

2.14: Số lượng doanh nghiệp nộp thuế nợ thuế (2009 – 2011) 69

2.15: Báo cáo kết quả thực hiện công tác Thanh tra (2010 – 2011) 70

2.16: Tỷ lệ nộp hồ sơ khai thuế phải điều chỉnh 71

Trang 9

2.17: Kết quả hoạt động tuyên truyền (2009 – 2011) 78

DANH MỤC CÁC BẢNG

SỐ HIỆU

2.19: Kết quả kiểm tra tại trụ sở người nộp thuế (2010 – 2011) 84

2.20: Tình hình xử lý vi phạm về khai thuế năm 2011 87

3.1: Số lượng công chức ở các bộ phận chức năng 93

Trang 10

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ

Sơ đồ 1.1: Mô hình quản lý tính tuân thủ của người nộp thuế 31

Hình 2.1: Tốc độ tăng trưởng GDP của tỉnh Sóc Trăng giai đoạn

1992 – 2011

48

Hình 2.2: Trình độ công chức thuế năm 2010 – 2011 53

Hình 2.3: Tỷ trọng loại hình doanh nghiệp năm 2011 58

Hình 2.4: Kết quả phân loại nợ thuế (2009 – 2011) 89

Trang 11

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các

số liệu và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực

Tôi đã hoàn thành tất cả các học phần trong chương trình đào tạo Sau Đại học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính với Nhà trường theo quy định của Khoa Vận tải Kinh tế và Bộ môn Quản trị Kinh doanh trường Đại học Giao thông Vận tải

Vậy tôi viết Lời cam đoan này kính đề nghị Khoa Vận tải Kinh tế; Trưởng Bộ môn Quản trị Kinh doanh và Hội đồng xét duyệt tư cách bảo vệ tốt nghiệp bộ môn Quản trị Kinh doanh trường Đại học Giao thông Vận tải xem xét để tôi có thể bảo

Trang 12

PHẦN MỞ ĐẦU

I Tính cấp thiết của đề tài

Thuế là một bộ phận quan trọng nhất của Ngân sách Nhà nước, góp phần to lớn vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước Một hệ thống thuế có hiệu lực và hiệu quả là mục tiêu quan trọng của mọi quốc gia Điều này không chỉ phụ thuộc vào những chính sách thuế hợp lý mà còn phụ thuộc rất lớn vào hoạt động quản lý thu thuế của Nhà nước

Tuy nhiên, quản lý thu thuế đối với doanh nghiệp trong tình hình hiện nay đang đối mặt với nhiều thách thức khác nhau tạo ra sức ép ngày càng tăng đối với nhiệm vụ thu thuế của Nhà nước Một trong những thách thức lớn, đó là sự đa dạng hành vi tuân thủ thuế của doanh nghiệp Phức tạp hơn khi hành vi tuân thủ thuế của doanh nghiệp lại chịu ảnh hưởng của nhiều biến số khác nhau Những yếu tố này, đặt ra bài toán lớn đối với cơ quan Thuế trong việc đảm bảo sự tuân thủ thuế của doanh nghiệp, vì các doanh nghiệp thường có các biểu hiện mang tính tuân thủ thấp như: Kinh doanh nhưng không tiến hành thủ tục đăng ký thuế; Không nộp hoặc nộp không đúng hạn nộp hồ sơ khai thuế; Không nộp hoặc nộp không đúng hạn tiền thuế vào Ngân sách Nhà nước; Cố tình trốn thuế, gian lận thuế… tình trạng trên hiện đang diễn ra khá phổ biến

Trong khi nguồn lực cho quản lý thu thuế nói chung hiện nay là rất hạn hẹp,

sự phức tạp từ các doanh nghiệp ngày một tăng dẫn đến nhiều khó khăn hơn đối với

cơ quan Thuế trước sức ép phải tăng thu Ngân sách Nhà nước hàng năm để đảm bảo nhu cầu chi tiêu cho một xã hội đang phát triển Đây là khó khăn lớn mà Ngành Thuế Việt Nam nói chung và Cục Thuế tỉnh Sóc Trăng nói riêng cần phải vượt qua

Trong bối cảnh hành vi và đặc điểm của doanh nghiệp ngày càng cần phải đạt được mục tiêu tuân thủ cao nhất, đặc biệt là sự tuân thủ tự nguyện của doanh

nghiệp Từ những lý do trên, tác giả quyết định chọn đề tài: “Giải pháp nâng cao tính tuân thủ trong kê khai, nộp thuế của doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng”

Trang 13

II Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

- Mục tiêu tổng quát

Mục tiêu nghiên cứu của Luận văn là phân tích, đánh giá và tổng hợp những

cơ sở lý thuyết, cơ sở kinh nghiệm và cơ sở thực tiễn, đề xuất các giải pháp nâng cao tính tuân thủ trong kê khai, nộp thuế của doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng

- Mục tiêu cụ thể

(1) Hệ thống hóa và làm rõ hơn cơ sở lý luận về thuế và tính tuân thủ thuế của doanh nghiệp

(2) Làm rõ thực trạng việc tuân thủ thuế của doanh nghiệp

(3) Đề xuất các giải pháp cơ bản trong quản lý thu thuế đối với doanh nghiệp

III Đối tượng nghiên cứu

Quản lý thu thuế của Nhà nước đối với các doanh nghiệp thuộc Cục Thuế quản lý (không bao gồm các hộ kinh doanh cá thể)

IV Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung

+ Luận văn chỉ tập trung vào nghiên cứu quản lý nhà nước đối với hoạt động thu thuế nội địa như: Thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế môn bài…, dưới sự quản lý của Tổng cục Thuế, Cục Thuế, không bao gồm sự quản lý các khoản thuế quan dưới sự quản lý của cơ quan Hải quan

+ Luận văn sử dụng chủ yếu số liệu thứ cấp từ cơ quan quản lý thu thuế trên địa bàn

- Về không gian: Luận văn được nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng

- Về thời gian: Đề tài tiến hành nghiên cứu từ năm 2009 đến năm 2011, do

đó số liệu, thông tin phản ánh trong thời gian 03 năm (2009-2011)

V Phương pháp nghiên cứu

Để đạt mục tiêu nghiên cứu của đề tài, luận văn sử dụng phương pháp tiếp cận phân tích hệ thống và phân tích đặc điểm tuân thủ thuế của các doanh nghiệp trong đăng ký khai thuế, nộp thuế làm cơ sở cho việc đề ra các giải pháp nâng cao

Trang 14

tính tuân thủ trong kê khai, nộp thuế của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng Cụ thể, luận văn sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau như:

- Phương pháp tiếp cận phân tích hệ thống để phân tích đặc điểm tuân thủ thuế và hệ thống các yếu tố tác động đến sự tuân thủ thuế của doanh nghiệp; Phân tích hệ thống quản lý thu thuế của Nhà nước đối với doanh nghiệp và những yếu tố tác động đến quản lý thu thuế của Nhà nước đối với doanh nghiệp

- Phương pháp thống kê, so sánh, đánh giá để rút ra những ưu, nhược điểm

và nguyên nhân của công tác quản lý thu thuế hiện nay

VI Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, kết cấu của luận văn gồm

Trang 15

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THUẾ VÀ TÍNH TUÂN THỦ TRONG KÊ

KHAI, NỘP THUẾ CỦA DOANH NGHIỆP

1.1 Giới thiệu tổng quan về thuế

1.1.1 Sơ lược lịch sử hình thành các sắc thuế[31]

Lịch sử nước ta mặc dù đã hình thành từ rất lâu nhưng cho đến tận thể kỷ XI, đời vua Trần Thái Tông (1225 - 1237) thì việc đánh thuế mới được hình thành một cách có tổ chức và có hệ thống Ngược dòng lịch sử, chúng ta tìm hiểu khái quát về chế định thuế hình thành và phát triển trong lịch sử Nhà nước và pháp luật Việt Nam

* Chế định thuế dưới thời phong kiến:

Ngay từ thời phong kiến, các cấp lãnh đạo dưới chế độ quân chủ đã biết tổ chức hệ thống thu thuế để làm nguồn thu cho công quỹ của nhà Vua Tuy vậy từ các triều đại nhà Trần trở về sau này, sự tổ chức, cách đánh thuế và thu thuế mới được ghi chép và có hệ thống

* Chế định thuế dưới triều đại nhà Trần:

Thuế ở nước ta được hình thành từ đời nhà Trần, rõ rệt nhất là vào thời vua Trần Thái Tông Theo sử sách ghi nhận vào thời nhà Trần có 2 loại thuế chính được

áp dụng đó là thuế thân và thuế điền:

Thuế thân: Căn cứ vào diện tích ruộng mà đánh thuế Ai có một, hai mẫu ruộng thì phải đóng 1 quan tiền/1 năm; ai có 4 mẫu thì đóng 2 quan; ai có 5 mẫu trở lên thì đóng 3 quan; ai không có mẫu nào thì không phải đóng thuế

Thuế điền (thuế ruộng): Đóng bằng thóc Một mẫu ruộng tư thì chủ điền phải đóng 100 thăng thóc Còn ruộng công thì: đối với ruộng quốc khố thì hạng nhất mỗi mẫu đánh thuế 6 thạch, hạng nhì mỗi mẫu 4 thạch, hạng ba mỗi mẫu 3 thạch; đối với thác điền (ruộng thưởng cho quan lại có công): hạng nhất mỗi mẫu đánh thuế 1 thạch thóc; hạng nhì 3 mẫu lấy 1 thạch; hạng ba 4 mẫu lấy 1 thạch Với ruộng ao thì mỗi mẫu lấy 3 thăng thóc thuế Ruộng muối thì phải đóng bằng tiền

Trang 16

* Chế định thuế dưới triều đại nhà Hồ:

Từ thời nhà Trần việc đóng thuế đã trở thành lệ và hầu như không thay đổi đáng kể vào thời nhà Hồ Chỉ có quy định tăng hạn ngạch thuế thân: Cứ 2 mẫu 6 sào trở lên thì đóng 3 quan tài tiền mặt một năm

* Chế định thuế dưới triều đại nhà Lê:

Ngoài thuế ruộng (thuế điền), còn đặt thêm thuế đất (thổ), thuế đất bãi trồng dâu nuôi tằm

* Chế định thuế dưới thời chúa Trịnh:

Ngoài việc duy trì các loại thuế như trước, Chúa Trịnh ở miền Bắc còn đặt ra thêm các loại thuế khác như:

Thuế Mỏ (khai thác hầm mỏ), thuế Đò (lệ phí giao thông), thuế Chợ, thuế Thổ sản có thể xem như thuế Tài nguyên bây giờ

Thuế Tuần tuy: Đánh vào các thuyền buôn

Thuế Muối: Tăng thuế muối cao hơn thời nhà Trần

Thuế Thổ sản: Như vàng, bạc, đồng, kẽm, tre, gỗ, tơ, lụa

* Chế định thuế dưới thời Chúa Nguyễn:

Ở miền Nam, ngoài thuế điền, thuế mỏ, chúa Nguyễn đặt ra thêm thuế xuất cảng, nhập cảng đánh vào các tàu buôn ngoại quốc cập bến và dời bến

* Chế định thuế dưới thời nhà Nguyễn:

Thời vua gia Long: Bên cạnh việc quy định lại các loại thuế như thuế thân, thuế điền, vua Gia Long còn đặt ra các loại thuế mới như:

• Thuế sản vật: Đánh vào cây quế (đánh vào việc khai thác cây quế ở rừng),

ai đóng thuế sản vật cây quế thì được miễn trừ thuế thân

• Thuế Yến: Đánh vào khai thác yến sào, ai nộp thuế yến thì được tha việc binh lính

• Thuế hương liệu, thuế sâm, thuế gỗ tất cả nộp bằng tiền hoặc sản vật

• Ðịnh lại thuế đánh vào các tàu bè ngoại quốc ra vào buôn bán

• Thuế mỏ

Thời vua Minh Mạng: Chế độ thuế vẫn duy trì như thời vua Gia Long

Trang 17

Thời vua Thiệu Trị: Chính sách thuế vẫn như thời vua Minh Mạng

Thời vua Tự Ðức: Có thêm thuế nha phiến đánh vào việc bán thuốc phiện

Sử sách đã ghi nhận một số triều đại được coi là tiến bộ (Lý, Trần, Lê Sơ): Ngoài việc giữ nước, mở mang kinh tế, phát triển dân trí và xây dựng một nền văn hóa có bản sắc dân tộc còn theo đuổi một số chính sách thuế hợp lòng dân, nêu được các mẫu mực về việc sử dụng chi tiêu công theo quan điểm phục vụ quốc kế dân sinh, lợi ích nước nhà

Có thể nhận xét rằng, hệ thống thuế trong các triều đại phong kiến ở nước ta

có đặc điểm chung là thiếu những chuẩn mực về đạo lý và pháp lý cần thiết, đáp ứng về cơ bản và lâu dài ý chí và lợi ích của nhân dân Việc thu thuế và sử dụng công quỹ trong rất nhiều trường hợp lại do các bậc Vua chúa toàn quyền quyết định, không phải dựa trên các suy nghĩ chín chắn mà xuất phát từ ý thích hoặc tính khí thay đổi rất thất thường của mình

Bên cạnh chế độ trung ương tập quyền rất gò bó, lịch sử còn ghi nhận tình trạng “phép Vua thua lệ làng” đã hình thành từ rất lâu ở các địa phương mà hậu quả tất yếu là đẻ ra một chế độ thuế hà khắc, một tầng lớp quan lại nhũng nhiễu với nhân dân trong hàng ngàn năm qua Kết cục bi thảm nhưng đầy lôgic đã xảy ra như

là một tất yếu lịch sử không thể đảo ngược: Chế độ phong kiến suy tàn vào cuối thế

kỷ XIX, để lại một đất nước kém mở mang rơi vào sự thống trị của chủ nghĩa thực dân Pháp

* Chế định thuế dưới thời Pháp thuộc:

Cơ chế Tài chính do Pháp thiết lập ở Ðông Dương đầu thế kỷ XX không nằm ngoài mục đích bao trùm là vơ vét của cải của thuộc địa Dưới thời Pháp thuộc, thuế được huy động vào hệ thống ngân sách thuộc địa gồm nhiều tầng nấc, nhưng chúng lại không được chuyển thành nguồn tài trợ cho sự phát triển của xã hội mà lại được chuyển về chính quốc, theo đúng mục tiêu của chủ nghĩa thực dân

Chính phủ thuộc địa Pháp đặt ra các thuế ngoại ngạch tức là loại thuế gián thu như thuế tiêu thụ thuốc lá, thuế rượu, thuế muối, thuế đoan (thuế quan); thuế

Trang 18

trực thu thì có thuế môn bài, thuế thổ trạch Hệ thống ngân sách của nhà nước thuộc địa bao gồm:

Ngân sách Ðông Dương và các ngân sách phụ thuộc của nó là: Ngân sách đặc biệt về tiền vay nợ và ngân sách riêng của sở hỏa xa

Ngân sách các xứ bên trong liên bang: Bắc kỳ, Trung kỳ, Nam kỳ, Cao miên,

Ai lao và Quảng Châu văn

Ngân sách các tỉnh và thành phố

Ngân sách xã ở các làng

Trên thực tế, thì một hệ thống ngân sách như vậy đã thể hiện như một hệ thống cực kỳ phản động, mang tính chất bóc lột và vơ vét Nhưng chính nó đã tạo tiền đề quan trọng dẫn đến cuộc tổng khởi nghĩa tháng 8/1945, chấm dứt ách đô hộ của chế độ thực dân Pháp tồn tại gần 100 năm

* Chế định thuế thời kỳ sau Cách mạng tháng tám năm 1945 đến năm 1975:

- Giai đoạn từ sau Cách mạng tháng 8 đến năm 1954:

Sau khi cách mạng tháng 8 thành công, Chính phủ ta chủ trương bãi bỏ hẳn sắc thuế mang tính chất phi nhân đạo như: Thuế thân, thuế thổ trạch ở thôn quê và một số tạp thuế vô lý; miễn thuế điền thổ cho vùng bị lụt và giảm thuế điền 20% trong toàn quốc; đình chỉ thu thuế ở miền Nam

Sau năm 1946, Nhà nước một mặt bắt đầu cải tiến chế độ thuế, tăng thuế suất nhiều loại thuế; Mặt khác, vẫn tiếp tục dựa vào những đóng góp mới như: Quỹ

“tham gia kháng chiến” năm 1949, Quỹ “Công lương” và thuế điền thổ Ngoài ra, Chính phủ cũng vận động nhân dân vay dưới hình thức công trái, đồng thời còn dựa vào nguồn phát hành tiền tệ

Ðến năm 1951, bên cạnh việc thống nhất quản lý tài chính Nhà nước, Chính phủ còn ban hành chính sách pháp luật thuế mới được xây dựng trên nguyên tắc: công bằng, thích hợp với hoàn cảnh kinh tế - xã hội và điều kiện chiến tranh Chính sách pháp luật thuế thống nhất bao gồm 7 loại thuế là:

+ Thuế nông nghiệp;

+ Thuế công thương nghiệp;

Trang 19

- Giai đoạn từ năm 1954 đến năm 1975:

Ðây là giai đoạn mà nền Tài chính đứng trước nhiều thuận lợi và thử thách mới Một mặt, Việt Nam đã đánh đuổi thực dân Pháp ra khỏi bờ cõi một cách vĩnh viễn, nhưng mặt khác, đất nước lại bị chia cắt Sau hiệp định Geneve, Chính phủ chỉ lần lượt ban hành các loại Luật thuế mới trên cơ sở sửa đổi, bổ sung các chế độ thuế

đã ban hành từ năm 1951 ở vùng tự do cũ để áp dụng thống nhất, bao gồm 12 loại thuế sau:

+ Thuế doanh nghiệp;

+ Thuế hàng hóa;

+ Thuế sát sinh;

+ Thuế buôn chuyến;

+ Thuế thổ trạch;

+ Thuế kinh doanh nghệ thuật;

+ Thuế môn bài;

+ Thuế trước bạ;

+ Thuế muối;

+ Thuế rượu;

+ Thuế xuất nhập khẩu và chế độ thu quốc doanh

Trong thời kỳ cải tạo xã hội chủ nghĩa, thuế công thương nghiệp được sửa đổi đáng kể: Từ một hệ thống thuế tương đối ít chuyển sang một hệ thống với nhiều hình thức thuế khác nhau, áp dụng trên nhiều khâu của quá trình sản xuất, lưu thông

Trang 20

hàng hóa, sử dụng nhiều loại thuế suất khác nhau có sự phân biệt giữa các ngành nghề sản xuất, kinh doanh, phân biệt kinh tế tập thể và tư nhân và nhiều biện pháp

ưu đãi khác nhau

Trong thời kỳ thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, Nhà nước đã áp dụng thí điểm chế độ thu mới gọi là thu quốc doanh Mức thu quốc doanh được xác định riêng cho từng mặt hàng tùy theo giá cả Nhà nước quy định và chỉ thu ở khâu sản xuất Năm 1962, Nhà nước còn ban hành chế độ trích nộp và sử dụng lợi nhuận của các xí nghiệp

Theo chế độ này, lợi nhuận của các doanh nghiệp quốc doanh phải trích nộp một phần vào Ngân sách Nhà nước; phần lợi nhuận còn lại, doanh nghiệp được dùng để lập quỹ doanh nghiệp, bổ sung kinh phí chuyên dùng, đầu tư một phần vào việc mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và bổ sung vốn lưu động Các doanh nghiệp công tư hợp doanh trong thời kỳ này được chuyển sang làm nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước như các doanh nghiệp quốc doanh, có nghĩa là phải nộp thu quốc doanh và lợi nhuận chứ không phải nộp thuế như trước Chế độ thuế này được duy trì ở miền Bắc cho đến ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước

- Giai đoạn từ năm 1975 đến năm 1990:

+ Thời kỳ 1975 - 1980:

Trong thời kỳ này, miền Bắc vẫn tiếp tục thực hiện hệ thống pháp luật thuế

đã ban hành từ trước, có sửa đổi cho phù hợp với tình hình mới Còn miền Nam thì

có áp dụng một số loại thuế cũ của chính quyền Sài Gòn trên cơ sở xóa bỏ một số loại thuế phản tiến bộ và sửa đổi bổ sung để thích ứng với điều kiện đất nước thống nhất

+ Thời kỳ 1980 -1990:

Trong thời kỳ này, cả nước áp dụng hệ thống pháp luật thuế thống nhất, nhưng hệ thống pháp luật thuế hiện hành này ngày càng tỏ ra có nhiều nhược điểm, cản trở sự phát triển các yếu tố của nền kinh tế thị trường đang nảy sinh với các đặc điểm:

Trang 21

• Sự phân biệt đối xử giữa các thành phần kinh tế Doanh nghiệp quốc doanh thì thực hiện chế độ thu quốc doanh, thu trích nộp lợi nhuận cùng với các hình thức thu khác, trong khi các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác lại chịu sự tác động của thuế

• Thu quốc doanh đã bộc lộ nhiều nhược điểm căn bản Về thực chất, đây là một loại thuế đa thuế suất với hàng trăm thuế suất; điều này đặc biệt gây khó khăn cho việc quản lý và hành thu

- Giai đoạn từ 1990 đến nay:

Từ giữa những năm 1980, cùng với công cuộc đổi mới và mở cửa nền kinh

tế, hệ thống pháp luật thuế Việt Nam đã được nghiên cứu và đến năm 1990 một hệ thống pháp luật thuế mới được hình thành, bao gồm hệ thống chính sách pháp luật thuế và hệ thống quản lý Nhà nước về thuế Giai đoạn này được đặc trưng bởi sự hình thành một hệ thống pháp luật thuế hoàn chỉnh nhất từ trước đến nay, bao gồm

9 loại thuế:

+ Thuế nông nghiệp;

+ Thuế doanh thu;

+ Thuế tiêu thụ đặc biệt;

+ Thuế lợi tức;

+ Thuế xuất nhập khẩu (mậu dịch và phi mậu dịch);

+ Thuế tài nguyên;

+ Thuế thu nhập;

+ Thuế nhà đất;

+ Thuế vốn (khoản thu về sử dụng vốn ngân sách Nhà nước)

Ngoài ra còn có một số phí và lệ phí có tính chất như thuế như: lệ phí môn bài, lệ phí trước bạ, lệ phí giao thông, thuế sát sinh

Tuy nhiên, so với yêu cầu nhiệm vụ, yêu cầu phát triển kinh tế và thực tiễn hiện nay hệ thống chính sách thuế vẫn còn bộc lộ một số khuyết điểm Để khắc phục các tồn tại, khuyết điểm, tạo tiền đề đưa nước ta sang giai đoạn mới Quốc hội

đã có Nghị quyết thực hiện cải cách thuế bước II Nhằm phát huy nội lực nâng cao

Trang 22

hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam một cách rõ ràng, cụ thể, sâu sắc, hòa nhập với kinh tế khu vực và thế giới Theo đó đã sửa đổi, bổ sung một số luật thuế như: Thuế giá trị gia tăng thay cho thuế doanh thu; thuế thu nhập thay cho thuế lợi tức…

1.1.2 Khái niệm và đặc điểm của thuế

- Khái niệm thuế:

Lịch sử phát triển của xã hội loài người đã chứng minh thuế ra đời là cần thiết khách quan gắn liền với sự ra đời, tồn tại và phát triển của Nhà nước[26] Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có quan điểm thống nhất về khái niệm thuế Mặc dù còn nhiều khái niệm khác nhau nhưng các nhà kinh tế đều nhất trí cho rằng, để làm

rõ được bản chất của thuế thì khái niệm về thuế phải nêu bật được các khía cạnh sau đây[18]:

Thứ nhất, nội dung kinh tế của thuế được đặc trưng bởi các quan hệ tiền tệ giữa Nhà nước với các pháp nhân và thể nhân, không mang tính hoàn trả trực tiếp;

Thứ hai, những mối quan hệ dưới dạng tiền tệ này được nảy sinh một cách khách quan và có ý nghĩa xã hội đặc biệt, việc chuyển giao thu nhập có tính chất bắt buộc theo mệnh lệnh Nhà nước;

Thứ ba, các pháp nhân và thể nhân chỉ phải nộp cho Nhà nước các khoản đã được pháp luật quy định

Từ những nội dung trên, có thể đưa ra một khái niệm tổng quát về thuế phù

hợp với giai đoạn hiện nay như sau: Thuế là một khoản nộp bằng tiền mà các thể

nhân và pháp nhân có nghĩa vụ bắt buộc phải thực hiện theo Luật đối với Nhà nước; không mang tính chất đối khoản, không hoàn trả trực tiếp cho người nộp thuế và dùng để trang trãi cho các nhu cầu chi tiêu công cộng

- Đặc điểm của thuế:

+ Thuế là một khoản trích nộp bằng tiền[26]:

Theo phương thức đánh thuế trong nền kinh tế thị trường, về nguyên tắc thuế

là một khoản trích nộp dưới hình thức tiền tệ, khác với hình thức nộp thuế bằng hiện vật đã tồn tại từ thời xa xưa hoặc khác với chế độ giao nộp sản phẩm trong nền kinh

Trang 23

tế thị trường Chính sự phát triển của hoạt động trao đổi hàng hóa bằng tiền đã làm cho thuế phát triển và ngược lại, việc bắt buộc nộp các khoản thuế bằng tiền đã góp phần thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế thị trường bằng cách đòi hỏi người nộp thuế trong trường hợp không có tiền phải đổi những tài sản hiện vật của mình ra thành tiền để thanh toán nợ thuế

Tuy nhiên, hình thức trả thuế bằng hiện vật cũng không hoàn toàn mất đi trong hệ thống chính sách thuế đương đại

+ Thuế luôn gắn liền với quyền lực Nhà nước[26]:

Đặc điểm này thể hiện tính pháp lý tối cao của thuế Thuế là nghĩa vụ cơ bản của công dân đã được quy định trong Hiến pháp – đạo luật gốc của Quốc gia Việc ban hành, sửa đổi, bổ sung, hay bãi bỏ bất kỳ một thứ thuế nào cũng chỉ có một cơ quan duy nhất có thẩm quyền, đó là Quốc hội – cơ quan quyền lực Nhà nước tối cao

Mặt khác, tính quyền lực của Nhà nước cũng thể hiện ở chổ Nhà nước không thể thực hiện thu thuế một cách tùy tiện mà phải dựa trên những cơ sở pháp luật nhất định đã được xác định trong các văn bản pháp luật do cơ quan quyền lực Nhà nước ban hành

Đây là đặc trưng cơ bản nhất của thuế nhằm phân biệt với tất cả các hình thức động viên tài chính cho Ngân sách Nhà nước khác

+ Thuế luôn gắn liền với thu nhập[26]:

Đặc điểm này thể hiện rõ nội dung kinh tế của thuế Nhà nước thực hiện phương thức phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân dưới hình thức thuế, mà kết quả của nó là một bộ phận thu nhập của người nộp thuế được chuyển giao bắt buộc cho Nhà nước mà không kèm theo bất kỳ một sự cấp phát hoặc những quyền lợi nào khác cho người nộp thuế Với đặc điểm này, thuế không giống như các hình thức huy động tài chính tự nguyện hoặc hình thức phạt tiền tuy có tính chất bắt buộc, nhưng chỉ áp dụng đối với những tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật

Trang 24

+ Thuế là hình thức chuyển giao thu nhập không mang tính chất hoàn trả trực tiếp và được sử dụng để đáp ứng chi tiêu công cộng[26]:

Tính chất này được thể hiện trên các khía cạnh:

Thứ nhất, sự chuyển giao thu nhập thông qua thuế không mang tính chất đối

giá, nghĩa là mức thuế mà các tầng lớp trong xã hội chuyển giao cho Nhà nước không hoàn toàn dựa trên mức độ người nộp thuế thừa hưởng những dịch vụ, hàng hóa công cộng do Nhà nước cung cấp Người nộp thuế không có quyền đòi hỏi Nhà nước cung cấp hàng hóa, dịch vụ công cộng trực tiếp cho mình mới nộp thuế cho Nhà nước

Thứ hai, các khoản thuế đã nộp cho Nhà nước sẽ không được hoàn trả trực

tiếp cho người nộp thuế Người nộp thuế sẽ nhận được một phần các hàng hóa, dịch

vụ công cộng mà Nhà nước đã cung cấp cho cả cộng đồng, phần giá trị mà người nộp thuế được thụ hưởng không nhất thiết tương đồng với khoản thuế mà họ đã nộp cho Nhà nước Đặc điểm này của thuế giúp ta phân định rõ thuế với các khoản phí,

lệ phí và giá cả

Khái niệm chi tiêu công cộng ngày nay không chỉ được hiểu theo nghĩa bó hẹp trong các khoản chi tiêu cho việc duy trì bộ máy Nhà nước Trên thực tế, Nhà nước hiện nay còn thực hiện nhiều chức năng kinh tế, xã hội, văn hóa…và tất yếu các hoạt động này cũng chỉ được chi trả bằng thuế

1.1.3 Các chức năng của thuế

- Chức năng huy động tập trung nguồn lực tài chính hay chức năng phân phối thu nhập:

Đây là chức năng cơ bản của thuế, đặc trưng cho thuế ở tất cả các dạng Nhà nước, trong tiến trình phát triển của xã hội Về mặt lịch sử, chức năng huy động tập trung nguồn lực tài chính là chức năng đầu tiên, phản ánh nguyên nhân sự ra đời của thuế

Thông qua chức năng huy động tập trung nguồn lực tài chính của thuế mà các quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước được hình thành, để đảm bảo cơ sở vật chất cho sự tồn tại và hoạt động của Nhà nước Chính chức năng này đã tạo ra những

Trang 25

tiền đề để Nhà nước tiến hành tham gia phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm

xã hội và thu nhập quốc dân Do đó chức năng này còn được gọi là chức năng phân phối của thuế

Chức năng huy động tập trung nguồn lực tài chính tạo ra những tiền đề khách quan cho sự can thiệp của Nhà nước vào nền kinh tế Trong quá trình thực hiện chức năng huy động tập trung nguồn lực tài chính của thuế đã tự động làm xuất hiện chức năng điều tiết vĩ mô nền kinh tế của thuế

- Chức năng điều tiết:

Điều tiết kinh tế: Nhà nước thực hiện quản lý, điều tiết vĩ mô nền kinh tế - xã

hội bằng nhiều biện pháp, trong đó biện pháp kinh tế làm gốc Nhà nước cũng sử dụng nhiều công cụ để quản lý điều tiết vĩ mô nền kinh tế như các công cụ tài chính, tiền tệ, tín dụng Trong đó, thuế là một công cụ thuộc lĩnh vực tài chính sắc bén nhất được Nhà nước sử dụng để điều tiết vĩ mô nền kinh tế Bằng việc ban hành hệ thống pháp luật về thuế, Nhà nước quy định đánh thuế hoặc không đánh thuế, đánh thuế với thuế suất cao hoặc thuế suất thấp, có chính sách ưu đãi miễn, giảm thuế Thông qua đó mà tác động và làm thay đổi mối quan hệ giữa cung và cầu trên thị trường góp phần thực hiện điều tiết vĩ mô nền kinh tế, đảm bảo sự cân đối trong cơ cấu kinh tế giữa các ngành nghề và vùng lãnh thổ

Ngoài ra, Nhà nước còn sử dụng thuế để tác động trực tiếp lên các yếu tố đầu vào của sản xuất như lao động, vật tư, tiền vốn nhằm điều tiết hoạt động kinh tế trong cả nước Nhà nước cũng sử dụng thuế để tác động vào hoạt động xuất nhập khẩu nhằm thực hiện chính sách thương mại quốc tế và hội nhập quốc tế

Điều tiết tiêu dùng: Nhà nước hướng dẫn tiêu dùng có thể bằng nhiều biện

pháp kể cả hành chính, xã hội và kinh tế Tuy nhiên, giải pháp hữu hiệu nhất có thể

áp dụng trong một đất nước cởi mở, dân chủ theo nền kinh tế thị trường là áp dụng chính sách thuế Việc áp dụng các mức thuế gián thu phân tầng như thuế nhập khẩu, thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt… sẽ làm giảm cầu đối với những hàng hóa, dịch vụ mà Nhà nước cho là cần hạn chế hoặc nên ưu đãi Điều cần chú ý là tránh phân biệt đối xử với hàng hóa, dịch vụ trong và ngoài nước kể cả trên việc áp

Trang 26

dụng thuế xuất nhập khẩu hay thuế nội địa, vì việc này vi phạm các cam kết quốc tế khi đã tham gia hội nhập

Điều tiết xã hội: Sự phân hóa giàu nghèo trong một nền kinh tế hội nhập sẽ

có nguy cơ diễn ra cao hơn, sự phân hóa này về lâu dài vẫn duy trì và mở rộng, cho

dù thu nhập tuyệt đối của toàn xã hội được nâng cao Đây chính là động lực để người lao động cải thiện kỹ năng và nâng cao trình độ tay nghề, nhưng cũng chính

là nguyên nhân tạo ra những hố ngăn cách xã hội Thực hiện chính sách công bằng theo quan điểm cào bằng sẽ làm triệt tiêu động lực làm việc của người lao động, ngược lại sẽ làm cho mâu thuẫn xã hội ngày càng tăng cao, ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của đất nước Trong bối cảnh đó, thuế mà đặc biệt là các loại thuế thu nhập giữ vai trò quan trọng trong việc thực hiện công bằng và làm giảm khoảng cách phân hóa giàu nghèo

1.1.4 Các yếu tố cấu thành một sắc thuế

- Tên gọi của sắc thuế:

Mỗi sắc thuế đều có một tên gọi nhằm phân biệt giữa các hình thức thuế khác nhau, đồng thời phản ánh những tính chất chung nhất của hình thức thuế đó Trong nhiều trường hợp, tên gọi của sắc thuế đã hàm chứa nội dung, mục đích và phạm vi điều chỉnh của sắc thuế đó[18]

- Đối tượng nộp thuế:

Trong một Luật thuế bao giờ cũng quy định cụ thể ai phải nộp thuế và người

đó được gọi là đối tượng nộp thuế

Đối tượng nộp thuế có thể là thể nhân hoặc pháp nhân mà được pháp luật xác định có trách nhiệm phải nộp thuế cho Nhà nước Người có trách nhiệm trả thuế theo pháp luật quy định không nhất thiết là người phải chịu thuế Trong nhiều trường hợp người có trách nhiệm trả thuế cũng chính là người chịu thuế[18]

- Đối tượng chịu thuế:

Khách thể chịu sự điều chỉnh của một sắc thuế chính là đối tượng được đưa

ra để đánh thuế Nói một cách khác, khách thể của một sắc thuế chính là cơ sở tính thuế hay đối tượng chịu thuế

Trang 27

Cần phân biệt giữa đối tượng chịu thuế và đối tượng bị đánh thuế Đối tượng chịu thuế của một loại thuế là người phải trả khoản thuế đó Còn đối tượng bị đánh thuế là cơ sở để áp dụng và tính thuế đó Luật thuế hiện hành của Việt Nam thường đồng nhất giữa đối tượng chịu thuế và đối tượng bị đánh thuế

Vì vậy, đối tượng chịu thuế thường được xác định là thu nhập, hàng hóa hay tài sản Do đó, tùy theo mục đich và tính chất của hàng hóa hoặc giá trị của tài sản Mỗi một sắc thuế có một đối tượng chịu thuế riêng Đối tượng chịu thuế thường được tính trên một đơn vị giá trị hoặc một đơn vị vật lý[18]

- Cơ sở tính thuế:

Luật thuế quy định thuế phải nộp vào Ngân sách Nhà nước được xác định trên các căn cứ nhất định Những căn cứ dùng để xác định số thuế phải nộp của một loại thuế cho từng đối tượng nộp thuế được gọi là cơ sở thuế hoặc căn cứ tính thuế của loại thuế đó Cơ sở thuế của một loại thuế thường gồm các yếu tố sau:

+ Đối tượng tính thuế: Đối tượng tính thuế là loại hàng hóa, dịch vụ hoặc

một yếu tố khác có thể đo lường được như: Độ ồn, độ ô nhiễm… Mỗi loại thuế có một đối tượng tính thuế riêng

+ Giá tính thuế: Trong việc xác định cơ sở thuế, giá tính thuế cũng được quy

định cụ thể Giá tính thuế được quy định để xác định giá trị tính thế của hàng hóa, dịch vụ Thông thường giá tính thuế được quy định là giá chưa có loại thuế đó của hàng hóa, dịch vụ Tuy nhiên, tùy theo tính chất của từng loại thuế mà trong giá tính thuế của loại này có thuế của loại kia, hoặc giá tính thuế là giá bán ra hay giá mua vào, hoặc có kèm theo các khoản phụ thu được hưởng hay không[18]

Trang 28

Vì vậy, việc xác định thuế suất hay định suất thuế trong một sắc thuế phải quán triệt quan điểm vừa coi trọng lợi ích quốc gia, vừa chú ý đến lợi ích thích đáng của người nộp thuế, giải quyết tốt mối quan hệ giữa tập trung và tích tụ trong việc

sử dụng công cụ thuế

Mức thuế được thể hiện dưới hai hình thức: Mức tuyệt đối và mức tương đối + Mức thuế tuyệt đối (hay còn gọi là định suất thuế) là mức thuế được tính bằng số tuyệt đối theo một đơn vị vật lý của đối tượng chịu thuế

+ Mức thuế tương đối (hay còn gọi là thuế suất) là mức thuế được tính bằng một tỷ lệ phần trăm trên một đơn vị giá trị đối tượng chịu thuế Tùy theo sắc thuế

mà người ta áp dụng các phương pháp đánh thuế khác nhau tương ứng với nhiều mức nộp thuế, thông thường có bốn loại mức thuế sau:

Mức thuế thống nhất là mức nộp thuế cố định như nhau cho tất cả đối tượng

chịu thuế Loại mức thuế này không phụ thuộc vào cơ sở tính thuế

Mức thuế ổn định là mức nộp thuế được quy định theo một tỷ lệ nhất định

như nhau trên cơ sở tính thuế Dù cơ sở tính thuế cao thấp khác nhau thì người nộp thuế cũng chỉ phải nộp mức thuế theo tỷ lệ ổn định

Mức thuế lũy tiến là mức thuế phải nộp tăng (hoặc giảm) theo mức tăng

(hoặc giảm) của cơ sở tính thuế Mức thuế lũy tiến bao gồm thuế suất lũy tiến toàn phần và thuế suất lũy tiến từng phần

Mức thuế lũy thoái là mức thuế suất có tính chất người lại với mức thuế lũy

tiến, tức là mức thuế giảm dần trong khi cơ sở đánh thuế lại tăng dần

- Miễn, giảm thuế:

Một số sắc thuế có quy định cho phép người nộp thuế không phải thực hiện nghĩa vụ nộp toàn bộ số tiền thuế mà người đó phải nộp cho Nhà nước (gọi là miễn thuế) hoặc chỉ nộp một phần số tiền thuế đó (gọi là giảm thuế) Miễn thuế, giảm thuế chỉ là yếu tố ngoại lệ được quy định trong một số sắc thuế [18]

Việc quy định việc miễn thuế, giảm thuế là nhằm mục đích:

Trang 29

- Tạo điều kiện giúp đỡ người nộp thuế khắc phục hoàn cảnh khó khăn do nguyên nhân khách quan làm giảm thu nhập hoặc ảnh hưởng đến các hoạt động kinh tế của mình

- Thực hiện một số chủ trương chính sách kinh tế - xã hội của Nhà nước nhằm khuyến khích hoạt động của người nộp thuế như khuyến khích xuất khẩu, khuyến khích đầu tư vào các ngành nghề trọng điểm, địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn…

Tuy nhiên thực hiện việc miễn thuế, giảm thuế cũng có tính hai mặt của nó, bởi nó chứa đựng những yếu tố tích cực là tạo điều kiện thực hiện các chính sách kinh tế - xã hội của Nhà nước, nhưng cũng chứa đựng các yếu tố tiêu cực là có thể làm méo mó tính công bằng của một sắc thuế

1.1.5 Một số điểm mới trong Luật quản lý thuế[30]

Để đảm bảo tính pháp lý cho việc thực hiện cơ chế người nộp thuế tự tính, tự khai, tự nộp thuế và tự chịu trách nhiệm trước pháp luật Luật đã xác định đầy đủ trách nhiệm, quyền hạn của các chủ thể tham gia quản lý thuế, nhất là các tổ chức,

cá nhân có liên quan

Quyền hạn và trách nhiệm của người nộp thuế: Luật đã quy định các nghĩa

vụ cơ bản của người nộp thuế là đăng ký và sử dụng mã số thuế, khai thuế, nộp thuế, cung cấp và lưu giữ thông tin liên quan đến việc xác định nghĩa vụ thuế

Trong đó, điểm nổi bậc là quy định người nộp thuế có nghĩa vụ thực hiện khai thuế, nộp thuế theo cơ chế tự khai – tự nộp

Để tạo điều kiện cho người nộp thuế thực hiện nghĩa vụ, Luật đã quy định các quyền của người nộp thuế, trong đó có các quyền: Được hướng dẫn thực hiện pháp luật thuế, được cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến việc thực hiện nghĩa

vụ thuế; yêu cầu cơ quan quản lý thuế giải thích việc tính thuế, ấn định thuế; yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giám định chất lượng, chủng loại hàng hóa xuất khẩu; yêu cầu cơ quan quản lý thuế giữ bí mật thông tin; ký hợp đồng với tổ chức kinh doanh dịch vụ thay mặt mình làm các thủ tục về thuế

Trang 30

Trách nhiệm và quyền hạn của cơ quan quản lý thuế: Để nâng cao tính tuân

thủ pháp luật của người nộp thuế, Luật đã nhấn mạnh chức năng tuyên truyền, hỗ

trợ người nộp thuế, công khai minh bạch các thủ tục và thời hạn giải quyết hồ sơ thuế, gắn trách nhiệm của cơ quan thuế, công chức quản lý thuế trong việc tiếp nhận

và giải quyết hồ sơ Quy định cụ thể quy trình tiếp nhận, xử lý hồ sơ thuế, trường hợp hồ sơ không hợp lệ phải thông báo cho người nộp thuế biết để hoàn thiện Thực hiện quy trình tiếp nhận, xử lý hồ sơ theo cơ chế một cửa, ấn định rõ thời gian giải quyết từng loại hồ sơ thuế, đồng thời quy định trách nhiệm xây dựng hệ thống thông tin về người nộp thuế làm căn cứ cho việc phân loại, đánh giá mức độ tuân thủ; Quy định trách nhiệm kiểm tra thuế, thanh tra thuế; cưỡng chế nộp thuế; xử phạt hành chính đối với hành vi vi phạm pháp luật thuế

Trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan: Xuất phát từ

quan điểm tiền thuế phục vụ lợi ích chung của toàn xã hội, do đó mọi tổ chức, cá nhân và cộng đồng phải có trách nhiệm cùng tham gia quản lý thuế, Luật Quản lý thuế đã quy định cụ thể trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan như Hội đồng Nhân dân, Ủy ban Nhân dân các cấp; Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Cơ quan thông tin, báo chí; Các cơ quan quản lý Nhà nước

Cải cách thủ tục hành chính thuế theo nguyên tắc đơn giản, rõ ràng, minh bạch, nhằm nâng cao trách nhiệm, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người nộp thuế Thể hiện ở các nội dung: Quy định rõ các loại giấy tờ của từng loại hồ sơ thuế; Thống nhất thời hạn nộp hồ sơ khai thuế phù hợp với từng loại thuế, đồng thời gắn với thời hạn nộp thuế; Mở rộng thời hạn nộp hồ sơ khai thuế tháng, đổi mới việc khai thuế thu nhập doanh nghiệp quý; Gia hạn thời gian khai thuế, nộp thuế đối với trường hợp người nộp thuế không có khả năng đúng hạn do thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn bất ngờ Khi phát hiện hồ sơ khai thuế có sai sót, người nộp thuế được khai bổ sung hồ sơ khai thuế và không bị phạt vi phạm hành chính về các lỗi sai sót này

Luật Quản lý thuế còn mở rộng các hình thức giao dịch làm thủ tục về thuế như khai thuế điện tử, nộp tiền thuế theo hình thức chuyển khoản… tạo điều kiện

Trang 31

cho người nộp thuế có thể hoàn thành nghĩa vụ với nhà nước mọi lúc, mọi nơi, không bị bó hẹp trong thời hạn giờ làm việc hành chính của cơ quan thuế

Đối với số tiền thuế nộp thừa hoặc số tiền thuế thuộc diện được hoàn, người nộp thuế được quyền lựa chọn hoặc yêu cầu cơ quan thuế làm thủ tục hoàn trả ngay, hoặc để bù trừ cho số thuế phải nộp của lần nộp tiếp theo

Quy định khung pháp lý cho hoạt động của tổ chức kinh doanh dịch vụ làm thủ tục về thuế (đại lý thuế) Đây là loại hình doanh nghiệp có điều kiện, được thành

lập và hoạt động theo quy định của Luật Doanh nghiệp, thực hiện các thủ tục về thuế theo thỏa thuận trong hợp đồng dịch vụ Phạm vi các hoạt động dịch vụ bao gồm khai thuế, nộp thuế, quyết toán thuế, lập hồ sơ đề nghi số thuế được miễn, được giảm, được hoàn theo quy định của pháp luật Tổ chức làm dịch vụ chịu trách nhiệm với người nộp thuế theo nội dung thỏa thuận trong hợp đồng theo pháp luật dân sự

Quy định về sự bình đẳng giữa cơ quan thuế với người nộp thuế Nếu cơ

quan thuế làm chậm các thủ tục, dẫn đến thiệt hại cho người nộp thuế thì phải đền

bù thiệt hại cho người nộp thuế Nếu công chức thuế tiết lộ các thông tin của người nộp thuế (vi phạm quy định về bảo mật thông tin) thì phải chịu trách nhiệm về thiệt hại gây ra cho người nộp thuế

1.2 Doanh nghiệp nộp thuế và tính tuân thủ trong kê khai, nộp thuế

1.2.1 Khái niệm về người nộp thuế (doanh nghiệp) và các loại thuế doanh nghiệp phải nộp

* Khái niệm về người nộp thuế: Theo Luật Quản lý thuế hiện hành[9], người

nộp thuế là khái niệm để chỉ các thể nhân hoặc pháp nhân được pháp luật xác định

có trách nhiệm phải nộp thuế cho Nhà nước, bao gồm:

- Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân nộp thuế, phí, lệ phí hoặc các khoản thu khác thuộc Ngân sách Nhà nước theo quy định của pháp luật về thuế

- Tổ chức được giao nhiệm vụ thu phí, lệ phí thuộc Ngân sách Nhà nước

- Tổ chức, cá nhân khấu trừ thuế, gồm: Tổ chức, cá nhân là bên Việt Nam ký hợp đồng với tổ chức, cá nhân nước ngoài kinh doanh tại Việt Nam không theo quy

Trang 32

định của pháp luật về đầu tư và không thực hiện chế độ kế toán Việt Nam; Tổ chức,

cá nhân khấu trừ thuế khi chi trả thu nhập cho người có thu nhập thuộc diện nộp thuế thu nhập cá nhân; Tổ chức làm đại lý tàu biển, đại lý cho các hãng vận tải nước ngoài có trách nhiệm khấu trừ thuế thu nhập doanh nghiệp đối với hoạt động kinh doanh vận chuyển hàng hóa bằng tàu biển từ các cảng biển Việt Nam ra nước ngoài hoặc giữa các cảng biển Việt Nam;

- Tổ chức kinh doanh dịch vụ làm thủ tục về thuế (đại lý thuế)

Như vậy, người nộp thuế có trách nhiệm trực tiếp nộp thuế cho Nhà nước, có thể là trực tiếp lấy thu nhập của mình hoặc lấy thu nhập từ đối tượng khác hoặc được ủy quyền để nộp thuế Người nộp thuế có thể chỉ kê khai và nộp một loại thuế, song cũng có người nộp thuế, trong cùng một thời gian có thể kê khai và nộp nhiều loại thuế khác nhau

* Các loại thuế doanh nghiệp phải nộp:

Sau khi tiến hành đăng ký kinh doanh và được cấp đăng ký kinh doanh, cấp

mã số thuế, doanh nghiệp thường phải nộp những loại thuế theo quy định sau:

- Thuế môn bài: Mỗi năm nộp 1 lần tuỳ theo mức vốn điều lệ, đối với năm

đầu tiên còn tuỳ thuộc vào thời điểm thành lập, nếu sau thời điểm 30/06 chỉ phải nộp 1/2 mức thuế theo biểu thuế của năm

Mức thuế môn bài quy đinh theo khung nhƣ sau:

+ Bậc 1: 3 triệu (Vốn đăng ký là trên 10 tỉ);

+ Bậc 2: 2 triệu (Vốn đăng ký là từ 5 – 10 tỉ);

+ Bậc 3: 1.5 triệu (Vốn đăng ký là từ 2 đến 5 tỉ);

+ Bậc 4: 1 triệu (Vốn đăng ký là dưới 2 tỉ).

- Thuế giá trị gia tăng: Là loại thuế gián thu do người tiêu dùng chịu thông

qua việc trả tiền mua hàng hóa, dịch vụ Người sản xuất kinh doanh chỉ là người nộp thay người tiêu dùng Với tư cách là người bán hàng, các nhà sản xuất kinh doanh sẽ cộng số thuế giá trị gia tăng vào giá bán rồi thu số thuế đó từ người mua hàng (cùng với giá bán) và nộp thuế giá trị gia tăng đã thu vào Ngân sách Nhà nước

Trang 33

Khi đi mua hàng hóa về kinh doanh hoặc mua nguyên liệu, vật liệu về sản xuất, người kinh doanh với tư cách là người mua hàng cũng phải trả cho người bán hàng tổng số tiền gồm có giá mua hàng và thuế giá trị gia tăng Nhưng khi bán hàng

ra họ sẽ thu số thuế giá trị gia tăng ở người mua hàng, đồng thời được khấu trừ số thuế giá trị gia tăng đã nộp lúc mua hàng và chỉ nộp số thuế chênh lệch vào Ngân sách Nhà nước

Kê khai báo cáo và nộp thuế giá trị gia tăng của tháng trước trước ngày 20 của tháng tiếp theo

Phương pháp tính thuế: Có hai phương pháp

Phương pháp khấu trừ thuế:

Số thuế giá trị gia tăng phải nộp = Thuế giá trị gia tăng đầu ra – (trừ) Thuế giá trị gia tăng đầu vào

Phương pháp trực tiếp trên giá trị gia tăng:

Số thuế giá trị gia tăng phải nộp = Giá trị gia tăng X (nhân) Thuế suất

- Thuế thu nhập doanh nghiệp: Là loại thuế trực thu đánh vào phần thu nhập sau khi trừ các chi phí liên quan đến thu nhập của cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ Thuế thu nhập doanh nghiệp đã khắc phục được những nhược của thuế lợi tức, được áp dụng chung cho các thành phần kinh tế, mở rộng diện ưu đãi, phù hợp với việc cải cách các Luật thuế khác và phù hợp với thông lệ quốc tế

Phương pháp tính thuế thu nhập doanh nghiệp: Thuế thu nhập doanh

nghiệp phải nộp = Thu nhập chịu thuế X (nhân) Thuế suất

+ Doanh nghiệp: Kê khai và nộp theo từng quý, cuối năm nộp quyết toán

thuế thu nhập doanh nghiệp năm

+ Mức thuế thu nhập doanh nghiệp hàng năm là 25% lợi nhuận

Ngoài ra tuỳ thuộc vào quá trình hoạt động kinh doanh mà doanh nghiệp có thể phát sinh những loại thuế khác nhau

- Thuế thu nhập cá nhân:

+ Chủ doanh nghiệp và nhân viên phải nộp thuế thu nhập cá nhân theo quy định của luật Thuế thu nhập cá nhân

Trang 34

+ Thuế thu nhập cá nhân được tính theo phương thức lũy tiến sau khi trừ đi chi phí cho phép đó là giảm trừ gia cảnh: Đối với bản thân là người nộp thuế là 4 triệu / tháng (48 triệu/ năm) Đối với người phụ thuộc là 1.6 triệu đồng/ tháng

- Thuế xuất nhập khẩu:

+ Nếu doanh nghiệp có hoạt động liên quan đến lĩnh vực xuất nhập khẩu.+ Thuế xuất nhập khẩu được tính tùy thuộc vào các mặt hàng xuất nhập khẩu

- Thuế tiêu thụ đặc biệt:

+ Nếu doanh nghiệp có hoạt động kinh doanh liên quan đến những hàng hoá chịu thuế tiêu thụ đặc biệt

+ Thuế tiêu thụ đặc biệt được đánh vào những mặt hàng hoặc dịch vụ đặc biệt như thuốc lá, rượu, ô tô

- Thuế sử dụng đất: Nếu doanh nghiệp có sử dụng hoặc kinh doanh nhà đất thì phải nộp thuế sử dụng đất

1.2.2 Tính tuân thủ trong kê khai, nộp thuế của doanh nghiệp

1.2.2.1 Những quy định của pháp luật thuế về kê khai thuế của doanh nghiệp: Quy định chung về khai thuế, tính thuế[9]: Doanh nghiệp phải khai chính

xác, trung thực, đầy đủ các nội dung trong tờ khai thuế Nếu trong kỳ tính thuế không phát sinh nghĩa vụ thuế hoặc doanh nghiệp đang thuộc diện được hưởng ưu đãi, miễn giảm thuế thì doanh nghiệp vẫn phải nộp hồ sơ khai thuế cho cơ quan thuế theo đúng thời hạn qui định, trừ trường hợp đã chấm dứt hoạt động phát sinh nghĩa

vụ thuế Hồ sơ khai thuế bao gồm Tờ khai thuế và các tài liệu liên quan làm căn cứ

để doanh nghiệp khai thuế, tính thuế với cơ quan thuế

Hồ sơ khai thuế phải sử dụng đúng mẫu tờ khai thuế và các mẫu phụ lục kèm theo tờ khai thuế theo hướng dẫn tại Thông tư số 28/2011/TT-BTC ngày 28/02/2011 của Bộ Tài chính, không được thay đổi khuôn dạng, thêm, bớt hoặc thay đổi vị trí của bất kỳ chỉ tiêu nào trong tờ khai thuế Đối với một số loại giấy tờ trong

hồ sơ thuế mà Bộ Tài chính không ban hành mẫu thì thực hiện theo qui định của pháp luật có liên quan Trong hồ sơ khai thuế phải ghi đầy đủ các thông tin định

Trang 35

danh của doanh nghiệp, phù hợp với thông tin khai trong hồ sơ đăng ký thuế và được lưu trữ trong cơ sở dữ liệu đăng ký thuế của cơ quan thuế

Số tiền ghi trên Tờ khai thuế làm tròn số đến đơn vị là đồng Việt Nam Số liệu ghi trên Tờ khai phải chính xác, rõ ràng, không được tẩy xóa Đối với các chỉ tiêu số liệu phát sinh trong kỳ khai thuế là số âm thì để trong ngoặc đơn, không phát sinh số liệu thì bỏ trống không ghi Các chỉ tiêu bắt buộc có phụ lục thì phải lập phụ lục kèm theo Tờ khai Người đại diện theo pháp luật, người có thẩm quyền của doanh nghiệp phải ký trực tiếp và đóng dấu vào cuối tờ khai

- Nguyên tắc khai thuế, tính thuế[9]: Tại bảng 1.1

Bảng 1.1: Nguyên tắc khai thuế, tính thuế theo Luật Quản lý thuế

Nhóm 3: Chỉ hạch toán được doanh số,

không hạch toán được chi phí

Nhà thầu, tổ chức kinh tế, hộ kinh doanh

Trực tiếp trên doanh số

Nộp thuế theo

tỷ lệ Thu nhập doanh nghiệp Nộp thuế

Không thực hiện đầy đủ chế độ kế toán

Hộ kinh doanh, người nộp thuế không kinh doanh thường xuyên

Khoán Khoán

Hộ gia đình, cá nhân nộp thuế nhà đất, Sử dụng đất nông nghiệp

Trang 36

+ Đối với loại thuế khai theo tháng, quí hoặc năm, nếu trong kỳ tính thuế không phát sinh nghĩa vụ thuế hoặc đang hưởng ưu đãi, miễn giảm thuế thì người nộp thuế vẫn phải nộp hồ sơ khai thuế

+ Người nộp thuế không phải nộp hồ sơ khai thuế trong thời gian tạm ngừng kinh doanh và không phát sinh nghĩa vụ thuế (trước khi tạm ngừng kinh doanh thì người nộp thuế phải có thông báo gửi cơ quan thuế chậm nhất là 05 (năm) ngày trước khi tạm ngừng kinh doanh Nếu người nộp thuế ra kinh doanh trước thời hạn thì phải có thông báo bằng văn bản tới cơ quan thuế)

- Về hồ sơ khai thuế và loại hồ sơ khai thuế phải khai[9]: Tại bảng 1.2

Bảng 1.2: Hồ sơ khai thuế và loại hồ sơ khai thuế phải khai theo Luật Quản lý thuế

STT Kỳ khai thuế Loại hồ sơ khai thuế phải khai

Thuế Giá trị gia tăng, thuế Tiêu thụ đặc biệt, thuế Tài nguyên, thuế Thu nhập cá nhân (tổ chức, cá nhân chi trả Thu nhập thực hiện khấu trừ thuế)

Thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân (cá nhân

cư trú có thu nhập từ kinh doanh thực hiện chế độ kế toán hóa đơn chứng từ…)

3 Năm Thuế môn bài, thuế nhà đất, tiền thuê đất, thuế thu nhập cá

nhân (thu nhập từ chứng khoán…)

4 Quyết toán năm Thuế Thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân, thuế tài

6 Chấm dứt hoạt động, chấm dứt hợp đồng, chuyển đổi hình thức sở hữu doanh nghiệp, tổ chức lại doanh nghiệp

7 Thuế khoán Giá trị gia tăng, Thu nhập doanh nghiệp, Thu nhập cá nhân…

Trang 37

Theo đó, phần cơ bản của hồ sơ khai thuế đối với loại thuế khai và nộp theo tháng bao gồm:

+ Tờ khai thuế tháng;

+ Bảng kê hóa đơn hàng hóa, dịch vụ bán ra;

+ Bảng kê hóa đơn hàng hóa, dịch vụ mua vào;

+ Các tài liệu khác có liên quan đến số thuế phải nộp…

- Quy định về thời hạn nộp hồ sơ khai thuế[9]: Tại bảng 1.3

Bảng 1.3: Thời hạn nộp hồ sơ khai thuế theo Luật Quản lý thuế

4 Theo lần phát sinh 10 ngày kể từ ngày phát sinh

5 Khi chấm dứt hoạt động 45 ngày kể từ ngày chấm dứt

6 Thuế khoán Trước ngày 30 tháng 12 của năm trước năm tính

thuế

1.2.2.2 Vai trò và tác dụng của việc tuân thủ trong kê khai, nộp thuế:

Nhà nước ban hành pháp luật nhằm xác định những khả năng hành vi, cách

xử sự của mọi người, mọi tổ chức Khả năng đó chỉ có thể trở thành hiện thực trong đời sống khi các chủ thể pháp luật thực hiện nghiêm chỉnh pháp luật

Như vậy, thực hiện pháp luật là hoạt động, là quá trình làm cho những quy tắc của pháp luật trở thành hoạt động thực tế của các chủ thể pháp luật Tất cả các hành vi, hoạt động xử sự được tiến hành phù hợp với các yêu cầu của các quy phạm pháp luật đều được coi là sự thực hiện pháp luật Căn cứ và tính chất hoạt động thực

Trang 38

hiện pháp luật, khoa học pháp lý đã chia ra các hình thức thực hiện pháp luật: Tuân thủ pháp luật, chấp hành pháp luật, sử dụng pháp luật và áp dụng pháp luật

Tuân thủ pháp luật là việc thực hiện pháp luật mà các chủ thể pháp luật kiềm chế không thực hiện những hoạt động mà pháp luật ngăn cấm[8] Ở hình thức

này đòi hỏi con người tự kiềm chế mình thực hiện những hành vi mà pháp luật nghiêm cấm Chủ thể tuân thủ pháp luật là mọi công dân, cơ quan Nhà nước, tổ chức, các nhà chức trách

Mục tiêu chính của cơ quan quản lý thuế là thu thuế và các khoản phải thu khác phù hợp với pháp luật và vẫn đảm bảo củng cố được niềm tin của người nộp thuế vào hệ thống thuế và quản lý thuế Mọi hành vi của người nộp thuế dù là sơ ý, không cẩn thận, hay hành vi cố tình trốn thuế hoặc là sự yếu kém trong công tác quản lý thuế đều cho thấy việc không tuân thủ pháp luật là không thể tránh khỏi Do

đó, cơ quan thuế cần có chiến lược và chương trình để đảm bảo rằng việc không tuân thủ pháp luật về thuế được giảm tới mức tối thiểu Tuy nhiên, trước khi cơ quan ra quyết định thực hiện các chương trình hành động để nâng cao tính tuân thủ của người nộp thuế thì cần phải hiểu thế nào là tính tuân thủ, những yếu tố ảnh hưởng đến tính tuân thủ, những phương pháp nào để đo lường và đánh giá mức độ tuân thủ

Các cơ quan quản lý thuế có vai trò trung tâm (và mong thu được lợi ích) trong việc đảm bảo người nộp thuế và các bên liên quan khác hiểu được nghĩa vụ của họ theo quy định của Luật thuế Về phía người nộp thuế và các bên có liên quan thì họ có vai trò quan trọng trong việc thực hiện nghĩa vụ của mình bởi vì trong nhiều trường hợp chỉ có họ mới có thể hiểu được rằng họ có nghĩa vụ phải thực hiện theo quy định của pháp luật

Nghĩa vụ cụ thể của người nộp thuế có thể khác nhau về trách nhiệm thuế và giữa các cơ quan thuế khác nhau, nhưng có bốn loại nghĩa vụ mà người nộp thuế chắc chắn phải thực hiện dù ở bất kỳ nước nào “Vấn đề tuân thủ” thực sự có liên quan đến việc thực hiện các nghĩa vụ của người nộp thuế Bốn loại nghĩa vụ của người nộp thuế là: Đăng ký thuế; Nộp tờ khai và nộp các thông tin cần thiết liên

Trang 39

quan đến thuế đúng thời hạn; Báo cáo các thông tin đầy đủ và chính xác (kết hợp với việc lưu giữ sổ sách); và nộp nghĩa vụ thuế đúng hạn

Nếu người nộp thuế không thực hiện bất kỳ một trong bốn nghĩa vụ trên đây thì có thể coi là không tuân thủ Tuy nhiên, mức độ không tuân thủ là khác nhau rõ rệt Do đó, nên sắp xếp các rủi ro tuân thủ theo thứ tự ưu tiên thế nào? Cơ quan thuế nên quyết định như thế nào về những hành vi không tuân thủ có thể bỏ qua và những hành vi không tuân thủ cần có biện pháp xử lý ngay lập tức? Ví dụ: Theo như định nghĩa trên đây thì hành vi không tuân thủ có thể là do lỗi vô ý cũng như có thể là gian lận cố ý và cũng có thể có cả trường hợp nộp thừa thuế Ngoài ra, về mặt

kỹ thuật thì người nộp thuế có thể đã thực hiện nghĩa vụ của họ nhưng vấn đề không tuân thủ vẫn được đặt ra do các cách diễn giải luật khác nhau Trong những trường hợp đó, tính rõ ràng của Luật thuế cũng là một loại rủi ro cần được xử lý, có thể bằng cách sửa đổi luật hoặc bằng cách thay đổi phương thức quản lý

Theo quan niệm quốc tế, tính tuân thủ của người nộp thuế là việc người nộp thuế chấp hành và thực hiện một cách đầy đủ, chính xác và kịp thời các qui định, thủ tục về thuế theo pháp luật

Để có thể đo lường và đánh giá mức độ tuân thủ của người nộp thuế, mỗi quốc gia sử dụng các phương pháp, cách tiếp cận khác nhau Do đó, việc phân loại tính tuân thủ của người nộp thuế cũng được thực hiện theo các tiêu chí và mục đích riêng của từng nước Cụ thể:

Theo quan điểm của Trung tâm Nghiên cứu Chính sách và Quản lý thuế của

Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) thì tính tuân thủ của người nộp thuế được chia thành hai nhóm chính [23] Đó là, tuân thủ qui định hành chính và tuân thủ kỹ thuật Tuân thủ qui định hành chính là việc người nộp thuế tuân thủ các qui định hành chính về việc kê khai, nộp thuế đầy đủ và đúng hạn Còn tuân thủ kỹ thuật là việc người nộp thuế thực hiện tính toán và nộp thuế đúng hạn theo qui định của Luật thuế Thông thường các qui định liên quan đến xác định hành vi tuân thủ qui định hành chính thường được thể hiện khá rõ ràng trong các văn bản luật Tuy nhiên, việc xác định mức độ tuân thủ kỹ thuật lại khá phức tạp đối với nhiều cơ

Trang 40

quan thuế vì khi các luật thuế qui định không rõ ràng và dễ hiểu thì việc xác định chính xác số thuế phải nộp sẽ gặp nhiều khó khăn

Tại một số nước thuộc khu vực Bắc Mỹ thì quan điểm về tính tuân thủ của người nộp thuế được phân loại theo nghĩa vụ của người nộp thuế: Tuân thủ trong việc đăng ký thuế, tuân thủ trong việc nộp tờ khai thuế và nộp các thông tin cần thiết liên quan đến thuế, tuân thủ trong việc báo cáo các thông tin (kết hợp với việc lưu giữ sổ sách) và tuân thủ trong việc nộp thuế Để đo lường mức độ tuân thủ của người nộp thuế thì người ta sử dụng kết hợp các chỉ tiêu như: Tỷ lệ phần trăm tờ khai được kê khai đúng hạn so với số tờ khai được nộp, tỷ lệ phần trăm số tiền thuế được kê khai so với tổng số tiền thuế phải nộp theo qui định của luật thuế, tỷ lệ phần trăm số tiền thuế đã kê khai được nộp đúng hạn so với tổng số tiền được nộp [23]

Theo quan điểm của cơ quan thuế Úc, New Zealand và một số nước châu Á như: Nhật Bản, Singapore, Thái Lan,… thì tính tuân thủ của người nộp thuế sẽ được phân loại và xác định theo các mức độ rủi ro quản lý Theo đó, cơ quan thuế căn cứ vào lịch sử tuân thủ (hồ sơ các hành vi của người nộp thuế về kê khai, nộp thuế trong một thời gian) và đặc điểm của từng loại hình, ngành nghề kinh doanh của người nộp thuế để chia người nộp thuế thành các nhóm theo mức độ tuân thủ, từ đó đưa ra các chiến lược áp dụng quản lý thích hợp với từng nhóm [23]

Như vậy có thể hiểu, tính tuân thủ của người nộp thuế là việc người nộp thuế

chấp hành và thực hiện một cách đầy đủ, chính xác và kịp thời các qui định, thủ tục

về thuế theo pháp luật

Với quan điểm như trên, tính tuân thủ bao gồm việc người nộp thuế thực hiện đúng các qui định, thủ tục về thuế theo pháp luật ở bốn nghĩa vụ cơ bản đó là:

Về nghĩa vụ đăng ký thuế, người nộp thuế kê khai đầy đủ những thông tin

của mình, nghĩa vụ phải nộp một (hoặc một số) loại thuế theo mẫu qui định và nộp

tờ khai cho cơ quan quản lý thuế đúng hạn; kê khai đầy đủ những thay đổi về thông tin đăng ký thuế đúng thời hạn qui định

Ngày đăng: 31/05/2023, 08:04

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Tài chính (2010), Quyết định số 108/QĐ-BTC ngày 14/01/2010 của Bộ Tài chính, quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Thuế trực thuộc Tổng cục Thuế, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 108/QĐ-BTC ngày 14/01/2010 của Bộ Tài chính, quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Thuế trực thuộc Tổng cục Thuế
Tác giả: Bộ Tài chính
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2010
2. Chính phủ (2012), Tờ trình về Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số Điều của Luật Quản lý thuế, (tháng 02/2012), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tờ trình về Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số Điều của Luật Quản lý thuế
Tác giả: Chính phủ
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2012
3. Cục Thuế tỉnh Sóc Trăng (2010), Báo cáo tổng kết công tác thuế năm 2009 – Nhiệm vụ, chương trình công tác thuế năm 2010, (tháng 02/2010), Sóc Trăng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết công tác thuế năm 2009 – Nhiệm vụ, chương trình công tác thuế năm 2010
Tác giả: Cục Thuế tỉnh Sóc Trăng
Nhà XB: Sóc Trăng
Năm: 2010
4. Cục Thuế tỉnh Sóc Trăng (2011), Báo cáo tổng kết nhiệm vụ công tác thuế năm 2010 – Nhiệm vụ và giải pháp công tác thuế năm 2011, (tháng 01/2011), Sóc Trăng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết nhiệm vụ công tác thuế năm 2010 – Nhiệm vụ và giải pháp công tác thuế năm 2011
Tác giả: Cục Thuế tỉnh Sóc Trăng
Nhà XB: Sóc Trăng
Năm: 2011
5. Cục Thuế tỉnh Sóc Trăng (2012), Báo cáo tổng kết công tác thuế năm 2011 – Nhiệm vụ, biện pháp công tác thuế năm 2012, (tháng 01/2012), Sóc Trăng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết công tác thuế năm 2011 – Nhiệm vụ, biện pháp công tác thuế năm 2012
Tác giả: Cục Thuế tỉnh Sóc Trăng
Nhà XB: Sóc Trăng
Năm: 2012
6. Cục Thuế tỉnh Sóc Trăng (2010), Báo cáo Tổng kết nhiệm vụ công tác thuế năm 2010 và giai đoạn 2006 – 2010. Nhiệm vụ giải pháp công tác thuế năm 2011 và giai đoạn 2011 – 2015, (tháng 11/2010), Sóc Trăng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo Tổng kết nhiệm vụ công tác thuế năm 2010 và giai đoạn 2006 – 2010. Nhiệm vụ giải pháp công tác thuế năm 2011 và giai đoạn 2011 – 2015
Tác giả: Cục Thuế tỉnh Sóc Trăng
Nhà XB: Sóc Trăng
Năm: 2010
7. Cục Thống kê tỉnh Sóc Trăng (2012), Sóc Trăng sau 20 năm tái lập – Một chặn đường phát triển, (tháng 4/2012), Sóc Trăng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sóc Trăng sau 20 năm tái lập – Một chặn đường phát triển
Tác giả: Cục Thống kê tỉnh Sóc Trăng
Nhà XB: Sóc Trăng
Năm: 2012
8. Học viện Hành chính Quốc gia (2001), Lý luận chung về nhà nước và pháp luật, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận chung về nhà nước và pháp luật
Tác giả: Học viện Hành chính Quốc gia
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia
Năm: 2001
9. Quốc hội khóa XI (2006), Luật Quản lý thuế số: 78/2006/QH11 ngày 29/11/2006 của Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Quản lý thuế số: 78/2006/QH11
Tác giả: Quốc hội khóa XI
Nhà XB: Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 2006
10. Tổng cục Thuế (2010), Quyết định số 502/QĐ-TCT ngày 29/3/2010 của Tổng cục Thuế, về việc quy định chức năng, nhiệm vụ, của các phòng thuộc Cục Thuế, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 502/QĐ-TCT ngày 29/3/2010 của Tổng cục Thuế
Tác giả: Tổng cục Thuế
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2010
12. Tổng cục Thuế (2005), Chương trình Cải cách thể chế và Cải cách thủ tục hành chính thuế từ năm 2005 đến năm 2010, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình Cải cách thể chế và Cải cách thủ tục hành chính thuế từ năm 2005 đến năm 2010
Tác giả: Tổng cục Thuế
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2005
13. Tổng cục Thuế (2005) , Chương trình Cải cách và Hiện đại hóa Công tác thu nợ và Cưỡng chế thuế đến năm 2010, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình Cải cách và Hiện đại hóa Công tác thu nợ và Cưỡng chế thuế đến năm 2010
Tác giả: Tổng cục Thuế
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2005
14. Tổng cục Thuế (2005), Cơ chế Tự khai - Tự nộp và Chương trình Cải cách và Hiện đại hóa Quy trình quản lý thuế theo cơ chế Tự khai - Tự nộp giai đoạn 2005 - 2010, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ chế Tự khai - Tự nộp và Chương trình Cải cách và Hiện đại hóa Quy trình quản lý thuế theo cơ chế Tự khai - Tự nộp giai đoạn 2005 - 2010
Tác giả: Tổng cục Thuế
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2005
15. Tổng cục Thuế (2005), Hiện đại hóa Công sở và phương tiện làm việc của ngành thuế giai đoạn 2005 – 2010, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiện đại hóa Công sở và phương tiện làm việc của ngành thuế giai đoạn 2005 – 2010
Tác giả: Tổng cục Thuế
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2005
16. Tổng cục Thuế (2005), Nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ, công chức thuế đáp ứng yêu cầu Cải cách và hiện đại hóa ngành thuế, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ, công chức thuế đáp ứng yêu cầu Cải cách và hiện đại hóa ngành thuế
Tác giả: Tổng cục Thuế
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2005
17. Tổng cục Thuế (2005), Tổng quan về kế hoạch cải cách và hiện đại hóa ngành thuế đến năm 2010, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng quan về kế hoạch cải cách và hiện đại hóa ngành thuế đến năm 2010
Tác giả: Tổng cục Thuế
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2005
19. Tổng cục Thuế (2009), Hệ thống ứng dụng công nghệ thông tin ngành thuế, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống ứng dụng công nghệ thông tin ngành thuế
Tác giả: Tổng cục Thuế
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2009
20. Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế (2009), Quyết định số: 443/QĐ-TCT ngày 24/9/2009 ban hành Quy trình Quản lý Đăng ký thuế, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy trình Quản lý Đăng ký thuế
Tác giả: Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2009
21. Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế (2009), Quyết định số: 460/QĐ-TCT ngày 05/5/2009 ban hành Quy trình Thanh tra thuế, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy trình Thanh tra thuế
Tác giả: Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2009
11. Thuế Việt Nam, Thuế Quốc tế, Cải cách hành chính thuế - Cải cách thuế các nước, http://www.gdt.gov.vn Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

BẢNG  TÊN BẢNG  Trang - Giải pháp nâng cao tính tuân thủ trong kê khai, nộp thuế của doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh sóc trăng,luận văn thạc sỹ quản trị kinh doanh
rang (Trang 9)
Sơ đồ 1.1:  Mô hình quản lý tính tuân thủ của người nộp thuế.  31 - Giải pháp nâng cao tính tuân thủ trong kê khai, nộp thuế của doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh sóc trăng,luận văn thạc sỹ quản trị kinh doanh
Sơ đồ 1.1 Mô hình quản lý tính tuân thủ của người nộp thuế. 31 (Trang 10)
Bảng 1.1:  Nguyên tắc khai thuế, tính thuế theo Luật Quản lý thuế. - Giải pháp nâng cao tính tuân thủ trong kê khai, nộp thuế của doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh sóc trăng,luận văn thạc sỹ quản trị kinh doanh
Bảng 1.1 Nguyên tắc khai thuế, tính thuế theo Luật Quản lý thuế (Trang 35)
Hình 2.1: Tốc độ tăng trưởng GDP của tỉnh Sóc Trăng giai đoạn 1  2-2011 - Giải pháp nâng cao tính tuân thủ trong kê khai, nộp thuế của doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh sóc trăng,luận văn thạc sỹ quản trị kinh doanh
Hình 2.1 Tốc độ tăng trưởng GDP của tỉnh Sóc Trăng giai đoạn 1 2-2011 (Trang 59)
Bảng 2.6: Số lƣợng biên chế hiện có năm 2010 – 2011 - Giải pháp nâng cao tính tuân thủ trong kê khai, nộp thuế của doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh sóc trăng,luận văn thạc sỹ quản trị kinh doanh
Bảng 2.6 Số lƣợng biên chế hiện có năm 2010 – 2011 (Trang 64)
Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức bộ máy Cục Thuế - Giải pháp nâng cao tính tuân thủ trong kê khai, nộp thuế của doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh sóc trăng,luận văn thạc sỹ quản trị kinh doanh
Sơ đồ 2.1 Cơ cấu tổ chức bộ máy Cục Thuế (Trang 66)
Bảng 2.8: Số lƣợng doanh nghiệp phát sinh trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng. - Giải pháp nâng cao tính tuân thủ trong kê khai, nộp thuế của doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh sóc trăng,luận văn thạc sỹ quản trị kinh doanh
Bảng 2.8 Số lƣợng doanh nghiệp phát sinh trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng (Trang 68)
Hình 2.3: Tỷ trọng loại hình doanh nghiệp năm 2011. - Giải pháp nâng cao tính tuân thủ trong kê khai, nộp thuế của doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh sóc trăng,luận văn thạc sỹ quản trị kinh doanh
Hình 2.3 Tỷ trọng loại hình doanh nghiệp năm 2011 (Trang 69)
Bảng 2.10: Tình hình tuân thủ đăng ký thuế (200  – 2011) - Giải pháp nâng cao tính tuân thủ trong kê khai, nộp thuế của doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh sóc trăng,luận văn thạc sỹ quản trị kinh doanh
Bảng 2.10 Tình hình tuân thủ đăng ký thuế (200 – 2011) (Trang 73)
Bảng 2.11: Tình hình nộp hồ sơ khai thuế (200  – 2011) - Giải pháp nâng cao tính tuân thủ trong kê khai, nộp thuế của doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh sóc trăng,luận văn thạc sỹ quản trị kinh doanh
Bảng 2.11 Tình hình nộp hồ sơ khai thuế (200 – 2011) (Trang 75)
Bảng 2.14: Số lƣợng doanh nghiệp nộp thuế nợ thuế (200  – 2011) - Giải pháp nâng cao tính tuân thủ trong kê khai, nộp thuế của doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh sóc trăng,luận văn thạc sỹ quản trị kinh doanh
Bảng 2.14 Số lƣợng doanh nghiệp nộp thuế nợ thuế (200 – 2011) (Trang 80)
Bảng 2.16: Tỷ lệ hồ sơ khai thuế phải điều chỉnh - Giải pháp nâng cao tính tuân thủ trong kê khai, nộp thuế của doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh sóc trăng,luận văn thạc sỹ quản trị kinh doanh
Bảng 2.16 Tỷ lệ hồ sơ khai thuế phải điều chỉnh (Trang 82)
Bảng 2.18: Kết quả hoạt động hỗ trợ năm 2011 - Giải pháp nâng cao tính tuân thủ trong kê khai, nộp thuế của doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh sóc trăng,luận văn thạc sỹ quản trị kinh doanh
Bảng 2.18 Kết quả hoạt động hỗ trợ năm 2011 (Trang 90)
Hình 2.4: Kết quả phân loại nợ thuế (200  – 2011) - Giải pháp nâng cao tính tuân thủ trong kê khai, nộp thuế của doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh sóc trăng,luận văn thạc sỹ quản trị kinh doanh
Hình 2.4 Kết quả phân loại nợ thuế (200 – 2011) (Trang 100)
Bảng 2.22: Kết quả quản lý nợ thuế (2009 – 2011) - Giải pháp nâng cao tính tuân thủ trong kê khai, nộp thuế của doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh sóc trăng,luận văn thạc sỹ quản trị kinh doanh
Bảng 2.22 Kết quả quản lý nợ thuế (2009 – 2011) (Trang 101)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w