Đề tài luận văn “Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra kỹ thuật hệ thống công trình cầu trên địa bàn tỉnh Tây Ninh” là rất cần thiết, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả công
Trang 1Bộ GIáO DụC Và ĐàO TạO TRƯờNG ĐạI HọC GIAO THÔNG VậN TảI
- -
Lê quốc thuần
Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra kỹ thuật hệ thống công trình cầu
trên địa bàn tỉnh Tây Ninh
CHUYÊN NGàNH: XÂY Dựng cầu hầm
Mã số: 60.58.02.05.04
LUậN VĂN THạC Sĩ Kỹ THUậT
h-ớng dẫn khoa học: gs.ts nguyễn viết trung
TP HỒ CHÍ MINH - 2015
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KIỂM TRA HỆ THỐNG CÔNG TRÌNH CẦU TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH TÂY NINH 4
1.1 Khái quát chung về tỉnh Tây Ninh 4
1.1.1 Sự hình thành và phát triển 5
1.1.2 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên 9
1.1.3 Đặc điểm địa hình 10
1.1.4 Điều kiện về kinh tế, xã hội: 10
1.2 Hiện trạng hệ thống công trình cầu trên địa bàn tỉnh Tây Ninh 12
1.2.1 Hệ thống giao thông đường bộ : 12
1.3 Thực trạng công tác thanh tra, kiểm tra hệ thống công trình cầu trên địa bàn tỉnh Tây Ninh 24
1.3.1 Thực trạng cơ cấu tổ chức thanh tra, kiểm tra hệ thống công trình cầu: 24
1.3.2 Thực trạng cơ chế, chính sách thanh tra, kiểm tra 30
1.3.3 Thực trạng công tác tuyên truyền vận động xây dựng và bảo vệ hệ thống cầu tỉnh 32
1.3.4 Những tồn tại trong công tác thanh tra, kiểm tra 37
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ PHÁP LÝ CÔNG TÁC THANH TRA, KIỂM TRA HỆ THỐNG CÔNG TRÌNH CẦU TRÊN ĐỊA TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH TÂY NINH 38
2.1 Một số Khái niệm 38
2.1.1 Quản lý 38
2.1.2 Quản lý đô thị 38
2.1.3 Chức năng quản lý 38
2.1.4 Khái niệm Hệ thống cầu 40
2.1.5 Khái niệm Thanh tra 40
2.1.6 Khái niệm Kiểm tra 41
Trang 32.2 Chức năng thanh tra 42
2.2.1 Cơ sở pháp lý 42
2.2.2 Nhiệm vụ, quyền hạn của Thanh tra Sở Xây dựng 43
2.2.3 Cơ sở thực tiễn 52
2.2.4 Cơ sở tài chính 66
2.2.5 Cơ sở tổ chức cuộc kiểm tra 67
2.3 Quy trình kiểm tra hệ thống công trình cầu 67
2.3.1 Quy trình kiểm tra kỹ thuật 672
2.3.2 Quy trình thanh tra 72
a) Chuẩn bị kiểm tra 72
b) Trực tiếp kiểm tra 75
c) Kết thúc kiểm tra 77
d) Một số kinh nghiệm trong công tác kiểm tra đầu tư xây dựng cơ bản tại một số tỉnh, tỉnh 80
2.4 Kiểm tra về quản lý các rủi ro đối với dự án 91
CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC KIỂM TRA KỸ THUẬT HỆ THỐNG CÔNG TRÌNH CẦU TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH TÂY NINH 98
3.1 Đề xuất về cơ cấu tổ chức 99
3.1.1 Lãnh đạo Thanh tra Sở 03 biên chế gồm: 01 Chánh Thanh tra, 02 Phó Chánh Thanh tra 99
3.1.2 Bộ phận chuyên trách: Thanh tra viên và công chức thuộc Thanh tra Xây dựng được tổ chức thành 04 Bộ phận thực hiện chức năng chuyên môn, nghiệp vụ, gồm: 99
3.1.3 Sự phối hợp giữa các cơ quan trong công tác thanh tra, kiểm tra 102
3.2 Đề xuất về cơ chế, chính sách 103
3.2.1 Chế tài thực hiện xử lý sau thanh tra 103
3.2.2 Đề xuất về chế độ đãi ngộ đối với cán bộ, thanh tra viên thực hiện công vụ: 105
Trang 43.2.3 Phương tiện hoạt động 105
3.3 Đề xuất về công tác tuyên truyền 105
3.3.1 Tuyên truyền pháp luật về xây dựng, pháp luật về thanh tra, kiểm tra 105
3.3.2 Vận động sự tham gia của cộng đồng trong công tác thanh tra 106
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 107
TÀI LIỆU THAM KHẢO 110
Trang 5DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 1.1 Bản đồ hành chính hạt Tham biện Tây Ninh của Nam Kỳ thuộc
Pháp khoảng năm 1896-1898 7
Hình 1.2 Bản đồ hành chính tỉnh Tây Ninh hiện nay 9
Hình 1.3 Một số hình ảnh của Cầu Gò Dầu tỉnh Tây Ninh 20
Hình 1.4 Hình ảnh của cầu Đá Hàng trên QL22B hướng về trung tâm tỉnh Tây Ninh 21
Hình 1.5 Hình ảnh cầu Gò Chai huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh 22
Hình 1.6 Hình ảnh cầu Hiệp Hòa huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh 22
Hình 1.7 Hình ảnh cầu Gió xã Tân Bình tỉnh Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh 23 Hình 3.1 Sơ đồ tổ chức bộ máy của thanh tra xây dựng sau khi kiện toàn 100
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Kiểm tra gắn liền với quản lý nhà nước, với tư cách là một chức năng, là một giai đoạn của chu trình quản lý nhà nước, thanh tra gắn liền với quản lý nhà nước; tất cả các chu trình quản lý nhà nước đều phải thông qua thanh tra, kiểm tra để có thông tin đầy đủ chính xác Luật Thanh tra lại tiếp tục ghi nhận
vị trí, vai trò của thanh tra, kiểm tra là một khâu trong chu trình quản lý nhà nước; là phương thức và nội dung quan trong để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước; là phương tiện phòng ngừa vi phạm pháp luật và tội phạm Hoạt động thanh tra, kiểm tra góp phần bảo đảm việc tuân thủ pháp luật trong quản
lý nhà nước phải thực hiện bằng pháp luật; là phương thức phát huy dân chủ, bảo vệ lợi ích nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân; nâng cao hiệu quả trong công tác đấu tranh phòng chống tham nhũng
Trong những năm gần đây, trên cả nước có hàng loạt các đô thị mới được hình thành, với sự phát triển hệ thống giao thông đồng bộ đã tạo nên bước phát triển xây dựng quá nhanh góp phần hình thành nên bộ mặt đô thị đổi mới, từng bước nâng cao chất lượng đô thị, cải thiện đời sống của người dân, tạo lập một nền tảng phát triển đô thị bền vững
Tây Ninh là địa phương có tóc độ đô thị hóa chậm so với các tỉnh trong vùng trọng điểm kinh tế phía Nam Điều này phản ánh đúng thực trạng phát triển kinh tế - xã hội tỉnh trong các giai đoạn đã qua
Năm 1955, dân số trung bình toàn tỉnh là 886 ngàn người, trong đó dân
số đô thị có khoảng 102,8 ngàn người, chiếm tỷ trọng 11,6% Năm 2000, dân
số trung bình toàn tỉnh tăng lên 980,5 ngàn người, trong đó dân số đô thị là 132,7 ngàn người chiếm tỷ trọng 13,5% Đến năm 2005, dân số trung bình toàn tỉnh là 1.060 ngàn người, trong đó dân số đô thị có khoảng 181 ngàn người, chiếm tỷ trọng 17,1% Và đến năm 2007, dân số trung bình toàn tỉnh là 1.096 ngàn người, trong đó đô thị có khoảng 190 ngàn người, chiếm tỷ trọng
Trang 717,3%
Quá trình đô thị hóa ở Tây Ninh diễn ra với tốc độ nhanh hơn trong những năm gần đây Giai đoạn 2001-2005 có tốc độ tăng trưởng dân số trung bình (1,57%) thấp hơn so với giai đoạn 1996-2000 (tỷ lệ này là 2%), trong khi tốc độ tăng dân số đô thị bình quân giai đoạn này là 6,4%, cao hơn so với tốc độ tăng dân số đô thị của giai đoạn 1996-2000 (tỷ lệ này là 5,2%) Trong 5 năm 1996-2000, tỷ lệ dân số đô thị chỉ tăng được 1,9%, bình quân mỗi năm tăng dưới 0,5%, trong khi sau 5 năm 2001-2007, tỷ lệ dân số đô thị tăng 3,6%, bình quân mỗi năm tăng trên 0,8% và ước tính giai đoạn 2001-2007, tỷ lệ dân
số đô thị tăng 3,8%, bình quân mỗi năm tăng 0,5%
Tốc độ đô thị hóa trên địa bàn đặt biệt nhanh trong các năm 2001 và
2002 gắn liền với sự ra đời các khu công nghiệp và Khu kinh tế Cửa khẩu cũng như sự phát triển của các đô thị hiện có trên địa bàn
Địa giới hành chính tỉnh Tây Ninh: Phía Đông giáp tỉnh Bình Dương và Bình Phước, phía Nam và Đông Nam thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Long
An, phía Bắc và phía Tây Bắc giáp 2 tỉnh Svay Riêng và Tbong Kmum (Kampong Cham trước năm 2013) của Campuchia với 02 Cửa khẩu Quốc tế Mộc Bài và Xa Mát, các cửa khẩu quốc gia: Chàng Riệc, Kà Tum, Phước Tân, Tống Lê Chân và nhiều cửa khẩu tiểu ngạch
Trong những năm qua Thanh tra, kiểm tra ngành xây dựng từ Trung ương cho đến địa phương (ở trung ương có Thanh tra Chính phủ, Thanh tra
Bộ, Kiểm toán Nhà nước; Ở địa phương có Thanh tra tỉnh, Thanh tra các Sở
và Thanh tra huyện), đã có nhiều đóng góp đưa hoạt động xây dựng vào nề nếp, tạo ra nhiều sản phẩm xây dựng chất lượng cao, góp phần làm thay đổi
bộ mặt kiến trúc đô thị và nông thôn, tăng cường cơ sở vât chất cho xã hội, cải thiện đời sống nhân dân Bên cạnh những thành tựu đã đạt được thì hiện tượng chất lượng chưa đảm bảo, còn nhiều lãng phí, thất thoát, tham nhũng trong hoạt đông xây dựng cơ bản đang diễn ra hết sức phức tạp, làm thất thoát vốn ngân sách nhà nước, gây bức xúc trong dư luận xã hội
Trang 8Xuất phát từ những đòi hỏi phải tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra
để đảm bảo việc đầu tư xây dựng công trình nói chung, công trình xây dựng
hệ thống công trình cầu nói riêng đạt hiệu quả và đúng quy định; phòng ngừa và xử lý nghiêm những hành vi vi phạm pháp luật về xây dựng Đề tài
luận văn “Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra kỹ thuật hệ
thống công trình cầu trên địa bàn tỉnh Tây Ninh” là rất cần thiết, góp phần
nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác thanh tra trong quản lý nhà nước về hoạt động đầu tư xây dựng hệ thống công trình cầu trên địa bàn tỉnh Tây Ninh
2 Mục đích và nội dung nghiên cứu của đề tài:
Nghiên cứu về công tác kiểm tra kỹ thuật hệ thống công trình cầu trên địa bàn tỉnh Tây Ninh gồm:
- Nghiên cứu thực trạng công tác kiểm tra;
- Xây dựng cơ sở khoa học về công tác kiểm tra;
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Công tác kiểm tra kỹ thuật hệ thống công trình cầu trên địa bàn tỉnh Tây Ninh;
- Phạm vi nghiên cứu: Công tác kiểm tra các dự án đầu tư xây dựng công trình cầu trên địa bàn tỉnh Tây Ninh theo Quyết định phê duyệt của cấp
có thẩm quyền
4 Phương pháp nghiên cứu:
- Điều tra, khảo sát, thu thập, tổng hợp số liệu
- Phương pháp kế thừa
- Phương pháp tổng hợp, dự báo, so sánh
- Phân tích đánh giá, đề xuất giải pháp thực hiện
5 Nội dung nghiên cứu:
- Thực trạng công tác kiểm tra hệ thống công trình cầu trên địa bàn tỉnh Tây Ninh;
Trang 9- Cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác kiểm tra hệ thống công trình cầu trên địa bàn tỉnh Tây Ninh;
- Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra hệ thống công trình cầu trên địa bàn tỉnh Tây Ninh
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài:
- Ý nghĩa khoa học: Đưa ra các giải pháp trên cơ sở khoa học nhằm nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra hệ thống công trình cầu trên địa bàn tỉnh Tây Ninh;
- Ý nghĩa thực tiễn: Phòng ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật; phát hiện những sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật về việc đầu tư xây dựng các công trình cầu, để kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền các biện pháp khắc phục; phát huy nhân tố tích cực; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước; bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động xây dựng công trình cầu trên địa bàn tỉnh Tây Ninh
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, tài liệu tham khảo luận văn
kết cấu gồm 3 chương:
Chương 1: Công tác kiểm tra kỹ thuật hệ thống công trình cầu trên địa bàn tỉnh
Tây Ninh
Chương 2: Cơ sở khoa học của công tác kiểm tra kỹ thuật hệ thống công
trình cầu trên địa bàn tỉnh Tây Ninh
Chương 3: Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra kỹ thuật hệ
thống công trình cầu trên địa bàn tỉnh Tây Ninh
CHƯƠNG 1: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KIỂM TRA HỆ THỐNG CÔNG TRÌNH CẦU TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH TÂY NINH
1.1 Khái quát chung về tỉnh Tây Ninh
Trang 101.1.1 Sự hình thành và phát triển
Năm 1802, vua Gia Long lên ngôi, đồng thời đổi tên phủ Gia Định thành trấn Gia Định Năm 1808, trấn Gia Định đổi lại đổi là thành Gia Định, gồm có 5 trấn là Phiên An, Biên Hòa, Vĩnh Thanh, Định Tường và Hà Tiên Năm 1832, vua Minh Mạng định tiếp tục tổ chức hành chánh ở Gia Định, từ 5 trấn chia thành 6 tỉnh gồm có Phiên An tỉnh thành (tức trấn Phiên An cũ), Tỉnh Biên Hòa (trấn Biên Hòa cũ), Tỉnh Định Tường (trấn Định Tường cũ), Tỉnh Vĩnh Long (trấn Vĩnh Thanh cũ), Tỉnh An Giang, Tỉnh Hà Tiên Lúc bấy giờ, vùng đất Tây Ninh thuộc Phiên An tỉnh thành Năm 1838, vua Minh Mạng đổi Phiên An tỉnh thành là tỉnh Gia Định gồm có 3 phủ, 7 huyện Các phủ là Phủ Tân Bình có 3 huyện, Phủ Tân An có 2 huyện, Phủ Tây Ninh có 2
huyện là: huyện Tân Ninh và huyện Quang Hóa
Phủ Tây Ninh: Phía Bắc giáp Cao Miên (qua núi Chiêng, tức núi Bà
Đen), phía Đông giáp huyện Bình Long phủ Tân Bình, phía Nam giáp huyện Bình Dương phủ Tân Bình và huyện Cửu An phủ Tân An, nguyên là đạo Quang Phong Năm Minh Mạng thứ 19 (1838), bỏ đạo lập phủ với tên gọi phủ Tây Ninh, quản lý 2 huyện (với 7 tổng có 56 làng xã):
Huyện Tân Ninh, lỵ sở kiêm phủ thành nằm ở thôn Khang Ninh (nay thuộc thị xã Tây Ninh), phía Bắc giáp Cao Miên (qua núi Chiêng), phía Đông giáp giáp huyện Bình Long phủ Tân Bình, phía Nam giáp huyện Bình Long phủ Tân Bình và huyện Quang Hóa cùng phủ Tây Ninh, phía Tây giáp huyện huyện Kiến Hưng tỉnh Định Tường và giáp nước Cao Miên Huyện Tân Ninh, được đặt ra năm Minh Mạng thứ 17 (1836), theo Đại Nam nhất là quản lý 2 tổng (nhưng có lẽ là 3 tổng), là tổng Hàm Ninh Thượng và tổng Kiếm Hoa với 24 làng xã[6] Phần đất huyện Tân Ninh phủ Tây Ninh nhà Nguyễn nay có thể là địa phận phía Bắc của tỉnh Tây Ninh ngày nay (tức năm 2011) (tỉnh Tây Ninh, huyện Tân Biên, huyện Châu Thành, ), và có thể bao gồm cả 1 phần đất phía Bắc của tỉnh Svay Rieng (khúc giữa tỉnh Svay Rieng) Campuchia, vì
Trang 11mô tả trên theo Đại Nam nhất thống chí: Tân Ninh còn tiếp giáp với cả huyện Kiến Hưng phủ Kiến An tỉnh Định Tường nhà Nguyễn, vốn chỉ nằm bên bờ Tây sông Vàm Cỏ Tây, cách địa bàn tỉnh Tây Ninh ngày nay (phần từng là đất huyện Tân Ninh) qua địa bàn tỉnh Svay Rieng Năm 1890, sau khi lập Liên bang Đông Dương, người Pháp trích một phần đất hạt Tây Ninh (hạt Tây Ninh nguyên là toàn bộ phủ Tây Ninh) là phần đất dọc theo rạch Ngã Bát cho Campuchia thuộc Pháp[11], trong đó có lẽ gồm cả phần đất tỉnh Svay Rieng (tức tỉnh Soài Riêng) đề cập đến ở trên Các bản đồ của người Pháp thể hiện
xứ Nam Kỳ thuộc Pháp, vẽ với kỹ thuật Tây phương khá chính xác, vào các năm 1872 và 1886 (trước khi thành lập Liên bang Đông Dương năm 1887)
đều thể hiện "vùng lồi" Svay Rieng thuộc đất Nam Kỳ (Cochinchine)
Huyện Quang Hóa, phía Bắc giáp huyện Tân Ninh cùng phủ Tây Ninh, phía Đông giáp huyện Tân Ninh, phía Nam giáp huyên Tân Ninh và huyện Cửu An phủ Tân An, phía Tây giáp huyện Kiến Hưng phủ Kiến An tỉnh Định Tường nhà Nguyễn Lỵ sở trước đặt ở thôn Cẩm Giang sau chuyển sang thôn Long Giang, quản lý 4 tổng (Hàm Ninh Hạ (Ham Ninh Ha tong), Mộc Hóa (Moc Hoa tong), Giải Hóa (Giải Hoa tong), Mỹ Ninh (Mi Nin tong)) với 32 làng xã[6] Đất huyện Quang Hóa phủ Tây Ninh nhà Nguyễn nay có thể là địa phân các huyện phía Nam tỉnh Tây Ninh (như Bến Cầu, Gò Dầu, Trảng Bàng, ), các huyện Đông Bắc tỉnh Long An (như Đức Huệ, Hậu Nghĩa, Mộc Hóa[10], ) và phần phía Nam của tỉnh Svay Rieng Campuchia[11]
Theo Đại Nam thực lục thì vào khoảng tháng 3 âm năm 1845, Cao Hữu Dực (quyền Tuyên phủ sứ Tây Ninh) cho chiêu mộ dân trong phủ Tây Ninh lập ra 26 thôn làng: Tiên Thuận, Phúc Hưng, Phúc Bình, Vĩnh Tuy, Phúc Mỹ, Long Thịnh, Long Khánh, Long Giang, Long Thái, An Thịnh, Khang Ninh, Vĩnh An, An Hòa, Gia Bình, Long Bình, Hòa Bình, Long Định, Phú Thịnh, Thái Định, Hòa Thuận, An Thường, Thuận Lý, Thiên Thiện, Hướng Hóa,
Trang 12Định Thái, Định Bình, đều thuộc phủ Tây Ninh Vua Thiệu Trị phê chuẩn quyết định này.[15]
Năm 1861, Sau khi thực dân Pháp chiếm Tây Ninh, việc cai quản ở 2 huyện được thay thế bằng 2 Đoàn Quân sự đặt tại Trảng Bàng và Tây Ninh Năm 1868, hai đoàn Quân sự được thay thế bằng hai Ty Hành chánh Sau nhiều lần thay đổi, năm 1897 Tây Ninh gồm có 2 quận là Thái Bình, Trảng Bàng, trong đó có 10 tổng, 50 làng
Hình 1.1 Bản đồ hành chính hạt Tham biện Tây Ninh của Nam Kỳ
thuộc Pháp khoảng năm 1896-1898
Ngày 1 tháng 1 năm 1900, Toàn quyền Paul Doumer cho áp dụng nghị định ký ngày 20 tháng 12 năm 1899 đổi các khu tham biện (inspections) là tỉnh (province) Thời Pháp thuộc, Nam Kỳ được chia làm 20 tỉnh để cai trị và
Trang 13sau đó Cap St Jacques (Vũng tàu) tách ra thành tỉnh thứ 21 Tây Ninh lúc đó
là tỉnh thứ 12
Ngày 9 tháng 12 năm 1942, Thống đốc Nam kỳ ban hành Nghị định
8345 ấn định ranh giới Tây Ninh Sau Cách Mạng Tháng Tám tỉnh Tây Ninh
vẫn giữ nguyên ranh giới cũ Năm 1950, cắt một phần đất của Thái Hiệp Thạnh cũ thành lập thị xã Tây Ninh, nhưng do chưa đủ điều kiện hoạt động nên sau đó giải thể Sau hiệp định Giơnevơ năm 1954, thành lập lại Thị xã Tây Ninh trên địa bàn cũ, do Võ Văn Truyện làm Bí thư Đảng kiêm Chủ tịch
Uỷ ban hành chính Năm 1957, Tây Ninh chia thành 3 quận gồm có Châu Thành, Gò Dầu Hạ, Trảng Bàng
Năm 1963, tỉnh Tây Ninh gồm 4 quận là quận Phú Khương, Phước Ninh, Hiếu Thiện, Khiêm Hanh Sau sự kiện 30 tháng 4 năm 1975, tỉnh tổ chức thành 7 huyện: Bến Cầu, Châu Thành, Dương Minh Châu, Gò Dầu, Phú Khương, Tân Biên, Trảng Bàng và 1 thị xã Tây Ninh, ngày 14 tháng 3 năm
1979 đổi tên huyện Phú Khương thành huyện Hòa Thành[16] và theo Quyết định số 48/HĐBT (nay là Chính phủ) ngày 13 tháng 5 năm 1989 đã thành lập thêm huyện Tân Châu[12]
Ngày 12 tháng 12 năm 2012, Bộ Xây dựng có
Quyết định số 1112/QĐ-BXD, công nhận thị xã Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh, là
đô thị loại III[17]
Ngày 29 tháng 12 năm 2013, Chính phủ ra Nghị quyết 135/NQ-CP chuyển 2 xã Ninh Sơn và Ninh Thạnh thành 2 phường có tên tương ứng và chuyển thị xã Tây Ninh thành tỉnh Tây Ninh
Trang 14Hình 1.2 Bản đồ hành chính tỉnh Tây Ninh hiện nay
1.1.2 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên
Vị trí địa lý kinh tế thuận lợi là một lợi thế cho sự phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Tây Ninh trong giai đoạn tới năm 2010 và xa hơn tới năm 2020
Tây Ninh là một tỉnh nằm trong vùng Đông Nam Bộ, phía đông giáp tỉnh Bình Dương và Bình Phước, phía Nam giáp Thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Long An, phía Tây và phía Bắc giáp ba tỉnh SvayRieng, Prayveng và Kongpongcham của Camphuchia Tây Ninh có đường biên giới chung hai nước Việt Nam – Camphuchia dài 240 km, hai cửa khẩu chính là cửa khẩu quốc tế Mộc Bài và cửa khẩu quốc tế xa Mát và nhiều cửa khẩu tiểu ngạch khác
Tổng diện tích tự nhiên của tỉnh là 4035,4 km2, với 9 đơn vị hành chính (trong đó có 8 huyện và 1 Thành phố), Dân số trung bình năm 2007 là
1096 nghìn người; mật độ trung bình là 272 người/km2 Dân số phân bố không đều, huyện Tân Châu có mật độ dân thấp nhất với 102 người/km2, huyện Hòa Thành cao nhất với 1.797 người/km2
Trang 15Với địa thế nằm trong vùng Đông Nam Bộ va 2vung2 kinh tế trọng điểm phía Nam, nơi có kinh tế phát triển cao nhất cả nước, đồng thời nằm giữa thành phố Hồ Chí Minh (trung tâm kinh tế, thương mại lớn nhất cả nước)
và thủ đô Phnom Penh (trung tâm kinh tế, thương mại lớn nhất của Camphuchia) là điều kiện thuận lợi để Tây Ninh có thể phát triển kinh tế
Khi hệ thông giao thông xuyên Á (trong đó có phần đi qua địa bàn tỉnh dài 28 km) hệ thống các quốc lộ 14 và 14C hoàn thành, Tây Ninh sẽ là giao điểm quan trọng giữa hệ thống đường quốc tế và đường quốc gia phía Nam nên có điều kiện thuận lợi giao thương quốc tế và với các tỉnh trong vùng, Tây Nguyên, vùng Đồng bằng sông Cửu Long là những vùng có nhiều tiềm năng phát triển
Ngoài ra với đường biên giới dài, Tây Ninh có vai trò rất quan trọng trong việc giữ gìn an ninh quốc phòng, góp phần ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội và phát triển kinh tế không những cho riêng tỉnh Tây Ninh mà cho
cả vủng và cả nước
1.1.3 Đặc điểm địa hình
Địa hình Tây Ninh nghiêng theo hướng Đông Bắc - Tây Nam: Phía Bắc
có độ cao trung bình từ 10-15m Đặc biệt, cách thị xã Tây Ninh (nay là tỉnh Tây Ninh) gần 10km có núi Bà Đen cao 986m là ngọn núi duy nhất nằm trong địa bàn của tỉnh; ở phía Nam địa hình mang đặc điểm dồng bằng với
độ cao trung bình 3-5m Nhình chung, Tây ninh có địa hình tương đối bằng phẳng rất thuận lợi phát triển nông nghiệp, công nghiệp và cơ sở hạ tầng
1.1.4 Điều kiện về kinh tế, xã hội:
Tây Ninh là miền đất được khai phá tương đối muộn so với lịch sử hình thành và phát triển các tỉnh miền Đông Nam bộ Tuy nhiên, đến nay Tây Ninh
đã là một tỉnh với 01 Tỉnh và 8 huyện với 95 xã, phường và thị trấn
Hiện nay Tây Ninh chủ yếu vẫn là một tỉnh nông nghiệp, khoảng 2/3
Trang 16diện tích đất đai thuộc sản xuất nông nghiệp Đất đai trong tỉnh thích hợp các loại cây như: lúa, mía, mì, đậu phộng, cao su …
Đến nay các ngành kinh tế mũi nhọn phát triển không ngừng và ổn định, ngành nông nghiệp đã quy hoạch các vùng chuyên canh cây công nghiệp ngắn ngày và dài ngày ổn định như: mía, mì, cao su, đậu phộng Điều này đã tạo được nguồn nguyên liệu chủ động cho công nghiệp chế biến xuất khẩu Ngành chăn nuôi đã tạo nhiều giống vật nuôi có năng suất cao đưa vào sản xuất đại trà, từng bước đưa ngành chăn nuôi chiếm một tỷ lệ tương xứng trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp của Tây Ninh
Ngành công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp ngày càng phát triển đã xây dựng được hệ thống các nhà máy chế biến nông sản tại các vùng chuyên canh như: các nhà máy đường, các nhà máy chế biến bột củ mì, các nhà máy chế biến mủ cao su, từng bước xây dựng các khu công nghiệp trong tỉnh Hạt nhân công nghiệp của tỉnh là các khu công nghiệp tập trung, trong đó khu công nghiệp Trảng Bàng đã thu hút nhiều nhà đầu tư trong và ngoài nước Điều này tạo thế cho việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế của tỉnh theo kết cấu công nghiệp, dịch vụ và nông nghiệp
Trong lĩnh vực thương mại và du lịch, đã triển khai các dự án thuộc khu thương mại trong nước và khu thương mại quốc tế tạo điều kiện cho cư gần biên giới hai nước trao đổi, buôn bán hàng hóa Trong những năm tới, Tỉnh sẽ trung phát triển khu kinh tế cửa khẩu Mộc bài, các trung tâm thương mại nội địa, các chợ đầu mối, chợ biên giới đồng thời xây dựng khu kinh tế cửa khẩu
Xa Mát, tiến tới xây dựng các khu công nghiệp Trâm Vàng (Gò Dầu), cụm công nghiệp Trường Hoà (Hoà Thành), Tân Bình (thị xã), Chà Là (Dương Minh Châu), Thanh Điền (Châu Thành) để thu hút đầu tư vào lĩnh vực công nghiệp; tiếp tục mở rộng giao lưu buôn bán, tăng cường trao đổi thông tin với Campuchia và Thái Lan bằng nhiều hình thức như tham quan, hội đàm, đẩy
Trang 17mạnh việc nghiên cứu xúc tiến đầu tư Trên cơ sở mở rộng mạng lưới thương mại, sẽ đẩy mạnh các hoạt động du lịch và từng bước xây dựng cơ sở vật chất cho ngành du lịch - dịch vụ, tạo liên kết phát triển các điểm du lịch núi Bà Đen, Ma Thiên Lãnh, Căn cứ trung ương Cục, hồ Dầu Tiếng, Vườn Quốc gia
Lò Gò- Xa Mát.https://vi.wikipedia.org/wiki/T%C3%A2y_Ninh - gdpdaunguoi-18#cite_note-gdpdaunguoi-18
cite_note-1.2 Hiện trạng hệ thống công trình cầu trên địa bàn tỉnh Tây Ninh
1.2.1 Hệ thống giao thông đường bộ :
Trong những năm gần đây Tây Ninh đã có những bước tiến đáng kể về mọi mặt đời sống xã hội nhiều ngành nghề được đầu tư phát triển, trong đó
cơ sở hạ tầng giao thông được đặc biệt chú trọng Từ đó một số công trình trọng điểm của tỉnh đã được triển khai thực hiện và được quy hoạch tổng thể đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030, như:
- Hệ thống giao thông Quốc gia trên địa bàn tỉnh gồm 05 tuyến (QL22; QL22B; QL14C; đường Hồ Chí Minh; Cao tốc Hồ Chí Minh – Mộc Bài), dài tổng cộng 323,6Km, quy hoạch đạt tiêu chuẩn cấp I-III, quy mô 4-6 làn xe (trừ đoạn từ ngã ba KàTum (ĐT.785) đến ranh tỉnh Long An thuộc QL14C được quy hoạch đạt tiêu chuẩn cấp IV, quy mô 2 làn xe)
- Hệ thống đường bộ do tỉnh quản lý gồm tổng cộng 34 tuyến (đường tỉnh 781; 781B; 782; 782B; 783: 784; 784B; 784C; 785; 785B; 785C; 785D; 786; 786B; 787; 787B; 788; 788B; 789; 789B; 790; 790B; 791; 792; 792B; 792C; 792D; 793; 793B; 794; 795; 795B; 796; 797), dài tổng cộng 845,5Km, quy hoạch đạt tiêu chuẩn cấp II-III (riêng các tuyến ĐT.783; ĐT.784C; ĐT.785B; ĐT.785C; ĐT.785D; ĐT.791; ĐT.792 đoạn từ cua chủ V đến ĐT.794; ĐT.793B; ĐT.795 đoạn từ ĐT.795B đến xã Tân Thành quy hoạch đạt tiêu chuẩn cấp IV)
Trang 18- Hệ thống công trình cầu trên đường tỉnh: Tổng cộng 86 cầu, với tổng chiều dài 3.486,69m, quy hoạch cầu trên đường tỉnh Tây Ninh đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 đạt tải trọng HL93, cụ thể:
ST
Chiều dài
QH (m)
Bề rộng mặt
QH (m)
Hiện trạng tải trọng khai thác (tấn)
ĐT.782B
Trang 19Hiện trạng tải trọng khai thác (tấn)
23 Cầu qua Suối lùn Km15+050
Trang 20Hiện trạng tải trọng khai thác (tấn)
Tải trọng QH
Trang 21Hiện trạng tải trọng khai thác (tấn)
ĐT.793
ĐT.794
Trang 22Hiện trạng tải trọng khai thác (tấn)
Tải trọng QH
Trang 23Hiện trạng hệ thống các cơng trình Cầu trên Quốc lộ 22 và Quốc lộ 22B trên địa bàn tỉnh Tây Ninh
Địa danh huyện (thị) Lý trình
Dài cầu (m)
C
rộng (m)
Bề rộng
xe chạy
Tĩnh khôn
g TT (m)
Kết cấu dầm mhịp
xây dựm
g
Tình trạm
g
Số nhị
p
Chiều dài (m)
BTC
T DUL
4 16.5 15.5 3 40.0 40.0 2 C.btct BT C.btct BT 30 H30 2007 Tốt
Trang 24Địa danh huyện (thị) Lý trình
Dài cầu (m)
C
rộng (m)
Bề rộng
xe chạy
Tĩnh khôn
g TT (m)
Kết cấu dầm mhịp
xây dựm
g
Tình trạm
g
Số nhị
p
Chiều dài (m)
BTC
T DUL
Trang 25Hình ảnh về hiện trạng Cầu trên địa bàn tỉnh Tây Ninh:
Cầu Gò Dầu:Cầu Gò Dầu (1 và 2) bắc qua sông Vàm Cỏ Đông được khởi công từ tháng 11 năm 2002 (đưa vào sử dụng từ năm 2005) nằm trên trục đường xuyên Á nối liền TP.HCM với Tây Ninh và Phnom Penh (Campuchia) qua cửa khẩu Mộc Bài Nhìn từ dưới dạ cầu, 2 cây cầu song
song nhau, cao gần 10m, bên dưới là nước dòng chảy rất xiết
a Hình ảnh đầu cầu
b Hình ảnh giữa cầu 1 và cầu 2
Hình 1.3 Một số hình ảnh của Cầu Gò Dầu tỉnh Tây Ninh
Trang 26Cầu Đá Hàng: Cầu Đá Hàng với chiều dài 25.24m và bề rộng cầu 16.5m, đây là cây cầu mới nằm trên QL22B Cây cầu đã đáp ứng việc giao
thương hàng hóa của các phương tiện qua trung tâm tỉnh Tây Ninh
Hình ảnh đầu cầu
Hình 1.4 Hình ảnh của cầu Đá Hàng trên QL22B hướng về trung
tâm tỉnh Tây Ninh
Cầu Gò Chai: Cầu được bắc qua sông Vàm cỏ Đôngvới chiềudài 242
m được khởi công xây dựng năm 2011, gồm 7 nhịp là loại cầu vĩnh cửu, nối liền khu kinh tế cửa khẩu Mộc Bài (huyện Bến Cầu) đến huyện Châu Thành (tỉnh Tây Ninh)
Trang 27
Hình ảnh đầu cầu
Hình 1.5 Hình ảnh cầu Gò Chai huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh
Cầu Hiệp Hòa:
Hình ảnh đầu cầu
Hình 1.6 Hình ảnh cầu Hiệp Hòa huyện Châu Thành,
tỉnh Tây Ninh
Trang 28Cầu Gió:
a Hình ảnh đầu cầu
b Mặt dưới cầu
c Toàn cảnh mặt dưới cầu
Hình 1.7 Hình ảnh cầu Gió xã Tân Bình tỉnh Tây Ninh,
tỉnh Tây Ninh
Trang 291.3 Thực trạng công tác thanh tra, kiểm tra hệ thống công trình cầu trên địa bàn tỉnh Tây Ninh
1.3.1 Thực trạng cơ cấu tổ chức thanh tra, kiểm tra hệ thống công trình cầu:
Trên cơ sở quan điểm cải cách nền hành chính Nhà nước, Luật Thanh tra năm 2010 thiết lập cơ cấu tổ chức thanh tra, xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm, phạm vi nhiệm vụ quyền hạn của các cơ quan thanh tra phù hợp với cơ chế quản lý nhà nước Bổ sung nhiệm vụ, quyền hạn mới cho các cơ quan thanh tra, bảo đảm sự kiểm soát của Nhà nước đối với các ngành, lĩnh vực các địa phương, kiểm soát các hoạt động của cơ quan và hoạt động của người có trách nhiệm khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ
Hệ thống tổ chức của Thanh tra Xây dựng bao gồm:
- Thanh tra Bộ Xây dựng;
- Thanh tra Sở Xây dựng
*) Thanh tra Bộ Xây dựng
- Thanh tra bộ là cơ quan của bộ, giúp Bộ trưởng quản lý nhà nước về công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng; tiến hành thanh tra hành chính đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc phạm
vi quản lý của bộ; tiến hành thanh tra chuyên ngành đối với cơ quan, tổ chức,
cá nhân thuộc phạm vi quản lý nhà nước theo ngành, lĩnh vực của bộ; giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng theo quy định của pháp luật
- Thanh tra bộ có Chánh Thanh tra, Phó Chánh Thanh tra và Thanh tra viên
- Chánh Thanh tra bộ do Bộ trưởng bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức sau khi thống nhất với Tổng Thanh tra Chính phủ
- Phó Chánh Thanh tra bộ giúp Chánh Thanh tra bộ thực hiện nhiệm vụ theo sự phân công của Chánh Thanh tra bộ
Trang 30- Thanh tra bộ chịu sự chỉ đạo, điều hành của Bộ trưởng và chịu sự chỉ đạo về công tác, hướng dẫn về tổ chức, nghiệp vụ của Thanh tra Chính phủ
*) Thanh tra Sở Xây dựng
- Thanh tra sở là cơ quan của sở, giúp Giám đốc sở tiến hành thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành, giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng, chống tham nhũng theo quy định của pháp luật
Thanh tra sở được thành lập ở những sở thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước theo ủy quyền của Ủy ban nhân dân cùng cấp hoặc theo quy định của pháp luật
- Thanh tra sở có Chánh Thanh tra, Phó Chánh Thanh tra và Thanh tra viên
+ Chánh Thanh tra sở do Giám đốc sở bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức sau khi thống nhất với Chánh Thanh tra tỉnh
+ Phó Chánh Thanh tra sở giúp Chánh Thanh tra sở thực hiện nhiệm vụ theo sự phân công của Chánh Thanh tra sở
- Thanh tra sở chịu sự chỉ đạo, điều hành của Giám đốc sở; chịu sự chỉ đạo về công tác thanh tra và hướng dẫn về nghiệp vụ thanh tra hành chính của Thanh tra tỉnh, về nghiệp vụ thanh tra chuyên ngành của Thanh tra bộ
Công tác thanh tra, kiểm tra việc thực hiện các quy định pháp luật về hoạt động đầu tư xây dựng là một trong những nhiệm vụ của Thanh tra Xây dựng (ở Trung ương là Thanh tra Bộ Xây dựng, ở địa phương là Thanh tra Sở Xây dựng)
*) Thực trạng cơ cấu tổ chức thanh tra Thanh tra Sở Xây dựng Tây Ninh Thanh tra Sở Xây dựng Tây Ninh là cơ quan trực thuộc Sở Xây dựng Tây Ninh, có trách nhiệm giúp Giám đốc Sở thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của Giám đốc Sở
Tổ chức, biên chế của thanh tra Sở Xây dựng Tây Ninh hiện gồm:
Trang 31- Lãnh đạo Thanh tra Sở 03 biên chế gồm: 01 Chánh Thanh tra, 02 Phó Chánh Thanh tra;
- 03 Bộ phận giúp việc với 08 biên chế, gồm:
+ Bộ phận Tổng hợp hành chính có 03 biên chế;
+ Bộ phận Thanh tra chuyên ngành có 04 biên chế;
+ Bộ phận Tiếp công dân, giải quyết khiếu tố, phòng chống tham nhũng
có 01 biên chế;
- 04 Đội Thanh tra Xây dựng trực thuộc với 09 biên chế, gồm:
+ Đội Thanh tra Xây dựng độc lập tỉnh Tây Ninh có 04 biên chế, quản
lý trật tự xây dựng trên địa bàn tỉnh Tây Ninh;
+ Đội Thanh tra Xây dựng liên huyện số 1 có 01 biên chế, quản lý trật
tự xây dựng trên địa bàn huyện Hòa Thành, Châu Thành và Dương Minh Châu;
+ Đội Thanh tra Xây dựng liên huyện số 2 có 03 biên chế, quản lý trật
tự xây dựng trên địa bàn huyện Gò Dầu, Trảng Bàng và Bến Cầu;
+ Đội Thanh tra Xây dựng liên huyện số 3 có 01 biên chế, quản lý trật
tự xây dựng trên địa bàn huyện Tân Châu và Tân Biên;
Ngoài ra, Thanh tra Xây dựng còn có 02 dự nguồn công chức, 02 hợp đồng lao động được bố trí cho các Đội Thanh tra Xây dựng và 01 hợp đồng để thực hiện công việc bảo vệ
Tổng cộng lực lượng Thanh tra Xây dựng Tây Ninh hiện tại là 25 người, gồm 20 biên chế, 02 dự nguồn công chức và 03 hợp đồng
Chất lượng đội ngũ Thanh tra Xây dựng hiện tại
- Về trình độ chuyên môn nghiệp vụ:
+ Cử nhân/kỹ sư: 19 người
+Trung cấp: 05 người
- Về trình độ lý luận chính trị:
Trang 32+ Cao cấp, cử nhân: 01 người
+ Trung cấp: 11 người
+ Chưa qua đào tạo: 12 người
- Về cơ cấu ngạch công chức
+Công chức ngạch chuyên viên cao cấp hoặc tương đương: 00 người + Công chức ngạch chuyên viên chính hoặc tương đương: 00 người + Công chức thanh tra viên, chuyên viên: 13 người
+ Công chức giữ ngạch cán sự hoặc tương đương: 09 người
+ Công chức giữ ngạch nhân viên hoặc tương đương: 03 người
Thanh tra Sở được tổ chức thống nhất dưới sự quản lý, điều hành của Chánh thanh tra Sở, Chánh thanh tra Sở chịu trách nhiệm trước Giám đốc Sở; Phó Chánh thanh tra giúp Chánh thanh tra một số nhiệm vụ, quyền hạn do Chánh thanh tra phân công;
Với lực lượng trên trong những năm vừa qua, Thanh tra Sở Xây dựng Tây Ninh đã tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra các hoạt động xây dựng trên địa bàn Trong năm 2014 và 6 tháng đầu năm 2015, Thanh tra Sở Xây dựng đã tiến hành 06 cuộc thanh tra theo kế hoạch được duyệt; 01 cuộc thanh tra đột xuất theo chỉ đạo của cấp có thẩm quyền với nội dung thanh, kiểm tra tập trung vào những vấn đề nổi cộm, bức xúc Công tác thanh tra, kiểm tra chất lượng công trình được quan tâm; việc tuyên truyền, hướng dẫn các quy định của pháp luật về xây dựng cho đối tượng thanh, kiểm tra đã giúp cho việc thực hiện các quy định của pháp luật về đầu tư xây dựng nghiêm túc hơn; hiệu quả giải quyết các công việc trong quản lý, đầu tư xây dựng của các đơn
vị liên quan đã được nâng lên một bước Nhờ đó, tiến độ công trình xây dựng không những được đẩy nhanh, chất lượng bảo đảm, phát huy tốt hiệu quả vốn đầu tư sau khi đưa vào sử dụng, mà quyết toán các công trình cũng được thực hiện nhanh hơn Năng lực quản lý của các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động xây dựng ngày càng được nâng lên, thực hiện đúng chế độ, chính sách
Trang 33trong đầu tư xây dựng cơ bản, đáp ứng được yêu cầu, quy định của pháp luật Các hành vi vi phạm pháp luật, sai phạm trong lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản được ngăn chặn kịp thời và xử lý theo pháp luật, góp phần tích cực chống tiêu cực, thất thoát vốn đầu tư xây dựng cơ bản trên địa bàn Riêng trong năm
2014 và gần 6 tháng đầu năm 2015, Thanh tra Sở Xây dựng đã thu hồi và loại trừ khỏi quyết toán số tiền gần 825 triệu đồng do việc nghiệm thu, quyết toán khối lượng không đúng thực tế thi công; xử phạt hành chính hơn 01 tỷ đồng
Qua các cuộc thanh tra, kiểm tra đã tiến hành, nhìn chung hầu hết công trình xây dựng trên địa bàn tỉnh khi đưa vào sử dụng điều đảm bảo chất lượng, phát huy hiệu quả vốn đầu tư phục vụ phát triển sản xuất, dân sinh Đến tháng 6 năm 2015 chưa có công trình xây dựng trên địa bàn bị sập hoặc
có nguy cơ bị sập gây nguy hiểm đến tính mạng con người và thiệt hại về tài sản; các vi phạm về chất lượng công trình xây dựng không ảnh hưởng lớn đến kết cấu chịu lực chính của công trình Tuy nhiên qua quá trình thanh tra, kiểm tra tại các dự án đầu tư xây dựng công trình nói chung, công trình cầu nói riêng đã phát hiện các sai phạm có tính phổ biến cụ thể như:
Sai phạm của các cơ quan quản lý, chủ đầu tư và nhà thầu thường là:
- Đối với lĩnh vực thiết kế, lập dự toán gồm:
+ Chỉ định nhà sản xuất vật liệu, vật tư và thiết bị xây dựng công trình trong hồ sơ thiết kế và dự toán;
+ Lập hồ sơ thiết kế không đúng quy định;
+ Tính toán cự ly vận chuyển, phương tiện vận chuyển không phù hợp thực tế làm tăng chi phí xây dựng đối với công trình sử dụng vốn nhà nước;
+ Không lập quy trình bảo trì công trình;
+ Tính toán, xác định khối lượng để đưa vào dự toán không căn cứ vào các thong số trên bản vẽ thiết kế
- Đối với lĩnh vực thẩm tra: Có báo cáo thẩm tra không chính xác
- Công tác thẩm định phê duyệt thiết kế kỹ thuật và tổng dự toán:
Trang 34+ Thẩm định, phê duyệt thiết kế, dự toán xây dựng công trình không đúng trình tự, thủ tục quy định;
+ Phê duyệt dự toán có khối lượng không phù hợp với khối lượng bản
vẽ thiết kế
- Không thực hiện quyết toán dự án theo quy định: Do chủ quan là chờ kết quả thanh tra, kiểm toán mới tiến hành quyết toán, do khách quan là không quyết toán dứt điểm được với địa phương về kinh phí đền bù, giải phóng mặt bằng
- Đối với lĩnh vực thi công
+ Nghiệm thu không đúng chất lượng, khối lượng thi công thực tế + Xác nhận hồ sơ hoàn thành công trình không đúng thực tế thi công + Nghiệm thu khi chưa có khối lượng thi công
+ Phần thủ tục: Nghiệm thu sơ sài, khối lượng nghiệm thu không đúng thực tế thi công, nhật ký thi công ghi không đúng quy định thiếu thông tin như thời tiết, loại máy thi công, ký kết hợp đồng không đúng quy định, không tiến hành thanh lý hợp đồng,
+ Thi công chưa tuân thủ theo các tiêu chuẩn: Không có thiết kế thành phần cấp phối bê tông, lấy mẫu không đủ số lượng theo tiêu chuẩn, không thí nghiệm vật liệu đầu vào đặc biệt là gạch xây đối với các hạng mục công trình thoát nước
Các sai phạm do các nhà thầu tƣ vấn giám sát:
- Không lập đề cương giám sát trình Chủ đầu tư;
- Không tuân thủ quy trình quy phạm về nghiệm thu công trình;
Thanh tra Sở Xây dựng đã phát hiện yêu cầu các cơ quan, tổ chức, cá nhân có những sai phạm trên thực hiện theo đúng quy định của pháp luật về xây dựng và xử lý vi phạm hành chính theo quy định của pháp Luật Thanh tra
Nguyên nhân chính của những tồn tại trên trước hết là các ngành, các cấp được phân cấp quản lý đầu tư xây dựng, được tăng cường quyền hạn và trách nhiệm nhưng chưa chuẩn bị được bộ máy tham mưu có năng lực thực
Trang 35hiện nhiệm vụ đã được tăng cường Đến nay, bộ máy quản lý đầu tư xây dựng cấp huyện và xã, phường vẫn chưa được củng cố, tổ chức tương xứng với nhiệm vụ được phân cấp Các phòng, ban chức năng quản lý nhà nước ở một
số địa phương (cấp huyện) chưa kiểm tra, giám sát chặt chẽ các hoạt động xây dựng trên địa bàn mình quản lý Việc quản lý hồ sơ còn nhiều hạn chế, công tác giám sát chưa được chặt chẽ dẫn đến những sai phạm nêu trên Một số nhà thầu xây dựng tổ chức theo mô hình khung bộ máy quản lý, còn lại thuê lực lượng lao động trực tiếp ngoài xã hội, không phải là mô hình sản xuất tốt đã gây nhiều tác động ngược chiều trong xây dựng và quản lý xây dựng Tỷ trọng lao động được qua đào tạo thấp cũng là một nguyên nhân quan trọng dẫn đến tiến độ xây dựng và chất lượng công trình xây dựng chậm được cải thiện, vv
Bên cạnh đó trang thiết bị, phương tiện phục vụ công tác thanh, kiểm tra của lực lượng chức năng còn thiếu và chưa đồng bộ; kinh phí cho một cuộc thanh tra còn hạn chế, vv cũng ảnh hưởng đến việc thanh, kiểm tra chất lượng công trình xây dựng ở tỉnh và nhất là ở vùng sâu, vùng xa
1.3.2 Thực trạng cơ chế, chính sách thanh tra, kiểm tra
- Vị trí chức năng của Thanh tra Xây dựng: Được tổ chức thành hệ thống ở trung ương là Thanh tra Bộ Xây dựng và ở địa phương là Thanh tra
Sở Xây dựng; thực hiện chức năng thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành trong phạm vi quản lý nhà nước gồm:
+ Thanh tra việc thực hiện các quy định pháp luật về quy hoạch, kiến trúc
+ Thanh tra việc thực hiện các quy định pháp luật về hoạt động đầu tư xây dựng
+ Thanh tra việc thực hiện các quy định pháp luật về phát triển đô thị, bao
+ Thanh tra việc thực hiện các quy định pháp luật về quản lý, sử dụng các công trình hạ tầng kỹ thuật, bao gồm: Cấp nước, thoát nước, xử lý nước thải; chất thải rắn thông thường; chiếu sáng đô thị, cây xanh đô thị; nghĩa
Trang 36trang; công trình ngầm đô thị; các trong trình hạ tầng kỹ thuật khác trong phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Sở Xây dựng
+ Thanh tra việc thực hiện các quy định pháp luật về phát triển, quản lý,
sử dụng nhà ở; kinh doanh bất động sản; quản lý, sử dụng công sở trong phạm
vi chức năng quản lý nhà nước của Sở Xây dựng
+ Thanh tra việc thực hiện các quy định pháp luật về khai thác khoáng sản làm vật liệu xây dựng, sản xuất vật liệu xây dựng; kinh doanh vật liệu xây dựng có điều kiện theo quy định của pháp luật
+ Thanh tra việc thực hiện các quy định pháp luật về công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng chống tham nhũng theo thẩm quyền
+ Thanh tra việc thực hiện các quy định pháp luật khác trong các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của ngành Xây dựng
- Hình thức thanh tra, kiểm tra:
+ Hoạt động được thực hiện dưới hình thức theo chương trình, kế hoạch và đột xuất
+ Theo chương trình, kế hoạch: Trước ngày 15/12 hàng năm Thanh tra
sở trình Giám đốc Sở phê duyệt kế hoạch thanh tra, kiểm tra của năm sau để triển khai thực hiện
+ Đột xuất: Được tiến hành khi phát hiện tổ chức, cá nhân có dấu hiệu
vi phạm pháp luật, theo yêu cầu của việc giải quyết khiếu nại, tố cáo hoặc Giám đốc Sở Xây dựng giao
- Phương thức hoạt động thanh tra, kiểm tra:
Việc thanh tra, kiểm tra được thực hiện theo phương thức đoàn thanh tra, kiểm tra; Đoàn có Trưởng đoàn, Phó đoàn và các thành viên
Khi tiến hành thanh tra, kiểm tra phải có quyết định của Chánh Thanh tra hoặc của Giám đốc Sở
- Chế độ thanh tra viên:
Là một ngạch công chức chuyên môn đặc thù của ngành thanh tra Cường độ lao động và đặc điểm của hoạt động thanh tra mang tính tổng hợp, điều kiện lao động khó khăn, phức tạp nên yêu cầu về trình độ đào tạo và
Trang 37năng lực thực tiễn đòi hỏi rất cao Do đó, ngài chế độ, chính sách chung của một công chức Nhà nước, Thanh tra viên có chế độ phụ cấp, điều kiện phương tiện làm việc cơ bản đầy đủ và phù hợp
- Quan hệ công tác của Thanh tra Sở
Thanh tra Sở chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Giám đốc Sở, đồng thời chịu
sự hướng dẫn, kiểm tra về chuyên môn, nghiệp vụ thanh tra hành chính của Thanh tra tỉnh;
Thanh tra Sở chịu sự hướng dẫn, kiểm tra về nghiệp vụ thanh tra chuyên ngành của Thanh tra Bộ Xây dựng; tổng hợp, báo cáo định kỳ hoặc đột xuất về công tác thanh tra chuyên ngành cho Thanh tra Bộ Xây dựng;
Thanh tra Sở phối hợp với thanh tra các ngành, UBND cấp Huyện, cấp
Xã và các cơ quan nhà nước khác có thẩm quyền trong quá trình thanh tra đối với các vấn đề liên quan đến xây dựng và trong phòng ngừa, ngăn chặn, đấu tranh chống các hành vi vi phạm pháp luật [3]
1.3.3 Thực trạng công tác tuyên truyền vận động xây dựng và bảo vệ hệ thống cầu tỉnh
Trong những năm qua Sở Xây dựng Tây Ninh luôn quán triệt, triển khai thực hiện Chỉ thị số 32-CT/TW ngày 09/12/2003 của Ban bí thư trung ương Đảng; Quyết định số 212/2004/QĐ-TTg ngày 16/12/2004 của Thủ tướng chính phủ phê duyệt chương trình hành động quốc gia về phổ biến, giáo dục pháp luật cho cán bộ ở xã, phường, thị trấn năm 2005 đến năm 2010; Quyết định số 37/2008/QĐ-TTg ngày 13/12/2008 của Thủ tướng chính phủ phê duyệt chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2008 đến năm 2012; các văn bản chỉ đạo của Tỉnh uỷ, UBND tỉnh về công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trên địa bàn tỉnh; Sở Xây dựng Tây Ninh luôn kịp thời phổ biến các văn bản quy phạm pháp luật mới ban hành đến toàn thể cán bộ, công chức, viên chức trong cơ quan, các đơn vị trực thuộc Sở và tổ chức các lớp tập huấn cho cán bộ, công chức làm công tác quản lý xây dựng và hoạt động xây dựng
Trang 38của các cơ quan, đơn vị trên địa bàn tỉnh các văn bản quy phạm pháp luật về xây dựng
*) Đội ngũ cán bộ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật
- Đội ngũ cán bộ chuyên trách: Không có;
- Đội ngũ cán bộ làm công tác kiêm nhiệm: Có 01 cán bộ pháp chế; 02 báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật; trình độ: tốt nghiệp Đại học, có kinh nghiệm trong công tác quản lý xây dựng; hằng năm được cơ quan cử đi học các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ về tuyên truyền pháp luật do Bộ Tư pháp hoặc UBND tỉnh tổ chức; cơ quan thường xuyên tổ chức các buổi học tập, quán triệt các văn bản pháp luật mới ban hành tới cán bộ, công nhân viên trong cơ quan đơn vị trực thuộc Sở
*) Các hoạt động cụ thể
- Các hình thức và biện pháp phổ biến, tuyên truyền được sử dụng: Tuyên truyền miệng: thông qua các cuộc giao ban cơ quan phổ biến, tuyên truyền kịp thời các văn bản quy phạm pháp luật về xây dựng và in tài liệu để cán bộ, công chức thực hiện; tổ chức định kỳ mỗi quý 01 lần phổ biến các văn bản quy phạm pháp luật đến 100% cán bộ, công chức, viên chức trong cơ quan, đơn vị trực thuộc Sở
Tuyên truyền thông qua các cuộc thi tìm hiểu pháp luật do ngành tổ chức
Xây dựng 01 tủ sách pháp luật, hằng năm cơ quan giành khoản kinh phí
từ 5 đến 10 triệu đồng để mua sách pháp luật về xây dựng và các sách pháp luật có liên quan để cán bộ, công chức cơ quan nghiêm cứu quán triệt và tổ chức thực hiện
Hình thức tuyên truyền khác: Sở đã tổ chức 01 lớp học phổ biến, tuyên truyền, giáo dục pháp luật cho cán bộ làm công tác quản lý xây dựng của các
Sở, Ngành và các đơn vị có liên quan của Tỉnh, Huyện, Tỉnh; 01 lớp học phổ biến, tuyên truyền, giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức cấp xã, phường,
Trang 39thị trấn; mời chuyờn gia, giảng viờn của Bộ Xõy dựng và của Học viện đào tạo bồi dưỡng cỏn bộ quản lý ngành xõy dựng lờn lớp giảng bài;
Ngoài ra Sở Xõy dựng phối hợp với một số Trung tõm, Cụng ty tư vấn
tổ chức cỏc khoỏ học bồi dưỡng kiến thức phỏp luật về xõy dựng và nghiệp vụ cho cỏn bộ, cụng chức và những người tham gia hoạt động xõy dựng trờn địa bàn tỉnh với 95 xó phường, thị trấn tham gia học tập;
Sở phối hợp với cỏc Sở của tỉnh, cử người tham gia bỏo cỏo viờn phỏp luật về xõy dựng cho cỏc lớp bồi dưỡng kiến thức cho cỏn bộ cấp xó do Sở nội
vụ tổ chức ở cỏc huyện, Tỉnh;
- Nội dung phỏp luật được phổ biến, tuyờn truyền trong những năm gần đõy:
Luật Xõy dựng số 16/2003/QH11 ngày 26/11/2003;
Nghị định số 08/2005/NĐ-CP ngày 24/01/2005 của Chớnh phủ về quy hoạch xõy dựng;
Nghị định số 16/2005/NĐ-CP ngày 07/02/2005 của Chớnh phủ về quản
lý dự ỏn đầu tư xõy dựng cụng trỡnh;
Nghị định số 209/2004/NĐ-CP ngày 16/12/2004 của Chớnh phủ về quản lý chất lượng cụng trỡnh xõy dựng;
Luật Quy hoạch đô thị số 30/2009/QH12 ngày 17/6/2009
Nghị định số 37/2010/NĐ-CP về lập, thẩm định, phờ duyệt và quản lý quy hoạch đụ thị
Nghị định số 12/2009/NĐ-CP ngày 10/02/2009 của Chớnh phủ về quản
lý dự ỏn đầu tư xõy dựng cụng trỡnh;
Nghị định số 83/2009/NĐ-CP của Chớnh phủ về bổ sung sửa đổi một số điều của nghị định số 12/2009/NĐ-CP về quản lý dự ỏn đầu tư xõy dựng công trình
Nghị định số 15/2013/NĐ-CP ngày 06/02/2013 của Chớnh phủ về quản
lý chất lượng cụng trỡnh xõy dựng
Trang 40Nghị định số 126/2004/NĐ-CP ngày 26/05/2004 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động xây dựng công trình, quản lý công trình hạ tầng đô thị và quản lý sử dụng nhà;
Thông tư số 01/2005/TT-BXD ngày 21/01/2005 của Bộ Xây dựng hướng dẫn chi tiết một số điều của Nghị định số 126/2004/NĐ-CP ngày 26/05/2004 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động xây dựng công trình, quản lý công trình hạ tầng đô thị và quản lý sử dụng nhà;
Nghị định số 23/2009/NĐ-CP ngày 27/02/2009 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động xây dựng; kinh doanh bất động sản; khai thác, sản xuất, kinh doanh vật liệu xây dựng; quản lý công trình hạ tang kỹ thuật; quản lý phát triển nhà và công sở
Thông tư số 24/2009/TT-BXD ngày 22/7/2009 của Bộ Xây dựng Quy định chi tiết thi hành một số nội dung của Nghị định số 23/2009/NĐ-CP ngày
27 tháng 02 năm 2009 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động xây dựng; kinh doanh bất động sản; khai thác, sản xuất, kinh doanh vật liệu xây dựng; quản lý công trình hạ tang kỹ thuật; quản lý phát triển nhà