LỜI CẢM ƠN Sau một thời gian học tập và nghiên cứu, tôi đã hoàn thành luận văn thạc sỹ Tổ chức và Quản lý vận tải với đề tài “Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh vận tải hàn
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIAO THÔNG VẬN TẢI
NGÔ TRỌNG THÀNH
GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH VẬN TẢI HÀNH KHÁCH BẰNG TAXI TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN TẬP ĐOÀN MAI LINH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP.HỒ CHÍ MINH – 2018
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIAO THÔNG VẬN TẢI
NGÔ TRỌNG THÀNH
GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH VẬN TẢI HÀNH KHÁCH BẰNG TAXI TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN TẬP ĐOÀN MAI LINH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Ngành: Tổ chức và Quản lý vận tải
Mãsố:8.84.01.03
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
GS.TS TỪ SỸ SÙA
TP.HỒ CHÍ MINH – 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc
Tp Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2018
Tác giả
Ngô Trọng Thành
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian học tập và nghiên cứu, tôi đã hoàn thành luận văn thạc sỹ
Tổ chức và Quản lý vận tải với đề tài “Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh vận tải hành khách bằng taxi tại Công ty Cổ phần Tập đoàn Mai Linh Thành phố Hồ Chí Minh” Để hoàn thành tốt luận văn thạc sỹ, ngoài sự nỗ
lực của bản thân, tôi đã nhận được rất nhiều sự quan tâm giúp đỡ nhiệt tình của các tập thể, cá nhân trong và ngoài trường Đại học Giao thông Vận tải, vì thế:
Trước hết với tình cảm chân thành và lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin gửi lời cảm
ơn đến GS.TS Từ Sỹ Sùa – người trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy giáo, cô giáo Khoa Vận tải Kinh tế, trường Đại học Giao thông Vận tải đã trực tiếp giảng dạy và tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện khóa luận này
Tôi cũng xin cảm ơn lãnh đạo và tập thể nhân viên Công ty cổ phần tập đoàn Mai Linh Tp Hồ Chí Minh đã cung cấp cho tôi những số liệu cần thiết và giúp đỡ tôi trong quá trình tôi nghiên cứu tại đây
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, đồng nghiệp, bạn bè đã luôn bên cạnh động viên, giúp đỡ tôi về mặt vật chất lẫn tinh thần để tôi hoàn thành báo cáo của mình
Tp Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2018
Tác giả
Ngô Trọng Thành
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC BẢNG BIỂU vi
DANH MỤC HÌNH VẼ viii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT ix
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG 3
KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP VẬN TẢI 3
1.1 Tổng quan về vận tải hành khách bằng ô tô 3
1.1.1 Khái quát về vận tải 3
1.1.2.Các hình thức vận tải hành khách bằng ô tô 7
1.2 Tổng quan về hiệu quả hoạt động kinh doanh trong doanh nghiệp vận tải 14
1.2.1 Khái niệm về hiệu quả 14
1.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh 19
1.3 Các phương pháp phân tích, đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh 26
1.3.1 Phương pháp so sánh 27
1.3.2 Phương pháp loại trừ 29
1.3.3 Phương pháp thay thế liên hoàn 29
1.3.4 Phương pháp số chênh lệch 31
1.3.5 Các phương pháp phân tích khác 32
1.4 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp 33
1.4.1 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tổng hợp 34
Trang 61.4.2 Các chỉ tiêu đánh giá bộ phận 35
CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN TẬP ĐOÀN MAI LINH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 39
2.1 Tổng quan về Công ty Cổ phần Tập đoàn Mai Linh Thành phố Hồ Chí Minh 39
2.1.1.Lịch sử hình thành và phát triển 39
2.1.2.Tầm nhìn, sứ mạng, giá trị cốt lõi, tiêu chí hoạt động 40
2.1.3 Chức năng, nhiệm vụ các phòng ban 41
2.2 Phân tích thực trạng hiệu quả hoạt động kinh doanh của Công ty Cổ phần Tập đoàn Mai Linh TP Hồ Chí Minh 46
2.2.1 Kết quả hoạt động kinh doanh 2015 -2017 49
2.2.2 Cơ cấu doanh thu của công ty qua các năm 51
2.3.Đánh giá chung về hiệu quả hoạt động kinh doanh của Công ty Cổ phần Tập đoàn Mai Linh Thành phố Hồ Chí Minh 53
2.3.1 Đánh giá hiệu quả kinh doanh tổng hợp 53
2.3.2.Đánh giá theo các chỉ tiêu kinh doanh bộ phận 54
2.3.3 Tổng hợp những mặt tích cực và hạn chế trong hoạt động kinh doanh của công ty 58
2.4 Những khó khăn trong công tác quản lý taxi tại thành phố Hồ Chí Minh hiện nay 63
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN TẬP ĐOÀN MAI LINH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 67
3.1.Định hướng phát triển Công ty Cổ phần Tập đoàn Mai Linh Thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2020 tầm nhìn đến năm 2025 67
3.1.1.Định hướng phát triển Thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2020 tầm nhìn đến năm 2025 67 3.1.2.Định hướng phát triển giao thông vận tải Thành phố Hồ Chí Minh đến
Trang 7năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2025 68
3.1.3 Định hướng phát triển Công ty Cổ phần Tập đoàn Mai Linh Thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2025 69
3.2.Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của Công ty Cổ phần Tập đoàn Mai Linh Thành phố Hồ Chí Minh 70
3.2.1 Giải pháp tăng doanh thu 70
3.2.2 Giải pháp giảm chi phí 79
3.2.3 Giải pháp quản trị và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 84
3.3.Kiến nghị về các cơ chế chính sách của Nhà nước đối với các đơn vị vận tải 87
3.3.1.Về cơ chế chính sách hỗ trợ doanh nghiệp taxi truyền thống 87
3.3.2.Về công tác quản lý nhà nước đối với vận tải hành khách công cộng bằng taxi 87
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 89
TÀI LIỆU THAM KHẢO 90
Trang 8DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2 1 Hệ thống bãi giao ca khu vực TP HCM 46
Bảng 2.2: Các loại phương tiện taxi đang kinh doanh khu vực TP.HCM 48
Bảng 2.3: Bảng giá cước áp dụng đối với dòng xe 7 chỗ 49
Bảng 2.4: Bảng giá cước áp dụng đối với dòng xe 4 chỗ 49
Bảng 2.5: Kết quả hoạt động kinh doanh năm 2015 49
Bảng 2.6: Kết quả hoạt động kinh doanh năm 2016 50
Bảng 2.7: Kết quả hoạt động kinh doanh năm 2017 50
Bảng 2.8: Doanh thu 6 tháng đầu năm 2018 53
Bảng 2.9: Lợi nhuận và chi phí của Công ty 2015-2017 53
Bảng 2.10: Lao động và doanh thu của Công ty 2015-2017 54
Bảng 2.11: Lao động và lợi nhuận của Công ty 2015-2017 55
Bảng 2.12: Lao động và tiền lương của Công ty 2015-2017 55
Bảng 2 13: Doanh thu và vốn của Công ty 2015-2017 56
Bảng 2.14: Doanh thu, vốn và sức sinh lời của vốn Công ty 2015-2017 57
Bảng 2.15: Doanh thu, chi phí, sức sản xuất của chi phí Công ty 2015-2017 57
Bảng 2.16 Lợi nhuận, chi phí, sức sinh lời của chi phí Công ty 2015-2017 57
Bảng 2.17 Cước taxi của GrabCar khu vực Tp HCM 61
Bảng 2.18 Cước taxi của GrabCar khu vực Tp HCM 62
Bảng 3.1: Đầu tư mới phương tiện và thay thế phương tiện cũ 71
Bảng 3.2: Đầu tư mới dòng xe chất lượng cao 71
Bảng 3.3: Chính sách áp dụng đối với xe hợp tác kinh doanh 73
Bảng 3.4: Tỷ lệ chia doanh thu đối với xe Hyundai i10, KiaMorning 74
Bảng 3.5: Tỷ lệ chia doanh thu đối với xe Vios, Sunny, i10sedan 74
Bảng 3.6: Tỷ lệ chia doanh thu đối với xe Xe InnovaJ 74
Bảng 3.7: Tỷ lệ chia doanh thu đối với Xe innova G, innova E, Fortuner 75
Bảng 3.8: Doanh thu kế hoạch quảng cáo trên xe taxi 76
Bảng 3.9: Chi phí đầu tư hệ thống máy POS mới 78
Bảng 3.10: Giảm nhân sự đội ngũ lao động trực tiếp 83
Trang 9Bảng 3.11: Hiệu quả sau khi giảm nhân sự lao động trực tiếp 84 Bảng 3.12: Xây dựng tiêu chuẩn tuyển nhân viên lái xe 86
Trang 10DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 1.1: Phân loại vận tải theo tính chất .5
Hình 1.2: Phân loại vận tải theo phương thức (hình thức) .5
Hình 1.3: Phân loại vận tải theo đối tượng vận chuyển .6
Hình 1.4: Phân loại vận tải theo cách tổ chức quá trình vận tải 6
Hình 1.5: Các hình thức vận tải hành khách theo tuyến cố định .8
Hình 1.6: Các hình thức vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt 12
Hình 1.7: Phân loại hiệu quả 15
Hình 1.8: Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh 20
Hình 1.9: Một số phương pháp phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh 27
Hình 1.10: Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quảkinh doanh trong doanh nghiệp 34
Hình 2 1 Sơ đồ cơ cấu tổ chức của công ty 45
Hình 2.2: Cơ cấu phương tiện taxi 48
Hình 2.3: Biểu đồ cơ cấu doanh thu năm 2015 51
Hình 2.4: Biểu đồ cơ cấu doanh thu năm 2016 52
Hình 2.5: Biểu đồcơ cấu doanh thu năm 2017 52
Hình 2.6: Hiện trạng bãi giao ca hiện nay 59
Hình 2.7: Bộ phận tổng đài hát điểm qua bộ đàm 60
Hình 2.8: Bộ phận tổng đài phát điểm qua App Mai Linh online 60
Hình 2.9:Bộ phận điều hành điểm điều xe tại điểm tiếp thị 61
Hình 2.10: Phương thức thanh toán của Grab 62
Hình 2.11 Ứng dụng điện tử của taxi giá rẻ 64
Hình 3.1: Chính sách đối với xe hợp tác kinh doanh 73
Hình 3.2:Quảng cáo bằng decal dán trên xe taxi 76
Hình 3.3:Hiệu quả của quảng cáo trên xe taxi 77
Hình 3.4: Thẻ đi taxi thanh toán trả sau (MCC) 79
Hình 3.5: Số lượng taxi công nghệ tại TP HCM từ 2014 -2017 80
Hình 3.6: Ứng dụng đặt xe Mai linh online 81
Hình 3.7: Bản đồ nhiệt trên ứng dụng 81
Hình 3.8: Xác định vị trí đậu xe taxi thông qua định vị 82
Hình 3.9: Xác định lộ trình cho từng cuốc xe 82
Hình 3.10: Thiết lập các điểm tiếp thị có bố trí điều hành phục vụ khách 83
Trang 11DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế, một chỉ tiêu chất lượng tổng hợp Đánh giá hiệu quả kinh doanh chính là quá trình so sánh giữa chi phí bỏ ra và kết quả thu về với mục đích đã được đặt ra và dựa trên cơ sở giải quyết các vấn đề
cơ bản của kinh tế Do đó việc nghiên cứu và xem xét vấn đề nâng cao hiệu quả kinh doanh là một đòi hỏi tất yếu đối với mỗi doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh hiện nay Cơ chế thị trường luôn luôn đòi hỏi các doanh nghiệp phải chủ động tích cực sáng tạo trong hoạt động kinh doanh để tạo ra lợi nhuận cho việc tồn tại và phát triển của mình Đối với một doanh nghiệp hoạt động kinh doanh thì mục đích cuối cùng chính là tạo ra lợi nhuận cao nhất Trong cơ chế thị trường thì vấn đề cấp thiết đặt ra đối với doanh nghiệp là phải sử dung các yếu tố đầu vào một cách
có hiệu quả nhất hay nói cách khác là phải đạt được mức lợi nhuận cao nhất trên một đơn vị yếu tố đầu vào
Trong những năm gần đây, thị trường taxi Việt Nam phát triển rất sôi động với tốc độ cao, đặc biệt tăng đột biến tại TP Hồ Chí Minh, khi loại hình taxi gắn thiết bị phần mềm gọi xe của Grab tham gia Kể từ đó, môi trường kinh doanh trong dịch vụ vận tải hành khách công cộng (VTHKCC) bằng taxi đã có những thay đổi
cơ bản tạo ra những hành vi cạnh canh không lành mạnh với taxi truyền thống dẫn đến làm hỗn loạn thị trường taxi ở các thành phố lớn Việt Nam Xuất phát từ vấn đề
đó việc lựa chọn đề tài: “Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh vận
tải hành khách công cộng bằng taxi tại công ty Cổ phần Tập đoàn Mai Linh Thành phố Hồ Chí Minh” là hết sức cần thiết và cấp bách
2 Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu cơ sở lý thuyết hiệu quả hoạt động kinh doanh, phân tích đánh giá hoạt động, hiệu quả kinh doanh của của Công ty Cổ phần Tập đoàn Mai Linh TP HCM Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của Công ty
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Hoạt động kinh doanh bằng taxi của Công ty Cổ Phần Tập Đoàn Mai Linh
Trang 13Tp HCM Ngoài ra luận văn sử dụng các số liệu báo cáo, thống kê, đánh giá các năm gần đây để thực hiện mục tiêu đề ra
Đề tài giới hạn trong việc đề xuất một số giải pháp cụ thể nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh cho Công ty Cổ Phần Tập Đoàn Mai Linh đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2025
4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp phổ biến và phương pháp đặc thù, ngoài ra còn sử dụng: phương pháp hệ thống hóa, phương pháp thống kê, phương pháp so sánh, phân tích
và tổng hợp
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, tài liệu tham khảo, kết cấu nội dung của luận văn bao gồm các chương như sau:
Chương 1:Cơ sở lý luận về hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
vận tải
Chương 2:Phân tích đánh giá thực trạng hiệu quả hoạt động kinh doanh của
Công ty Cổ phần Tập đoàn Mai Linh Thành phố Hồ Chí Minh Chương 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của
Công ty Cổ phần Tập đoàn Mai Linh Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 14CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG
KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP VẬN TẢI
1.1 Tổng quan về vận tải hành khách bằng ô tô
1.1.1 Khái quát về vận tải
1.1.1.1 Khái niệm vận tải
Vận tải là một hoạt động kinh tế có mục đích của con người nhằm đáp ứng nhu cầu di chuyển vị trí của đối tượng vận chuyển, đối tượng vận chuyển gồm con người (hành khách) và vật phẩm (hàng hoá) Sự di chuyển vị trí của con người và vật phẩm trong không gian rất đa dạng, phong phú và không phải mọi di chuyển đều
là vận tải Vận tải chỉ bao gồm những di chuyển do con người tạo ra nhằm mục đích kinh tế (lợi nhuận) để đáp ứng yêu cầu về sự di chuyển đó mà thôi
Ngoài ra, trong quá trình sản xuất của ngành vận tải cũng đã tiêu thụ một lượng vật chất nhất định như: vật liệu, nhiên liệu, hao mòn phương tiện vận tải Hơn nữa, đối tượng lao động (hàng hoá, hành khách vận chuyển) trong quá trình sản xuất vận tải cũng trải qua sự thay đổi nhất định
Có thể khái niệm về vận tải như sau: Vận tải là quá trình thay đổi (di chuyển)
vị trí của hàng hoá, hành khách trong không gian và thời gian để nhằm thoả mãn nhu cầu nào đó của con người
1.1.1.2 Tính chất của vận tải
Là ngành sản xuất vật chất nên vận tải cũng có sản phẩm của riêng mình, sản phẩm của vận tải chính là sự di chuyển của con người và vật phẩm trong không gian Sản phẩm vận tải cũng là hàng hoá và cũng có giá trị và giá trị sử dụng, giá trị của hàng hoá là lượng lao động xã hội cần thiết kết tinh trong hàng hoá đó, giá trị sử dụng của sản phẩm vận tải là khả năng đáp ứng nhu cầu di chuyển
Tuy nhiên, so với các ngành sản xuất khác, vận tải có những đặc điểm khác biệt về quá trình sản xuất, về sản phẩm và tiêu thụ sản phẩm, thể hiện ở các điểm sau đây:
- Môi trường sản xuất của vận tải là không gian, luôn di động chứ không cố định như trong các ngành khác;
- Sản xuất trong vận tải là quá trình tác động về mặt không gian vào đối
Trang 15tượng lao động chứ không phải tác động về mặt kỹ thuật, do đó không làm thay đổi hình dáng, kích thước của đối tượng lao động;
- Sản phẩm vận tải không tồn tại dưới hình thức vật chất và khi sản xuất ra là được tiêu dùng ngay Hay nói cách khác sản phẩm vận tải mang tính vô hình Trong ngành vận tải, sản xuất và tiêu thụ diễn ra đồng thời, do đó không có khả năng dự trữ sản phẩm vận tải để tiêu dùng về sau mà chỉ có khả năng dự trữ năng lực vận tải
mà thôi;
- Quá trình sản xuất của ngành vận tải không tạo ra sản phẩm vật chất mới
mà chỉ làm thay đổi vị trí của hàng hoá và qua đó cũng làm tăng giá trị của hàng hoá
1.1.1.3 Phân loại vận tải: Có nhiều cách phân loại vận tải, phụ thuộc vào các tiêu
thức phân loại Những tiêu thức phân loại chủ yếu như:
- Căn cứ vào tính chất của vận tải:
+ Vận tải công nghệ (vận tải nội bộ): là việc vận chuyển trong nội bộ doanh
nghiệp nhằm di chuyển nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu, thành phẩm, bán thành phẩm, con người phục vụ cho quá trình sản xuất của doanh nghiệp bằng phương tiện của doanh nghiệp đó mà không trực tiếp thu tiền cước vận tải Vận tải nội bộ là thực hiện một khâu của quá trình công nghệ để sản xuất sản phẩm vật chất nào đó
Khối lượng hàng hoá và hành khách của vận tải nội bộ không được tập hợp
để đưa vào Niên giám thống kê trong mục khối lượng vận tải hàng hoá, hành khách
+ Vận tải công cộng: là việc kinh doanh vận tải (hàng hoá hay hành khách)
để thu tiền cước dịch vụ vận tải và tìm kiếm lợi nhuận
Khối lượng hàng hoá, hành khách mà vận tải công cộng thực hiện được đưa
vào Niên giám thống kê trong mục khối lượng vận tải hàng hoá, hành khách
+ Vận tải cá nhân: là việc vận chuyển để nhằm thoả mãn nhu cầu của bản
thân (hoặc người thân) mà không thu tiền cước vận tải
Khối lượng vận tải do vận tải cá nhân thực hiện không được tính vào Niên giám thống kê mục khối lượng vận tải hàng hoá, hành khách
Trang 16Hình 1.1: Phân loại vận tải theo tính chất
- Căn cứ vào phương thức (hình thức) thực hiện quá trình vận tải:
+ Vận tải đường thuỷ (vận tải đường biển; thuỷ nội địa)
+ Vận tải đặc biệt: là việc vận tải được thực hiện bởi phương tiện vận tải đặc biệt; đối tượng vận chuyển hoặc cự ly vận chuyển đặc biệt
Hình 1.2: Phân loại vận tải theo phương thức (hình thức)
- Căn cứ vào đối tượng vận chuyển:
VT đường
bộ
VT đường sắt
VT đường ống
VT thành phố
VT đặc biệt
Trang 17Hình 1.3: Phân loại vận tải theo đối tượng vận chuyển
- Căn cứ vào cách tổ chức quá trình vận tải:
+ Vận tải đơn phương thức(Unimodal Transport) là: việc vận tải hàng hoá
hay hành khách được vận chuyển từ nơi đi (xuất phát) tới nơi đến (kết thúc) chỉ bằng một phương thức vận tải duy nhất
+ Vận tải đa phương thức(Multimodal Transport) là: việc vận tải hàng hoá
hay hành khách từ nơi đi tới nơi đến được thực hiện bằng ít nhất là 2 phương thức vận tải, nhưng chỉ sử dụng một hợp đồng vận tải duy nhất và chỉ một người chịu trách nhiệm trong quá trình vận tải đó
+ Vận tải đứt đoạn(Segmented Transport) là: việc vận tải hàng hóa hay hành
khách được thực hiện bằng 2 hay nhiều phương thức vận tải, nhưng phải sử dụng 2 hay nhiều hợp đồng vận tải và 2 hay nhiều người chịu trách nhiệm trong quá trình vận tải đó
Hình 1.4: Phân loại vận tải theo cách tổ chức quá trình vận tải
- Phân loại theo các tiêu thức khác:
+ Theo khối lượng vận tải: khối lượng lớn; vừa và nhỏ Ngoài ra, một chủ hàng vừa có hàng đi vừa có hàng về trên cùng một tuyến thì được gọi là hàng kết hợp (hàng về) và giá cước của khối lượng hàng kết hợp thường được giảm khoảng
10 % so với giá cước chiều đi
+ Theo cự ly vận chuyển: cự ly dài (lớn); trung bình và ngắn
+ Theo phạm vi vận tải: trong nước (trong đô thị, nội tỉnh, liên tỉnh) và quốc
Vận tải
VT đơn
phương thức
VT đa phương thức
VT đứt đoạn Vận tải
Trang 18tế
Ngoài ra, trong vận tải bằng ô tô còn được phân loại theo tuyến đường và loại đường vận chuyển vì có ảnh hưởng rất lớn tới giá thành trong vận tải ô tô
1.1.1.4 Ưu điểm của vận tải ô tô
- Vận tải ô tô có một ưu thế hơn hẳn các phương thức vận tải khác đó là vận
chuyển một cách triệt để có thể vận chuyển "từ cửa đến cửa" (door to door)cho nên
thông thường vận tải ô tô là phương thức tiếp chuyển cho các phương thức vận chuyển khác
- Vận tải ô tô có thể hoạt động trong mọi điều kiện thời tiết khí hậu, những nơi điều kiện đường sá khó khăn thậm chí cả những nơi không có đường ví dụ như đường rừng núi, đèo dốc… tuy vậy không phải với bất cứ loại ô tô nào cũng có thể hoạt động trong những điều kiện khó khăn như vậy được Vận tải ô tô có thể vượt qua được một số loại địa hình khó khăn như độ dốc khá cao, các tuyến đường có bán kính quay vòng nhỏ Vận tải ô tô có thể đi đến mọi nơi mọi chỗ của nền kinh
tế
- Phương tiện vận tải ô tô rất đa dạng và nhiều chủng loại khác nhau, đáp ứng nhu cầu vận chuyển hành khách trong đô thị, vận tải hành khách công cộng trong đó có vận tải hành khách bằng xe buýt rất phổ biến đã đem lại cho đô thị văn minh, giảm tắc nghẽn giao thông
1.1.2.Các hình thức vận tải hành khách bằng ô tô
Trong thực tế có nhiều hình thức vận tải hành khách bằng ô tô, tuy nhiên có thể chia làm các loại hình chính như sau:
- Vận tải hành khách theo tuyến cố định (trong nước và quốc tế)
- VTHKCC bằng xe buýt (trong thành phố, ngoại thành, liền kề)
- Vận tải taxi
- Vận tải hành khách du lịch
- Vân tải hành khách theo hợp đồng
1.1.2.1 Vận tải hành khách theo tuyến cố định trong nước và quốc tế
* Các khái niệm:
- Tuyến vận tải khách: là tuyến được xác định để xe ô tô khách vận chuyển khách từ một bến xe thuộc địa danh này đến một bến xe thuộc địa danh khác
Trang 19- Hành trình chạy xe: là tuyến vận tải khách được xác định cụ thể, có quy định điểm đi, điểm đến và các điểm dừng, đỗ để xe ô tô vận tải khách thực hiện trong mỗi chuyến xe
- Lịch trình chạy xe: của một chuyến xe vận chuyển khách là thời gian được xác định cho một hành trình chạy xe từ khi xuất phát đến khi kết thúc chuyến xe
- Biểu đồ chạy xe trên một tuyến vận tải khách: là tổng hợp các lịch trình chạy xe của các chuyến xe vận tải khách tham gia khai thác trên tuyến trong một thời gian nhất định
- Kinh doanh vận tải khách bằng ô tô: là việc sử dụng xe ô tô khách để vận chuyển hành khách có thu tiền
- Doanh nghiệp vận tải: là các đơn vị kinh doanh vận tải được thành lập theo Luật Doanh nghiệp, Luật Hợp tác xã
- Vận tải khách theo tuyến cố định: là vận tải khách theo tuyến có bến đi, bến đến là bến xe khách và xe chạy theo hành trình, lịch trình quy định
- Vận tải hành khách quốc tế: là việc vận chuyển hành khách kể cả khách du lịch giữa hai nước được thực hiện bằng phương tiện theo hình thức vận chuyển từ nơi hành khách đi tới nơi hành khách đến giữa 2 hay nhiều quốc gia Phương tiện vận chuyển theo tuyến phải xuất phát và kết thúc tại bến xe theo quy định
* Phân loại: Vận tải hành khách bằng ô tô theo tuyến cố định bao gồm các
hình thức:
+ Vận tải khách tuyến nội tỉnh;
+ Vận tải khách tuyến liền kề;
+ Vận tải khách tuyến liên tỉnh;
+ Vận tải hành khách quốc tế
Hình 1.5: Các hình thức vận tải hành khách theo tuyến cố định
Vận tải theo tuyến cố định (trong nước và quốc tế)
Tuyến quốc
tế
Trang 20* Yêu cầu và phân hạng đối với phương tiện vận tải hành khách liên tỉnh:
- Là ô tô chở người có từ 10 chỗ ngồi trở lên (kể cả người lái) được phép kinh doanh vận chuyển hành khách liên tỉnh
- Phải thực hiện các quy định bắt buộc áp dụng của tiêu chuẩn về ô tô khách, tiêu chuẩn an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường của phương tiện cơ giới đường bộ
- Phải đủ ghế ngồi, các ghế hành khách phải hướng theo chiều xe chạy Hệ thống ghế ngồi phải đảm bảo yêu cầu đặt ra (yêu cầu về kích thước ghế chiều rộng, cao, sâu, khoảng cách giữa các hàng ghế; độ êm của ghế, góc nghiêng của ghế ) Ô
tô phải trang bị bình cứu hoả, dụng cụ phá cửa sự cố, túi thuốc cấp cứu
* Thời gian sử dụng của ô tô khách liên tỉnh
- Với cự ly trên 300Km: Không quá 15 năm đối với ô tô sản xuất để chở khách; không quá 12 năm đối với ô tô chuyển đổi công năng trước ngày 01 tháng 01 năm 2002 từ các loại xe khác thành ô tô chở khách
- Với cự ly từ 300Km trở xuống: không quá 20 năm đối với xe ô tô sản xuất
để chở khách; không quá 17 năm đối với ô tô chuyển đổi công năng trước ngày 01 tháng 01 năm 2002 từ các loại xe khác thành ô tô chở khách
* Kết cấu và tốc độ
- Về kết cấu: Phương tiện phải có khả năng vượt chướng ngại vật, trong xe cần có hệ thống giá để hành lý và hàng hóa của khách mang theo
- Về tốc độ: Phương tiện có tính năng tốc độ cao
* Phân hạng ôtô khách: Ô tô khách được phân làm 03 hạng:
- Ô tô khách hạng 1: Là các loại ô tô khách liên tỉnh có: điều hoà nhiệt độ trung tâm, ghế ngồi hành khách điều chỉnh được độ nghiêng, radio catset, và có thể
có VIDEO, có buồng vệ sinh
- Ô tô khách hạng 2: Là các loại ô tô khách liên tỉnh có điều hoà nhiệt độ trung tâm và radio catset
- Ô tô khách hạng 3: Là các loại ô tô khách liên tỉnh còn lại
1.1.2.2 Vận tải hành khách bằng xe buýt
Xe buýt là ô tô chở khách có thiết kế từ 17 ghế trở lên và có diện tích sàn xe
tiêu chuẩn quy định
Trang 21Vận tải khách công cộng bằng xe buýt: là hoạt động vận tải khách bằng ô tô
buýt theo tuyến cố định có các điểm dừng đón, trả khách và xe chạy theo biểu đồ vận hành
Xe buýt là phương tiện vận tải hành khách công cộng trong đô thị phổ biến nhất hiện nay Xe buýt được đưa vào khai thác ở thủ đô Luân Đôn (Anh) vào năm
1990 Mật độ các tuyến ô tô buýt trong đô thị cao hơn mật độ tuyến của các phương tiện khác trong thành phố
* Ưu điểm của vận tải xe buýt:
- Có tính cơ động cao, không phụ thuộc vào mạng dây dẫn hoặc đường ray, không cản trở và dễ hoà nhập vào hệ thống giao thông đường bộ trong thành phố;
- Khai thác, điều hành đơn giản, có thể nhanh chóng điều chỉnh chuyến lượt,
dễ dàng thay xe trong thời gian ngắn mà không ảnh hưởng đến hoạt động của tuyến;
- Hoạt động có hiệu quả với các dòng hành khách có công suất nhỏ và trung bình Đối với các luồng hành khách có hệ số biến động cao về thời gian và không gian vận tải, có thể giải quyết thông qua việc lựa chọn loại xe thích hợp và một biểu
* Nhược điểm của vận tải xe buýt:
- Năng lực vận chuyển không cao, năng suất vận chuyển thấp, tốc độ khai thác còn thấp (12- 15 Km / h) so với các phương thức khác như xe điện bánh sắt, xe điện ngầm…;
- Khả năng vượt tải thấp trong giờ cao điểm vì dùng bánh hơi;
- Trong khai thác đôi khi không thuận lợi do thiếu thiết bị do dừng xe ở bến, thiếu hệ thống thông tin… cho nên không đáp ứng được nhu cầu của hành khách về tiện nghi, độ tin cậy;
- Ô tô buýt sử dụng nhiên liệu không kinh tế (xăng, diezel);
- Động cơ đốt trong có cường độ gây ô nhiễm cao do: Khí xả, bụi, hoặc
Trang 22nhiên liệu và dầu nhờn chảy ra, ngoài ra còn gây ồn và chấn động
Tuy nhiên vận tải xe buýt vẫn là loại hình vận tải thông dụng nhất trong hệ thống vận tải hành khách công cộng, nó đóng vai trò chủ yếu trong vận chuyển hành khách ở những thành phố có khối lượng hành khách nhỏ Ô tô buýt được sử dụng thích hợp tại những khu vực mới xây dựng, trong thời kỳ xây dựng đợt đầu của thành phố, khi số lượng hành khách còn ít Trong các thành phố cải tạo dùng các phương tiện này cũng rất phù hợp vì có thể thay đổi hướng các tuyến một cách dễ dàng khi dòng hành khách thay đổi
Kinh nghiệm phát triển giao thông của các đô thị trên thế giới cho thấy ở các thành phố qui mô dân số dưới 500.000 dân thì xe buýt là phương thức đi lại chủ yếu của người dân
Đối với các đô thị vừa và nhỏ vận tải xe buýt thường đảm nhận 60 - 80% khối lượng vận chuyển của cả hệ thống vận tải hành khách công cộng Tuỳ theo chức năng phục vụ giao thông, các tuyến ô tô buýt được chia thành các tuyến chính nội thành, tuyến phụ, tuyến ngoại thành, tuyến liên tỉnh
Các tuyến chính nội thành nối các khu vực của thành phố với các điểm thu hút khách lớn như nhà ga đường sắt, bến đường thuỷ, các công trình văn hoá thương nghiệp lớn, trung tâm thành phố Các tuyến này có các trạm đầu cuối thường nằm trong nội thành Chiều dài của các tuyến chính nội thành phụ thuộc vào quy mô thành phố
Các tuyến ngoại thành liên hệ giữa các khu vực nội đô thành phố với ngoại ô Các tuyến ngoại thành thường có cự ly lớn, cự ly của các tuyến phụ thuộc vào việc
bố trí dân cư ở khu vực ngoại thành Trong các thành phố cực lớn có những tuyến ngoại thành dài tới 50Km
Các tuyến phụ đưa các hành khách từ các khu nhà ở, tiểu khu đến trạm của các phương tiện có sức chở lớn, các tuyến phụ có đặc điểm ngắn Sức chứa của các loại ô tô buýt thay đổi trong một khoảng rộng (từ 10 - 80 hành khách) và có thể tăng thêm bằng cách thêm rơmooc
Trang 23Vận tải xe buýt
* Các hình thức vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt:
Hình 1.6: Các hình thức vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt
1.1.2.3 Vận tải hành khách bằng xe taxi
* Các khái niệm:
- Xe taxi là loại xe ôtô có không quá 8 ghế (kể cả ghế người lái) được thiết
kế để vận chuyển khách đáp ứng các điều kiện vận chuyển taxi
- Kinh doanh vận tải khách bằng taxi là kinh doanh vận tải khách bằng ô tô
có lịch trình và hành trình theo yêu cầu của khách; cước tính theo đồng hồ tính tiền
- Điểm đỗ xe taxi là nơi cơ quan có thẩm quyền quy định cho xe taxi được đỗ chờ đón khách hoặc đỗ trong thời gian ngừng vận hành
Vận tải taxi rất phổ biến trong vận tải hành khách ở các nước, đặc biệt ở các thành phố lớn nó bổ xung hỗ trợ cho các hình thức vận tải hành khách khác Taxi thường được sử dụng phổ biến trong các trường hợp sau:
- Những chuyến đi yêu cầu nhanh chóng khẩn trương;
- Những chuyến đi yêu cầu vận chuyển từ cửa đến cửa (đi và đến tận cửa nhà);
- Những chuyến đi mà ở vùng đó mạng lưới hành trình vận tải công cộng không đảm bảo hoặc chưa có;
- Những chuyến đi mà hành khách mang theo nhiều hành lý;
- Những chuyến đi vào những thời điểm mạng lưới vận tải công cộng không làm việc
* Yêu cầu đối với vận tải taxi
- Với phương tiện:
+ Có không quá 8 ghế (kể cả ghế người lái) được thiết kế để vận chuyển khách; có niên hạn sử dụng theo quy định; có chứng nhận kiểm định an toàn kỹ
Trang 24thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ
+ Có máy bộ đàm liên hệ với Trung tâm điều hành của doanh nghiệp
+ Có phù hiệu “XE TAXI”; trên nóc taxi phải gắn cố định hộp đèn có chữ
“TAXI” hoặc “METER TAXI” bằng chữ in nhãn từ được cả phía trước và phía sau hộp đèn Trên hộp đèn có thể ghi thêm tên doanh nghiệp, số điện thoại của doanh nghiệp với cỡ chữ và số nhỏ hơn cỡ chữ “TAXI” hoặc “METER TAXI” Hộp đèn phải được bật sáng đồng thời với hệ thống đèn chiếu sáng của xe
+ Phía mặt ngoài hai bên thành xe phải ghi tên, số điện thoại doanh nghiệp, biểu trưng lôgô của doanh nghiệp (nếu có), số thứ tự xe taxi (theo số thứ tự của doanh nghiệp quản lý)
- Đồng hồ tính tiền: Xe taxi phải có đồng hồ tính tiền theo quy định sau: + Đồng hồ tính tiền được tính bằng tiền Việt Nam (VNĐ) đơn giá trên số ki
* Đặc điểm của vận tải taxi
- Nhu cầu sử dụng taxi thay đổi theo thời gian (theo giờ trong ngày: giờ rất sớm, khuya; theo ngày trong tuần: ngày làm việc và ngày nghỉ; theo mùa; theo hướng)
- Khối lượng hành khách do vận tải taxi đảm nhận chiếm một tỷ trọng rất nhỏ trong tổng khối lượng hành khách vận chuyển
- Số chuyến sử dụng taxi trong năm của người dân phụ thuộc vào nhiều yếu
tố (phong tục tập quán, thu nhập bình quân đầu người, giá cả vận tải taxi )
- Độ dài chuyến đi trong vận tải taxi hết sức đa dạng phụ thuộc nhiều yếu tố
- Số người cùng đi (nhóm) trên 1 xe taxi có thể: từ 1 đến sức chứa tối đa của
Trang 25gian làm việc của taxi thường là suốt cả ngày đêm (đối với những thành phố lớn), quãng đường xe chạy trong ngày lớn từ 200 - 300 Km / ngày
- Giá cước trong vận tải taxi thường được tính theo số lần mở cửa xe, số Km
xe lăn bánh và thời gian chờ đợi được trả tiền
1.2 Tổng quan về hiệu quả hoạt động kinh doanh trong doanh nghiệp vận tải
1.2.1 Khái niệm về hiệu quả
1.2.1.1 Hiệu quả
Hiệu quả kinh tế được xác định bởi quan hệ tỷ lệ giữa sự tăng lên của hai đại lượng kết quả và chi phí Các quan điểm này mới chỉ đề cập đến hiệu quả của phần tăng thêm chứ không phải của toàn bộ phần tham gia vào quy trình kinhtế
Theo Manfred Kuhn, theo ông: "Tính hiệu quả được xác định bằng cách lấy kết quả tính theo đơn vị giá trị chia cho chi phí kinh doanh" đây là quan điểm được nhiều nhà kinh tế và quản trị kinh doanh áp dụng vào tính hiệu quả kinh tế của các quá trình kinh tế" [11]
Nhà kinh tế học Adam Smith cho rằng: "Hiệu quả là kết quả đạt được trong hoạt động kinh tế, là doanh thu tiêu thụ hàng hoá" Như vậy, hiệu quả được đồng nghĩa với chỉ tiêu phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh, có thể do tăng chi phí mở rộng sử dụng nguồn lực sản xuất Nếu cùng một kết quả có hai mức chi phí khác nhau thì theo quan điểm này doanh nghiệp cũng đạt hiệu quả [11]
Theo định nghĩa từ giáo trình Phân tích Kinh tế của Bộ môn Kinh tế Vận tải và
Du lịch thuộc trường Đại học Giao thông Vận tải đã nêu rõ: “Hiệu quả là một chỉ tiêu phản ảnh mức độ thu lại được kết quả tương ứng với toàn bộ nguồn lực phải bỏ
ra trong quá trình thực hiện một hoạt động nhất định (Nhằm đạt được một mục đích nào đó)”
Như vậy hiệu quả là một đại lượng phản ánh mối quan hệ giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ ra hoặc nguồn lực đã sử dụng Trong đó: kết quả là những gì đạt được của một, một số hay tất cả các hoạt động cụ thể diễn ra trong một khoảng thời gian nhất định Chi phí chính là các nguồn lực hay là các phương tiện được sử dụng
để đạt tới kết quả Như vậy có thể thấy rằng, thực chất phạm trù hiệu quả phản ánh mối quan hệ giữa mục đích và phương tiện Mục đích gắn với kết quả cần đạt được,
còn phương tiện gắn với chi phí, nguồn lực phải có để đạt được mục đích
Trang 261.2.1.2 Phân loại về hiệu quả
Hình 1.7: Phân loại hiệu quả
+ Hiệu quả kinh doanh cá biệt và hiệu quả kinh tế - xã hội của nền kinh
tế quốc dân
Hiệu quả kinh doanh cá biệt là hiệu quả kinh doanh thu được từ các hoạt động thương mại của từng doanh nghiệp kinh doanh Biểu hiện chung của hiệu quả kinh doanh cá biệt là lợi nhuận mà mỗi doanh nghiệp đạt được
Hiệu quả kinh tế - xã hội mà hoạt động kinh doanh đem lại cho nền kinh tế quốc dân là sự đóng góp của nó vào việc phát triển sản xuất, đổi mới cơ cấu kinh tế, tăng năng suất lao động xã hội, tích luỹ ngoại tệ, tăng thu cho ngân sách, giải quyết việc làm, cải thiện đời sống nhândân
Giữa hiệu quả kinh doanh cá biệt và hiệu quả kinh tế xã hội có quan hệ nhân quả và tác động qua lại với nhau Hiệu quả kinh tế quốc dân chỉ có thể đạt được trên
cơ sở hoạt động có hiệu quả của các doanh nghiêp Mỗi doanh nghiệp như một tế bào của nền kinh tế, doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả sẽ đóng góp vào hiệu quả chung của nền kinh tế Ngược lại, tính hiệu quả của bộ máy kinh tế sẽ là tiền đề tích cực, là khung cơ sở cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đạt kết quả cao Đó chính là mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng, giữa lợi ích bộ phận với lợi ích tổng thể Tính hiệu quả của nền kinh tế xuất phát từ chính hiệu quả của mỗi doanh nghiệp và một nền kinh tế vận hành tốt là môi trường thuận lợi để doanh nghiệp
Trang 27hoạt động và ngày một phát triển
Vì vậy, trong hoạt động kinh doanh của mình các doanh nghiệp phải thường xuyên quan tâm đến hiệu quả kinh tế - xã hội, đảm bảo lợi ích riêng hài hoà với lợi ích chung Về phía các cơ quan quản lý nhà nước, với vai trò định hướng cho sự phát triển của nền kinh tế cần có các chính sách tạo điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp có thể hoạt động đạt hiệu quả cao nhất trong khả năng có thể của mình
+ Hiệu quả chi phí bộ phận và hiệu quả chi phí tổng hợp
Hoạt động của bất kỳ doanh nghiệp nào cũng gắn liền với môi trường kinh doanh của nó nhằm giải quyết những vấn đề then chốt trong kinh doanh như: Kinh doanh cái gì? Kinh doanh cho ai? Kinh doanh như thế nào và chi phí bao nhiêu?
Mỗi doanh nghiệp tiến hành hoạt động kinh doanh của mình trong những điều kiện riêng về tài nguyên, trình độ trang thiết bị kỹ thuật, trình độ tổ chức, quản
lý lao động, quản lý kinh doanh mà Paul Samuelson gọi đó là "hộp đen" kinh doanh của mỗi doanh nghiệp Bằng khả năng của mình họ cung ứng cho xã hội những sản phẩm với chi phí cá biệt nhất định và nhà kinh doanh nào cũng muốn tiêu thụ hàng hoá của mình với số lượng nhiều nhất Tuy nhiên, thị trường hoạt động theo quy luật riêng của nó và mọi doanh nghiệp khi tham gia vào thị trường là phải chấp nhận “luật chơi” đó Một trong những quy luật thị trường tác động rõ nét nhất đến các chủ thể của nền kinh tế là quy luật giá trị Thị trường chỉ chấp nhận mức hao phí trung bình xã hội cần thiết để sản xuất ra một đơn vị hàng hoá sản phẩm Quy luật giá trị đã đặt tất cả các doanh nghiệp với mức chi phí cá biệt khác nhau trên một mặt bằng trao đổi chung, đó là giá cả thị trường
Suy đến cùng, chi phí bỏ ra là chi phí lao động xã hội, nhưng đối với mỗi doanh nghiệp mà ta đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh thì chi phí lao động xã hội đó lại được thể hiện dưới các dạng chi phí khác nhau: giá thành sản xuất, chi phí sản xuất Bản thân mỗi loại chi phí này lại được phân chia một cánh tỷ mỷ hơn Vì vậy, khi đánh giá hiệu quả kinh doanh không thể không đánh giá hiệu quả tổng hợp của các loại chi phí trên, đồng thời cần thiết phải đánh giá hiệu quả của từng loại chi phí hay nói cánh khác là đánh giá hiệu quả của chi phí bộ phận
+ Hiệu quả tuyệt đối và hiệu quả tương đối
Việc xác định hiệu quả nhằm hai mục đích cơ bản:
Trang 28Một là, thể hiện và đánh giá trình độ sử dụng các dạng chi phí khác nhau trong hoạt động kinh doanh
Hai là, để phân tích luận chứng kinh tế của các phương án khác nhau trong việc thực hiện một nhiệm vụ cụ thể nào đó
Từ hai mục đích trên mà người ta phân chia hiệu quả kinh doanh ra làm hai loại:
Hiệu quả tuyệt đối là lượng hiệu quả được tính toán cho từng phương án kinh doanh cụ thể bằng cánh xác định mức lợi ích thu được với lượng chi phí bỏ ra
Hiệu quả tương đối được xác định bằng cánh so sánh các chỉ tiêu hiệu quả tuyệt đối của các phương án với nhau, hay chính là mức chênh lệch về hiệu quả tuyệt đối của các phương án
Việc xác định hiệu quả tuyệt đối là cơ sở để xác định hiệu quả tương đối (so sánh) Tuy vậy, có những chỉ tiêu hiệu quả tương đối được xác định không phụ thuộc vào việc xác định hiệu quả tuyệt đối Chẳng hạn, việc so sánh mức chi phí của các phương án khác nhau để chọn ra phương án có chi phí thấp nhất thực chất chỉ là
sự so sánh mức chi phí của các phương án chứ không phải là việc so sánh mức hiệu quả tuyệt đối của các phương án
+ Hiệu quả trước mắt và hiệu quả lâu dài
Căn cứ vào lợi ích nhận được trong các khoảng thời gian dài hay ngắn mà người ta phân chia thành hiệu quả trước mắt và hiệu quả lâu dài Hiệu quả trước mắt
là hiệu quả được xem xét trong một thời gian ngắn Hiệu quả lâu dài là hiệu quả được xem xét trong một thời gian dài Doanh nghiệp cần phải tiến hành các hoạt động kinh doanh sao cho nó mang lại cả lợi ích trước mắt cũng như lâu dài cho doanh nghiệp Phải kết hợp hài hoà lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài, không được chỉ vì lợi ích trước mắt mà làm thiệt hại đến lợi ích lâu dài của doanh nghiệp
1.2.1.3.Vai trò của việc nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh
Vai trò của việc nâng cao hiệu quả kinh doanh là nâng cao năng suất lao động xã hội, của doanh nghiệp và tiết kiệm nguồn lực lao động Đây là hai mặt có mối quan hệ mật thiết của vấn đề hiệu quả kinh tế Chính việc khan hiếm nguồn lực
và việc sử dụng chúng có tính cạnh tranh nhằm thỏa mãn nhu cầu ngày càng tăng của xã hội, đặt ra yêu cầu phải khai thác, tận dụng triệt để và tiết kiệm các nguồn
Trang 29lực Để đạt được mục tiêu kinh doanh, các doanh nghiệp buộc phải chú trọng các điều kiện nội tại, phát huy năng lực, hiệu năng của các yếu tố sản xuất và tiết kiệm mọi chi phí
Để hiểu rõ về vai trò của việc nâng cao hiệu quả kinh doanh, ta cũng cần phân biệt giữa hai khái niệm hiệu quả và kết quả của hoạt động kinh doanh Kết quả hoạt động kinh doanh là những gì mà doanh nghiệp đạt được sau một quá trình kinh doanh nhất định, kết quả cần đạt được bao giờ cũng là mục tiêu cần thiết của doanh nghiệp Trong khi đó trong khái niệm về hiệu quả kinh doanh, người ta sử dụng cả hai chỉ tiêu kết quả và chi phí để đánh giá hiệu quả hoạt động kinhdoanh
Vì vậy, yêu cầu của việc nâng cao hiệu quả kinh doanh là phải đạt kết quả tối đa với chi phí tối thiểu, hay chính xác hơn là đạt kết quả tối đa với chi phí nhất định hoặc ngược lại đạt kết quả nhất định với chi phí tối thiểu Chi phí ở đây được hiểu theo nghĩa rộng là chi phí để tạo ra nguồn lực và chi phí sử dụng nguồn lực, đồng thời phải bao gồm cả chi phí cơ hội Chi phí cơ hội là giá trị của việc lựa chọn tốt nhất đã bị bỏ qua hay là giá trị của sự hy sinh công việc kinh doanh khác để thực hiện hoạt động kinh doanh này Chi phí cơ hội phải được bổ sung vào chi phí kế toán và loại ra khỏi lợi nhuận kế toán để thấy rõ lợi ích kinh tế thật sự Cách tính như vậy sẽ khuyến khích các nhà kinh doanh lựa chọn phương án kinh doanh tốt nhất, các mặt hàng sản xuất có hiệu quả cao hơn
1.2.1.4.Sự cần thiết nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Mọi nguồn tài nguyên trên trái đất đều là hữu hạn và ngày càng cạn kiệt, khan hiếm do con người khai thác và sử dụng chúng Trong khi đó mật độ dân số của từng vùng, từng quốc gia ngày càng tăng và nhu cầu sử dụng sản phẩm hàng hoá dịch vụ là phạm trù không có giới hạn, yêu cầu càng nhiều, càng đa dạng, càng chất lượng càng tốt Sự khan hiếm đòi hỏi con người phải có sự lựa chọn kinh tế, nhưng đó mới chỉ là điều kiện cần, khi đó con người phát triển kinh tế theo chiều rộng: tăng trưởng kết quả sản xuất trên cơ sở gia tăng các yếu tố sản xuất Điều kiện
đủ cho sự lựa cho kinh tế là cùng với sự phát triển của kỹ thuật sản xuất thì càng ngày người ta càng tìm ra nhiều phương pháp khác nhau để chế tạo sản phẩm Kỹ thuật sản xuất phát triển cho phép với cùng những nguồn lực đầu vào nhất định người ta có thể tạo ra rất nhiều loại sản phẩm khác nhau Điều này cho phép các
Trang 30doanh nghiệp có khả năng lựa chọn kinh tế: Lựa chọn sản xuất kinh doanh sản phẩm (cơ cấu sản phẩm) tối ưu Sự lựa chọn đúng đắn sẽ mang lại cho doanh nghiệp hiệu quả kinh doanh cao nhất, thu được nhiều lợi ích nhất Giai đoạn phát triển kinh tế theo chiều rộng kết thúc và nhường chỗ cho sự phát triển kinh tế theo chiều sâu: sự tăng trưởng kết quả kinh tế của sản xuất chủ yếu nhờ vào việc cải tiến các yếu tố sản xuất về mặt chất lượng, ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật mới, công nghệ mới, hoàn thiện công tác quản trị và cơ cấu kinh tế , nâng cao chất lượng các hoạt động kinh tế Nói một cách khái quát là nhờ vào sự nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh
Trong cơ chế thị trường, việc giải quyết ba vấn đề kinh tế sản xuất cái gì, sản xuất cho ai và sản xuất như thế nào được quyết định theo quan hệ cung cầu, giá cả thị trường, cạnh tranh và hợp tác, doanh nghiệp phải tự đưa rachiến lược kinh doanh
và chịu trách nhiệm với kết quả kinh doanh của mình, lúc này mục tiêu lợi nhuận trở thành mục tiêu quan trọng mang tính chất quyết định Trong điều kiện khan hiếm các nguồn lực thì việc nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh là tất yếu đối với mọi doanh nghiệp Mặt khác doanh nghiệp còn chịu sự cạnh tranh khốc liệt, để tồn tại và phát triển được thì doanh nghiệp phải nhằm tới mục tiêu tối đa lợi nhuận Các doanh nghiệp phải có được lợi nhuận và đạt được lợi nhuận càng cao càng tốt
Do vậy, đạt hiệu quả kinh doanh và nâng cao hiệu quả kinh doanh luôn là vấn đề được quan tâm của doanh nghiệp và trở thành điều kiện sống còn để doanh nghiệp
có thể tồn tại và phát triển trong nền kinh tế thị trường
1.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh
Trong hoạt động kinh doanh hầu hết các doanh nghiệp dễ bị tác động bởi môi trường bên trong và môi trường bên ngoài doanh nghiệp Sự thành công của doanh nghiệp cũng phụ thuộc bào những yếu tố này Vì vậy doanh nghiệp cần phải phân tích đánh giá và biết kết hợp hài hòa giữa các yếu tố này để nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh cho doanh nghiệp mình
Trang 31Hình 1.8: Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh
1.2.2.1 Các nhân tố bên ngoài doanh nghiệp
a) Môi trường pháp lý [4]
“Môi trường pháp lý bao gồm luật, văn bản dưới luật, quy trình, quy phạm
kỹ thuật sản xuất… tất cả các quy phạm kỹ thuật sản xuất kinh doanh đều tác động trực tiếp đến hiệu quả và kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp” Đó là các quy định của nhà nước về những thủ tục, vấn đề có liên quan đến phạm vi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đòi hỏi mỗi doanh nghiệp khi tham gia môi trường kinh doanh cần nghiên cứu, tìm hiểu và chấp nhận đúng theo những quy định đó
Môi trường pháp lý tạo sự bình đẳng cho mọi doanh nghiệp, mọi doanh nghiệp đều có quyền và nghĩa vụ như nhau trong phạm vi hoạt động của mình Tính công bằng và nghiêm minh của pháp luật ở bất kỳ mức độ nào cũng có ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Các chính sách của nhà nước
sẽ có những ảnh hưởng nhất định tới doanh nghiệp, nó có thể tạo ra cơ hội hoặc thách thức với doanh nghiệp Như các chính sách thương mại, chính sách phát triển
Trang 32ngành, phát triển kinh tế, thuế, các chính sách bảo vệ người tiêu dùng…
b) Môi trường chính trị - văn hóa - xã hội
Môi trường chính trị ổn định luôn là điều kiện tiền đề cho sự phát triển của các hoạt động đầu tư, phát triển hoạt động kinh tế Hoạt động đầu tư thuận lợi tác động rất lớn đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ đề có những giá trị văn hóa và các yếu tố xã hội đặc trưng, và những yếu tố này ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp theo hướng tích cực và tiêu cực Những giá trị văn hóa là những giá trị làm nên xã hội có thể vun đắp cho xã hội đó tồn tại và phát triển Chính vì thế các yếu tố văn hóa thông thường được bảo vệ hết sức quy
mô và chặt chẽ đặc biệt là các văn hóa tinh thần
Bên cạnh văn hóa, các đặc điểm về xã hội cũng khiến các doanh nghiệp quan tâm khi nghiên cứu thị trường Một xã hội mà trình độ văn hoá của người dân cao sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp đào tạo đội ngũ lao động có chuyên môn cao và có khả năng tiếp thu những kiến thức cần thiết nó tác động tích cực đến việc nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
c) Môi trường kinh tế
“Môi trường kinh tế là một nhân tố tác động rất lớn đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Tăng cường kinh tế quốc dân, chính sách kinh tế của chính phủ, tốc động tăng trưởng, chất lượng của sự tăng trưởng hằng năm của nền kinh tế, tỷ lệ lạm phát, thất nghiệp, cán cân thương mại luôn là nhân tố tác động trực tiếp đến các quyết định cung cầu và từ đó tác động trực tiếp đến kết quả và hiệu quả hoạt đông sản xuất kinh doanh của thừng doanh nghiệp” Môi trường kinh tế là tiền
đề để nhà nước xây dựng các chính sách kinh tế vĩ mô như chính sách tài chính, các chính sách ưu đãi với các doanh nghiệp, chính sách ưu đãi các hoạt động đầu tư… Ảnh hưởng rất cụ thể đến kế hoạch sản xuất kinh doanh và kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
d) Môi trường thông tin
Để làm bất kì một khâu nào của quá trình sản xuất kinh doanh cần phải có thông tin, vì thông tin bao trùm lên các lĩnh vực, thông tin để điều tra khai thác thị trường cho một sản phẩm mới, thông tin về kỹ thuật sản xuất, thông tin về môi
Trang 33trường tiêu thụ sản xuất, thông tin về nhu cầu đi lại, thông tin về đối thủ cạnh tranh, thông tin về kinh nghiệm thành công hay nguyên nhân thất bại của doanh nghiệp đi trước Doanh nghiệp muốn hoạt động sản xuất kinh doanh của mình có hiệu quả thì phải có một hệ thống thông tin đầy đủ, kịp thời, chính xác Biết khai thác thông tin
và sử dụng thông tin một cách hợp lý thì việc thành công trong hoạt động kinh doanh là rất lớn, đem lại thắng lợi trong cạnh trang với đối thủ, giúp cho doanh nghiệp nhanh chóng nắm bắt thông tin tận dụng thời cơ mang lại hiệu quả cho doanh nghiệp
e) Môi trường công nghệ
Nhà nước có chủ trương “đi tắt đón đầu” công nghệ của các nước phát triển
để ứng dụng trong sản xuất kinh doanh nhằm đạt mục tiêu nâng cao năng suất lao động, cải thiện đời sống công nhân, đổi mới tư duy, nâng cao trình độ quản lý Ngày nay công nghệ đóng vai trò hết sức quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Công nghệ là sản phẩm của con người và nó cũng tuân theo quy luật chu trình sống của sản phẩm Tức là nó được sinh ra, phát triển và cuối cùng là suy vong Bất kỳ một doanh nghiệp nào nếu không có những hoạt động nhằm đổi mới công nghệ thì chắc chắn hệ thống công nghệ, dây chuyền sản xuất, máy móc, trang thiết bị… sẽ trở nên lạc hậu, hiệu quả kinh tế thấp, dẫn đến bị đào thải, làm cho sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp bị đe dọa Do đó, đổi mới công nghệ
là tất yếu và phù hợp với quy luật phát triển của xã hội
f) Môi trường hội nhập
Quá trình toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế và tự do hóa thương mại trên bình diện toàn cầu đang diễn ra nhanh chóng và trở thành vấn đề nổi bật của thế giới đương đại Quá trình này tạo ra sự liên kết và phụ thuộc lẫn nhau ngày càng cao giữa các quốc gia và khu vực trên thế giới Các định chế và tổ chức kinh tế - thương mại khu vực và quốc tế đã được hình thành để phục vụ cho quá trình hội nhập kinh
tế quốc tế, tạo lập hành lang pháp lý chung để các nước cùng tham gia vào quá trình giải quyết các vấn đề lớn của kinh tế thế giới mà không một quốc gia nào có thể thực hiện một cách đơn lẻ
Trang 341.2.2.2.Các nhân tố bên trong doanh nghiệp
a) Nhân tố quản trị doanh nghiệp và cơ cấu tổ chức
Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được chỉ đạo bởi bộ máy quản trị của doanh nghiệp Tất cả mọi hoạt động của doanh nghiệp từ quyết định mặt hàng kinh doanh, kế hoạch sản xuất, quá trình sản xuất, huy động nhân sự, kế hoạch, chiến lược tiêu thụ sản phẩm, các kế hoạch mở rộng thị trường, các công việc kiểm tra, đành giá và điều chỉnh các quá trình trên, các biện pháp cạnh tranh, các nghĩa
vụ với nhà nước Vậy sự thành công hay thất bại trong hoạt động kinh doanh của toàn bộ doanh nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào vai trò điều hành của bộ máy quản trị
Bộ máy quản trị hợp lý, xây dựng một kế hoạch hoạt động kinh doanh khoa học phù hợp với tình hình thực tế của doanh nghiệp, có sự phân công, phân nhiệm
cụ thể giữa các thành viên trong bộ máy quản trị, năng động nhanh nhạy nắm bắt thị trường, tiếp cận thị trường bằng những chiến lược hợp lý, kịp thời nắm bắt thời cơ, yếu tố quan trọng là bộ máy quản trị bao gồm những con người tâm huyết với hoạt động của công ty sẽ đảm bảo cho các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đạt hiệu quả cao
Doanh nghiệp là một tổng thể, hoạt động như một xã hội thu nhỏ trong đó
có đầy đủ các yếu tố kinh tế, xã hội, văn hoá và cũng có cơ cấu tổ chức nhất định
Cơ cấu tổ chức có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Cơ cấu tổ chức là sự sắp xếp các phòng ban, các chức vụ trong doanh nghiệp, sự sắp xếp này nếu hợp lý, khoa học, các thế mạnh của từng bộ phận và của từng cá nhân được phát huy tối đa thì hiệu quả công việc là lớn nhất, khi đó không khí làm việc hiệu quả bao trùm cả doanh nghiệp Không phải bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng có cơ cấu tổ chức hợp lý và phát huy hiệu quả ngay, việc này cần đến một bộ máy quản trị có trình độ và khả năng kinh doanh, thành công trong cơ cấu tổ chức là thành công bước đầu trong kế hoạch kinh doanh
Ngược lại nếu cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp bất hợp lý, có sự chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ không rõ ràng, các bộ phận hoạt động kém hiệu quả, không khí làm việc căng thẳng cạnh tranh không lành mạnh, tinh thần trách nhiệm
và ý thức xây dựng tổ chức bị hạn chế thì kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh sẽ không cao
Trang 35b) Nhân tố lao động và vốn
Con người điều hành và thực hiện các hoạt động của doanh nghiệp, kết hợp các yếu tố sản xuất tạo ra của cải vật chất và dịch vụ cho xã hội, để doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả thì vấn đề quan tâm hàng đầu của doanh nghiệp là vấn đề lao động Công tác tuyển dụng được tiến hành nhằm đảm bảo trình độ và tay nghề của người lao động Có như vậy thì kế hoạch sản xuất và nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh mới thực hiện được Có thể nói chất lượng lao động là điều kiện cần để tiến hành hoạt động kinh doanh và công tác tổ chức lao động hợp lý là điều kiện đủ
để doanh nghiệp tiến hành hoạt động kinh doanh có hiệu quả cao
Trong quá trình hoạt động lực lượng lao động của doanh nghiệp có thể có những sáng tạo khoa học và có thể áp dụng vào hoạt động sản xuất nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh Lực lượng lao động tạo ra những sản phẩm (dịch vụ) có kiểu dáng và tính năng mới đáp ứng thị hiếu thị trường làm tăng lượng hàng hoá dịch vụ tiêu thụ được của doanh nghiệp, tăng doanh thu làm cơ sở nâng cao hiệu quả kinh doanh
Lực lượng lao động là nhân tố quan trọng liên quan trực tiếp đến năng suất lao động, trình độ sử dụng các nguồn lực khác như vốn, máy móc thiết bị, nguyên vật liệu nên tác động trực tiếp đến hiệu quả hoạt động kinh doanh Ngày nay hàm lượng khoa học kỹ thuật kết tinh trong sản phẩm ngày càng lớn đòi hỏi người lao động phải có mộ trình độ nhất định để đáp ứng được các yêu cầu đó, điều này phần nào cũng nói lên tầm quan trọng của nhân tố lao động
Bên cạnh nhân tố lao động của doanh nghiệp thì vốn cũng là một đầu vào
có vai trò quyết định đến kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Doanh nghiệp có khả năng tài chính không những chỉ đảm bảo cho doanh nghiệp duy trì hoạt động kinh doanh ổn định mà còn giúp cho doanh nghiệp đầu tư đổi mới trang thiết bị tiếp thu công nghệ sản xuất hiện đại hơn nhằm làm giảm chi phí, nâng cao những mặt có lợi, khả năng tài chính còn nâng cao uy tín của doanh nghiệp, nâng cao tính chủ động khai thác và sử dụng tối ưu đầu vào
c) Cơ sở vật chất
Quá trình phát triển sản xuất luôn gắn liền với sự phát triển của tư liệu lao động gắn bó chặt chẽ với quá trình tăng năng suất lao động, tăng sản lượng, tăng
Trang 36sản phẩm, hạ giá thành sản phẩm Như vậy cơ sở vật chất kỹ thuật là một nhân tố hết sức quan trọng trong việc tăng chất lượng sản xuất, tăng hiệu quả kinh tế Mức
độ chất lượng hoạt động của doanh nghiệp bị tác độngmạnh mẽ bởi trình độ hiện đại, cơ cấu, tính đồng bộ, tình hình bảo dưỡng, duy trì khả năng làm việc theo thời gian của máy móc thiết bị, công nghệ
Thực tiễn nước ta hiện nay, ở nhiều doanh nghiệp cơ sở vật chất kỹ thuật còn hết sức yếu kém, thiết bị sản xuất, máy móc thiết bị lạc hậu, không đồng bộ, việc quản lý cơ sở vật chất kỹ thuật không được chú trọng nên nhiều doanh nghiệp không phát huy được năng lực hiện có của mình Nhưng chúng ta cũng thấy rằng không phải doanh nghiệp nào có cơ sở vật chất tốt thì hiệu quả sản xuất kinh doanh
sẽ cao Việc sử dụng không hợp lý về số lượng, thời gian công suất thì hiệu quả sẽ không cao, hay nói cách khác là sử dụng không hiệu quả cơ sở vật chất kỹ thuật Để đánh giá hiệu quả cơ sở vật chất kỹ thuật người ta đưa ra chỉ tiêu hiệu suất sử dụng
cơ sở vật chất kỹ thuật, chỉ tiêu này tính với công thức sau: [12]
100
NG csvckt : Nguyên giá bình quân cơ sở vật chất kỹ thuật (đồng)
Chỉ tiêu này phản ánh một đồng nguyên giá cơ sở vật chất kỹ thuật
đem lại bao nhiêu đồng sản lượng Hiệu suất càng cao chứng tỏ công tác quản lý và
sử dụng cơ sở vật chất kỹ thuật ngày càng tốt và ngược lại
Hiện nay, kỹ thuật công nghệ tiến bộ dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật đang phát triển như vũ bão, có vai trò càng lớn mang tính chất quyết định đối với việc nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và đẩy mạnh tốc
độ phát triển kinh tế trong nước… các doanh nghiệp đã và đang tìm kiếm mọi biện pháp nâng cao khả năng đầu tư, ngày càng cải tạo và ứng dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất cải thiên và nâng cao trình độ cho mình
d) Vốn kinh doanh
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh vốn là yếu tố cực kỳ quan trọng Không có vốn thì không thể nào sản xuất kinh doanh Tuy nhiên không phải doanh
Trang 37nghiệp nào có vốn nhiều thì doanh nghiệp đó có hiệu quả kinh doanh cao Ngược lại không phải doanh nghiệp nào có vốn ít thì hiệu quả kinh doanh không cao Như vậy hiệu quả kinh doanh phụ thuộc vào hiệu quả sử dụng vốn chứ không phải phụ thuộc vào vốn ít hay nhiều Hơn nữa trong nền kinh tế hiện đại khi nguồn vốn co hẹp và chi phí cho việc sử dụng chúng ngày càng cao, vấn đề sử dụng hiệu quả vốn ngày càng trở nên gay gắt
1.2.2.3 Thương hiệu doanh nghiệp
Một doanh nghiệp vận tải hoạt động kinh doanh thì ngoài những yếu tố hữu hình có ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh, yếu tố chủ quan vô hình cũng có tác động rất lớn, cụ thể đó chính là thương hiệu của doanh nghiệp Doanh nghiệp muốn sản phẩm của mình tốt, muốn được nhiều khách hàng mua sử dụng thì việc đầu tiên đó chính là tạo một thương hiệu cho doanh nghiệp mình Đây cũng là một trong những yếu tố quyết định đến sự tồn tại hay phá sản của doanh nghiệp Thương hiệu của doanh nghiệp có tốt có đứng vững trên thị trường thì doanh nghiệp
đó hoạt động kinh doanh mới có hiệu quả cao
1.3 Các phương pháp phân tích, đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh
Có rất nhiều phương pháp phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh, dưới đây là một số phương pháp phân tích chủ yếu phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh được thể hiện theo hình sau: [16]
Trang 38Hình 1.9: Một số phương pháp phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh 1.3.1 Phương pháp so sánh
Phương pháp so sánh là phương pháp được sử dụng phổ biến trong phân tích hoạt động kinh doanh, nhằm để đánh giá chung, đánh giá khái quát tình hình biến động của các chỉ tiêu phân tích
Khi sử dụng phương pháp so sánh trong phân tích kinh tế phải giải quyết những vấn đề cơ bản sau:
- Xác định gốc so sánh
Tiêu chuẩn so sánh là chỉ tiêu của một kỳ được lựa chọn làm căn cứ để so sánh, được gọi là gốc so sánh Tuỳ theo mục đích nghiên cứu mà ta lựa chọn gốc so sánh cho thích hợp, các gốc so sánh có thể là:
Tài liệu năm trước (kỳ trước) nhằm đánh giá xu hướng phát triển của chỉ tiêu
Các mục tiêu đã dự kiến (kế hoạch, dự báo, định mức) nhằm đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch, dự toán, định mức
Các chỉ tiêu bình quân của ngành, khu vực kinh doanh, nhu cầu đơn đặt
Trang 39hàng nhằm khẳng định vị trí của doanh nghiệp và khả năng đáp ứng nhu cầu của khách hàng
- Mục đích so sánh
Qua so sánh đánh giá được kết quả của việc thực hiện các mục tiêu do đơn
vị đặt ra Muốn vậy cần phải so sánh giữa kết quả đạt được với mục tiêu đặt ra, giữa thực tế với kế hoạch
Qua so sánh biết được tốc độ, nhịp điệu phát triển của các hiện tượng và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh thông qua việc so sánh giữa kết quả kỳ này với kết quả kỳ trước (kết quả năm sau với kết quả năm trước)
Qua so sánh cho ta biết được mức độ tiên tiến hay lạc hậu của từng đơn vị trong quá trình thực hiện các mục tiêu do chính đơn vị đặt ra Muốn vậy cần phải so sánh giữa kết quả của doanh nghiệp với các doanh nghiệp khác có cùng loại hình quy mô hoạt động kinh doanh và so sánh giữa kết quả của từng đơn vị bộ phận với kết quả bình quân của tổng thể
Để kết quả so sánh có ý nghĩa và chính xác thì điều kiện tiên quyết là các chỉ tiêu đem đi so sánh phải đồng nhất về mặt thời gian, không gian, nội dung kinh
tế, phương pháp tính toán và đơn vị tính
Để đáp ứng được mục tiêu nghiên cứu người ta thường sử dụng những kỹ thuật so sánh sau:
1.3.1.1 So sánh số tuyệt đối
Số tuyệt đối là chỉ tiêu biểu hiện qui mô, khối lượng của một chỉ tiêu kinh
tế nào đó Nó là cơ sở để tính toán các loại số khác
So sánh số tuyệt đối là so sánh mức độ đạt được của chỉ tiêu kinh tế ở những khoảng thời gian và không gian khác nhau nhằm đánh giá sự biến động về qui mô, khối lượng của chỉ tiêu kinh tế đó
1.3.1.2 So sánh số tương đối
Có nhiều loại số tương đối khác nhau, ví dụ như số tương đối động thái, số tương đối nhiệm vụ kế hoạch, số tương đối hoàn thành kế hoạch v.v… tuỳ theo yêu cầu của phân tích mà sử dụng cho phù hợp
Trang 40Số tương đối nhiệm vụ kế hoạch: Là chỉ tiêu biểu hiện quan hệ so sánh giữa mức độ cần đạt theo kế hoạch với mức độ thực tế đã đạt được ở kỳ trước của một chỉ tiêu kinh tế nào đó
tố này thì loại trừ mức độ ảnh hưởng của các nhân tố khác
1.3.3 Phương pháp thay thế liên hoàn
1.3.3.1 Khái niệm
Phương pháp thay thế liên hoàn là phương pháp xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố bằng số tương đối và số tuyệt đối
1.3.3.2 Nội dung và trình tự của phương pháp thay thế liên hoàn
Xác định số lượng các nhân tố ảnh hưởng, mối quan hệ của chúng với chỉ tiêu phân tích, từ đó xác định được công thức tính của chỉ tiêu phân tích
Sắp xếp thứ tự các nhân tố từ trái sang phải, từ nhân tố số lượng sang nhân
tố chất lượng; Trường hợp có nhiều nhân tố số lượng (chất lượng) cùng ảnh hưởng thì nhân tố chủ yếu xếp trước, nhân tố thứ yếu xếp sau và không được đảo lộn trình
tự Tiến hành lần lượt thay thế từng nhân tố một theo trình tự Nhân tố nào đượcthay thế, nó sẽ giữ nguyên giá trị thực tế từ đó; còn các nhân tố chưa được thay thế phải giữ nguyên giá trị ở kỳ gốc hoặc kỳ kế hoạch Thay thế xong một nhân tố, phải tính
ra cụ thể kết quả lần thay thế đó.Có bao nhiêu nhân tố thì thay thế bấy nhiêu lần và tổng hợp ảnh hưởng của các nhân tố phải bằng với đối tượng phân tích
Lần lượt thay thế nhân tố kế hoạch bằng nhân tố thực tế theo trình tự, mỗi lần thay thế tính ra được chỉ tiêu phân tích mới, rồi so sánh với chỉ tiêu phân tích đã tính ở bước trước Ta sẽ xác định mức độ ảnh hưởng của nhân tố vừa thay thế
Để làm rõ các vấn đề lý luận trên, ta lấy một ví dụ khái quát như sau:
Giả sử có chỉ tiêu phân tích Q chịu ảnh hưởng bởi 3 nhân tố, theo thứ tự a,
b, c Các nhân tố này có quan hệ tích số với chỉ tiêu phân tích Q và đã được sắp xếp