Khu kinh tế Nhơn Hội được Chính phủ thành lập tại Quyết định số 141/2005/QĐ-TTg ngày 14 tháng 06 năm 2005 trên địa bàn tỉnh Bình Định nhằm khai thác tối đa lợi thế về điều kiện tự nhiên,
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về nội dung luận văn này trước Trường Đại Học Giao Thông Vận Tải
Tác giả luận văn
Nguyễn Viết Trị
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Luận văn tốt nghiệp này được hoàn thành với sự giúp đỡ, động viên
từ nhiều phía Đầu tiên, tôi xin trân trọng cảm ơn toàn thể quý Thầy, cô trong Bộ môn Vận tải – Kinh tế – Trường Đại học Giao thông Vận tải –
Cơ sở II đã truyền đạt những kiến thức quý báu và tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt quá trình học tập
Đặc biệt, tôi xin chân thành biết ơn Thầy Tiến sĩ Chu Xuân Nam đã tận tình hướng dẫn tôi hoàn thành tốt Luận văn này
Xin ghi nhận sự nhiệt tình giúp đỡ của Lãnh đạo Ban Quản lý Khu kinh tế Nhơn Hội, tỉnh Bình Định trong quá trình thực hiện để tôi có thể hoàn thành tốt đề tài của mình
Và sau hết, tôi xin gửi lời cảm ơn đến tất cả những người thân, cùng bạn bè, đồng nghiệp, những người đã động viên, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian theo học cũng như lúc thực hiện Luận văn này./
Tp Hồ Chí Minh, tháng 05 năm 2014
Nguyễn Viết Trị
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ VỐN, NGUỒN VỐN ĐẦU TƯ 4
1.1 Khái niệm vốn, nguồn đầu tư 4
1.1.1 Khái niệm vốn đầu tư 4
1.1.2 Khái niệm nguồn vốn đầu tư 5
1.2 Phân loại vốn, nguồn vốn đầu tư 5
1.2.1 Phân loại vốn đầu tư 5
1.2.1.1 Theo bản chất 5
1.2.1.2 Theo tính chất tham gia vào quá trình tái sản xuất 6
1.2.1.3 Theo động cơ của nhà đầu tư 7
1.2.2 Phân loại nguồn vốn đầu tư 7
1.2.2.1 Trong nước 7
1.2.2.2 Nước ngoài 10
1.3 Vai trò của vốn, nguồn vốn đầu tư 25
1.3.1 Đối với nước xuất khẩu vốn đầu tư 25
1.3.2 Đối với nước tiếp nhận vốn đầu tư 26
1.3.2.1 Các nước phát triển 26
1.3.2.2 Các nước chậm và đang phát triển 26
1.4 Khái niệm, mục tiêu và tính chất của Khu kinh tế 27
1.4.1 Khái niệm Khu kinh tế 27
1.4.2 Mục tiêu của Khu kinh tế 27
1.4.3 Tính chất của Khu kinh tế 28
1.5 Nhu cầu vốn để đầu tư và phát triển khu kinh tế Nhơn Hội 28
1.6 Những nhân tố ảnh hưởng đến thu hút vốn đầu tư 29
1.6.1 Môi trường chính trị - xã hội 29
1.6.2 Cơ chế chính sách và thủ tục hành chính 30
1.6.3 Kết cấu hạ tầng kỹ thuật và xã hội 31
1.6.4 Nguồn nhân lực 32
1.6.5 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên 33
1.6.6 Chính sách kinh tế 34
1.6.7 Chiến lược xúc tiến đầu tư 34
Trang 41.7 Kinh nghiệm từ một số quốc gia lân cận 35
1.7.1 Thái lan 35
1.7.2 Malaysia 37
1.7.3 Singapore 38
1.7.4 Indonexia 40
1.7.5 Trung Quốc 41
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG THU HÚT NGUỒN VỐN ĐẦU TƯ TẠI KHU KINH TẾ NHƠN HỘI 44
2.1 Giới thiệu tổng quan về tỉnh Bình Định 44
2.1.1 Vị trí địa lý 44
2.1.2 Diện tích và dân số 44
2.1.3 Điều kiện khí hậu và tài nguyên thiên nhiên 44
2.1.4 Nguồn nhân lực 45
2.1.5 Cơ sở hạ tầng 45
2.1.6 Phát triển kinh tế 46
2.2 Giới thiệu tổng quan Khu kinh tế Nhơn Hội 47
2.2.1 Vị trí địa lý 47
2.2.2 Quy mô dân số và đất đai 48
2.2.3 Tổ chức không gian 48
2.2.3.1 Khu phi thuế quan (diện tích xây dựng khoảng 545 ha) 48
2.2.3.2 Khu thuế quan (diện tích xây dựng khoảng 4.720 ha), trong đó: 49
2.2.4 Quy hoạch kiến trúc và bảo vệ cảnh quan thiên nhiên 50
2.2.4.1 Đối với các khu vực cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử, văn hóa: 50
2.2.4.2 Đối với các khu đô thị: 50
2.2.5 Định hướng phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật 51
2.2.5.1 Về giao thông: 51
2.2.5.2 San nền: 51
2.2.5.3 Cấp nước: 52
2.2.5.4 Thoát nước mưa: 52
2.2.5.5 Cấp điện: 52
2.2.5.6 Thoát nước thải: 53
Trang 52.2.5.7 Vệ sinh môi trường: 53
2.2.6 Các dự án ưu tiên đầu tư xây dựng 53
2.2.7 Vai trò của Khu kinh tế Nhơn Hội đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Bình Định 53
2.2.7.1 Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Bình Định theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa 53
2.2.7.2 Giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập cho dân cư 55
2.2.7.3 Nâng cao trình độ công nghệ, hiện đại hóa cách thức quản lý sản xuất 55
2.2.7.4 Phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội 56
2.2.8 Ban quản lý Khu kinh tế 57
2.2.8.1 Quá trình hình thành và phát triển của Ban Quản lý Khu kinh tế 57
2.2.8.2 Cơ cấu tổ chức 58
2.2.8.3 Chức năng nhiệm vụ Ban quản lý Khu kinh tế 58
2.3 Thực trạng thu hút nguồn vốn đầu tư giai đoạn 2006 – 2012 66
2.3.1 Những thành tựu đã đạt được 66
2.3.1.1 Năm 2006 66
2.3.1.2 Năm 2007 68
2.3.1.3 Năm 2008 69
2.3.1.4 Năm 2009 71
2.3.1.5 Năm 2010 73
2.3.1.6 Năm 2011 75
2.3.1.7 Năm 2012 77
2.3.2 Những tồn tại, khó khăn gặp phải 79
2.3.3 Nguyên nhân của những tồn tại, khó khăn 79
2.3.3.1 Nguyên nhân khách quan: 79
2.3.3.2 Nguyên nhân chủ quan: 82
2.4 Đánh giá thực trạng thu hút nguồn vốn đầu tư 83
2.4.1 Theo cơ cấu nguồn vốn 83
2.4.2 Theo cơ cấu lĩnh vực ngành nghề 84
2.4.3 Theo thực tế triển khai thực hiện dự án 86
2.4.3.1 Dự án đầu tư lĩnh vực hạ tầng 86
Trang 62.4.3.2 Dự án đầu tư lĩnh vực công nghiệp 88
2.4.3.3 Dự án đầu tư lĩnh vực du lịch 90
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP THU HÚT NGUỒN VỐN ĐẦU TƯ GIAI ĐOẠN 2013 – 2020 93
3.1 Định hướng thu hút nguồn vốn đầu tư 93
3.1.1 Đối với nguồn vốn trong nước 93
3.1.2 Đối với nguồn vốn nước ngoài 93
3.2 Những giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường thu hút nguồn vốn đầu tư giai đoạn 2013 - 2020 94
3.2.1 Giải pháp về pháp lý, chính sách 94
3.2.1.1 Giải pháp về pháp lý 94
3.2.1.2 Giải pháp về chính sách 96
3.2.2 Giải pháp về cơ sở hạ tầng 99
3.2.2.1 Giao thông 100
3.2.2.2 Hệ thống cấp, thoát nước 105
3.2.2.3 Hệ thống điện 105
3.2.3 Giải pháp về xúc tiến đầu tư 106
3.2.4 Giải pháp về thu hút và phát triển nguồn nhân lực 107
3.2.5 Giải pháp về định cư 109
3.2.6 Giải pháp bổ trợ khác 111
3.3 Dự báo kết quả áp dụng hiệu quả các giải pháp 112
3.3.1 Cơ cấu nguồn vốn thu hút 112
3.3.2 Hiệu quả kinh tế xã hội 112
3.3.2.1 Tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế 113
3.3.2.2 Lao động, việc làm 113
3.3.2.3 Cơ sở hạ tầng 114
Trang 7DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ
Bảng 1 Tổng hợp các dự án được cấp chứng nhận đầu tư năm 2006 66
Bảng 2 Tổng hợp các dự án được cấp chứng nhận đầu tư năm 2007 68
Bảng 3 Tổng hợp các dự án được cấp chứng nhận đầu tư năm 2008 69
Bảng 4 Tổng hợp các dự án được cấp chứng nhận đầu tư năm 2009 71
Bảng 5 Tổng hợp các dự án được cấp chứng nhận đầu tư năm 2010 73
Bảng 6 Tổng hợp các dự án được cấp chứng nhận đầu tư năm 2011 75
Bảng 7 Tổng hợp các dự án được cấp chứng nhận đầu tư năm 2012 77
Bảng 8 Tổng hợp tình hình thực hiện đầu tư dự án lĩnh vực hạ tầng đến năm 2012 86
Bảng 9 Tổng hợp tình hình thực hiện đầu tư dự án lĩnh vực công nghiệp đến năm 2012 88
Bảng 10 Tổng hợp tình hình thực hiện đầu tư dự án lĩnh vực du lịch đến năm 2012 90
Biểu đồ 2.1 Cơ cấu lĩnh vực đầu tư năm 2006 67
Biểu đồ 2.2 Cơ cấu lĩnh vực đầu tư năm 2007 69
Biểu đồ 2.3 Cơ cấu lĩnh vực đầu tư năm 2008 70
Biểu đồ 2.4 Cơ cấu lĩnh vực đầu tư năm 2009 72
Biểu đồ 2.5 Cơ cấu lĩnh vực đầu tư năm 2010 74
Biểu đồ 2.6 Cơ cấu lĩnh vực đầu tư năm 2011 76
Biểu đồ 2.7 Cơ cấu lĩnh vực đầu tư năm 2012 77
Biểu đồ 2.8 Cơ cấu nguồn vốn đầu tư từ năm 2006 – 2012 83
Biểu đồ 2.9 Tỷ trọng nguồn vốn đầu tư từ năm 2006 – 2012 84
Biểu đồ 2.10 Cơ cấu lĩnh vực đầu tư từ năm 2006 – 2012 84
Biểu đồ 2.11 Tỷ trọng lĩnh vực đầu tư từ năm 2006 – 2012 85
Trang 8MỞ ĐẦU
Lý do chọn đề tài
Khu kinh tế Nhơn Hội được Chính phủ thành lập tại Quyết định số 141/2005/QĐ-TTg ngày 14 tháng 06 năm 2005 trên địa bàn tỉnh Bình Định nhằm khai thác tối đa lợi thế về điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý kinh tế và chính trị trong giao thương, dịch vụ quốc tế và trong nước, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bình Định và khu vực Nam Trung Bộ và vùng kinh tế trọng điểm miền Trung nhằm góp phần thu hẹp khoảng cách khu vực này với các vùng khác trong cả nước; là một đầu mối giao lưu quốc tế quan trọng, góp phần mở rộng thị trường khu vực Nam Trung Bộ, Tây Nguyên và trở thành cầu nối với thị trường Đông Bắc Campuchia, Nam Lào và miền Trung Thái Lan, tạo việc làm, đào tạo và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tăng thu nhập cho người lao động tỉnh Bình Định Hơn 8 năm xây dựng kể từ ngày thành lập, Khu kinh tế Nhơn Hội đã thu hút được một lượng vốn đầu tư nhất định từ các nguồn vốn trong và ngoài nước Tuy nhiên so với yêu cầu thu hút đầu tư để phát triển Khu kinh tế Nhơn Hội thì kết quả đạt được còn quá thấp, chưa đủ điều kiện để đẩy mạnh phát triển Đây chính là điểm yếu, nếu không được khắc phục kịp thời thì việc xây dựng thành công khu kinh tế ở nước ta khó có thể thực hiện được Làm thế nào để thu hút được ngày càng nhiều vốn đầu tư, nguồn vốn ấy ở đâu? bao nhiêu? đang là nỗi trăn trở của Đảng bộ, Chính quyền tỉnh Bình Định
và của ban Quản lý Khu kinh tế tỉnh Bình Định Vì vậy, đề tài "Giải pháp thu hút đầu tư vào khu kinh tế Nhơn Hội – thành phố Quy Nhơn – tỉnh Bình Định" được chọn có ý nghĩa về mặt lý luận, đặc biệt là đối với việc phát triển Khu kinh tế Nhơn Hội tỉnh Bình Định hiện nay
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Trang 9- Làm rõ các luận cứ khoa học về vốn đầu tư, nhu cầu, khả năng đáp ứng và các nhân tố ảnh hưởng đến thu hút các nguồn vốn đầu tư vào khu kinh tế
- Tìm hiểu một số kinh nghiệm thu hút vốn đầu tư phát triển khu kinh
tế của các nước trong khu vực Asean và Trung Quốc
- Đánh giá, phân tích tình hình thu hút vốn đầu tư tại khu kinh tế Nhơn Hội trong thời gian qua
- Đề xuất những giải pháp, cơ chế, chính sách phù hợp với điều kiện của khu kinh tế Nhơn Hội nhằm thu hút hiệu quả hơn vốn đầu tư vào khu kinh tế Nhơn Hội trong thời gian tới
Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các nguồn vốn trong và ngoài nước có thể thu hút để đầu tư phát triển khu kinh tế Nhơn Hội trên địa bàn tỉnh Bình Định
Phạm vi nghiên cứu
- Vốn được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, đề tài nghiên cứu chỉ giới hạn vốn dưới hình thức tiền tệ
- Nguồn vốn: trong nước và ngoài nước
- Thời gian nghiên cứu là từ khi có quyết định thành lập (năm 2005) đến nay
Phương pháp nghiên cứu
- Sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử làm nền tảng cơ sở phương pháp luận
- Sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê và các phương pháp khác của khoa học kinh
tế
Trang 10Nội dung và Kết cấu của luận văn
Chương 1: Cơ sở lý luận chung về vốn, nguồn vốn đầu tư
Chương 2: Trực trạng thu hút vốn đầu tư tại khu kinh tế Nhơn Hội Chương 3: Giải pháp thu hút vốn đầu tư giai đoạn 2013 – 2020
Trang 11CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ VỐN, NGUỒN VỐN ĐẦU TƯ 1.1 Khái niệm vốn, nguồn đầu tư
1.1.1 Khái niệm vốn đầu tư
- Dưới giác độ các yếu tố sản xuất, Mark đã khái quát hóa vốn thành phạm trù cơ bản Theo Mark, tư bản là giá trị đem lại giá trị thặng dư, là một đầu vào của quá trình sản xuất Định nghĩa của Mark có tầm khái quát lớn Tuy nhiên, do hạn chế của trình độ phát triển kinh tế lúc bấy giờ, Mark quan niệm chỉ có khu vực sản xuất vật chất mới tạo ra giá trị thặng dư
- Paul A Sammelson, nhà kinh tế học theo trường phái “tân cổ điển”
đã thừa kế quan niệm về các yếu tố sản xuất của trường phái cổ điển và phân chia các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất ra thành ba loại chủ yếu là: đất đai, lao động và vốn Theo ông, vốn là các hàng hoá được sản xuất ra để phục vụ cho một quá trình sản xuất mới, là đầu vào cho hoạt động sản xuất của một doanh nghiệp: đó có thể là các máy móc, trang thiết
bị, vật tư, đất đai, giá trị nhà xưởng Trong quan niệm về vốn của mình, Sammelson không đề cập tới các tài sản tài chính, những giấy tờ có giá trị đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp
- Trong cuốn kinh tế học của D Begg, tác giả đã đưa ra hai định nghĩa vốn hiện vật và vốn tài chính của doanh nghiệp Vốn hiện vật là dự trữ các hàng hoá đã sản xuất ra để sản xuất các hàng hoá khác; vốn tài chính là tiền và các giấy tờ có giá của doanh nghiệp Như vậy, D Begg đã
bổ sung vốn tài chính vào định nghĩa vốn của Sammelson
- Từ các định nghĩa trên có thể hiểu vốn đầu tư là tiền và các tài sản hợp pháp khác để thực hiện các hoạt động đầu tư theo hình thức đầu tư trực tiếp hoặc đầu tư gián tiếp
Trang 121.1.2 Khái niệm nguồn vốn đầu tư
- Nguồn vốn đầu tư là các kênh tập trung và phân phối cho vốn đầu tư phát triển đáp ứng nhu cầu chung của nhà nước và xã hội
1.2 Phân loại vốn, nguồn vốn đầu tư
1.2.1 Phân loại vốn đầu tư
Vốn là một phạm trù kinh tế tương đối rộng trong nền kinh tế, vì thế muốn được hiểu rõ nguồn gốc về vốn, ta cần phân loại vốn theo các khía cạnh sau đây
1.2.1.1 Theo bản chất
a Vốn đầu tư cơ bản
Là nguồn vốn đầu tư dùng để tạo mới, thay thế hoặc đổi mới tài sản
cố định của cả lĩnh vực sản xuất vật chất và lĩnh vực phi sản xuất vật chất Vốn đầu tư cơ bản là thành phần tích cực trong vốn đầu tư toàn xã hội Quản lý và sử dụng có hiệu quả vốn đầu tư cơ bản đóng vai trò quyết định trong việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Trong những điều kiện sản xuất, kinh doanh bình thường, việc chuyển dịch vốn đầu tư cơ bản từ những lĩnh vực có hiệu quả kinh tế - xã hội thấp đến những lĩnh vực có hiệu quả kinh tế - xã hội cao sẽ làm tăng hiệu quả kinh tế - xã hội của nền kinh tế đất nước trong khi không đòi hỏi phải tăng thêm tổng mức vốn đầu tư cơ bản Vốn đầu tư cơ bản bao gồm
ba thành phần theo cơ cấu kỹ thuật: vốn đầu tư vào máy móc, thiết bị; vốn đầu tư vào xây lắp và vốn đầu tư vào kiến thiết cơ bản khác Việc phân bổ vốn đầu tư vào ba thành phần quyết định cơ cấu kỹ thuật của vốn đầu tư cơ bản
b Vốn đầu tư vận hành
Là nguồn vốn đầu tư dùng để hình thành tài sản lưu động (nguyên nhiên vật liệu, thiết bị rẻ tiền mau hỏng, tiền mặt ), phục vụ cho quá trình
Trang 13tái sản xuất Thiếu vốn đầu tư vận hành, quá trình sản xuất sẽ không có đủ điều kiện để thực hiện và vốn đầu tư cơ bản sẽ trở nên vô nghĩa và không
có hiệu quả
1.2.1.2 Theo tính chất tham gia vào quá trình tái sản xuất
a Vốn đầu tư phục hồi (bao gồm cả vốn khấu hao cơ bản)
Là nguồn vốn được tích lũy lại với mục đích sẽ khôi phục lại quá trình sản xuất vào cuối mỗi chu kỳ kinh doanh nhằm đảm bảo quá trình sản xuất liên tục, không gián đoạn với quy mô không đổi
b Vốn đầu tư phát triển
Là nguồn vốn đầu tư hình thành từ nguồn tích lũy được đầu tư trở lại
để phát triển sản xuất kinh doanh trong mỗi chu trình tái sản xuất nhằm đảm bảo quá trình sản xuất liên tục với quy mô sản phẩm mới, lớn hơn hoặc tiến bộ hơn Vốn đầu tư phát triển là nguồn vốn đầu tư không thể thiếu được trong mỗi nền kinh tế phát triển Nguồn vốn đầu tư phát triển lớn hay nhỏ sẽ quy định quy mô của mỗi nền kinh tế (phát triển nhanh hay chậm) Trong nền kinh tế trì trệ, suy thoái, vốn đầu tư cơ bản chỉ bao gồm toàn bộ hoặc một phần vốn đầu tư phục hồi Trong trường hợp đó, nền kinh tế không thể mở rộng được quy mô, tiến bộ khoa học kỹ thuật không
có điều kiện được áp dụng và cũng không thể nói đến bất kỳ sự cải thiện nào trong đời sống kinh tế - xã hội
c Vốn đầu tư dịch chuyển
Là nguồn vốn đầu tư mà kết quả của quá trình thực hiện đầu tư không tạo nên tài sản cố định, kỹ năng, tri thức hay năng lực sản xuất mới
mà chỉ chuyển dịch tài sản cố định, năng lực sản xuất từ chủ thể sở hữu này sang chủ thể sở hữu khác
Trang 141.2.1.3 Theo động cơ của nhà đầu tư
a Vốn tìm kiếm tài nguyên
Là nguồn vốn nhằm khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên rẻ và dồi dào ở nước tiếp nhận, khai thác nguồn lao động có thể kém về kỹ năng nhưng giá thấp hoặc khai thác nguồn lao động kỹ năng dồi dào Nguồn vốn loại này còn nhằm mục đích khai thác các tài sản sẵn có thương hiệu ở nước tiếp nhận Nó cũng còn nhằm khai thác các tài sản trí tuệ của nước tiếp nhận Ngoài ra, hình thức vốn này còn nhằm tranh giành các nguồn tài nguyên chiến lược để khỏi lọt vào tay đối thủ cạnh tranh
b Vốn tìm kiếm hiệu quả
Là nguồn vốn nhằm tận dụng giá thành đầu vào kinh doanh thấp ở nước tiếp nhận như: giá nguyên liệu, giá nhân công, giá các yếu tố sản xuất như: điện, nước, chi phí thông tin liên lạc, giao thông vận tải, mặt bằng sản xuất kinh doanh rẻ, thuế suất ưu đãi, v.v
c Vốn tìm kiếm thị trường
Là hình thức đầu tư nhằm mở rộng thị trường hoặc giữ thị trường khỏi bị đối thủ cạnh tranh giành mất Ngoài ra, hình thức đầu tư này còn nhằm tận dụng các hiệp định hợp tác kinh tế giữa nước tiếp nhận với các nước và khu vực khác, lấy nước tiếp nhận làm bàn đạp để thâm nhập vào các thị trường khu vực và toàn cầu
1.2.2 Phân loại nguồn vốn đầu tư
Trang 15- Nguồn vốn ngân sách nhà nước: Đây chính là nguồn chi của ngân sách Nhà nước cho đầu tư Đó là một nguồn vốn đầu tư quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia Nguồn vốn này thường được sử dụng cho các dự án kết cấu kinh tế - xã hội, quốc phòng,
an ninh, hỗ trợ cho các dự án của doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực cần sự tham gia của Nhà nước, chi cho các công tác lập và thực hiện các quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng, lãnh thổ, quy hoạch xây dựng đô thị và nông thôn
- Vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước: cùng với quá trình đổi mới và mở cửa, tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước ngày càng đóng vai trò đáng kể trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước có tác dụng tích cực trong việc giảm đáng kể việc bao cấp vốn trực tiếp của Nhà nước Với cơ chế tín dụng, các đơn vị sử dụng nguồn vốn này phải đảm bảo nguyên tắc hoàn trả vốn vay Chủ đầu tư là người vay vốn phải tính kỹ hiệu quả đầu tư, sử dụng vốn tiết kiệm hơn Vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước là một hình thức quá độ chuyển từ hình thức cấp phát ngân sách sang phương thức tín dụng đối với các dự án có khả năng thu hồi vốn trực tiếp
- Nguồn vốn đầu tư từ doanh nghiệp Nhà nước: là thành phần chủ đạo trong nền kinh tế, các doanh nghiệp Nhà nước vẫn nắm giữ một khối lượng vốn khá lớn Mặc dù vẫn còn một số hạn chế nhưng đánh giá một cách công bằng thì khu vực kinh tế Nhà nước với sự tham gia của các doanh nghiệp Nhà nước vẫn đóng một vai trò chủ đạo trong nền kinh tế nhiều thành phần.Với chủ trương tiếp tục đổi mới doanh nghiệp Nhà nước, hiệu quả hoạt động của khu vực kinh tế này ngày càng được khẳng định, tích luỹ của các doanh nghiệp Nhà nước ngày càng gia tăng và đóng góp đáng
kể vào tổng quy mô vốn đầu tư của toàn xã hội
Trang 16b Nguồn vốn từ khu vực tư nhân
Nguồn vốn từ khu vực tư nhân bao gồm phần tiết kiệm của dân cư, phần tích lũy của các doanh nghiệp kinh doanh, các hợp tác xã Theo đánh giá sơ bộ, khu vực kinh tế ngoài Nhà nước vẫn sở hữu một lượng vốn tiềm năng rất lớn mà chưa được huy động triệt để Cùng với sự phát triển kinh
tế của đất nước, một bộ phận không nhỏ trong dân cư có tiềm năng về vốn
do có nguồn thu nhập gia tăng hay do tích lũy truyền thống Nhìn tổng quan nguồn vốn tiềm năng trong dân cư không phải là nhỏ, tồn tại dưới dạng vàng, ngoại tệ, tiền mặt… nguồn vốn này xấp xỉ bằng 80% tổng nguồn vốn huy động của toàn bộ hệ thống ngân hàng Vốn của dân cư phụ thuộc vào thu nhập và chi tiêu của các hộ gia đình Quy mô của các nguồn tiết kiệm này phụ thuộc vào:
- Trình độ phát triển của đất nước (ở những nước có trình độ phát triển thấp thường có quy mô và tỷ lệ tiết kiệm thấp)
- Tập quán tiêu dùng của dân cư
- Chính sách động viên của Nhà nước thông qua chính sách thuế thu nhập và các khoản đóng góp với xã hội
c Thị trường vốn
Thị trường vốn có ý nghĩa quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh
tế của các nước có nền kinh tế thị trường Nó là kênh bổ sung các nguồn vốn trung và dài hạn cho các chủ đầu tư - bao gồm cả Nhà nước và các loại hình doanh nghiệp Thị trường vốn mà cốt lõi là thị trường chứng khoán như một trung tâm thu gom mọi nguồn vốn tiết kiệm của từng hộ dân cư, thu hút mọi nguồn vốn nhàn rỗi của các doanh nghiệp, các tổ chức tài chính, chính phủ trung ương và chính quyền địa phương tạo thành một nguồn vốn khổng lồ cho nền kinh tế Đây được coi là một lợi thế mà không một phương thức huy động nào có thể làm được
Trang 171.2.2.2 Nước ngoài
a Đầu tư trực tiếp (Foreign Direct Investment – FDI)
Khái niệm:
- Theo Tổ chức Thương mại Thế giới đưa ra định nghĩa như sau: Đầu
tư trực tiếp nước ngoài xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác Trong phần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư thường được hay gọi là “công ty mẹ” và các tài sản được gọi là “công ty con” hay “chi nhánh công ty”
- Theo Quỹ tiền tệ Quốc tế IMF thì đầu tư trực tiếp nước ngoài là một
tổ chức kinh tế (nhà đầu tư trực tiếp) thu được lợi ích lâu dài từ một doanh nghiệp đặt tại một nền kinh tế khác Mục đích của nhà đầu tư trực tiếp là muốn có nhiều ảnh hưởng trong việc quản lý doanh nghiệp đặt tại nền kinh
tế đó
- Hội nghị Liên Hợp Quốc về thương mại và Phát triển UNCTAD cũng đưa ra một định nghĩa về FDI Theo đó, luồng vốn FDI bao gồm vốn được cung cấp (trực tiếp hoặc thông qua các công ty liên quan khác) bởi nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài cho các doanh nghiệp FDI, hoặc vốn mà nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài nhận được từ doanh nghiệp FDI FDI gồm
có ba bộ phận: vốn cổ phần, thu nhập tái đầu tư và các khoản vay trong nội
bộ công ty
- Các nhà kinh tế quốc tế định nghĩa: đầu tư trực tiếp nước ngoài là người sở hữu tại nước này mua hoặc kiểm soát một thực thể kinh tế của nước khác Đó là một khoản tiền mà nhà đầu tư trả cho một thực thể kinh
Trang 18tế của nước ngoài để có ảnh hưởng quyết định đối với thực thể kinh tế ấy hoặc tăng thêm quyền kiểm soát trong thực thể kinh tế ấy
- Theo luật đầu tư trực tiếp nước ngoài thì đầu tư trực tiếp nước ngoài
là việc tổ chức, cá nhân người nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào được chính phủ Việt Nam chấp thuận để hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hoặc thành lập xí nghiệp liên doanh hoặc doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài theo quy định của luật này
- Theo Tiến Sĩ Đỗ Đức Bình, Tiến Sĩ Nguyễn Thường Lạng (2008):
“FDI là hình thức trong đó người chủ đầu tư có quyền kiểm soát đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh cũng như lợi ích của mình ở một hãng nước ngoài FDI do vậy bao gồm cả quyền sở hữu và quyền kiểm soát kinh doanh ở nước ngoài”
Từ những khái niệm trên có thể hiểu một cách khái quát về đầu tư trực tiếp nước ngoài như sau: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI tại một quốc gia là việc nhà đầu tư ở một nước khác đưa vốn bằng tiền hoặc bất kì tài sản nào vào quốc gia đó để có được quyền sở hữu và quản lý hoặc quyền kiểm soát một thực thể kinh tế tại quốc gia đó, với mục tiêu tối đa hóa lợi ích của mình”
Các hình thức đầu tư trực tiếp:
- Hình thức 100% vốn nước ngoài (100% Foreign Capital Enterprise): Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài là doanh nghiệp thuộc
sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài, do nhà đầu tư nước ngoài thành lập tại Việt Nam, tự quản lý và chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài đã thành lập tại Việt Nam được hợp tác với nhau và/ hoặc với nhà đầu tư nước ngoài để thành lập doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài mới tại Việt Nam
Các cách thức thành lập:
Trang 19 Một chủ đầu tư nước ngoài tự bỏ vốn thành lập công ty mang pháp nhân Việt Nam
Các nhà đầu tư của một nước hoặc nhiều nước liên kết với nhau cùng bỏ vốn (không có sự tham gia góp vốn của doanh nghiệp Việt Nam)
để thành lập công ty mang pháp nhân Việt Nam
Mua lại cổ phần vốn của đối tác Việt Nam để chuyển đổi từ hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh hoặc liên doanh thành doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài
Mua lại công ty của Việt Nam
- Hình thức liên doanh đầu tư (A Joint Venture Enterprise):
Là hình thức đầu tư mà một doanh nghiệp (một công ty) được thành lập trên cơ sở góp vốn của hai bên hoặc nhiều bên Việt Nam và nước ngoài
Các cách thức thành lập:
Trang 20 Hai bên hoặc nhiều bên Việt Nam và nước ngoài bỏ vốn để thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn hay công ty cổ phần
Phía nước ngoài mua lại một phần vốn của công ty Việt Nam đang hoạt động
Phía Việt Nam mua lại một phần vốn của công ty 100% vốn nước ngoài đang hoạt động tại Việt Nam
Công ty liên doanh hoặc công ty 100% vốn nước ngoài đang hoạt động tại Việt Nam góp vốn để thành lập công ty liên doanh mới
Hợp đồng hợp tác kinh doanh (Business Cooperation Contract – BCC): là văn bản ký kết giữa hai bên hoặc nhiều bên để tiến hành đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam, trong đó quy định trách nhiệm và phân chia kết quả kinh doanh cho mỗi bên mà không cần thành lập pháp nhân mới Hình thức này có đặc điểm:
Không ra đời một pháp nhân mới
Trang 21 Cơ sở của hình thức này là hợp đồng hợp tác kinh doanh Trong hợp đồng nội dung chính phản ánh trách nhiệm và quyền lợi giữa các bên với nhau
Thời hạn cần thiết của hợp đồng do các bên thỏa thuận phù hợp với tính chất mục tiêu kinh doanh và được cơ quan cấp phép kinh doanh phê duyệt
Hợp đồng phải do đại diện của các bên có thẩm quyền ký Trong quá trình hợp tác kinh doanh các bên giữ nguyên tư cách pháp nhân của mình
Hợp đồng xây dựng – kinh doanh – chuyển giao (Build Operate Transfer – BOT): là hình thức đầu tư được ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để xây dựng, kinh doanh công trình kết cấu hạ tầng trong một thời hạn nhất định; hết thời hạn nhà đầu tư chuyển giao không bồi hoàn công trình đó cho Nhà nước Việt Nam Đặc điểm chính của BOT là:
Đây là một mô hình quan trọng, hữu hiệu để huy động vốn đầu tư từ khu vực tư nhân trong điều kiện ngân sách nhà nước hạn hẹp
Việc tài trợ dự án và các rủi ro tài chính, rủi ro hoạt động được chuyển sang khu vực tư nhân
Đối tác tư nhân thực hiện dự án thường tính toán kỹ lưỡng khả năng thu phí để làm cơ sở thỏa thuận thời hạn của hợp đồng, đặc biệt là thời hạn khai thác công trình cơ sở hạ tầng Giai đoạn khai thác, kinh doanh chủ yếu xác định bằng độ dài thời gian cần thiết để doanh thu từ công trình trả hết được chi phí vốn đầu tư của doanh nghiệp và tạo ra được một tỷ suất sinh lời hợp lý cho việc đầu tư và rủi ro mà doanh nghiệp đó phải chịu
Để thực hiện dự án BOT, đòi hỏi có nhiều hợp đồng được ký kết, song hợp đồng BOT là cơ sở pháp lý quan trọng nhất, là tiền đề cho việc
Trang 22hình thành doanh nghiệp BOT và việc ký kết các hợp đồng liên quan để thực hiện dự án Hợp đồng BOT là tập hợp các thỏa thuận cho phép nhà đầu tư quyền được thực hiện dự án với những cam kết đối với nhà nước trong việc phát triển công trình cơ sở hạ tầng
Hợp đồng BOT vừa được xem xét dưới góc độ là một quá trình, ở khía cạnh này, hợp đồng BOT luôn đi kèm với một dự án BOT và là cơ sở hình thành và phát triển dự án BOT Chính vì vậy, hợp đồng BOT thường được gọi là hợp đồng dự án Bên cạnh đó hợp đồng BOT cũng được coi là một hợp đồng chuyển nhượng quyền, ở đó đối tác tư nhân được quyền thực hiện xây dựng, kinh doanh chứ không phải là bị buộc phải xây dựng, kinh doanh
Đối tác tư nhân có thể tự mình bỏ vốn vốn xây dựng cơ sở hạ tầng, song cũng có thể vay vốn từ ngân hàng (tỷ lệ vay vốn theo quy định của nhà nước) Điểm đặc biệt trong việc huy động vốn vay thường không phụ thuộc vào giá trị tài sản dùng để bảo lãnh của nhà đầu tư hoặc giá trị tài sản hữu hình của bản thân dự án như các hợp đồng tín dụng truyền thống, mà thường phụ thuộc chủ yếu vào tính hiệu quả và kết quả kinh doanh của chính dự án Đây là nét đặc trưng của việc đầu tư theo phương thức hợp đồng BOT, nó thể hiện tính phức tạp, tính xã hội và tính đặc thù của hợp đồng BOT
Hợp đồng BOT thường là một hợp đồng dài hạn (khoảng 20 – 30 năm)
Hợp đồng xây dựng – chuyển giao – kinh doanh (Build Transfer Operate – BTO): là hình thức đầu tư được ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng; sau khi xây dựng xong nhà đầu tư chuyển giao công trình đó cho Nhà nước Việt Nam; Chính phủ dành cho nhà đầu tư quyền kinh doanh công trình đó
Trang 23trong một thời hạn nhất định để thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận Đặc điểm chính của phương thức BTO là:
Phương thức BTO bao gồm việc tài trợ của khu vực tư nhân trong tất cả các giai đoạn: thiết kế, xây dựng, và khai thác Khu vực nhà nước có thể khai thác lợi thế của khu vực tư nhân (cả về vốn đầu tư, khả năng xây dựng và hiệu quả khai thác, kinh doanh, ), trong khi vẫn giữ quyền sở hữu tài sản
BTO kết hợp quá trình đấu thầu thiết kế – xây dựng và khai thác trong một hợp đồng Do đó, với hợp đồng BTO, các bên liên quan (nhà nước, tư nhân) sẽ mất ít giao dịch hơn, đồng thời trách nhiệm của nhà thầu cao hơn
Phương thức BTO có lợi thế quan trọng là khuyến khích khu vực tư nhân hoàn thành kịp thời các dự án, đảm bảo tài chính, hiệu quả hoạt động
và chất lượng dịch vụ BTO vừa kết hợp được cả sự năng động của nhà đầu tư tư nhân cũng như kinh nghiệm dự án của họ
Sau khi chuyển giao quyền sở hữu tài sản cho khu vực công, đối tác
tư nhân được quyền khai thác, kinh doanh thông qua một thỏa thuận cho thuê/nhượng quyền khai thác dài hạn
Việc phân chia lợi ích của mỗi bên trong quá trình khai thác sử dụng công trình là một trong những nội dung chủ yếu được thỏa thuận chi tiết trong hợp đồng
Hợp đồng xây dựng – chuyển giao (Build Transfer – BT): là hình thức đầu tư được ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư
để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng; sau khi xây dựng xong, nhà đầu tư chuyển giao công trình đó cho Nhà nước Việt Nam; Chính phủ tạo điều kiện cho nhà đầu tư thực hiện dự án khác để thu hồi vốn đầu tư và lợi
Trang 24nhuận hoặc thanh toán cho nhà đầu tư theo thỏa thuận trong hợp đồng Hình thức này có những đặc điểm sau:
Vì hoạt động đầu tư được tiến hành trên cơ sở pháp lý: là hợp đồng được ký kết giữa nhà đầu tư với cơ quan nhà nước có thẩm quyền và có tính chất là hợp đồng dự án nên hợp đồng BT có đặc điểm giống với hợp đồng BOT, BTO về chủ thể giao kết, về đối tượng của hợp đồng
Về nội dung, nếu như trong hai hình thức đầu tư BOT, BTO nhà đầu
tư thực hiện đầy đủ các cam kết của mình liên quan đến các hành vi: xây dựng, kinh doanh, chuyển giao công trình thì ở hình thức đầu tư BT nghĩa
vụ mà nhà đầu tư thực hiện chỉ là xây dựng và chuyển giao công trình đó cho nhà nước mà không được quyền kinh doanh chính công trình này Vì vậy, những thỏa thuận về quyền và nghĩa vụ của hai bên trong hợp đồng cũng như những cam kết thực hiện sẽ ít hơn trong hai hợp đồng BOT, BTO nhưng vẫn phải đảm bảo lợi ích kinh tế của nhà đầu tư
Về thời điểm và phương thức chuyển giao, sau khi xây dựng xong công trình nhà đầu tư sẽ phải chuyển giao ngay công trình này cho nhà nước, lợi ích mà nhà đầu tư sẽ được hưởng từ dự án đầu tư của mình là lợi ích từ một dự án khác mà nhà nước đã cam kết dành cho họ và tạo mọi điều kiện cho nhà đầu tư thực hiện dự án đó để thu hồi vốn và có lợi nhuận hợp lý Hay nói cách khác, việc quy định mô hình đầu tư này cần phải đảm bảo sự kết hợp hài hòa giữa chính sách đầu tư của nhà nước, hiệu quả kinh
tế, xã hội của những dự án đầu tư đồng thời vẫn đảm bảo cho nhà đầu tư có được lợi nhuận gián tiếp từ chính dự án đầu tư của mình Nó là yếu tố chi phối để nhà đầu tư quyết định lựa chọn hình thức đầu tư này Và đây cũng
là điểm khác biệt căn bản so với hai hình thức đầu tư BOT, BTO
Hợp đồng xây dựng – sở hữu – vận hành (Build Own Operate – BOO): là phương thức trong đó khu vực nhà nước và đối tác tư nhân thỏa
Trang 25thuận: đối tác bỏ vốn xây dựng dự án công và được phép khai thác, vận hành dự án đó Đối tác tư nhân có quyền sở hữu dự án trong suốt vòng đời của nó Với định nghĩa đó phương thức BOO có nhưng đặc điểm quan trọng là:
Đối tác tư nhân bỏ toàn bộ chi phí xây dựng, vận hành và bảo trì dự
án Tức là khu vực tư nhân đã cung cấp vốn cho dự án dịch vụ công
Đối tác tư nhân được quyền vận hành và sở hữu dự án trong suốt vòng đời của nó mà không có nghĩa vụ phải chuyển giao dự án cho khu vực nhà nước
Đối tác tư nhân được quyền quyết định thu lệ phí, tiền thuê và tiền
sử dụng dịch vụ, thông qua đó thu lại khoản chi phí đã đầu tư để xây dựng vận hành
Mặc dù được quyền sở hữu dự án, song các quyết định đối với dự án
có thể bị hạn chế khi thi hành bởi những điều khoản ràng buộc đã ký kết trong thỏa thuận với cơ quan nhà nước
Khi hợp đồng vẫn còn giá trị, đối tác tư nhân phải tiếp tục kinh doanh phù hợp với những cam kết đã được xác định trong thỏa thuận hợp đồng hoặc được quy định bởi cơ quan điều tiết
Hợp đồng thiết kế – xây dựng – tài trợ – vận hành (Design Build Finance Operate – DBFO): là một phương thức đối tác công tư, trong đó đối tác tư nhân thực hiện tất cả các giai đoạn của một dự án để cung cấp dịch vụ công, bao gồm: thiết kế, xây dựng, tài trợ và vận hành dự án thông qua một hợp đồng dài hạn Đặc điểm của phương thức DBFO:
Chìa khóa quan trọng nhất trong mô hình DBFO là việc sử dụng tài chính tư nhân Tuy nhiên, cơ chế tài trợ tài chính trong mô hình DBFO phức tạp hơn nhiều so với các hình thức khác
Trang 26 Trong phương thức DBFO có nhiều hơn một đối tác tư nhân có liên quan, tham gia vào quá trình thực hiện dự án và cung cấp dịch vụ công Để thực hiện dự án DBFO, một công ty phục vụ mục đích đặc biệt (SPV – Special Purpose Vehicle) được thành lập Đó thường là sự liên doanh giữa đối tác tư nhân (đơn vị thiết kế – xây dựng – vận hành, đơn vị cung ứng) với các ngân hàng/các nhà đầu tư tài chính (gọi chung là các ngân hàng) Các ngân hàng trên cơ sở xem xét dòng tiền trong tương lai của dự án sẽ cam kết cung cấp vốn cho SPV (có thể thông qua hợp đồng tín dụng) Sự tài trợ vốn của ngân hàng cho SPV có thể lên đến 90% tổng chi phí của dự
án, phần còn lại là vốn chủ sở hữu của SPV và các nhà thầu phụ
Khu vực nhà nước ký hợp đồng trực tiếp với SPV về việc thực hiện
dự án và cung cấp dịch vụ công (sau đây gọi là hợp đồng chính) Về phía mình, để thực hiện dự án và cung cấp các dịch vụ theo hợp đồng chính, SPV có thể ký hợp đồng với các nhà thầu phụ bao gồm đơn vị xây dựng, đơn vị quản lý và vận hành
Trong mô hình DBFO, tài sản/cơ sở hạ tầng hình thành vẫn thuộc sở hữu của khu vực nhà nước
Hợp đồng DBFO có thể gồm hai loại khác nhau: (1) Hợp đồng DFBO trong đó đối tác tư nhân (cụ thể là SPV) cung cấp dịch vụ trực tiếp cho khu vực nhà nước từ cơ sở hạ tầng được xây dựng Trong trường hợp này, khu vực nhà nước sử dụng dịch vụ phải trả phí dịch vụ cho khu vực tư nhân trong suốt ký hạn hợp đồng Kết thúc hợp đồng, khu vực nhà nước thanh toán toàn bộ phần còn lại của chi phí dự án cho bên ngân hàng đã tài trợ cho SPV (bao gồm cả lãi vay) (2) Hợp đồng DFBO dưới dạng một hợp đồng nhượng quyền, tức là sau khi hoàn thành dự án, đối tác tư nhân được phép khai thác dự án, thu phí từ người sử dụng để bù đắp lại vốn đầu tư đã
bỏ ra và thu lợi nhuận Kết thúc thời hạn hợp đồng, dự án được chuyển
Trang 27giao lại cho khu vực nhà nước Mô hình DBFO trong trường hợp này có đặc điểm giống với mô hình BOT
Hợp đồng DBFO thường là một hợp đồng dài hạn
Với Hợp đồng DBFo, hầu như tất cả rủi ro tài chính được chuyển giao cho khu vực tư nhân
- Đầu tư thông qua mô hình công ty mẹ và con (Holding company) Holding company là một trong những mô hình tổ chức quản lý được thừa nhận rộng rãi ở hầu hết các nước có nền kinh tế thị trường phát triển
Holding company là một công ty sở hữu vốn trong một công ty khác
ở mức đủ để kiểm soát hoạt động quản lý và điều hành công ty đó thông qua việc gây ảnh hưởng hoặc lựa chọn thành viên hội đồng quản trị
Holding company được thành lập dưới dạng công ty cổ phần và chỉ giới hạn hoạt động của mình trong việc sở hữu vốn, quyết định chiến lược
và giám sát hoạt động quản lý của các công ty con, các công ty con vẫn duy trì quyền kiểm soát hoạt động kinh doanh của mình một cách độc lập, tạo một số thuận lợi sau:
Cho phép các nhà đầu tư huy động vốn để triển khai nhiều dự án đầu
tư khác nhau mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho họ điều phối hoạt động và
hỗ trợ các công ty trực thuộc trong việc tiếp thị, tiêu thụ hàng hóa, điều tiết chi phí thu nhập và các nghiệp vụ tài chính
Quản lý các khoản góp vốn của mình trong công ty khác nhau như một thể thống nhất và chịu trách nhiệm về việc ra quyết định và lập kế hoạch chiến lược điều phối các hoạt động và tài chính của cả nhóm công
ty
Lập kế hoạch, chỉ đạo, kiểm soát các luồng lưu chuyển vốn trong danh mục đầu tư Holding company có thể thực hiện cả hoạt động tài trợ
Trang 28đầu tư cho các công ty con và cung cấp dịch vụ tài chính nội bộ cho các công ty này
Cung cấp cho các công ty con các dịch vụ như kiểm toán nội bộ, quan hệ đối ngoại, phát triển thị trường, lập kế hoạch, nghiên cứu và phát triển (R&D)
- Hình thức công ty cổ phần
Công ty cổ phần là doanh nghiệp trong đó vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần, các cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi vốn đã góp vào doanh nghiệp, cổ đông có thể là tổ chức cá nhân với số lượng tối đa không hạn chế, nhưng phải đáp ứng yêu cầu về số cổ đông tối thiểu Đặc trưng của công ty cổ phần là nó có quyền phát hành chứng khoán ra công chúng và các cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác
Cơ cấu tổ chức, công ty cổ phần phải có đại hội cổ đông, hội đồng quản trị và giám đốc Thông thường ở nhiều nước trên thế giới, cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu trên 10% số cổ phiếu thường có quyền tham gia giám sát quản lý hoạt động của công ty cổ phần Đại hội cổ đông gồm tất cả cổ đông có quyền biểu quyết là cơ quan quyết định cao nhất của công ty cổ phần
Ở một số nước khác, công ty cổ phần hữu hạn có vốn đầu tư nước ngoài được thành lập theo cách: thành lập mới, cổ phần hóa doanh nghiệp FDI (doanh nghiệp liên doanh và doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài) đang hoạt động, mua lại cổ phần của doanh nghiệp trong nước cổ phần hóa
- Hình thức chi nhánh công ty nước ngoài
Trang 29Hình thức này được phân biệt với hình thức công ty con 100% vốn nước ngoài ở chỗ chi nhánh không được coi là một pháp nhân độc lập trong khi công ty con thường là một pháp nhân độc lập Trách nhiệm của công ty con thường giới hạn trong phạm vi tài sản ở nước sở tại, trong khi trách nhiệm của chi nhánh theo quy định của một số nước, không chỉ giới hạn trong phạm vi tài sản của chi nhánh, mà còn được mở rộng đến cả phần tài sản của công ty mẹ ở nước ngoài
Chi nhánh được phép khấu trừ các khoản lỗ ở nước sở tại và các khoản chi phí thành lập ban đầu vào các khoản thu nhập của công ty mẹ tại nước ngoài Ngoài ra chi nhánh còn được khấu trừ một phần các chi phí quản lý của công ty mẹ ở nước ngoài vào phần thu nhập chịu thuế ở nước
sở tại
Việc thành lập chi nhánh thường đơn giản hơn so với việc thành lập công ty con Do không thành lập một pháp nhân độc lập, việc thành lập chi nhánh không phải tuân thủ theo các quy định về thành lập công ty, thường chỉ thông qua việc đăng kí tại các cơ quan có thẩm quyền của nước chủ nhà
- Hình thức công ty hợp danh
Công ty hợp danh là doanh nghiệp phải có ít nhất hai thành viên hợp danh, ngoài các thành viên hợp danh có thể có thành viên góp vốn Thành viên hợp danh phải là cá nhân có trình độ chuyên môn, có uy tín nghề nghiệp và phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về nghĩa vụ của công ty; thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty Công ty hợp danh không được phát hành bất kì loại chứng khoán nào Các thành viên hợp danh có quyền ngang nhau khi quyết định các vấn đề quản lý công ty, còn thành viên góp vốn có quyền được chia lợi nhuận theo tỷ lệ quy định tại điều lệ
Trang 30công ty nhưng không được tham gia quản lý công ty và hoạt động kinh doanh nhân danh công ty
Khác với doanh nghiệp liên doanh và doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài hình thức đầu tư này mang đặc trưng của công ty đối nhân, cơ cấu tổ chức gọn nhẹ Hình thức đầu tư này trước hết rất phù hợp với doanh nghiệp nhỏ, nhưng vì có những ưu điểm rõ rệt nên cũng được các doanh nghiệp lớn quan tâm
Việc cho ra đời hình thức công ty hợp danh ở các nước nhằm tạo thêm cơ hội cho nhà đầu tư lựa chọn hình thức đầu tư phù hợp với yêu cầu, lợi ích của họ Thực tế cho thấy một số loại hình dịch vụ như: tư vấn pháp luật, khám chữa bệnh, thiết kế kiến trúc đã và đang phát triển nhanh chóng Đó là những dịch vụ mà người tiêu dùng không thể kiểm tra được chất lượng cung ứng trước khi sử dụng, nhưng lại có ảnh hưởng đến sức khỏe tính mạng và tài sản của người tiêu dùng khi sử dụng Việc thành lập công ty hợp danh là hình thức đầu tư phù hợp trong việc phát triển và cung cấp các dịch vụ nêu trên Trong đó những người có vốn đóng vai trò là thành viên góp vốn và chịu trách nhiệm hữu hạn còn các nhà chuyên môn
là thành viên hợp danh tổ chức điều hành, cung ứng dịch vụ và chịu trách nhiệm vô hạn bằng toàn bộ tài sản của họ
b Đầu tư gián tiếp (Foreign Indirect Investment – FII) hay còn gọi đầu tư theo danh mục (Foreign Portfolio Investment – FPI)
Khái niệm:
Là hình thức đầu tư mà chủ tư bản thông qua thị trường tài chính mua
cổ phần hoặc chứng khoán của các công ty ở nước ngoài nhằm thu lợi nhuận dưới hình thức cổ tức hoặc thu nhập chứng khoán
Các hình thức đầu tư gián tiếp:
- Mua cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu và các giấy tờ có giá khác
Trang 31- Thông qua quỹ đầu tư chứng khoán
- Thông qua các định chế tài chính trung gian khác
c Viện trợ phát triển chính thức ODA (Official Development Assistant)
Khái niệm:
Đây là hình thức viện trợ không hoàn lại hoặc cho vay vốn với những điều kiện đặc biệt ưu đãi: cho vay dài hạn, lãi suất thấp, trả nợ thuận lợi nhằm giúp cho các nước gặp khó khăn về kinh tế, trong đó có các nước đang phát triển phục hồi tốc độ tăng trưởng kinh tế và gia tăng phúc lợi xã hội
ODA được hiểu là nguồn vốn dành cho các nước đang và kém phát triển được các cơ quan chính thức của chính phủ trung ương và địa phương hoặc các cơ quan thừa hành của chính phủ, các tổ chức liên chính phủ, các
tổ chức phi chính phủ tài trợ Vốn ODA phát sinh từ nhu cầu cần thiết của một quốc gia, được tổ chức quốc tế hay nước bạn xem xét và cam kết tài trợ thông qua một hiệp định quốc tế được đại diện có thẩm quyền, hai bên nhận và hỗ trợ vốn ký kết Hiệp định ký kết hỗ trợ này được chi phối bởi công pháp quốc tế
Các hình thức ODA
- Viện trợ không hoàn lại: là loại ODA mà bên nước nhận không phải hoàn lại, nguồn vốn này nhằm để thực hiện các dự án ở nước nhận vốn ODA, theo sự thỏa thuận trước giữa các bên Có thể xem viện trợ không hoàn lại như một nguồn thu ngân sách của nhà nước, được cấp phát lại theo nhu cầu phát triển kinh tế xã hội của đất nước Viện trợ không hoàn lại chiếm khoảng 25% tổng số vốn ODA trên thế giới và được ưu tiên cho những dự án về các lĩnh vực như: y tế, dân số, giáo dục, môi trường
Trang 32- Viện trợ có hoàn lại (còn gọi là tín dụng ưu đãi): là vốn ODA với một lãi suất ưu đãi và một thời gian trả nợ thích hợp, tín dụng ưu đãi chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng số vốn ODA trên thế giới Nó không được sử dụng cho mục tiêu xã hội, môi trường mà thường được sử dụng cho các dự
án về cơ sở hạ tầng thuộc các lĩnh vực giao thông vận tải, nông nghiệp, thủy lợi, năng lượng làm nền tảng vững chắc cho ổn định và tăng trưởng kinh tế
- Hỗn hợp: là loại ODA kết hợp cả hai dạng trên, bao gồm một phần không hoàn lại và một phần tín dụng ưu đãi
1.3 Vai trò của vốn, nguồn vốn đầu tư
1.3.1 Đối với nước xuất khẩu vốn đầu tư
- Giúp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư thông qua việc sử dụng những lợi thế sản xuất của nơi tiếp nhận đầu tư, giúp hạ giá thành sản phẩm và nâng cao tỷ suất lợi nhuận của vốn đầu tư
- Xây dựng thị trường cung cấp nguyên liệu ổn định với giá phải chăng
- Khai thác lợi thế tài nguyên của các nước khác
- Giúp bành trướng sức mạnh về kinh tế và nâng cao uy tín chính trị trên trường quốc tế thông qua việc xây dựng nhà máy sản xuất và thị trường tiêu thụ ở nước ngoài, mà các nước xuất khẩu vốn mở rộng được thị trường tiêu thụ tránh được các hàng rào bảo hộ mậu dịch của các nước
- Đầu tư vốn ra nước ngoài giúp các chủ vốn đầu tư phân tán rủi ro do tình hình kinh tế chính trị trong nước bất ổn định
- Thay đổi cơ cấu nền kinh tế trong nước theo hướng hiệu quả hơn, thích nghi hơn với sự phân công lao động khu vực và quốc tế mới
Trang 331.3.2 Đối với nước tiếp nhận vốn đầu tư
- Tăng thu ngân sách dưới hình thức các loại thuế để cải thiện tình hình bội chi ngân sách
- Tạo môi trường cạnh tranh để thúc đẩy sự phát triển kinh tế và thương mại đồng thời học hỏi những kinh nghiệm quản lý tiên tiến
1.3.2.2 Các nước chậm và đang phát triển
- Đẩy mạnh tốc độ phát triển nền kinh tế thông qua việc tạo ra những
xí nghiệp mới hoặc tăng quy mô của các đơn vị kinh tế
- Thu hút thêm lao động, giải quyết một phần nạn thất nghiệp ở các nước này
- Hoàn thiện môi trường kinh doanh theo hướng bình đẳng, minh bạch và công khai, đạt các chuẩn mực chung của quốc tế, nhờ đó tăng năng lực cạnh tranh ở các cấp độ quản lý của nền kinh tế
- Hoạt động đầu tư nước ngoài giúp các nước đang phát triển mở mang hoạt động kinh doanh, tăng GDP mà không phải vay nợ nhiều Ngoài ra, thông qua tiếp nhận đầu tư quốc tế các nước có điều kiện tiếp nhận kỹ thuật, công nghệ và kinh nghiệm quản lý tiên tiến của nước ngoài Như vậy, để hiểu rõ tầm quan trọng như thế nào của vốn đầu tư đối với Khu kinh tế Nhơn Hội, ta tìm hiểu qua các nội dung sau: khái niệm, mục tiêu và tính chất của Khu kinh tế Nhơn Hội
Trang 341.4 Khái niệm, mục tiêu và tính chất của Khu kinh tế
1.4.1 Khái niệm Khu kinh tế
Theo Luật Đầu tư năm 2005, Khu kinh tế là khu vực có không gian kinh tế riêng biệt với môi trường đầu tư và kinh doanh đặc biệt thuận lợi cho các nhà đầu tư, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo quy định của Chính phủ
1.4.2 Mục tiêu của Khu kinh tế
- Để thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài: “Phần cứng” của các khu kinh tế hay cơ sở hạ tầng với đầy đủ dịch vụ - được xây dựng nhằm tăng cường năng lực cạnh tranh của các nhà sản xuất và cung cấp dịch vụ Nó cũng nhằm hiện thực hóa những lợi ích của việc quy tụ các ngành công nghiệp tập trung trong một khu vực địa lý Những lợi ích này bao gồm cơ
sở hạ tầng chất lượng cao và đồng bộ, hiệu quả giám sát của chính phủ đối với doanh nghiệp, quản lý môi trường và tương tác giữa các công ty thượng và hạ nguồn Có lẽ “cơ sở hạ tầng” là một trong những lý do quan trọng nhất thúc đẩy việc phát triển các khu kinh tế ở các nước nghèo với cơ
- Là phòng “thí nghiệm” cho các chính sách và cách tiếp cận mới Về phương diện này, các đặc khu kinh tế của Trung Quốc là những ví dụ kinh điển Các chính sách đột phá về tài chính, pháp lý, lao động và giá cả đã
Trang 35được giới thiệu và thử nghiệm đầu tiên ở các đặc khu kinh tế trước khi được mở rộng cho phần còn lại của nền kinh tế
- Giải tỏa một phần áp lực của dân số và nhu cầu việc làm Với khả năng thu hút nhiều nhà đầu tư cả trong và ngoài nước, đặc biệt là FDI, các khu kinh tế được kỳ vọng sẽ tạo ra một số lượng lớn việc làm, đặc biệt là trong những ngành thuộc nhóm ưu tiên đầu tư
1.4.3 Tính chất của Khu kinh tế
- Là Khu kinh tế có quy chế hoạt động riêng, bao gồm: Khu phi thuế quan, Khu công nghiệp, kinh tế cảng biển, thương mại dịch vụ, du lịch, Khu đô thị mới, vận hành theo cơ chế ưu đãi đặc biệt, là động lực phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Bình Định và của khu vực miền Trung
- Là khu vực phát triển mới của thành phố Quy Nhơn với cơ sở hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội hiện đại, đồng bộ, môi trường trong sạch gắn với thiên nhiên
1.5 Nhu cầu vốn để đầu tư và phát triển khu kinh tế Nhơn Hội
Mục đích của việc xây dựng các khu kinh tế mở hay khu kinh tế ven biển là nhằm thu hút các nguồn vốn đầu tư để phát triển kinh tế – xã hội tại một khu vực hay một địa bàn kinh tế được quy hoạch Nhà nước chủ trương xây dựng khu kinh tế ven biển Nhơn Hội với mục tiêu xây dựng và phát triển từng bước trở thành hạt nhân tăng trưởng, trung tâm đô thị công nghiệp – dịch vụ – du lịch của Vùng kinh tế trọng điểm Miền Trung; là đầu mối giao lưu quốc tế quan trọng, góp phần mở rộng thị trường khu vực Nam Trung Bộ, Tây Nguyên và là cầu nối với thị trường Campuchia, Lào
và Thái Lan; là khu du lịch quốc gia với vai trò một trong những trung tâm
du lịch của vùng Duyên hải miền Trung Do vậy, khu kinh tế ven biển Nhơn Hội là khu kinh tế được xác định là khu kinh tế có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, ổn định sản phẩm sản xuất theo công nghệ cao, trình độ quản
Trang 36lý tiên tiến, có khả năng cạnh tranh trong nước và quốc tế, phù hợp với xu thế hội nhập Để có thể thu hút được các nguồn vốn đầu tư trong và ngoài nước đặc biệt là vốn đầu tư nước ngoài, thì ngoài việc có một cơ chế chính sách đầu tư thông thoáng, hấp dẫn các nhà đầu tư thì việc xây dựng một kết cấu hạ tầng đồng bộ đảm bảo các tiện ích phục vụ cho các nhà đầu tư là điều không thể thiếu Nguồn vốn để đầu tư xây dựng khu kinh tế ven biển Nhơn Hội được chính phủ xác định cụ thể như sau:
- Nguồn vốn ngân sách nhà nước (ngân sách trung ương và ngân sách địa phương) tập trung cho đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế và xã hội
- Đối với hạ tầng giao thông: Thu hút vốn đầu tư xây dựng, nâng cấp kết cấu hạ tầng giao thông vận tải với nhiều hình thức: Phát hành trái phiếu công trình, đầu tư – khai thác – chuyển giao (BOT), đầu tư – chuyển giao (BT), đầu tư – thu phí hoàn trả, đầu tư theo hình thức hợp tác công – tư (PPP), chuyển nhượng quyền thu phí… Ưu tiên đối với một số công trình lớn như bến cảng, sân bay, một số trục đường kinh tế biển và du lịch…
1.6 Những nhân tố ảnh hưởng đến thu hút vốn đầu tư
1.6.1 Môi trường chính trị - xã hội
- Sự ổn định chính trị - xã hội đóng vai trò quyết định đối với việc thu hút vốn đầu tư Ổn định chính trị luôn là yếu tố hấp dẫn hàng đầu đối với các nhà đầu tư nước ngoài, vì có ổn định chính trị thì các cam kết của Chính phủ nước chủ nhà với các nhà đầu tư về sở hữu vốn, các chính sách
ưu tiên định hướng phát triển mới được thực hiện Có thể nói đây là vấn đề được nhà đầu tư quan tâm nhất vì nó tác động mạnh đến các yếu tố rủi ro trong đầu tư Tất nhiên trong hoạt động đầu tư, nhất là hoạt động tư nước ngoài là phải chấp nhận mạo hiểm, nhiều khi mạo hiểm và độ rủi ro cao lại
đi liền với một tỷ suất lợi nhuận cao
Trang 37- Ảnh hưởng của môi trường chính trị xã hội thể hiện rõ ràng ở các nước có nền chính trị ổn định đã thu hút lượng vốn đầu tư nước ngoài ngày càng tăng như: dòng vốn FDI đổ vào các nước Singapore, Malaysia trong hai thập kỷ cuối của thế kỷ 20 nhiều hơn hẳn vào Thái Lan và Philipin; tình hình đầu tư nước ngoài vào Trung Quốc, Việt Nam trong những năm gần đây cùng ngày càng tăng lên với tốc độ cao Điều đó tiếp tục khẳng định giữ ổn định chính trị ngày càng trở nên quan trọng hàng đầu trong thu hút đầu tư, đặc biệt là đầu tư nước ngoài Kinh nghiệm cho thấy nhiều quốc gia có lợi thế to lớn về tài nguyên thiên nhiên, về thị trường rộng lớn song lại gặp nhiều khó khăn về thu hút đầu tư do có xung đột về chính trị
Vì vậy, sự ổn định về chính trị là yếu tố đầu tiên để nhà đầu tư xem xét quyết định có đầu tư hay không
1.6.2 Cơ chế chính sách và thủ tục hành chính
- Cơ chế chính sách là một bộ phận quan trọng không thể thiếu của môi trường đầu tư Cơ chế chính sách tiến bộ, hấp dẫn, có lợi ích cao, phù hợp với thông lệ quốc tế là một tiêu chí quan trọng để nhà đầu tư lựa chọn quyết định đầu tư Cơ chế chính sách chính là hệ thống pháp luật được Nhà nước ban hành nhằm khuyến khích đầu tư bao gồm các ưu đãi đầu tư và các biện pháp đảm bảo cho các ưu đãi thực hiện trên thực tế
- Cùng với hệ thống cơ chế chính sách về đầu tư đi liền với nó là một môi trường pháp lý đồng bộ, thể hiện ở các định chế pháp lý hoàn thiện như: Hiến pháp, tòa án kinh tế, trọng tài kinh tế, hệ thống kiểm toán quốc gia Môi trường pháp lý hoàn thiện phù hợp với thông lệ quốc tế, một mặt tạo niềm tin cho các nhà đầu tư nước ngoài yên tâm trong hoạt động đầu
tư, mặt khác đó cũng chính là căn cứ và công cụ hữu hiệu để Nhà nước kiểm soát các hoạt động đầu tư nước ngoài Chính từ các vấn đề có tính nguyên tắc nêu trên yêu cầu đòi hỏi phải phát triển hệ thống thông tin, dịch
vụ tư vấn pháp lý nhanh chóng và chuẩn xác, trung thực giúp cho hoạt
Trang 38động đầu tư và quản lý đầu tư nước ngoài vừa đúng hướng vừa chặt chẽ đồng thời tạo thuận lợi cho các nhà đầu tư Đi đôi với cơ chế chính sách ưu đãi, thông thoáng cần phải có thủ tục hành chính đơn giản, dễ thực hiện, ít khâu trung gian và thời gian thực hiện nhanh chóng Để có được một thủ tục như vậy, ngoài việc có một hệ thống văn bản pháp luật khoa học, quy định rõ ràng, rành mạch trách nhiệm của các chủ thể, cần xây dựng một quy trình là việc logic với một đội ngũ cán bộ công, viên chức có trình độ chuyên môn cao, tinh thần trách nhiệm tận tụy và có chế độ khen thưởng
và kỷ luật nghiêm minh Từ những luận điểm nêu trên có thể nói rằng cơ chế chính sách và thủ tục nói riêng, môi trường pháp lý nói chung là điều kiện có tính chất cốt lõi để thu hút các nhà đầu tư
1.6.3 Kết cấu hạ tầng kỹ thuật và xã hội
- Từ hoạt động đầu tư thực tiễn, nhiều nhà đầu tư nước ngoài đi đến nhận xét: “ưu đãi thuế cũng tốt nhưng không tốt bằng cải thiện hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội và đơn giản hóa thủ tục đầu tư” Bỡi lẽ, hoạt động đầu tư kinh tế bao giờ cũng tồn tại trong một môi trường kinh tế
xã hội nhất định Môi trường xã hội gắn với một cộng đồng người với những phong tục, tập quán, lối sống, có thể bao gồm nhiều dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng khác nhau Môi trường kinh tế phụ thuộc vào nhiều nhân
tố như: tài nguyên thiên nhiên, cơ cấu kinh tế trong đó kết cầu hạ tầng kinh tế đóng vai trò quan trọng Do vậy, chỉ khi xây dựng được một kết cầu hạ tầng kinh tế - xã hội phù hợp, thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh thì mới có thể thu hút vốn đầu tư
- Hệ thống hạ tầng tác động trực tiếp đến hiệu quả đầu tư, hệ thống hạ tầng đồng bộ, chất lượng tốt trực tiếp làm giảm chi phí đầu tư, tăng khả năng cạnh tranh, vì vậy sẽ mang lại lợi nhuận cao đáp ứng được mục tiêu của các nhà đầu tư Bên cạnh xây dựng kết cấu hạ tầng phục vụ cho việc đầu tư, cần phải quan tâm đến việc xây dựng hạ tầng phục vụ các nhu cầu
Trang 39an sinh như: nhà cửa, trường học, khu vui chơi giải trí cho gia đình và con
em của các nhà đầu tư để họ yên tâm làm việc lâu dài
Do đó việc quan tâm đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng là một trong những mục tiêu ưu tiên hàng đầu trong việc phát triển kinh tế ở một quốc gia hay một khu kinh tế
1.6.4 Nguồn nhân lực
- Yếu tố quyết định trong sản xuất, phát triển kinh tế xã hội là sức lao động của con người Ngày nay khoa học công nghệ phát triển như vũ bão, chi phối mọi lĩnh vực kinh tế - xã hội nhưng cũng không thể thay thế được vai trò của con người Hơn nữa, nguồn lực lao động còn là nhân tố sáng tạo
ra công nghệ, thiết bị và sử dụng chúng trong quá trình phát triển kinh tế Quá trình đó có thể nhấn mạnh vai trò của nguồn lực lao động ở những khía cạnh sau:
Lao động là nhân tố quyết định cho việc tổ chức và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực khác Khi phân tích các bộ phận cấu thành nguồn lực phát triển kinh tế, hầu hết các quốc gia đều khẳng định các nguồn lực chủ yếu là lao động, tài nguyên thiên nhiên, vốn và khoa học công nghệ Nhưng trên hết về mặt lý luận lẫn thực tiễn đều khẳng định rằng: nguồn lao động là nhân tố quyết định việc tái tạo, sử dụng, phát triển các nguồn lực còn lại Không dựa trên nền tảng phát triển cao của nguồn lao động về thể chất, trình độ văn hóa, kỹ thuật, kinh nghiệm quản lý, lòng nhiệt tình thì không thể sử dụng hợp lý các nguồn lực trên Thậm chí thiếu nguồn lực lao động chất lượng cao có thể làm lãng phí, cạn kiệt và hủy hoại các nguồn lực khác
Lao động là một bộ phận của các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất Chi phí lao động, mức tiền công thể hiện sự cấu thành của nguồn lực trong hàng hóa dịch vụ Như vậy, chi phí nguồn lực lao động trở thành
Trang 40nhân tố cấu thành mức tăng trưởng của nền kinh tế Hơn nữa, là một bộ phận dân số, nguồn lao động tham gia tiêu dùng các sản phẩm và dịch vụ Như vậy, với tư cách là người thực hiện quá trình tiêu dùng, nguồn lao động trở thành nhân tố tạo cầu của nền kinh tế
- Nguồn lao động không chỉ có ý nghĩa đối với sự phát triển nền kinh
tế của một quốc gia, mà còn là điều kiện bắt buộc trong quá trình phát triển các khu kinh tế Để xây dựng và phát triển khu kinh tế, nguồn lao động tại chỗ đáp ứng đủ về số lượng, đảm bảo yêu cầu về chất lượng là vô cùng quan trọng là tiêu chí hàng đầu sau khi nhà đầu tư quyết định đầu tư vào
đó Bỡi lẽ, ngoài việc phải đáp ứng nguồn nhân lực một cách thông thường
để vận hành hoạt động của các nhà máy công ty trong khu kinh tế, vấn đề đặt ra hiện nay là phải đảm bảo các yếu tố cạnh tranh và nâng cao hiệu quả đầu tư của các doanh nghiệp Cho nên khu vực nào có nguồn lao động dồi dào, đội ngũ cán bộ, công nhân được đào tạo lành nghề, điều kiện sinh hoạt thuận lợi thì khu vực đó dễ dàng thu hút các nhà đầu tư Đây là tiêu chí cạnh tranh đồng thời cũng là môi trường đầu tư quan trọng cần phải được hoàn thiện
1.6.5 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên
Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên có tầm quan trọng to lớn trong việc thành công hay thất bại xây dựng khu kinh tế Dễ dàng nhận thấy vị trí địa lý chính là môi trường đầu tư tự nhiên mà thiên nhiên tạo ra cho con người Môi trường ấy thỏa mãn càng nhiều mong muốn của nhà đầu tư thì càng thuận lợi trong việc thu hút nhà đầu tư Để xác định vị trí cho khu kinh tế có nhiều tiêu chí khác nhau để đánh giá, song nơi đó phải hội tụ được các tiêu chí sau:
Trước hết đó phải là nơi có điều kiện giao thông thuận lợi nhất là cảng biển nước sâu, gần với đường hàng hải quốc tế Đồng thời hệ thống