1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp đảm bảo an toàn giao thông đường bộ trên địa bàn thành phố hồ chí minh luận văn thạc sĩ chuyên ngành quản lý xây dựng

89 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giải pháp đảm bảo an toàn giao thông đường bộ trên địa bàn thành phố hồ chí minh luận văn thạc sĩ chuyên ngành quản lý xây dựng
Tác giả Huỳnh Quốc Hải
Người hướng dẫn Tiến sĩ Phạm Phú Cường
Trường học Trường Đại học Giao thông vận tải
Chuyên ngành Quản lý xây dựng
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2019
Thành phố TP.Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 1,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với dân số hơn 9,5 triệu người sinh sống và làm việc, số lượng phương tiện đạt hơn 7,8 triệu xe cơ giới với hơn 7,2 triệu xe môtô và hơn 0,6 triệu xe ôtô; trung bình mỗi ngày có khoảng 8

Trang 1

HUỲNH QUỐC HẢI

GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO AN TOÀN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ TRÊN ĐỊA BÀN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ

TP.Hồ Chí Minh - 2019

Trang 2

HUỲNH QUỐC HẢI

GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO AN TOÀN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ TRÊN ĐỊA BÀN

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân, xuất phát

từ kinh nghiệm làm việc thực tiễn tại Ban An toàn giao thông Thành phố Hồ Chí Minh và kiến thức chuyên môn được đào tạo trong quá trình học Đại học

và Cao học tại Phân hiệu trường Đại học Giao thông Vận tải tại Thành phố

Hồ Chí Minh, ngành Quản lý xây dựng

Nội dung luận văn có tham khảo và sử dụng một số tài liệu, thu thập thông tin có nguồn gốc rõ ràng và trình bày đúng nguyên tắc Kết quả trình bày trong luận văn là trung thực, được xây dựng trong quá trình nghiên cứu của bản thân tôi và chưa từng được công bố trong bất kì công trình nghiên cứu nào khác./

TP Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2019

Tác giả

Huỳnh Quốc Hải

Trang 4

LỜI CÁM ƠN

Qua quá trình học Chương trình Thạc sĩ Quản lý xây dựng tại Trường Đại học Giao thông vận tải – Phân hiệu tại Thành phố Hồ Chí Minh, học viên xin bày tỏ lòng cám ơn đến Ban Giám hiệu nhà trường, phòng Tổ chức – Hành chính, các phòng, ban, trong Trường Đại học Giao thông vận tải – Phân hiệu tại Thành phố Hồ Chí Minh cũng như Trường Đại học Giao thông vận tải đã giúp đỡ học viên trong quá trình học tập, nghiên cứu và tiến hành làm luận văn của mình

Trong thời gian thực hiện luận văn và hoàn thành được luận văn, học viên đã nhận được rất nhiều sự hỗ trợ, quan tâm, giúp đỡ của các Thầy, Cô giảng dạy trong chương trình Cao học Quản lý xây dựng K 25.1 của Trường Đại học Giao thông vận tải – Phân hiệu tại Thành phố Hồ Chí Minh Giáo viên hướng dẫn là Tiến sĩ Phạm Phú Cường đã tận tình giúp đỡ và tạo mọi điều kiện cho học viên trong suốt quá trình nghiên cứu hoàn thành luận văn này, học viên xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới giáo viên hướng dẫn Tiến sĩ Phạm Phú Cường, đồng thời cũng cám ơn sự giúp đỡ của đồng nghiệp trong Ban An toàn giao thông thành phố Hồ Chí Minh và các cơ quan có liên quan để hoàn thành luận văn này

Do chưa có kinh nghiệm nghiên cứu khoa học cho nên nội dung của luận văn vẫn chưa đạt theo mong muốn mặc dù trong quá trình học tập và làm luận văn đã được các Thầy, Cô truyền đạt kiến thức Do đó, luận văn chưa được hoàn thiện, học viên kính mong nhận được sự góp ý chân tình của Quý Thầy, Cô cũng như anh, chị

em học viên và hứa sẽ tiếp thu nghiêm túc những ý kiến đóng góp để luận văn được hoàn thiện, có giá trị ứng dụng vào thực tế

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2019

Tác giả luận văn

Huỳnh Quốc Hải

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CÁM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC BẢNG BIỂU vi

DANH MỤC HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ vii

MỞ ĐẦU 1

1.Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2

3 Đối tượng nghiên cứu 2

4 Phạm vi nghiên cứu 2

5 Kết cấu của luận văn 2

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐẢM BẢO AN TOÀN GIAO THÔNG 3

1.1 Một số khái niệm về đảm bảo an toàn giao thông 3

1.1.1 Giao thông và giao thông đường bộ 3

1.1.2 An toàn giao thông 4

1.1.3 An toàn giao thông đường bộ 4

1.2 Đảm bảo an toàn giao thông 4

1.2.1 Khái niệm đảm bảo an toàn giao thông 4

1.2.2 Nguyên tắc thực hiện đảm bảo an toàn giao thông: 5

1.2.3 Vai trò của công tác đảm bảo an toàn giao thông đường bộ 7

1.2.3.1 Phát triển kinh tế - xã hội 7

1.2.3.2 Đảm bảo trật tự an toàn xã hội 8

1.2.3.3 Đảm bảo an ninh quốc phòng 9

1.2.3.4 Thúc đẩy giao lưu, hội nhập khu vực và quốc tế 9

1.2.4 Tiêu chí đánh giá an toàn giao thông 10

1.2.5 Nội dung công tác đảm bảo an toàn giao thông 11

1.2.5.1 Đảm bảo ATGT thông qua hệ thống văn bản quy phạm pháp luật 11

1.2.5.2 Đảm bảo về con người, về cơ sở vật chất 14

1.2.6 Phương pháp đảm bảo an toàn giao thông 15

1.2.7 Chủ thể tham gia đảm bảo an toàn giao thông 16

1.3 Quản lý nhà nước về an toàn giao thông đường bộ 18

1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến an toàn giao thông 20

1.4.1 Nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến công tác đảm bảo ATGT 20

1.4.2 Nhân tố ảnh hưởng gián tiếp đến công tác đảm bảo ATGT 23

1.5 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về trật tự, an toàn giao thông đường bộ của một số nước 25

1.5.1 Nhật Bản 25

1.5.2 Trung Quốc 26

1.5.3 Singapo 26

Trang 6

1.5.4 Hàn Quốc 28

1.5.5 Những giá trị tham khảo đối với Việt Nam 28

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC ĐẢM BẢO AN TOÀN GIAO THÔNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH GIAI ĐOẠN 2016-2018 30

2.1 Tổng quan về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội thành phố Hồ Chí Minh 30 2.2 Hiện trạng về hệ thống cầu, đường và hệ thống giao thông công cộng thành phố Hồ Chí Minh 32

2.2.1 Hệ thống cầu 32

2.2.2 Hệ thống đường bộ (mạng lưới đường bộ) 33

2.2.3 Hệ thống giao thông công cộng 39

2.3 Phân tích thực trạng công tác đảm bảo trật tự an toàn giao thông trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2016-2018 40

2.3.1 Thực trạng công tác đảm bảo an toàn giao thông 41

2.3.2 Đánh giá thực trạng công tác đảm bảo an toàn giao thông trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh 48

2.3.2.1 Những kết quả đạt được của công tác đảm bảo an toàn giao thông 50

2.3.3.2 Những khó khăn và tồn tại 51

2.3.2.3 Nguyên nhân của những khó khăn và tồn tại 51

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO AN TOÀN GIAO THÔNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 54

3.1 Định hướng phát triển giao thông đô thị trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh đến 2020 và tầm nhìn sau năm 2020 54

3.1.1 Chiến lược phát triển giao thông đô thị ở Thành phố Hồ Chí Minh 54

3.1.2 Mục tiêu phát triển đến năm 2020 và tầm nhìn sau năm 2020 54

3.1.2.1 Về vận tải 54

3.1.2.2 Về kết cấu hạ tầng giao thông 54

3.1.3 Định hướng phát triển sau năm 2020 55

3.1.4 Xây dựng kế hoạch phát triển đến năm 2020 và tầm nhìn sau năm 202056 3.1.4.1 Đường bộ 56

3.2 Định hướng về đảm bảo ATGT trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh 58

3.2.1 Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước của chính quyền đối với công tác bảo đảm trật tự an toàn giao thông và khắc phục ùn tắc giao thông 58

3.2.2 Đẩy mạnh phổ biến, giáo dục pháp luật về trật tự an toàn giao thông, nâng cao ý thức chấp hành của người tham gia giao thông 58

3.2.3 Tập trung các nguồn lực xây dựng và phát triển đồng bộ kết cấu HTGT, nâng cao năng lực vận tải, bảo đảm giao thông thông suốt, an toàn 63

3.2.4 Nâng cao năng lực và hiệu quả quản lý Nhà nước về trật tự an toàn giao thông 64

Trang 7

3.2.4.1 Tiến hành rà soát, đánh giá, sửa đổi, bổ sung để hoàn thiện hệ thống

pháp luật về trật tự an toàn giao thông phù hợp với thực tiễn 64

3.2.4.2 Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính 64

3.2.4.3 Xây dựng Chiến lược phát triển phương tiện giao thông 65

3.2.4.4 Đổi mới tổ chức giao thông đường bộ 66

3.2.4.5 Nâng cao trách nhiệm của Ủy ban nhân dân các quận - huyện và các Sở - ban – ngành 67

3.2.4.6 Tăng cuờng công tác quản lý, thanh tra, kiểm tra, giám sát 67

3.2.4.7 Hiện đại hóa công tác giám sát, phát hiện và xử lý vi phạm 67

3.2.4.8 Kiểm tra xử lý vi phạm trong vận tải 68

3.2.4.9 Đẩy mạnh các hoạt động phong trào chống tiêu cực trong thi hành công vụ đối với lĩnh vực bảo đảm trật tự an toàn giao thông 68

3.2.5 Triển khai toàn diện, đồng bộ các giải pháp phòng ngừa, khắc phục ùn tắc giao thông trên địa bàn thành phố 69

3.3 Các giải pháp đảm bảo ATGT trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh 70

3.3.1 Giải pháp tuyên truyền 70

3.3.2 Các giải pháp tuần tra, kiểm soát 71

3.3.3 Các giải pháp xử lý điểm đen tai nạn giao thông 72

3.3.4 Các giải pháp xử lý, kiểm soát điểm nguy cơ ùn tắc giao thông 72

3.3.5 Các giải pháp nâng cao điều kiện ATGT cho người đi bộ và trẻ em 73

3.3.6 Chấn chỉnh công tác thi công trên đường bộ đang khai thác 73

3.3.7 Công tác bảo đảm trật tự an toàn giao thông đường sắt 74

3.3.8 Các giải pháp khác 74

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 76

1 Kết luận 76

2 Kiến nghị 77

2.1 Đối với cấp ủy Đảng các cấp 77

2.2 Đối với Chính phủ 78

2.3 Đối với Bộ Công an; Bộ Giao thông vận tải và các bộ, ngành liên quan 78

2.4 Đối với Bộ Giáo dục và đào tạo; Bộ y tế và các bộ, ngành liên quan 78

Tài liệu tham khảo 79

Trang 8

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1: Dân số qua các năm và dự báo 31

Bảng 2.2: Tình hình phát triển cầu đường tại TP.HCM 34

Bảng 2.3: Số liệu mạng lưới giao thông đường bộ TP HCM năm 2018 35

Bảng 2.4: Số liệu tai nạn giao thông năm 2016-2018 41

Bảng 2.5: Tổng hợp ùn ứ giao thông năm 2016-2018 42

Bảng 2.6: Tổng hợp tai nạn giao thông năm 2017 so với năm 2016 44

Bảng 2.7: Tổng hợp tai nạn giao thông năm 2018 so với năm 2017 46

Trang 9

DANH MỤC HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ

Hình 2.1: Bản đồ mạng lưới giao thông vùng nội thành của thành phố 38 Biểu đồ 2.1: Tình hình tai nạn giao thông giai đoạn 2016-2018 41

Trang 10

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT CHỮ VIẾT TẮT NGUYÊN NGHĨA

Bộ GTVT Bộ Giao thông vận tải

Trang 11

MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài

Thành phố Hồ Chí Minh (TPHCM) là một đô thị đặc biệt, là một trong những trung tâm kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội, dịch vụ, du lịch của cả nước và là đầu mối giao thông, giao lưu quốc tế quan trọng của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam của Việt Nam và khu vực Tổng chiều dài các tuyến đường khoảng 4.155 km, đạt mật độ 1,98 km/km2 (theo Quy chuẩn Việt Nam phải đạt 10 – 13,3 km/km 2 ); diện

tích đất dành cho giao thông khoảng 7,841 ha (theo Quy hoạch đạt 22,305 ha), tỷ lệ đất giao thông trên đất xây dựng đô thị đạt 8,5% (theo Quy hoạch đạt 22,3%) Diện

tích mặt đường trên toàn địa bàn thành phố khoảng 37,7 triệu m2, diện tích vỉa hè khoảng 15,5 triệu m2, có 1.095 cây cầu các loại, 4.306 giao lộ, trong đó có 841 giao

lộ có đèn tín hiệu giao thông nhưng chỉ có tuyến đường Võ Văn Kiệt - Mai Chí Thọ

đã thực hiện kết nối điều khiển tại trung tâm (chiếm khoảng 3%), các chốt đèn còn lại vẫn hoạt động độc lập

Với dân số hơn 9,5 triệu người sinh sống và làm việc, số lượng phương tiện đạt hơn 7,8 triệu xe cơ giới (với hơn 7,2 triệu xe môtô và hơn 0,6 triệu xe ôtô; trung bình mỗi ngày có khoảng 800 xe mô tô, gắn máy và 200 xe ô tô đăng ký mới); chưa

kể số người, phương tiện từ địa phương khác đến lưu trú, ra vào thành phố hoạt động hàng ngày (khoảng trên 01 triệu phương tiện các loại); hệ thống vận tải hành khách công cộng chưa đáp ứng được nhu cầu đi lại của nhân dân; ý thức chấp hành pháp luật về giao thông của một bộ phận nhân dân còn hạn chế đã tạo nên áp lực rất lớn đối với công tác đảm bảo trật tự an toàn giao thông Trong đó, tai nạn giao thông (TNGT) và ùn tắc giao thông diễn biến khá phức tạp, đặt ra rất nhiều thách thức và là vấn đề xã hội hết sức bức xúc.Đây cũng là vấn đề mà Đảng, chính quyền

và nhân dân thành phố đặc biệt quan tâm

Vì vậy, đã đến lúc cần phải nghiên cứu và đánh giá khách quan những vấn đề trên để đưa ra các giải pháp nhằm từng bước khắc phục những tồn tại và hạn chế nói trên đó là lý do Tôi chọn đề tài này nhằm từng bước nâng cao công tác đảm bảo an toàn giao thông trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh

Trang 12

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận, các quy định để thực hiện công tác đảm bảo an toàn giao thông trên đường bộ

- Đánh giá thực trạng công tác đảm bảo an toàn giao thông trên địa bàn thành phố giai đoạn 2016 - 2018

- Đề xuất các giải pháp nhằm đảm bảo an toàn giao thông trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh

- Tập trung nghiên cứu vào các giải pháp mang tính khả thi, những giải pháp mang tính khoa học; các mô hình về an toàn giao thông được phát triển ở nhiều nước trên thế giới để áp dụng trên địa bàn thành phố

3 Đối tƣợng nghiên cứu

Tập trung nghiên cứu việc công tác đảm bảo trật tự an toàn giao thông, việc thực hiện các quy định về công tác đảm bảo an toàn giao thông đường bộ của các cơ quan, ban, ngành trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh

4 Phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu về các vấn đề liên quan đến công tác đảm bảo an toàn giao thông đường bộ trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2016 – 2018 và tầm nhìn đến năm 2030

5 Kết cấu của luận văn

Chương 1: Những vấn đề chung về đảm bảo an toàn giao thông

Chương 2: Thực trạng công tác đảm bảo an toàn giao thông trên địa bàn thành

phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2016 - 2018

Chương 3: Một số giải pháp đảm bảo an toàn giao thông trên địa bàn thành

phố Hồ Chí Minh

Trang 13

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐẢM BẢO AN TOÀN GIAO

THÔNG 1.1 Một số khái niệm về đảm bảo an toàn giao thông

1.1.1 Giao thông và giao thông đường bộ

Khi nói đến giao thông là nói đến “việc đi lại từ chỗ này qua chỗ kia bằng phương tiện chuyên chở” Ở mỗi thời đại và mỗi quốc gia giao thông đòi hỏi có tính tất yếu, cần thiết của quá trình phát triển đời sống xã hội Sự phát triển của giao thông mang tính lịch sử và phụ thuộc vào trình độ phát triển của kinh tế, khoa học - công nghệ nhất định Xã hội càng phát triển thì đòi hỏi hoạt động giao thông nói chung phải ngày càng hiện đại, phục vụ nhanh hơn, thuận tiện hơn, văn minh và an toàn hơn

Lịch sử phát triển của xã hội loài người có thể nói từ khi còn sơ khai đến xã hội văn minh ngày nay đều gắn bó chặt chẽ với hoạt động giao thông mà trước hết

là giao thông đường bộ, sau đó mới phát triển các loại hình giao thông khác như giao thông đường thủy, giao thông đường sắt, giao thông đường không Sự phát triển của hoạt động giao thông đường bộ cũng là một trong những tiêu chí để đánh giá mức độ phát triển kinh tế, xã hội của mỗi quốc gia

Theo Từ điển Tiếng Việt, đường bộ được hiểu là “đường đi trên đất liền” [72,

tr.278] Luật giao thông đường bộ năm 2008 quy định: “Đường bộ gồm đường, cầu

đường bộ, hầm đường bộ, bến phà đường bộ” Như vậy, giao thông đường bộ được

hiểu là việc đi lại từ chỗ này qua chỗ kia của người và phương tiện chuyên chở trên đường, cầu đường bộ, hầm đường bộ, bến phà qua sông, suối nối đường bộ

Giao thông đường bộ và phát triển giao thông đường bộ đang được xem xét ở nhiều góc độ kinh tế - xã hội, chính trị dưới sự tác động của sự phát triển khoa học -

kỹ thuật tiên tiến Giao thông đường bộ là một hiện tượng xã hội có xu hướng biến động mạnh mẽ ở hầu hết các quốc gia Bởi vì: giao thông đường bộ là một nhu cầu

tự nhiên của xã hội loài người Nhưng từng cá thể là con người hoặc tổ chức nhất định không thể tự lo để thỏa mãn nhu cầu đi lại của mình Đặc biệt, để đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế thị trường, chỉ có Nhà nước mới có thể xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông (HTGT) đường bộ Mặc dù, ở mức độ nào đó, Nhà nước phải huy

Trang 14

động sức dân, nhưng trách nhiệm thuộc về Nhà nước Trách nhiệm này mang tính pháp lý được quy định trong chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước

Các quan hệ xã hội diễn ra trong lĩnh vực giao thông đường bộ là đối tượng quản lý của Nhà nước Nhà nước kiểm soát, hướng dẫn, điều chỉnh các quan hệ xã hội để các quan hệ này diễn ra “trong vòng trật tự”

Các quan hệ xã hội phát sinh trong giao thông đường bộ diễn ra bởi nhiều chủ thể với những mục đích kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh khác nhau và cần được định chế hóa, quy phạm hóa và tiến tới pháp điển hóa Các quan hệ xã hội trong lĩnh vực giao thông đường bộ cũng như vậy, kết quả của quá trình định chế hóa, quy phạm hóa, pháp điển hóa là Luật giao thông đường bộ năm 2001 được ban hành Tóm lại, từ vai trò tất yếu của giao thông đường bộ và những vấn đề quản lý nhà nước nêu trên là cơ sở, có tính điều kiện để nghiên cứu khái niệm về trật tự an toàn giao thông (ATGT) đường bộ và quản lý nhà nước về trật tự ATGT đường bộ

1.1.2 An toàn giao thông

Là cụm từ dùng để chỉ các hành vi văn hóa khi tham gia giao thông bao gồm việc chấp hành luật giao thông và phải có ý thức trách nhiệm khi tham gia giao thông Không chỉ là một thuật ngữ pháp luật, an toàn giao thông còn là sự an toàn đối với người tham gia giao thông trên mọi phương tiện

1.1.3 An toàn giao thông đường bộ

Đây là nội dung đề cập đến các cách thức, biện pháp được sử dụng để ngăn chặn người tham gia giao thông đường bộ bị chết hoặc bị thương nặng Những người tham gia giao thông đường bộ bao gồm: người đi bộ, người đi xe đạp, người lái các loại xe máy khác nhau, hành khách trên các loại phương tiện công cộng

1.2 Đảm bảo an toàn giao thông

1.2.1 Khái niệm đảm bảo an toàn giao thông

Đảm bảo an toàn giao thông là sự tác động có hướng đích của các chủ thể quản lý nhà nước về trật tự an toàn giao thông trong đó Cảnh sát giao thông (CSGT)

là lực lượng nòng cốt; dựa trên cơ sở hệ thống pháp luật về giao thông vận tải của Nhà nước để điều chỉnh quá trình hoạt động giao thông vận tải và hành vi hoạt động của người tham gia giao thông, nhằm duy trì, ổn định và phát triển các yếu tố cấu thành hoạt động giao thông theo mục tiêu đã đề ra

Trang 15

1.2.2 Nguyên tắc thực hiện đảm bảo an toàn giao thông:

Theo quy định tại Điều 4 Luật giao thông đường bộ năm 2008, những nguyên tắc trong hoạt động giao thông đường bộ (GTĐB) bao gồm:

Thứ nhất: Hoạt động giao thông đường bộ phải bảo đảm thông suốt, trật tự, an

toàn, hiệu quả; góp phần phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh

và bảo vệ môi trường

Thứ hai: Phát triển giao thông đường bộ phải gắn với quy hoạch, từng bước

hiện đại và đồng bộ; gắn kết phương thức vận tải đường bộ với các phương thức vận tải khác như vận tải đường thủy, đường sắt…

Thứ ba: Quản lý hoạt động giao thông đường bộ được thực hiện thống nhất

trên cơ sở phân công, phân cấp trách nhiệm, quyền hạn cụ thể, đồng thời có sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, ngành và chính quyền địa phương các cấp

Thứ tư: Bảo đảm trật tự, an toàn giao thông đường bộ là trách nhiệm không

chỉ của các cơ quan mà còn là của mọi tổ chức, cá nhân trong xã hội

Thứ năm: Người tham gia giao thông đường bộ phải có ý thức tự giác, nghiêm

chỉnh chấp hành quy tắc giao thông, giữ gìn an toàn cho mình và cho người khác Chủ phương tiện và người điều khiển phương tiện phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc bảo đảm an toàn của phương tiện tham gia giao thông đường bộ

Thứ sáu: Mọi hành vi vi phạm pháp luật giao thông đường bộ phải được phát

hiện, ngăn chặn kịp thời, xử lý nghiêm minh, đúng pháp luật Theo đó, tùy theo tính chất, mức độ vi phạm và hậu quả xảy ra, chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật giao thông đường bộ có thể bị xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự;

và nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật

Ngoài ra, đảm bảo ATGT đường bộ phải đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng và sự quản lý điều hành tập trung, thống nhất của Nhà nước Đảm bảo ATGT đường bộ là nhiệm vụ quan trọng của mọi nhà nước, là một bộ phận của quản lý nhà nước về trật tự, an toàn xã hội; vì thế cũng như nhiều vấn đề quan trọng khác của xã hội, quản lý nhà nước về đảm bảo an toàn giao thông (ĐBATGT) đường bộ phải đặt dưới sự lãnh đạo của cấp ủy đảng và sự quản lý điều hành của Nhà nước ở Trung ương và địa phương Hiến pháp 2013 khẳng định rõ Đảng Cộng sản Việt Nam là nhân tố lãnh đạo xã hội, lãnh đạo Nhà nước Vì vậy, quản lý nhà

Trang 16

nước về ĐBATGT đường bộ, sự lãnh đạo đó của Đảng phải được thực hiện một cách rõ ràng và đầy đủ, từ việc hoạch định chính sách, chủ trương xây dựng các công trình, kết cấu kỹ thuật ĐBATGT đường bộ, cho đến việc bổ sung điều chỉnh

hệ thống pháp luật, lãnh đạo, chỉ đạo Nhà nước, tổ chức quần chúng và các cơ quan chức năng trong thực hiện các biện pháp ĐBATGT đường bộ Mặt khác, đảm bảo

an toàn giao thông đòi hỏi phải thực hiện trên cơ sở mọi nguồn lực xã hội, sức mạnh chung của toàn dân Vì thế, với tư cách là người đại diện cho xã hội cho quyền lợi công, quyền lợi cộng đồng, Nhà nước chịu trách nhiệm đầu tiên và trước hết là việc huy động các nguồn lực cho việc ĐBATGT đường bộ, đồng thời với tư cách là cơ quan quản lý điều hành cao nhất, Nhà nước có trách nhiệm chỉ đạo, điều phối chung toàn xã hội nhằm ĐBATGT đường bộ được tiến hành khoa học, thống nhất, cân đối

và toàn diện tránh sự trùng lặp, cản trở, phá vỡ nhau, gây lãng phí

Việc kết hợp ĐBATGT đường bộ theo ngành và lãnh thổ là cần thiết và mang tính tất yếu khách quan như Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ IX đã nêu rõ “Phân công, phân cấp nâng cao tính chủ động của chính quyền địa phương, kết hợp chặt chẽ quản lý ngành và quản lý lãnh thổ”

Trong điều kiện mới, đổi mới cơ chế ĐBATGT đường bộ cần được tiến hành theo hướng phân cấp hợp lý hoạt động quản lý nhà nước về trật tự ATGT đường bộ giữa Trung ương và địa phương Phương hướng cải cách bộ máy nhà nước ta một mặt bảo đảm tăng cường tính thống nhất của Nhà nước, quyền quản lý nhà nước về trật tự ATGT đường bộ tập trung của Trung ương; nhưng mặt khác mở rộng tính dân chủ, tính chủ động, quyền tự chủ của địa phương trong lĩnh vực này

Đảm bảo an toàn giao thông đường bộ phải gắn liền với Chiến lược quốc gia bảo đảm ĐBATGT đường bộ đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 và phải được thực hiện trên cơ sở mọi nguồn lực của Nhà nhước, của xã hội được huy động Đảm bảo an toàn giao thông đường bộ là sản phẩm có ý thức của xã hội có tổ chức, sản phẩm đó không phản ảnh về một nội dung, một vấn đề của đời sống xã hội, mà là sự kết tinh trên nhiều lĩnh vực của đời sống cộng đồng, khả năng đầu tư xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho đến trình độ quản lý, mức độ văn minh, tiến bộ trong quản lý điều hành, đặc biệt trong tình hình hiện nay, trước yêu cầu của xu thế hội nhập quốc tế nhiều nội dung yêu cầu của quản lý xã hội nói chung, ĐBATGT

Trang 17

nói riêng đã phát sinh nhiều vấn đề phức tạp, ảnh hưởng nghiêm trọng đến Chiến lược quốc gia đảm bảo an toàn giao thông đường bộ trong tình hình mới Vì vậy, có thể nhận thấy quản lý nhà nước về trật tự ATGT đường bộ ở nước ta hiện nay, là công việc quan trọng của Nhà nước, có liên quan ảnh hưởng đến nhiều vấn đề khác trong đời sống xã hội và có ý nghĩa quan trọng đến ổn định chính trị - xã hội, phát triển kinh tế đất nước, củng cố quốc phòng, an ninh Đảm bảo an toàn giao thông đường bộ ở nước ta hiện nay không phải là công việc riêng của một cơ quan mà việc thực hiện nó phải được thực hiện trên nền tảng sức mạnh của toàn dân và mọi nguồn lực của xã hội, của Nhà nước, được huy động cho đầu tư cơ sở hạ tầng, bổ sung hoàn thiện pháp luật, đào tạo nâng cao trình độ cán bộ, công chức quản lý điều hành

Đảm bảo an toàn giao thông đường bộ phải bảo đảm thông suốt, trật tự, an toàn, hiệu quả; góp phần phát triển kinh tế, xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và bảo vệ môi trường ĐBATGT đường bộ phải được tiến hành phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội, trình độ dân trí của quốc gia và mỗi địa phương Bởi vì, chỉ có như vậy việc xác định nội dung yêu cầu quản lý nhà nước, cũng như việc tổ chức tiến hành và thực hiện các biện pháp ĐBATGT đường bộ mới thiết thực, hiệu quả và có tác dụng tích cực trở lại đối với xã hội Trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế, trước những thời cơ và thách thức mới đối với việc thực hiện Chiến lược ĐBATGT đường bộ, đòi hỏi đảm bảo an toàn giao thông đường bộ phải đổi mới cả về nội dung và hình thức cho phù hợp với điều kiện, kinh tế, xã hội đất nước; xác định đúng mục tiêu, yêu cầu nhiệm vụ cụ thể với từng nội dung ĐBATGT đường bộ; đầu

tư kinh phí, cơ sở vật chất, kỹ thuật và tiến hành các biện pháp ĐBATGT đường bộ phù hợp với điều kiện mới đặt ra, nhằm góp phần ổn định chính trị - xã hội, giao thông thông suốt, an toàn, tạo điều kiện thuận lợi cho mở rộng sản xuất, phát triển kinh tế, nâng cao đời sống người dân

1.2.3 Vai trò của công tác đảm bảo an toàn giao thông đường bộ

1.2.3.1 Phát triển kinh tế - xã hội

Đảm bảo an toàn giao thông đường bộ có ý nghĩa quan trọng trong phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, bảo đảm quốc phòng - an ninh, góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Giao thông vận tải có bảo

Trang 18

đảm thông suốt, an toàn thì việc thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an toàn và trật tự xã hội sẽ thuận lợi Muốn phát triển kinh tế -

xã hội cần phát triển hệ thống giao thông vậ tải, phát triển giao thông vận tải đường

bộ phục vụ phát triển kinh tế Giao thông vận tải đường bộ phát triển tạo điều kiện cho hàng hóa lưu thông, chi phí vận tải giảm, giá hàng hóa cạnh tranh, thuận lợi xuất, nhập khẩu, tạo điều kiện cho sản xuất, lưu thông, đầu tư phát triển và các

thuận lợi khác dẫn đến tăng trưởng kinh tế

1.2.3.2 Đảm bảo trật tự an toàn xã hội

Hoạt động giao thông đường bộ diễn ra ở mọi nơi, mọi lúc, liên quan đến mọi tầng lớp dân cư, mọi chủ thể trong xã hội Trật tự ATGT đường bộ được bảo đảm, tức giao thông được thông suốt, tài sản, tính mạng, mọi lợi ích chính đáng khác của những chủ thể tham gia giao thông được đảm bảo, người dân có cuộc sống yên lành,

ổn định, nhu cầu đi lại, phát triển kinh tế, v.v được thuận lợi là điều kiện góp phần

để đảm bảo trật tự an toàn xã hội

Trật tự an toàn xã hội được quan niệm là trạng thái của các quan hệ xã hội được hình thành và điều chỉnh bởi hệ thống quy phạm pháp luật của Nhà nước, quy phạm chính trị, quy phạm đạo đức, thuần phong mỹ tục trong đời sống cộng đồng của một dân tộc, một Nhà nước, là tình trạng xã hội ổn định, ở đó mọi công dân sống và lao động có tổ chức, có kỷ cương, mọi lợi ích chính đáng được bảo đảm, không bị xâm hại Trong khi đó, quản lý nhà nước trong bảo đảm trật tự ATGT đường bộ hướng tới thực hiện mục tiêu mọi hoạt động GTĐB được trật tự, an toàn, nhanh chóng, tiện lợi, thông suốt và mỹ quan môi trường, hạn chế thấp nhất các vi phạm pháp luật giao thông đường bộ, hạn chế ùn tắc GTĐB, kiềm chế tai nạn giao thông đường bộ, ngăn ngừa thiệt hại do tai nạn giao thông đường bộ gây ra

Như vậy, trật tự ATGT đường bộ là một bộ phận không thể tách rời, có quan

hệ khăng khít với trật tự an toàn xã hội; Trật tự ATGT đường bộ được đảm bảo thì mới góp phần đảm bảo trật tự an toàn xã hội Trật tự an toàn xã hội được đảm bảo vững chắc sẽ là cơ sở, là điều kiện để giữ vững trật tự ATGT đường bộ, củng cố phát huy tính pháp chế xã hội chủ nghĩa trong quản lý nhà nước về trật tự ATGT đường bộ

Trang 19

1.2.3.3 Đảm bảo an ninh quốc phòng

Tăng cường đảm bảo an toàn giao thông kết hợp với tăng cường đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông vận tải bảo đảm đồng bộ, hợp lý, từng bước hiện đại, tạo nên mạng lưới hoàn chỉnh, liên hoàn, liên kết giữa các phương thức vận tải, giữa các vùng lãnh thổ, đô thị và nông thôn trên phạm vi toàn quốc, nhằm bảo đảm vừa phục vụ cho phát triển Kinh tế -Xã hội, vừa đáp ứng yêu cầu củng cố Quốc phòng –An ninh của từng địa phương và của cả nước Phát huy tối đa lợi thế về vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên của đất nước để phát triển hệ thống giao thông vận tải hợp lý, đáp ứng nhu cầu vận tải hàng hoá, hành khách tăng nhanh trong giai đoạn hiện nay và những năm tiếp theo

1.2.3.4 Thúc đẩy giao lưu, hội nhập khu vực và quốc tế

Trong những năm trở lại đây có rất nhiều dự án nước ngoài đầu tư vào việt nam đa số các dự án đầu tư vào các thành phố lớn có cơ sở hạ tầng tốt như: Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Hải Phòng muốn thu hút thành công đầu tư nước ngoài thì chúng ta cần phải tạo môi trường đầu tư trong đó có cơ sở hạ tầng là một yếu tố quan trọng Đảm bảo an toàn giao thông đường bộ luôn giúp cơ sở hạ tầng hoạt động tốt để thu hút vốn đầu tư nước ngoài và sử dụng chính vốn đầu tư nước ngoài

để xây dựng kết cấu hạ tầng, tạo điều kiện cho các ngành sản xuất vật chất hoạt động có hiệu quả hơn tạo điều kiện để giải quyết việc làm nâng cao thu nhập cho người dân từ đó làm tăng tích luỹ cho nền kinh tế

Đảm bảo an toàn giao thông đường bộ cho phép chúng ta tăng năng lực sản xuất, vận chuyển, giao thông tạo ra nhiều cơ sở sản xuất vật chất mới, tạo điều kiện cho việc giao lưu kinh tế văn hoá giữa các khu vực, góp phần giải quyết công ăn việc làm cho người lao động, đồng thời phân bố nguồn lao động hợp lý Hơn nữa,

sự xuất hiện của các cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ mới với công nghệ kỹ thuật cao sẽ hoạt động hiệu quả hơn, mang lại nhiều lợi nhuận hơn, mang lại thu nhập cao hơn cho người lao động

Phát triển vận tải theo hướng hiện đại với chi phí hợp lý, an toàn, giảm thiểu tác động môi trường và tiết kiệm năng lượng; chú trọng ứng dụng công nghệ vận tải tiên tiến, đặc biệt là vận tải đa phương thức; nhanh chóng đổi mới, hiện đại hóa phương tiện, nâng cao chất lượng dịch vụ vận tải, đồng thời phát triển nhanh hệ

Trang 20

thống dịch vụ vận tải đối ngoại, trước hết là vận tải hàng không và hàng hải, nhằm tăng cường khả năng cạnh tranh và tạo điều kiện đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh

tế quốc tế

Hợp tác quốc tế nói chung và hợp tác quốc tế về ĐBATGT đường bộ là xu thế chung của các quốc gia Các nước trên thế giới, các tổ chức quốc tế đều có quan điểm hợp tác, trao đổi kinh nghiệm, khoa học công nghệ với nhau trong công tác bảo đảm trật tự ATGT đường bộ đường bộ ở mỗi nước hoặc khu vực vì lợi ích của quốc gia Với sự phát triển của khoa học - công nghệ và xu thế toàn cầu hóa hiện nay, thì hợp tác quốc tế là một tất yếu khách quan trong quản lý nhà nước về trật tự ATGT đường bộ; nghiên cứu, triển khai ứng dụng khoa học - công nghệ về trật tự

an toàn giao thông đường bộ; tiết kiệm thời gian, tài chính, công sức trong bảo đảm trật tự ATGT đường bộ; góp phần quản lý nhà nước về trật tự an toàn giao thông đường bộ; tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau trong công tác bảo đảm trật tự ATGT đường bộ

1.2.4 Tiêu chí đánh giá an toàn giao thông

Theo thực trạng hiện nay trên cả nước, tiêu chí đánh giá an toàn giao thông được dựa trên 3 tiêu chí sau đây của Ủy ban An toàn giao thông Quốc gia:

<*> Số vụ (kể cả va chạm giao thông) bao gồm tai nạn giao thông đường bộ

và tai nạn giao thông đường sắt

+ Tai nạn giao thông đường bộ: Theo quy định tại Khoản 1 Điều 5 Thông tư

58/2009/TT-BCA(C11) quy định và hướng dẫn thống kê, tổng hợp, xây dựng cơ sở

dữ liệu, cung cấp thông tin về tai nạn giao thông đường bộ do Bộ Công an ban hành thì Tai nạn giao thông được quy định như sau:Tai nạn giao thông đường bộ là sự việc xảy ra do người tham gia giao thông đang hoạt động trên mạng lưới giao thông đường bộ vi phạm các quy định về trật tự, an toàn giao thông đường bộ hay gặp phải sự cố bất ngờ gây ra những thiệt hại nhất định đến tính mạng, sức khoẻ của con người hoặc tài sản của cơ quan, tổ chức, cá nhân Tai nạn giao thông gồm:

a) Va chạm giao thông;

b) Vụ tai nạn giao thông gây hậu quả ít nghiêm trọng;

c) Vụ tai nạn giao thông gây hậu quả nghiêm trọng;

d) Vụ tai nạn giao thông gây hậu quả rất nghiêm trọng;

Trang 21

đ) Vụ tai nạn giao thông gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng

+ Tai nạn giao thông đường sắt: Theo Khoản 1 Điều 3 Thông tư

38/2016/TT-BGTVT quy định về giải quyết sự cố, tai nạn giao thông đường sắt do Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải (BGTVT) ban hành như sau: Tai nạn giao thông đường sắt là việc phương tiện giao thông đường sắt xảy ra đâm nhau, trật bánh, đổ tàu, đâm, va vào người, phương tiện giao thông khác và ngược lại hoặc phương tiện giao thông đường sắt đang hoạt động đâm, va vào chướng ngại vật gây thiệt hại cho tính mạng, sức khỏe của con người hoặc gây thiệt hại về tài sản

<*> Số người chết : Là số người bị chết do sự việc bất ngờ xảy ra ngoài ý

muốn chủ quan của người điều khiển phương tiện giao thông khi đang di chuyển trên đường giao thông, do vi phạm các quy tắc an toàn giao thông hay do gặp những tình huống, sự cố đột xuất không kịp phòng tránh, gây nên thiệt hại nhất định về tính mạng con người

<*> Số người bị thương: Là số người bị thương do sự việc bất ngờ xảy ra

ngoài ý muốn chủ quan của người điều khiển phương tiện giao thông khi đang di chuyển trên đường giao thông, do vi phạm các quy tắc an toàn giao thông hay do gặp những tình huống, sự cố đột xuất không kịp phòng tránh, gây nên thiệt hại nhất định về sức khỏe con người

1.2.5 Nội dung công tác quản lý ATGT, đảm bảo an toàn giao thông

1.2.5.1 An toàn giao thông thông qua hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Để thực hiện quản lý nhà nước về trật tự ATGT đường bộ có hiệu quả, đòi hỏi các cơ quan quản lý nhà nước về trật tự ATGT đường bộ phải xây dựng, ban hành các quy hoạch, kế hoạch về trật tự ATGT đường bộ, xác định những mục tiêu trước mắt, lâu dài và triển khai các giải pháp thích hợp, tập trung nỗ lực của cơ quan quản

lý nhà nước vào việc hoàn thành mục tiêu đề ra, tiết kiệm các nguồn lực của cơ quan quản lý nhà nước; là cơ sở để thực hiện chức năng kiểm soát, kiểm tra kết quả mức độ đạt được những mục tiêu đề ra Quá trình xây dựng quy hoạch, kế hoạch về trật tự ATGT đường bộ, bao gồm các giai đoạn cơ bản như: xác định mục tiêu về trật tự ATGT đường bộ trong từng giai đoạn; xây dựng kế hoạch hành động để thực

Trang 22

hiện mục tiêu, thực chất là xây dựng các bước đi cụ thể của từng giai đoạn; tổng kết, đánh giá mức độ hoàn thành quy hoạch, kế hoạch về trật tự ATGT đường bộ

Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực GTĐB Xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật GTĐB là kết quả của quá trình nhận thức sự vận động, phát triển các quan hệ GTĐB trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Đây là sự ghi nhận

về mặt Nhà nước nhu cầu điều chỉnh bằng pháp luật đối với các quan hệ GTĐB trong thực tiễn quản lý Trên cơ sở đó, xây dựng các thể chế quản lý phù hợp, tạo lập hành lang pháp lý cho những quan hệ ấy phát triển theo đúng định hướng của Nhà nước

Xây dựng và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về trật tự ATGT đường bộ là hoạt động không thể thiếu trong cơ chế lãnh đạo, quản lý lĩnh vực GTĐB, đây là sự nối tiếp hoạt động lãnh đạo của Đảng, đồng thời nó là khâu đầu tiên của quy trình quản lý nhà nước về trật tự ATGT đường bộ

Xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật về trật tự ATGT đường bộ

là khâu quan trọng, có tính chất quyết định đối với hai khâu còn lại của quy trình quản lý nhà nước về trật tự ATGT đường bộ, đó là tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về trật tự ATGT đường bộ và xử lý vi phạm pháp luật về trật tự ATGT đường bộ Bởi lẽ, xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật về trật

tự an toàn giao thông đường bộ sẽ tạo lập cơ sở pháp lý cho việc tổ chức thực hiện pháp luật về trật tự ATGT đường bộ và xử lý vi phạm pháp luật về trật tự ATGT đường bộ

Xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật về trật tự ATGT đường bộ

là hoạt động lập quy của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền Nhà nước quy định thẩm quyền cho từng cơ quan trong việc xây dựng và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực GTĐB Căn

cứ pháp lý cho hoạt động này là Hiến pháp, Luật tổ chức Chính phủ, Luật tổ chức Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân (UBND) và Luật ban hành Văn bản quy phạm pháp luật, Luật Giao thông đường bộ, v.v… Các cơ quan này được trao những chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn cụ thể trong thực hiện những nội dung của quản lý nhà nước về trật tự ATGT đường bộ Bên cạnh đó, Nhà nước quy định quy tắc

Trang 23

GTĐB, các điều kiện bảo đảm an toàn GTĐB của kết cấu hạ tầng, phương tiện và người tham gia GTĐB, hoạt động vận tải đường bộ; quy định cơ chế giám sát, thanh tra, kiểm tra kiểm soát , xử lý vi phạm trong việc chấp hành pháp luật GTĐB; quy định về khiếu nại; khởi kiện với những quyết định, biện pháp xử lý, tố cáo những hành vi vi phạm pháp luật GTĐB

Vị trí quan trọng trong xây dựng pháp luật về trật tự ATGT đường bộ thuộc về Chính phủ Chính phủ là cơ quan thống nhất quản lý nhà nước về trật tự ATGT đường bộ, có thẩm quyền trình các dự án luật, pháp lệnh có nội dung liên quan, cũng như ban hành các văn bản quy định chi tiết thi hành Luật Giao thông đường bộ

để áp dụng thống nhất trên toàn lãnh thổ Việt Nam

Xây dựng pháp luật về trật tự ATGT đường bộ như đã nói ở trên là hết sức quan trọng và cần thiết, nhưng cùng với xây dựng pháp luật về trật tự ATGT đường

bộ là việc hoàn thiện pháp luật về trật tự ATGT đường bộ Cũng như các lĩnh vực khác, trong lĩnh vực trật tự ATGT đường bộ thì các quan hệ luôn luôn vận động và phát triển Do đó, các quy phạm pháp luật về trật tự ATGT đường bộ luôn tỏ ra lạc hậu, không theo kịp sự vận động, phát triển đó Vì vậy, yêu cầu đặt ra là phải không ngừng sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện pháp luật về trật tự ATGT đường bộ

Pháp luật về trật tự ATGT đường bộ hoàn thiện mới có khả năng tạo lập được

cơ sở pháp lý vững chắc cho toàn bộ sự vận động phát triển của các quan hệ trật tự ATGT đường bộ Hệ thống pháp luật về trật tự ATGT đường bộ chỉ hoàn thiện khi đáp ứng được đầy đủ bốn tiêu chí, đó là tính toàn diện, tính đồng bộ, tính phù hợp,

có kỹ thuật pháp lý cao

Tính toàn diện của pháp luật về trật tự ATGT đường bộ đòi hỏi phải có đầy đủ các chế định, các quy phạm pháp luật điều chỉnh một cách bao quát toàn bộ các quan hệ về trật tự ATGT đường bộ Quan hệ trật tự ATGT đường bộ rất đa dạng, phong phú, để điều chỉnh được một cách bao quát và toàn diện đòi hỏi pháp luật về trật tự ATGT đường bộ phải có nhiều chế định, nhiều quy phạm pháp luật để đảm bảo sự tương ứng với sự đa dạng, phong phú của quan hệ về trật tự ATGT đường

bộ Tuy vậy, không phải có nhiều chế định, nhiều quy phạm thì điều chỉnh có hiệu quả quan hệ trật tự ATGT đường bộ mà còn đòi hỏi những chế định đó, những quy phạm đó phải đảm bảo chất lượng điều chỉnh

Trang 24

Chất lượng điều chỉnh làm nên tính phù hợp của những chế định, những quy phạm pháp luật về trật tự ATGT đường bộ Tính phù hợp ở đây là phù hợp với sự vận động và phát triển của các quan hệ về trật tự ATGT đường bộ Việt Nam cũng như xu thế phát triển chung của trật tự ATGT đường bộ trong khu vực và trên thế giới Do đó, pháp luật về trật tự ATGT đường bộ không thể cao hơn hay thấp hơn trạng thái vận động và phát triển của các quan hệ về trật tự ATGT đường bộ

Muốn vậy, pháp luật về trật tự ATGT đường bộ phải xuất phát từ thực tiễn hoạt động GTĐB của Việt Nam cũng như sự đòi hỏi của tiến trình mở rộng giao lưu hợp tác quốc tế về giao thông đường bộ

Ngoài tính toàn diện, tính phù hợp, pháp luật về GTĐB phải đảm bảo tính đồng bộ Tính đồng bộ của pháp luật về trật tự ATGT đường bộ thể hiện ở hai cấp

độ Cấp độ thứ nhất của sự đồng bộ là cấp độ nội tại; ở cấp độ này, sự đồng bộ thể hiện trong sự thống nhất, không mâu thuẫn nhau, không “vênh” nhau của các chế định, quy phạm pháp luật về trật tự ATGT đường bộ cùng tập trung điều chỉnh một cách có hiệu quả các quan hệ về trật tự ATGT đường bộ Cấp độ thứ hai của sự đồng bộ là đồng bộ ra bên ngoài; ở cấp độ này, sự đồng bộ được biểu hiện qua sự thống nhất, quan hệ khăng khít, không mâu thuẫn của pháp luật về trật tự ATGT đường bộ với các bộ phận pháp luật khác, cũng như các ngành luật khác trong hệ thống pháp luật Việt Nam Bởi lẽ, quan hệ về trật tự ATGT đường bộ có liên quan đến nhiều quan hệ xã hội khác thuộc đối tượng điều chỉnh của nhiều ngành luật khác nhau trong hệ thống pháp luật Việt Nam

Trong xây dựng và hoàn thiện pháp luật về trật tự ATGT đường bộ, công tác

rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực trật tự ATGT đường bộ có tầm quan trọng đặc biệt, nhằm khắc phục kịp thời những hạn chế của pháp luật về trật tự ATGT đường bộ, nâng cao chất lượng của pháp luật về trật tự ATGT đường bộ, tính pháp điển và đặc biệt là tạo điều kiện cho công tác quản lý văn bản, cho việc sử dụng, áp dụng văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực trật

tự ATGT đường bộ

1.2.5.2 Đảm bảo ATGT về con người, về cơ sở vật chất

<*> Đảm bảo ATGT về con người:

Trang 25

- Tiếp tục kiềm chế, quyết tâm kéo giảm tai nạn giao thông cả 03 tiêu chí, trong đó phấn đấu kéo giảm từ 5 - 10% số vụ, số người chết, bị thương, so với năm

2018

- Nâng cao nhận thức và ý thức tự giác chấp hành pháp luật của người tham gia giao thông, xây dựng văn hóa giao thông trong cộng đồng nhằm từng bước kéo giảm tai nạn giao thông

<*> Đảm bảo ATGT về cơ sở vật chất:

- Hoàn thành và đưa vào sử dụng 13 công trình/hạng mục công trình như: hầm chui và cầu vượt thuộc dự án Xây dựng nút giao thông Mỹ Thủy (Quận 2); nhánh N1 thuộc dự án Xây dựng hầm chui tại nút giao thông An Sương (Quận 12); hầm chui nút giao thông Đại học Quốc gia (hướng Thành phố Hồ Chí Minh đi Đồng Nai); cầu qua đảo Kim Cương, Quận 2; Nâng cấp đường Lê Đức Thọ (đoạn từ cầu Trường Đai đến cầu Cụt), quận Gò Vấp; Xây dựng đường D1 (kết nối đại học Sài Gòn với đường Nguyễn Văn Linh và Khu dân cư Him Lam), Quận 7; Xây dựng cầu Rạch Lăng trên đường Phan Chu Trinh kết nối đến đường Nơ Trang Long

- Đã khởi công xây dựng 08 dự án: Xây dựng cầu Thủ Thiêm 2; Cải tạo dốc cầu Phạm Văn Chí; Mở rộng nâng cấp đường Tô Ký; Nâng cấp mở rộng đường Số 12 (đoạn từ QL1 đến cổng Nghĩa Trang TP), quận Thủ Đức; Xây dựng cầu Long Kiểng;

Mở rộng đường Đỗ Xuân Hợp, Quận 9…

- Tiếp tục đôn đốc, đẩy nhanh tiến độ thi công các dự án trọng điểm như nhánh N2 thuộc dự án Xây dựng hầm chui tại nút giao thông An Sương, hạng mục cầu vượt thuộc dự án Xây dựng nút giao thông Mỹ Thủy, nút giao thông Đại học Quốc gia, Nâng cấp, mở rộng cầu Chữ Y, Nâng cấp, mở rộng cầu Kênh Tẻ, mở rộng cầu Nguyễn Tri Phương

1.2.6 Phương pháp đảm bảo an toàn giao thông

- Đảm bảo về tính mạng con người: Là đảm bảo rằng trong trường hợp xảy ra tai nạn, tai nạn vẫn dưới ngưỡng có khả năng gây ra tử vong hoặc thương tích nghiêm trọng Ngưỡng này sẽ thay đổi tùy thuộc vào mức độ bảo vệ được cung cấp cho người tham gia giao thông Ví dụ: cơ hội sống sót cho người đi bộ không được bảo vệ sẽ giảm ở tốc độ lớn hơn 30 km/h, trong khi đối với xe có động cơ hạn chế,

Trang 26

tốc độ va chạm đó là 50 km/h (đối với va chạm bên hông) và 70 km/h (đối với tai nạn ở vùng đầu)

- Đảm bảo về tài sản: Là giảm thiểu đến mức thấp nhất thiệt hại về tài sản của người điều khiển phương tiện và người tham gia giao thông

1.2.7 Chủ thể tham gia đảm bảo an toàn giao thông

Là các cơ quan quản lý nhà nước về lĩnh vực giao thông mà nòng cốt là Ủy ban nhân dân thành phố (UBNDTP), Sở Giao thông vận tải (Sở GTVT) thành phố , Cảnh sát giao thông thành phố và Thanh tra Sở giao thông vận tải thành phố

- Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh:

Là cơ quan hành chính nhà nước nằm trong hệ thống hành chính Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam Đây là cơ quan hành chính nhà nước địa phương ở Thành phố Hồ Chí Minh, cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, chịu trách nhiệm trước Hội đồng này và cơ quan nhà nước ở Trung ương Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh do Hội đồng nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh bầu ra và được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt

Ủy ban nhân dân thành phố chịu trách nhiệm quản lý tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội tại thành phố Hồ Chí Minh trong đó có lĩnh vực về giao thông đô thị.Ủy ban nhân dân thành phố ủy quyền cho Sở Giao thông vận tải thành phố thay mặt cho Ủy ban nhân dân thành phố quản lý nhà nước về lĩnh vực giao thông

- Ủy ban nhân dân quận, huyện:

Là cơ quan hành chính nhà nước nằm trong hệ thống hành chính Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam Đây là cơ quan hành chính nhà nước địa phương ở quận, huyện Cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân quận, huyện, chịu trách nhiệm trước Hội đồng này và cơ quan nhà nước ở cấp trên Ủy ban nhân dân quận, huyện

do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu ra và được thành phố phê duyệt

- Sở Giao thông vận tải thành phố:

Là cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân thành phố, tham mưu, giúp

Ủy ban nhân dân thành phố thực hiện chức năng quản lý nhà nước về lĩnh vực giao thông vận tải (đường bộ, đường thủy nội địa), hạ tầng kỹ thuật đô thị (cấp thoát nước, công viên cây xanh và chiếu sáng, bãi đỗ xe đô thị) trong phạm vi thành phố

Trang 27

và thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn theo sự ủy quyền của Ủy ban nhân dân thành phố và theo quy định của pháp luật

Sở Giao thông vận tải thành phố có tư cách pháp nhân, có con dấu riêng, được cấp kinh phí hoạt động, được mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước theo qui định của Nhà nước

Sở Giao thông vận tải chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, biên chế và công tác của Ủy ban nhân dân thành phố, đồng thời chịu sự chỉ đạo, kiểm tra về nghiệp vụ của Bộ Giao thông vận tải và Bộ Xây dựng

- Cảnh sát giao thông thành phố:

Là một bộ phận thuộc lực lượng Công an Nhân dân Việt Nam, có chức năng nghiên cứu, đề xuất và trực tiếp bảo đảm trật tự, an toàn giao thông; chủ động phòng ngừa, đấu tranh với các hành vi vi phạm luật giao thông, các hoạt động phạm tội và vi phạm pháp luật khác trên các tuyến đường, địa bàn được giao

- Thanh tra Sở Giao thông vận tải thành phố :

Thanh tra Sở thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được quy định tại Điều 24 Luật Thanh tra, Điều 13 Nghị định số 86/2011/NĐ-CP và các nhiệm vụ, quyền hạn sau:

+ Xây dựng kế hoạch thanh tra trình Giám đốc Sở phê duyệt và tổ chức thực hiện

+ Thanh tra việc thực hiện chính sách, pháp luật và nhiệm vụ, quyền hạn của

cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc quyền quản lý của Sở Giao thông vận tải

+ Thanh tra việc chấp hành pháp luật chuyên ngành, quy định về chuyên môn - kỹ thuật, quy tắc quản lý ngành, lĩnh vực của cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc phạm vi quản lý của Sở Giao thông vận tải, gồm:

a) Điều kiện, tiêu chuẩn và các biện pháp đảm bảo an toàn giao thông thuộc kết cấu hạ tầng đường bộ (bao gồm cả đường bộ trong đô thị), đường thủy nội địa, đường sắt chuyên dùng không nối ray với đường sắt Quốc gia, đường sắt đô thị (nếu có) do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trực tiếp quản lý hoặc được ủy quyền quản lý;

b) Điều kiện bảo đảm an toàn của phương tiện giao thông đường bộ, đường thủy nội địa (trừ tàu biển), đường sắt chuyên dùng không nối ray với đường sắt Quốc gia và đường sắt đô thị;

c) Vận tải và dịch vụ hỗ trợ vận tải;

Trang 28

d) Đào tạo, sát hạch, cấp bằng, giấy phép, chứng chỉ chuyên môn, nghiệp vụ cho người điều khiển phương tiện giao thông và người vận hành phương tiện, thiết

bị chuyên dùng trong giao thông vận tải theo phân cấp;

đ) Việc kiểm định kỹ thuật phương tiện, thiết bị giao thông vận tải theo phân cấp;

e) Phối hợp với lực lượng công an và các tổ chức, lực lượng có liên quan khác trong việc phòng ngừa và xử lý các vi phạm nhằm bảo đảm trật tự an toàn giao thông vận tải trong phạm vi trách nhiệm của Sở Giao thông vận tải;

g) Phối hợp và hỗ trợ Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã, tổ chức thanh tra chuyên ngành Giao thông vận tải của Trung ương đặt tại địa phương trong hoạt động thanh tra, xử phạt vi phạm hành chính việc chấp hành các quy định về bảo vệ, chống lấn chiếm hành lang an toàn giao thông đường bộ, đường sắt, hành lang bảo

vệ luồng đường thủy nội địa do Bộ Giao thông vận tải trực tiếp quản lý

1.3 Quản lý nhà nước về an toàn giao thông đường bộ

Hoạt động quản lý nhà nước nói chung và quản lý nhà nước trong một lĩnh vực cụ thể nào đó có thể bằng nhiều phương pháp, cách thức khác nhau Phổ biến là quản lý bằng phương pháp hành chính, phương pháp kế hoạch chính sách, phương pháp kinh tế và phương pháp tư tưởng Nhưng tựu chung, Nhà nước nào cũng dùng pháp luật như một công cụ, là chuẩn mực khách quan để đánh giá hiệu lực, hiệu quả của quản lý nhà nước, đồng thời là phương pháp chủ yếu để quản lý xã hội Tuy nhiên, pháp luật không phải là tuyệt đối, do vậy không được tuyệt đối hóa vai trò của pháp luật trong quản lý nhà nước

Quản lý nhà nước về trật tự ATGT đường bộ là hoạt động mang tính chất quyền lực của cơ quan hành chính nhà nước, nhằm tạo ra các điều kiện để xác lập, duy trì và ổn định các quan hệ về giao thông, theo quy định của pháp luật về trật tự ATGT đường bộ Đây là một hoạt động có vai trò, vị trí rất quan trọng trong lĩnh vực an ninh, trật tự Bởi vì, TNGT hàng ngày vẫn xảy ra đã và đang là một hiểm họa không chỉ đối với nước ta mà còn là hiểm họa chung đối với tất cả các quốc gia trên thế giới

Quản lý nhà nước về trật tự ATGT đường bộ được tiến hành trên các lĩnh vực: ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về trật tự ATGT đường bộ; tuyên truyền, phổ

Trang 29

biến, giáo dục pháp luật về GTĐB; quản lý quy tắc GTĐB; quản lý kết cấu HTGT đường bộ; quản lý phương tiện tham gia GTĐB; quản lý người điều khiển phương tiện GTĐB; quản lý vận tải đường bộ; tuần tra kiểm soát, xử lý vi phạm giao thông, thanh tra, kiểm tra; chỉ huy điều khiển giao thông và điều tra, xử lý TNGT Quản lý nhà nước về trật tự ATGT đường bộ là hoạt động chấp hành và điều hành của các

cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội được Nhà nước ủy quyền, được tiến hành trên

cơ sở pháp luật, nhằm bảo vệ trật tự ATGT

Quản lý nhà nước về trật tự ATGT đường bộ được thực hiện bởi cơ quan hành chính nhà nước, do đó cũng phải tuân theo những nguyên tắc sau: (1) các nguyên tắc chính trị - xã hội, gồm nguyên tắc Đảng lãnh đạo, nguyên tắc nhân dân tham gia vào quản lý, nguyên tắc tập trung dân chủ, nguyên tắc bình đẳng giữa các dân tộc, nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa; (2) các nguyên tắc mang tính tổ chức, gồm nguyên tắc quản lý theo địa phương, nguyên tắc quản lý theo ngành, nguyên tắc quản lý theo chức năng, nguyên tắc phối hợp quản lý liên ngành Đối tượng của quản lý nhà nước về trật tự ATGT đường bộ cũng hết sức đa dạng và phong phú, song như trên đã phân tích, về thực chất, đối tượng của quản lý ở đây cũng chính là con người trong việc thực hiện các nguyên tắc nhằm bảo đảm trật tự ATGT đường

Về người điều khiển phương tiện tham gia GTĐB: điều kiện của người lái xe

cơ giới tham gia giao thông; Giấy phép lái xe; tuổi và sức khỏe của người lái xe; đào tạo lái xe, sát hạch để cấp giấy phép lái xe; điều kiện của người điều khiển xe máy chuyên dùng tham gia giao thông; điều kiện của người điều khiển xe thô sơ tham gia giao thông

Về quy tắc GTĐB: gồm các quy tắc chung, hệ thống báo hiệu đường bộ, chấp hành báo hiệu đường bộ, tốc độ và khoảng cách giữa các xe, sử dụng làn đường, quy định vượt xe; chuyển hướng xe; lùi xe; tránh vượt xe; dừng xe; đỗ xe trên đường trong và ngoài đô thị; quyền ưu tiên của một số xe; qua phà; qua cầu phao;

Trang 30

nhường đường tại những nơi giao nhau; đi trên đoạn đường giao với đường sắt; giao thông trên đường cao tốc; giao thông trong hầm đường bộ; bảo đảm tải trọng và khổ giới hạn của đường bộ; xe kéo và xe kéo rơ moóc; người điều khiển người ngồi trên

xe mô tô, xe gắn máy; người điều khiển và người ngồi trên xe đạp, người điều khiển

xe thô sơ khác, người đi bộ; người tàn tật, người già yếu tham gia giao thông; người điều khiển, dẫn dắt súc vật đi trên đường bộ; các hoạt động khác trên đường bộ; sử dụng đường phố đô thị; tổ chức giao thông và điều khiển giao thông; trách nhiệm của cá nhân, cơ quan, tổ chức khi xảy ra tai nạn giao thông

Khách thể của quản lý nhà nước về trật tự ATGT đường bộ ở đây chính là

“cái” mà chủ thể quản lý dự định trước và hướng toàn bộ quá trình quản lý vào đó

Có thể thấy, khách thể của quản lý nhà nước về trật tự ATGT đường bộ chính là trật

tự quản lý được thiết lập trên lĩnh vực đó, nhằm mục đích đảm bảo phục vụ hoạt động xã hội và hoạt động kinh tế, đáp ứng các nhu cầu của nền kinh tế và xã hội

Từ sự phân tích trên đây, có thể đưa ra khái niệm: Quản lý nhà nước về trật tự,

an toàn giao thông đường bộ là toàn bộ hoạt động có tổ chức, có định hướng, mang tính quyền lực của nhà nước trong quá trình quản lý, điều hành và tổ chức thực hiện các quy định về trật tự, an toàn giao thông đường bộ, thiết lập, duy trì trật tự,

an toàn giao thông đường bộ, xây dựng văn hóa giao thông, bảo đảm giao thông đường bộ thông suốt, an toàn nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội, quốc phòng, an ninh và hội nhập quốc tế

1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến an toàn giao thông

1.4.1 Nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến công tác đảm bảo ATGT

Bao gồm người lái xe, người đi bộ, hành khách trên xe, cách tổ chức điều hành giao thông và những người sử dụng lòng, lề đường Yếu tố con người là rất quan trọng, là tác nhân gây tai nạn giao thông nhiều nhất

<*> Yếu tố phương tiện

An toàn phương tiện thể hiện ở các khía cạnh:

- Kết cấu và độ tin cậy của phương tiện;

- Nếu xảy ra tai nạn giao thông thì hậu quả thấp nhất;

- Trong quá trình hoạt động của phương tiện được phân chia thành các loại:

An toàn chủ động, an toàn thụ động, an toàn sau tai nạn, an toàn sinh thái

Trang 31

+ An toàn chủ động: là khả năng của phương tiện có thể giảm thấp tai nạn giao thông trong quá trình tham gia giao thông

+ An toàn thụ động: Là khả năng của phương tiện giúp làm giảm hậu quả khi tai nạn xảy ra Khi xảy ra va chạm sau một tích tắc là ô tô dừng lại nhưng lái xe và hành khách vẫn chuyển động theo quán tính với tốc độ trước lúc va chạm Lúc đó

có thể xảy ra va đập lần thứ hai như đập đầu vào kính, đập ngực vào tay lái,…Khi phân tích tai nạn giao thông ta nhận thấy rằng, khả năng tử vong, bị thương của những người ngồi ở hàng ghế đầu cao hơn Do vậy biện pháp đảm bảo an toàn cho lái xe và hành khách ở hàng ghế trước cũng được chú ý hơn

+ An toàn sau tai nạn: Là khả năng của phương tiện giảm thấp được hậu quả sau khi tai nạn xảy ra như bốc cháy, đâm vào các đối tượng chuyển động khác,… + An toàn sinh thái: Là khả năng của phương tiện giảm thấp được mức độ ảnh hưởng xấu của nó đến môi trường xung quanh Khác với tính năng an toàn khác, an toàn sinh thái tồn tại suốt quảng đời của xe

và tốc độ trung bình của dòng giảm đi rõ rệt trong các trường hợp sau:

- Đoạn đường bị xấu đi bất ngờ, bề rộng và độ bằng phẳng của mặt đường kém;

- Nơi mà điều kiện đường có độ an toàn thấp như các đoạn đường quanh co, gấp khúc, khuất tầm nhìn,…

- Nơi mà các xe có công suất nhỏ không bứt phá được lực cản trên đường;

- Tại chổ đường giao nhau, chổ vượt, làn đường chuyển tốc độ

- Tại những chổ người đi bộ, xe đạp, xe súc vật kéo,…

<*> Ảnh hưởng của lưu lượng và kết cấu dòng xe

- Trong các điều kiện như nhau, tai nạn giao thông phụ thuộc vào lưu lượng xe trên đường và quy luật chuyển động của dòng xe Khi lưu lượng xe thấp số xe tránh

Trang 32

và vượt nhau ít, người lái xe có xu hướng cho xe chạy vào tim đường hoặc gần mép trong làn đường dành cho xe mình để tránh ảnh hưởng của lề đường và thành cầu Khi lưu lượng thấp, số tuyệt đối của tai nạn giao thông nhỏ

- Số tai nạn giao thông không chỉ phụ thuộc vào lưu lượng mà còn phụ thuộc vào kết cấu dòng xe, vì mỗi loại xe có kích thước, tải trọng, tốc độ khác nhau Số chạy xe trong dòng càng nhiều, nhu cầu vượt nhau càng lớn, nên xác suất về tai nạn giao thông càng cao Rõ ràng nhất là tỷ lệ xe tải trong dòng xe càng lớn thì hệ số tai nạn giao thông càng tăng

Có thể thấy được rằng:

+ Số tai nạn giao thông tăng chậm và tỷ lệ với lưu lượng xe chạy cho đến khi lưu lượng đạt đến trị số khả năng thông xe bình thường của đường Khi lưu lượng tiếp tục tăng thì số tai nạn giao thông cũng tăng lên đáng kể

+ Khi tốc độ chạy của các loại xe trong dòng xe càng chênh lệch thì số tai nạn giao thông càng cao, nên dòng xe hỗn hợp có hệ số tai nạn giao thông cao hơn dòng

- Trên các mặt đường hẹp, khi xe tránh nhau và vượt nhau, khoảng cách giữa các xe cũng như khoảng cách giữa các bánh xe với mép lề không gia cố không đủ

để lái xe tin tưởng, mặc dù họ đã giảm tốc độ Vì vậy số tai nạn giao thông tăng theo mức độ giảm bề rộng phần xe chạy

<*> Ảnh hưởng của tầm nhìn

Tầm nhìn là một trong những nhân tố quan trọng nhất đảm bảo an toàn xe chạy Tầm nhìn đủ giúp cho lái xe thấy được các chướng ngại vật từ xa và có đủ thời gian để xử lý Tuy nhiên, bù lại ở những nơi có tầm nhìn bị thu hẹp thì lái xe lại tăng cường chú ý hơn Tầm nhìn bị rút ngắn trong các trường hợp sau:

Trang 33

- Khi vượt nhau: Trong dòng xe hỗn hợp, người lái xe có tốc độ lớn thường có

xu hướng vượt lên trước mà lúc này tầm nhìn hẹp nên rất nguy hiểm

- Khi vào đường cong có nhiều vật che chắn, tầm nhìn bị giảm đi rất nhiều

<*> Ảnh hưởng của đường cong trên bình đồ

Tai nạn giao thông thường xuất hiện ở những đường cong trên bình đồ, tỷ lệ chiếm khoảng 10 – 20% trong tổng số vụ Bán kính đường cong trên bình đồ từ 2.000m trở lên thì ảnh hưởng của chúng đến tai nạn giao thông không khác gì đường thẳng, còn khi bán kính cong nhỏ hơn 600 – 700m thì tốc độ tăng hệ số rất nhanh Để an toàn đi vào đường cong, lái xe cần phải trông thấy đường và làn xe dành cho mình từ một khoảng cách đủ để phanh xe khi gặp chướng ngại vật bất ngờ

<*> Ảnh hưởng của của giao nhau đường cùng mức

Ở những nơi giao nhau cùng mức, việc đánh giá an toàn chạy xe phức tạp hơn những đoạn đường khác, vì sự giao cắt giữa các dòng và sự đổi hướng của chúng làm tăng xác suất tai nạn giao thông Tại chổ giao nhau có lưu lượng xe cao đến từ các hướng thường gây nên xung đột

1.4.2 Nhân tố ảnh hưởng gián tiếp đến công tác đảm bảo ATGT

<*> Yếu tố môi trường

Môi trường trong an toàn giao thông bao gồm: môi trường xã hội và môi trường tự nhiên:

- Môi trường xã hội là hệ thống các quy định của pháp luật về giao thông, việc phổ biến, tuyên truyền pháp luật đến người dân; ý thức chấp hành pháp luật về trật

tự an toàn giao thông của người tham gia giao thông;

- Môi trường tư nhiên là điều kiện về thời tiết, khí hậu (nhiệt độ, mưa bão, sương mù,…) điều kiện địa hình,…

<*> Yếu tố con người

Bao gồm người lái xe, người đi bộ, hành khách trên xe, cách tổ chức điều hành giao thông và những người sử dụng lòng, lề đường Yếu tố con người là rất quan trọng, là tác nhân gây tai nạn giao thông nhiều nhất Vì vậy, phải làm cho mọi thành phần tham gia giao thông có ý thức, nắm vững và chấp hành pháp luật giao thông

Trang 34

Về phía người lái xe, để có thể giảm nguy cơ tai nạn giao thông, phải đảm bảo

3 nội dung:

- Có trình độ tay nghề, kỹ năng lái xe;

- Có sức khỏe tốt và ổn định về tâm lý khi lái xe;

- Phải có đạo đức và kỷ luật nghề nghiệp cao

Tâm lý lái xe là một trong những nội dung quan trọng, quyết định đến độ tin cậy của lái xe Bên cạnh việc rèn luyện kỹ năng tay nghề và trau dồi đạo đức nghề nghiệp, người lái xe phải tìm mọi cách để đảm bảo sức khỏe và tâm lý tốt nhất khi lái xe Các cơ quan nhà nước phải có trách nhiệm tìm cách tạo mọi điều kiện tốt nhất để người lái xe có được tâm lý tốt nhất khi lái xe

Theo quan điểm của chúng tôi, hạn chế lớn nhất trong lĩnh vực bảo đảm trật tự ATGT từ phía những người thực thi công vụ, đã chưa kiên trì tham mưu cho các cấp có thẩm quyền tổ chức nghiên cứu dài hạn, toàn diện và sát thực tế các tác động

từ chính sách quốc gia, môi trường xã hội, môi trường giao thông, tâm lý người tham gia giao thông; nghiên cứu tác động khách quan khác đến từng nhóm người,…

từ đó đề ra những giải pháp sát thực và phù hợp đến từng đối tượng trong từng điều kiện cụ thể Chưa xây dựng cơ chế, chính sách nhằm khuyến khích, phát huy hiệu quả và ưu thế khai thác từng ngành vận tải, do vậy, chi phí xã hội cho vận tải còn cao và TNGT đường bộ xảy ra nhiều Ngoài hàng không và đường sắt, các ngành vận tải khác phát triển theo xu hướng xã hội hóa, tự phát, thiếu định hướng theo ưu thế của từng ngành, nên có hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh, nhất là trên đường bộ Người thực thi công vụ cũng chưa nghiên cứu sâu các yếu tố tác động đến điều kiện giao thông để xây dựng phương án tổ chức giao thông phù hợp cho từng thời kỳ trên từng tuyến, ở từng đô thị; hệ thống báo hiệu đường bộ chưa điều chỉnh kịp với điều kiện của kết cấu hạ tầng,… Đối với hình thức quản trị kinh doanh trong lĩnh vực vận tải đường bộ và đường thủy nội địa, phần lớn chủ sở hữu phương tiện vận tải đã “khoán trắng” doanh thu cho lái xe hoặc thuyền trưởng Vì thế, lái xe hoặc thuyền trưởng chỉ quan tâm việc tăng doanh thu là chính, ít chú trọng bảo đảm an toàn kỹ thuật của phương tiện Các chủ sở hữu phương tiện vận tải không mấy để ý tiêu chuẩn an toàn kỹ thuật của phương tiện, gần như không chủ phương tiện nào ban hành quy định nội bộ nhằm khuyến khích người trực tiếp điều

Trang 35

khiển phương tiện nâng cao tiêu chuẩn an toàn kỹ thuật, Thông thường, các chủ phương tiện chỉ quan tâm đến thời hạn "kiểm định" hoặc "đăng kiểm" phương tiện, không bảo dưỡng thường xuyên, nhằm bảo đảm an toàn kỹ thuật giữa hai kỳ "kiểm định" hoặc "đăng kiểm" Chỉ khi chủ sở hữu đồng thời là người trực tiếp điều khiển

và khai thác phương tiện vận tải thì chế độ bảo dưỡng kỹ thuật mới được thực hiện tương đối đầy đủ, tiêu chuẩn an toàn kỹ thuật của phương tiện mới được coi trọng hơn

1.5 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về trật tự, an toàn giao thông đường bộ của một số nước

1.5.1 Nhật Bản

Từ năm 1951 đến năm 1970, tại Nhật Bản, TNGT gia tăng tương tự Việt Nam những năm trước 2002 Đến năm 1970, Chính phủ Nhật bản nhận ra tính nghiêm trọng của vấn đề này và thực hiện kiên quyết nhiều giải pháp ATGT Từ năm 1970 đến 1978 đã giảm được cả số vụ và số người chết do TNGT Tuy nhiên, từ năm

1981 số vụ TNGT lại tiếp tục tăng nhanh (do số phương tiện tham gia giao thông tăng) Tuy nhiên, Nhật Bản đã thành công khi giảm được số người chết do TNGT xuống còn khoảng 50% so với năm 1970 Đây là cơ sở để chúng ta tính toán mục tiêu đến năm 2020

Số thống kê năm 2007 về TNGT tại quốc gia này cho thấy số người chết do TNGT trong vòng 24h (kể từ khi xảy ra tai nạn): 5.744 (giảm 9,6% so với 2006); số người chết do TNGT trong vòng 30 ngày (kể từ khi xảy ra tai nạn): 6.639 (giảm 8,7% so với 2006) và năm 2015, số người chết chỉ còn 40.000 người trên đất nước

140 triệu dân

Việc giảm được số người chết như vậy là do đã tăng cường công tác cấp cứu tai nạn tại các cơ sở y tế; giảm “say xỉn” khi lái xe và giảm chạy xe quá tốc độ cho phép Nguyên nhân của thành công đó là do Nhật đã thực hiện kiên quyết việc cưỡng chế ATGT, quy định bắt buộc phải thắt dây an toàn (đối với xe ô tô) và đội

mũ bảo hiểm khi tham gia giao thông (đối với xe mô tô) Hơn nữa, Nhật cũng đầu

tư mạnh vào việc bố trí hệ thống thông tin khi có TNGT, các trạm cấp cứu dọc đường giao thông và nâng cao năng lực cấp cứu nạn nhân của các bệnh viện Đó chính là những bài học kinh nghiệm mà Việt Nam chúng ta cần học trong hoạch

Trang 36

định chiến lược Cảnh sát Nhật Bản được giao nhiệm vụ sát hạch, cấp GPLX và quản lý lái xe sau đào tạo, cấp GPLX; tập huấn cho lái xe hàng năm

1.5.2 Trung Quốc

Giải quyết “điểm đen” là biện pháp trọng điểm, dựa trên thống kê TNGT để nghiên cứu tìm quy luật gây tai nạn và đề ra biện pháp khắc phục Năm 2002, Trung Quốc đã tổng hợp được 11.000 vụ TNGT và đã tập trung các biện pháp giải quyết được 1/3 số “điểm đen” trên Như tăng cường biển báo, hạn chế tốc độ, tổ chức giao thông, cải tạo kết cấu HTGT, có 11 tỉnh giảm được TNGT do có nhiều cố gắng khắc phục “điểm đen”

Cưỡng chế vi phạm, tập trung xử lý nghiêm các hành vi vi phạm chủ yếu là say rượu, không bằng lái, quá tốc độ, chở quá tải, quá số người quy định, đỗ dừng

xe trái phép làm cản trở giao thông, điều khiển mô tô không đội mũ bảo hiểm

Phát động tuyên truyền sâu rộng về ATGT như tuyên truyền thường xuyên, tăng kinh phí tuyên truyền, tăng cường phối hợp chặt chẽ với các ngành liên quan Phối hợp với Bộ Y tế làm các trạm cấp cứu TNGT trên các tuyến đường chính Phân tích những vụ TNGT đặc biệt nghiêm trọng để tìm những khâu bất hợp

lý trong quản lý, từ đó đề ra các biện pháp mới có hiệu quả hơn như quy định lái xe khách không được lái xe liên tục quá 3 giờ, 1 ngày không được lái xe quá 8 giờ, đường bộ dưới cấp 3 không được lái xe khách ban đêm, v.v

Tăng cường chỉ đạo giảm TNGT tại những khu vực trọng điểm

Bộ Công an làm nhiệm vụ sát hạch, cấp giấy phép lái xe cho công dân và quản

lý lái xe sau đào tạo, cấp giấy phép lái xe

1.5.3 Singapo

Về kết cấu hạ tầng và công tác tổ chức giao thông: kết cấu HTGT đường bộ

khá hoàn thiện, chủ yếu là đường đô thị Các trục chính vào trung tâm thành phố rộng, với nhiều làn xe và có giải phân cách cứng ở giữa Các tuyến phố hẹp hơn thì được phân luồng thành đường một chiều là chủ yếu Các giao cắt được giải quyết khác với mức cầu vượt 2 hoặc 3 tầng cho các phương tiện và người đi bộ thì đi bằng đường hầm hoặc cầu vượt; trên các tuyến đường cao tốc đều có rào sắt, không có nhà 2 bên đường và chỉ mở một số vị trí cho các phương tiện ở đường gom vào tuyến

Trang 37

Hệ thống báo hiệu của Singapo rất rõ ràng, chủ yếu là báo hiệu bằng các vạch sơn phản quang trên mặt đường (sơn bằng mũi tên, chỉ hướng tại giao cắt, vạch sơn vàng rích rắc bên vỉa hè báo hiệu các phương tiện cấm đỗ, cấm dừng, bó vỉa hè đều sơn trắng đen, v.v ) Trên tuyến rất ít biển báo hiệu chủ yếu là các biển báo chỉ dẫn (hình chữ nhật nền xanh chữ trắng) Tại Singapo có hệ thống tàu điện ngầm hoạt động ở khu trung tâm không có đường sắt

Tại các nút giao thông cùng mức họ đều đặt đèn tín hiệu để điều khiển giao thông từ trung tâm chỉ huy điều khiển giao thông của các cảnh sát, các hoạt động giao thông bằng các camera quan sát (phát hiện vi phạm, tai nạn, ùn tắc) Ngoài ra Singapo còn lắp đặt một số camera giả ở một số nút giao thông nhằm cảnh báo là có

sự giám sát ở mọi nơi

Trên các tuyến có xác định vị trí người đi bộ được qua đường họ lắp đèn tín hiệu giành cho người đi bộ Người đi bộ khi cần qua đường ấn nút đèn thì tín hiệu tuyến chính sẽ đèn đỏ, các phương tiện dừng lại nhường đường

Về phương tiện GTĐB: phương tiện tham gia giao thông chủ yếu là xe ô tô, số

xe mô tô, xe gắn máy chiếm tỷ lệ rất thấp, đặc biệt rất ít người đi bộ và chủ yếu là khách du lịch Tất cả xe ô tô hệ thống lái bố trí ở bên phải (tay lái nghịch) Việc đăng ký xe rất đơn giản và do các đại lý bán xe trực tiếp đi đăng ký tại cơ quan, người dân chỉ nộp tiền mua xe với đại lý và chờ được giao xe, giấy đăng ký xe Biển số xe gồm 3 chữ cái và các chữ số thứ tự đăng ký (từ 1 đến 4 chữ số bắt đầu từ

số 1 đến 9999), về màu sắc biển số: Biển nền đen chữ số màu trắng là biển thông dụng dùng chung cho các xe cơ quan nhà nước, doanh nghiệp, tư nhân; biển xe taxi,

xe vận tải hành khách nền màu trắng chữ số màu đen hoặc nền màu vàng chữ số màu đen Đặc biệt có loại xe biển màu đỏ, chữ màu trắng được lưu thông trên đường vào ngày Thứ Bảy và Chủ Nhật

Về ý thức chấp hành pháp luật về trật tự ATGT của người dân rất tốt, người ngồi trên xe ô tô đều thắt dây an toàn, đội mũ bảo hiểm (đối với người lái xe mô tô),

đi đúng phần đường, làn đường, duy trì khoảng cách các xe

Về hoạt động của CSGT: do kết cấu HTGT tốt và áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong tổ chức giao thông nên đã hạn chế sự có mặt của CSGT trên đường

Trang 38

Cảnh sát giao thông được giao nhiệm vụ sát hạch, cấp giấy phép lái xe cho công dân

và quản lý lái xe sau đào tạo, cấp giấy phép lái xe

1.5.4 Hàn Quốc

Dân số Hàn Quốc hiện nay khoảng 50 triệu người, riêng thủ đô Seoul khoảng

10 triệu người, khoảng 130 ngàn người Việt Nam đang sinh sống, học tập và làm việc tại Hàn Quốc Là đất nước có thu nhập cao so với các nước trong khu vực (khoảng 20.000 USD/người/năm);

Về số lượng phương tiện GTĐB khoảng 20 triệu xe trong đó ô tô chiếm 68% Mô tô 2-3 bánh chiếm 10%, xe bus loại lớn và vừa chiếm 6%, xe tải nặng chiếm 17%, v.v

66-Về TNGT hàng năm trên 5.000 người chết, từ năm 1972 đến nay TNGT giảm

từ 14.000 người xuống còn 5.000 nghìn người

Về hệ thống giao thông của Hàn Quốc: gồm đường bộ, đường sắt, đường tàu điện ngầm, đường thủy và đường hàng không Có 3.790 km đường cao tốc với mỗi bên từ 5

- 6 làn xe, tần suất 1,2 triệu phương tiện/ngày - đêm, có bố trí trung tâm quản lý đường cao tốc với hệ thống camera giám sát kết nối với trung tâm bởi 108 màn hình để theo dõi Các ngành có liên quan như CSGT, giao thông vận tải, y tế, thông tin, hạ tầng, v.v đều có mặt để theo dõi và khai thác tiện ích của hệ thống này

Về cưỡng chế vi phạm giao thông và sát hạch cấp giấy phép lái xe do lực lượng Cảnh sát đảm nhiệm, việc đào tạo lái xe được thực hiện rất kỹ, người học phải ăn, ở tập trung và do các trung tâm đảm nhiệm, tại trung tâm có bố trí mô hình lái xe điện tử, các loại sa hình kể cả đèo dốc và nước chảy

Quản lý nhà nước về GTVT, Chính phủ giao cho một bộ Đất đai, cơ sở hạ tầng và giao thông vận tải thống nhất quản lý

Ngoài ra các nước khác như Mỹ, liên bang Nga và các nước Bắc Âu cũng đều giao cho lực lượng CSGT làm nhiệm vụ sát hạch, cấp giấy phép lái xe cho công dân

1.5.5 Những giá trị tham khảo đối với Việt Nam

Từ những kinh nghiệm của một số nước ở trên, chúng tôi nhận thấy để vận dụng vào quản lý nhà nước về trật tự ATGT đường bộ hiện nay ở Việt Nam cần thực hiện những vấn đề sau:

Trang 39

Thứ nhất, xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu về TNGT, từ đó nghiên cứu và tìm

ra các giải pháp khả thi để khắc phục và có biện pháp trong quản lý nhà nước về trật

tự ATGT

Thứ hai, giải quyết từng bước và đi đến không còn một “điểm đen” nào trên

các tuyến đường bộ bằng cách tăng cường hệ thống biển báo, tổ chức lại giao thông, hạn chế tối đa các điểm giao cắt đồng mức, phân làn giành riêng cho xe mô tô, xe máy điện và các xe thô sơ với xe ô tô, cải tạo kết cấu HTGT, xây dựng các gờ giảm tốc nhằm hạn chế tốc độ khi qua các vị trí này

Thứ ba, kiểm tra, thanh tra, tuần tra, kiểm soát và xử lý vi phạm trật tự ATGT đường bộ, ngành công an cần tăng cường kiểm tra, kiểm soát các hành vi của

các lái xe; đề xuất tăng hình thức phạt đối với các hành vi cố ý vi phạm luật Thực hiện kiên quyết việc cưỡng chế vi phạm ATGT, tập trung xử lý nghiêm các hành vi

vi phạm chủ yếu là sử dụng rượu, bia; không có giấy phép lái xe, chạy quá tốc độ cho phép và lái xe lạng lách đánh võng khi điều khiển phương tiện Ngoài ra, cần phối hợp với các ngành có liên quan và ứng dụng công nghệ thông tin để quản lý các phương tiện GTĐB, trên cơ sở lắp đặt hệ thống camera tại các tuyến đường trọng yếu và căn cứ những hình ảnh đó để xử phạt nghiêm các trường hợp vi phạm

Thứ tư, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục, hướng dẫn pháp luật về trật tự ATGT

đường bộ, xây dựng các chương trình tuyên truyền lĩnh vực ATGT một cách sâu rộng, đi vào lòng người với nhiều hình thức, đồng thời tăng cường mối liên kết chặt chẽ giữa các ngành liên quan

Thứ năm, xây dựng, bố trí hệ thống thông tin khi có TNGT, xây dựng các trạm

cấp cứu TNGT, trạm dừng nghỉ trên các tuyến đường chính (cao tốc, quốc lộ, tỉnh lộ), nâng cao năng lực sơ cứu nạn nhân tại chỗ và cấp cứu tại các bệnh viện

Thứ sáu, cần giao cho lực lượng CSGT làm nhiệm vụ sát hạch, cấp giấy phép

lái xe và quản lý lái xe sau đào tạo và cấp giấy phép lái xe, khắc phục tình trạng vừa

ban hành quy chế đào tạo lái xe vừa sát hạch, cấp giấy phép lái xe và buông lỏng quản lý như hiện nay

Trang 40

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC ĐẢM BẢO AN TOÀN GIAO THÔNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH GIAI ĐOẠN 2016-

2018 2.1 Tổng quan về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội thành phố Hồ Chí Minh

Vai trò, vị trí của thành phố:

Thành phố Hồ Chí Minh là thành phố đông dân nhất, đồng thời cũng là trung tâm kinh tế, văn hóa, giáo dục quan trọng của Việt Nam Trên cơ sở diện tích nội thành hiện có, thì thành phố Hồ Chí Minh là đô thị lớn nhất Việt Nam Hiện nay, thành phố Hồ Chí Minh và thủ đô Hà Nội là đô thị loại đặc biệt của Việt Nam Nằm trong vùng chuyển tiếp giữa miền Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ, thành phố Hồ Chí Minh ngày nay bao gồm 19 quận và 5 huyện, tổng diện tích 2.095,06 km² Theo kết quả điều tra dân số chính thức vào thời điểm 0 giờ ngày 01 tháng 4 năm 2009 thì dân số thành phố là 7.162.864 người (chiếm 8,34% dân số Việt Nam), mật độ trung bình 3.419 người/km² Đến năm 2011 dân số thành phố tăng lên 7.521.138 người.Tuy nhiên nếu tính những người cư trú không đăng ký thì dân số thực tế của thành phố vượt trên 10 triệu người Giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam, Thành phố Hồ Chí Minh chiếm 21,3% tổng sản phẩm (GDP)

và 29,38% tổng thu ngân sách của cả nước Nhờ điều kiện tự nhiên thuận lợi, Thành phố Hồ Chí Minh trở thành một đầu mối giao thông quan trọng của Việt Nam

và Đông Nam Á, bao gồm cả đường bộ, đường sắt, đường thủy và đường không Vào năm 2007, thành phố đón khoảng 3 triệu khách du lịch quốc tế, tức 70% lượng khách vào Việt Nam Các lĩnh vực giáo dục, truyền thông, thể thao, giải trí, Thành phố Hồ Chí Minh đều giữ vai trò quan trọng bậc nhất

Đặc điểm địa lí

Thành phố Hồ Chí Minh có tọa độ 10°10' – 10°38' Bắc và 106°22' – 106°54' Đông, phía bắc giáp tỉnh Bình Dương, Tây Bắc giáp tỉnh Tây Ninh, Đông và Đông Bắc giáp tỉnh Đồng Nai, Đông Nam giáp tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Tây và Tây Nam giáp tỉnhLong An và Tiền Giang Nằm ở miền Nam Việt Nam, Thành phố Hồ Chí Minh cách Hà Nội 1.730 km theo đường bộ, trung tâm thành phố cách bờ biển Đông 50 km theo đường chim bay Với vị trí tâm điểm của khu vực Đông Nam Á, Thành phố Hồ Chí Minh là một đầu mối giao thông quan trọng về cả đường bộ,

Ngày đăng: 31/05/2023, 07:56

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w