- Trần Thị Minh Đức, Lê Thị Thanh Thủy 2010, “Thực trạng hoạt động cố vấn học tập ở các trường đại học” Cố vấn học tập trong các trường Đại học, Đại học Quốc Gia Hà Nội, Hà Nội - Nguyễ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIAO THÔNG VẬN TẢI
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG
ĐỀ TÀI: CÔNG TÁC CỐ VẤN HỌC TẬP
Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIAO THÔNG VẬN TẢI
HIỆN NAY - THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài 3
2.1 Các công trình ngoài nước 3
2.2 Các công trình trong nước 5
3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 6
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài 6
5 Phương pháp nghiên cứu của đề tài 6
6 Kết cấu của đề tài 7
NỘI DUNG 8
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CỐ VẤN HỌC TẬP TRONG TRƯỜNG ĐẠI HỌC 8
1.1 Khái niệm CVHT 8
1.2 Vai trò, nhiệm vụ của CVHT 8
1.3 Tham khảo mô hình CVHT một số trường đại học trên thế giới 13
1.4 Khảo sát mô hình CVHT ở một số trường đại học ở Việt Nam 25
Chương 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC CỐ VẤN HỌC TẬP Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIAO THÔNG VẬN TẢI HIỆN NAY 35
2.1 Vài nét về CVHT và công tác CVHT ở Trường Đại học Giao thông vận tải 35
2.2 Những kết quả đạt được trong công tác CVHT ở Trường Đại học Giao thông vận tải 39 2.3 Những hạn chế trong công tác CVHT ở Trường Đại học Giao thông vận tải 44
2.4 Nguyên nhân của kết quả và hạn chế trong công tác CVHT ở Trường Đại học Giao thông vận tải 51
Chương 3: NHỮNG GIẢI PHÁP CƠ BẢN ĐỂ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC CỐ VẤN HỌC TẬP Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIAO THÔNG VẬN TẢI 55
3.1 Giải pháp từ phía nhà trường và các đơn vị quản lý 55
3.2 Giải pháp từ phía CVHT 65
3.3 Giải pháp từ phía sinh viên 70
KẾT LUẬN 74
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 76
Trang 3DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Phương pháp đào tạo theo hệ thống tín chỉ hay gọi tắt là Hệ thống tín chỉ là một phương thức đào tạo tiên tiến trong nền giáo dục của nhiều quốc gia trên thế giới Nó còn được gọi là học chế tín chỉ để phân biệt với các phương pháp đào tạo ra đời trước nó như học chế niên chế, học chế học phần Trên thế giới phương pháp này được áp dụng ở cả giáo dục phổ thông và giáo dục đại học Hiện nay, ở nước ta hầu hết các trường đại học cũng đã áp dụng hình thức đào tạo theo học chế tín chỉ dưới những mức độ và cách làm khác
nhau Phương thức đào tạo này có một số ưu điểm nổi bật sau: Một là, lấy
người học làm trung tâm trong quá trình dạy và học, phát huy được tính chủ
động, sáng tạo của người học Hai là, có độ mềm dẻo và linh hoạt về môn
học Chương trình đào tạo được thiết kế theo phương thức tín chỉ bao gồm một hệ thống những môn học thuộc khối kiến thức chung, những môn học thuộc khối kiến thức chuyên ngành, những môn học thuộc khối kiến thức cận chuyên ngành Mỗi khối kiến thức đều có số lượng những môn học lớn hơn số lượng các môn học hay số lượng tín chỉ được yêu cầu; sinh viên có thể lựa chọn những môn học phù hợp với mình, để hoàn thành những yêu cầu cho
một văn bằng và để phục vụ cho nghề nghiệp tương lai của mình Ba là, có độ
mềm dẻo và linh hoạt về thời gian ra trường Sinh viên (SV) được cấp bằng khi đã tích lũy được đầy đủ số lượng tín chỉ do trường đại học quy định không nhất thiết phải học đủ năm quy định như hình thức niên chế trước đây
Có thể khẳng định ưu điểm nổi bật của phương thức đào tạo này là phát huy được tính chủ động của người học, người học có quyền lựa chọn cho mình ngành nghề, môn học, thời gian học… Nhưng cũng gặp phải khó khăn, thách thức là liệu SV có đủ kiến thức, kinh nghiệm để thiết kế cho mình một
kế hoạch học tập phù hợp với định hướng nghề nghiệp của mình hay không?
Ví dụ như: lựa chọn ngành học nào cho phù hợp? trong quá trình học đăng
ký học phần như thế nào cho phù hợp? một học kỳ có bao nhiêu học phần bắt buộc, học phần tự chọn? v.v do đó đặt ra yêu cầu cho mỗi trường đại học cần
phải có một đội ngũ làm nhiệm vụ tư vấn cho SV về quá trình học tập và rèn luyện trong suốt quá trình học ở bậc đại học, đội ngũ ấy chính là cố vấn học
Trang 5tập (CVHT) Mỗi CVHT là một chuyên gia tư vấn về học tập và việc làm cho
SV, đồng hành cùng SV trong suốt quá trình học tập CVHT cũng là một nhân
tố then chốt trong mối quan hệ nhà trường - SV – thị trường lao động CVHT
là người tư vấn cho SV về chọn khóa học, ngành học phù hợp với năng lực và
sở thích, tư vấn và xét duyệt kế hoạch học tập của SV từ khi bắt đầu nhập học, chuẩn bị vào giai đoạn chuyên ngành hay khi sắp kết thúc chương trình học CVHT là người định hướng, tư vấn, giám sát hoạt động học tập của SV, giúp cho SV nhận thức được tầm quan trọng của quy chế đào tạo, chương trình đào tạo, phương pháp học tập v.v từ đó, thiết lập chương trình đào tạo phù hợp với điều kiện về trình độ, vật chất, hoàn cảnh cá nhân và giúp SV tự tìm ra biện pháp khắc phục các khó khăn đầu tiên khi bước chân vào giảng đường cao đẳng, đại học cho đến khi kết thúc chương trình học bậc đại học Điều đó cho thấy khi thực hiện đào tạo theo hình thức tín chỉ thì vai trò của đội ngũ CVHT là vô cùng quan trọng
Trường Đại học Giao thông Vận tải là một trong những trường kỹ thuật đầu ngành của cả nước, trường có sứ mạng đào tạo cho ngành Giao thông vận tải và đất nước những cán bộ khoa học kỹ thuật có năng lực và lòng yêu nghề,
có khả năng sáng tạo và tính nhân văn Hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ và các hoạt động của khác của Nhà trường nhằm mang lại những lợi ích với chất lượng tốt nhất cho cộng đồng và xã hội Trường hướng tới mô hình đại học đa ngành về kỹ thuật, công nghệ và kinh tế; trở thành đại học trọng điểm, đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao đáp ứng nhu cầu phát triển bền vững ngành giao thông vận tải đất nước Do nắm bắt được xu thế đào tạo tiên tiến của các nước trên thế giới nên nhà trường cũng đã áp dụng hình thức đào tạo theo học chế tín chỉ đối với SV chính quy không lâu sau khi Bộ Giáo dục và đào tạo ra quyết định số 43/2007/QĐ-BGDĐT Đây là bước đi tất yếu không chỉ của nhà trường mà còn của các trường đại học, cao đẳng trong cả nước Ngay từ khi chuyển đổi từ phương thức đào tạo theo niên chế sang đào tạo theo tín chỉ Nhà trường cũng đã nhận thức được vị trí vai trò rất quan trọng của đội ngũ CVHT, từ đó quan tâm xây dựng, ban hành quy định về công tác CVHT Cho đến nay Nhà trường đã xây dựng được một đội ngũ CVHT tương đối ổn định, hoạt động CVHT cũng đã
Trang 6đi vào nề nếp, bước đầu cũng đã phát huy được vai trò của mình là tư vấn, hỗ trợ cho SV những vấn đề có liên quan đến học tập và rèn luyện Có thể khẳng định rằng, bên cạnh những thành tựu đã đạt được trong những năm qua thì hiện nay công tác CVHT ở trường Đại học GTVT còn gặp phải không ít những hạn chế, từ đó ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng đào tạo của nhà trường Chính vì vậy, trong thời gian tới để nâng cao hơn nữa chất lượng giáo dục, đào tạo của nhà trường thì cần phát huy tối đa hiệu quả của công tác CVHT
Xuất phát từ yêu cầu tất yếu nêu trên nên tác giả đã lựa chọn để tài:
“Công tác CVHT ở trường Đại học Giao thông vận tải hiện nay – Thực trạng và giải pháp”
2 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
2.1 Các công trình ngoài nước
Qua tìm hiểu và nghiên cứu, tác giả thấy cho đến nay đã có nhiều công trình ở nước ngoài nghiên cứu về vấn đề cố vấn học tập trong các trường đại học, cụ thể có một số công trình nổi bật như sau:
- Arthur Levine (1978), Handbook on Undergraduate Curriculum San
Francisso: Jossey Bass
- Blom J and Archer-Martin N (2008), Incorporating appreciative
inquiy into academic advising Retrieved April 3, 2008, fron:
http://www.psu.edu/dus/mentor/020829jb.htm
- Crookston B B (1994), A developmental view of academic advising
IS teaching NAC ADA Journal, 14 (2), 5-9
- Davis, B.Gross (1993), Tools for Teaching Jossey-Bass; San
- Himawan Gunadhi, Kwang - Hui Lim & Wee Yong Yeong, National
University of Singapore Planning Advisor on Curriculum and Enrollment
Trang 7- James P Lassegard (2007) The effects of peer tutoring between
domestic and international students: the tutor system at Japanese universities Higher Education Research & Development
- Kim B & Yang CY (2009), Evaluation standard for institutional
evaluation of open university Korea National Open University
- Lassegard, JP (2008), The effects of peer tutoring between domestic
and international students; the tutor system at Japanese universities, Higher
Education Research & Development, vol 27
- Lowenstein M (2005), If advising is teaching, what do advisors teach?
NACADA Journal, 25 (2), 65-73
- Margaret C King (2008), Organization of Academic Advising
Services, Academic Advising a comprehensive Handbook
- Mark Charles Matosian (1999) Academic advising: assessing
psycho-social development, advising theory and student satisfaction
- Melissa L Daller (1997), The use of developmetal advising models bu
professional academic advisor Thesis submitted to the Faculty of the
Virginia Polytechnic Institute and State University
- Roger Gabb (2007), Models of Academic Advising, victoria
University, www.vu.edu.au
- Tuaksubun, C & Mungsing S (2007), Design of an intelligent Tutoring System that comprises individual learning and collaborative problem-soiving modules’, in pp 18-19
- Virginia N Gordon, Wesley R Habley, Thomas J Grité and
Associates (2008) Academic Advising - A comprehensive Handbook, A
publication of National Academic Advising Association
Các công trình nêu trên trình bày một các có hệ thống về các vấn đề như: tư vấn và học thuật trong các trường đại học, công cụ, chương trình giảng dạy ở đại học, những tiêu chuẩn đánh giá ở các trường đại học Đề cập đến vai trò, chức năng, hoạt động của CVHT trong các trường đại học, mô hình CVHT trong các trường đại học
Trang 82.2 Các công trình trong nước
- Lê Thạc Cán (1989), “Một số đặc điểm giáo dục đại học ở Hoa Kỳ”,
Đại học giáo dục, Viện khoa học giáo dục số 17
- Trần Thị Minh Đức (2010), “Nghiên cứu một số mô hình CVHT trên thế giới và đề xuất mô hình hoạt động của CVHT trong đào tạo tín chỉ ở trường ĐH Việt Nam”, theo http://www.gdtd
- Trần Thị Minh Đức, Kiều Anh Tuấn (2012), “Cố vấn học tập trong
các trường đại học”, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Khoa học Xã hội và Nhân
văn, số 28
- Trần Thị Minh Đức, Lê Thị Thanh Thủy (2010), “Thực trạng hoạt
động cố vấn học tập ở các trường đại học” Cố vấn học tập trong các trường
Đại học, Đại học Quốc Gia Hà Nội, Hà Nội
- Nguyễn Duy Mộng Hà (2012), “Đẩy mạnh công tác CVHT và tư vấn sinh viên góp phần nâng cao chất lượng dạy và học trong trường ĐH theo học
chế tín chỉ”, Tạp chí Giáo dục, số 291
- Nguyễn Duy Mộng Hà (2012), Công tác cố vấn học tập trong trường
đại học, Tập san KHXH&NV, số 54
- Trần văn Hùng (2012), “ Vai trò của giáo viên cố vấn học tập trong
đào tạo theo học chế tín chỉ”, Báo Giáo dục và thời đại online
- Võ Thị Ngọc Lan, Hoàng Thị Thu Hiền, Nguyễn Thanh Thủy (2014),
Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả công tác cố vấn học tập và rèn luyện của đội ngũ cố vấn học tập ở Trường Đại học Tp Hồ Chí Minh Đề tài cấp
trường trọng điểm
- Huỳnh Xuân Nhựt (2011), Hướng dẫn xây dựng tư vấn học tập theo
học chế tín chỉ, Trung tâm Đánh giá và Kiểm định Chất lượng Giáo dục Viện
Nghiên cứu Giáo dục
- Nguyễn Thanh Sơn (2014), “Đổi mới công tác quản lý cố vấn học tập
tại các trường đại học ngoài công lập”, Bản tin khoa học giáo dục
- Nguyễn Thị Trang (2010), “Sử dụng kỹ năng tư vấn của cố vấn học
tập”, Cố vấn học tập trong các trường Đại học, Đại học Quốc Gia Hà Nội
- Kiều Anh Tuấn (2010), “Tăng cường năng lực cho cố vấn học tập”
Cố vấn học tập trong các trường Đại học, Đại học Quốc Gia Hà Nội, Hà Nội
Trang 9- Đoan Trúc (2008) Học chế tín chỉ, cả sinh viên và nhà trường đều đuối http://vietnamnet.vn/giaoduc/2008/10/809861/
- Nguyễn Văn Vân (2014), Báo cáo một số nội dung về công tác cố vấn
học tập theo học chế tín chỉ.www.hcmulaw.edu.vn/
- Viện Nghiên cứu Giáo dục, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh (2010), K yếu hội thảo khoa học “Vai trò cố vấn học tập trong đào tạo theo học chế tín chỉ tại các trường cao đẳng, đại học Việt Nam”
Các công trình nghiên cứu trong nước nêu trên cũng chủ yếu bàn về mô hình cố vấn học tập ở các trường đại học trên thế giới, mô hình hoạt động của CVHT trong các trường đại học ở Việt Nam Nêu rõ vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của CVHT, thực trạng công tác CVHT và đề xuất các giải pháp để nâng cao chất lượng hoạt động CVHT ở các trường đại học của Việt Nam
3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Từ sự phân tích, đánh giá thực trạng công tác CVHT ở Trường Đại học
Giao thông vận tải hiện nay, mục tiêu của đề tài là đề xuất được những giải pháp cơ bản nhằm nâng cao chất lượng công tác CVHT ở Trường Đại học Giao thông vận tải trong thời gian tới
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài
* Đối tượng nghiên cứu của đề tài
Đề tài tập trung nghiên cứu về CVHT, công tác CVHT và hoạt động học tập, rèn luyện của SV trường ĐHGTVT
* Phạm vi nghiên cứu của đề tài:
Đề tài nghiên cứu công tác CVHT ở trường ĐHGTVT từ khi áp dụng học chế tín chỉ cho đến nay
5 Phương pháp nghiên cứu của đề tài
* Các phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu lý thuyết như: Phương
pháp phân tích và tổng hợp; Phương pháp phân loại và hệ thống hóa; Phương pháp mô hình hóa; Phương pháp sơ đồ
* Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Trang 10Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu thực tiễn như: Phương
pháp quan sát; Phương pháp điều tra; Phương pháp phỏng vấn; Phương pháp phân tích và tổng kết kinh nghiệm
6 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, kết cấu của đề tài bao gồm 3 chương, 11 tiết
Trang 11NỘI DUNG Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CỐ VẤN HỌC TẬP
TRONG TRƯỜNG ĐẠI HỌC 1.1 Khái niệm CVHT
Hiện nay, qua tham khảo một số các trường đại học, cao đẳng trên phạm vi cả nước, đa số các trường sử dụng thuật ngữ “CVHT”, một số trường khác sử dụng thuật ngữ “Giáo viên chủ nhiệm”, thậm chí có trường giai đoạn đầu gọi là CVHT sau đó đổi thành GVCN Tuy có khác biệt về tên gọi, song chức năng, nhiệm vụ về cơ bản không khác nhau Thiết nghĩ, để phù hợp với Qui chế 43 của Bộ Giáo dục và đào tạo, trong Qui chế này nên sử dụng tên gọi là “CVHT”
Để hiểu rõ về CVHT, trước hết chúng ta cần hiểu khái niệm cố vấn Theo Từ điển tiếng Việt của GS Hoàng Phê (chủ biên, 1998) thì “Cố vấn là người thường xuyên được hỏi ý kiến để tham khảo công việc” Như vậy, cố vấn chính là người định hướng, dẫn đường, tư vấn để người được hỏi nên theo
đó mà hành động Trong giáo dục và đào tạo tại các trường đại học, cao đẳng, cho đến nay có nhiều quan niệm về CVHT, nhưng định nghĩa được nhiều
người thừa nhận thì: “CVHT là người tư vấn và hỗ trợ SV phát huy tối đa khả
năng học tập, lựa chọn học phần phù hợp để đáp ứng mục tiêu tốt nghiệp và khả năng tìm được việc làm thích hợp; theo dõi thành tích học tập của SV nhằm giúp SV điều chỉnh kịp thời hoặc đưa ra lựa chọn đúng trong quá trình học tập; Quản lý, hướng dẫn, chỉ đạo lớp được phân công phụ trách đảm bảo các quyền và nghĩa vụ của SV” CVHT là một chức danh trong hệ thống các
chức danh của cơ sở đào tạo theo học chế tín chỉ
1.2 Vai trò, nhiệm vụ của CVHT
1.2.1 Vai trò của CVHT
Học chế tín chỉ (phương thức đào tạo theo hình thức tín chỉ) là hình thức đào tạo SV phải tích lũy khối lượng kiến thức định sẵn, khi nào tích lũy xong mới tốt nghiệp ra trường Nét đặc trưng của hệ thống tín chỉ là kiến thức được cấu trúc thành các học phần Do đó, lớp học được tổ chức theo từng học phần; đầu mỗi học kỳ, SV được đăng ký các môn học thích hợp với năng lực
và hoàn cảnh của họ và phù hợp với quy định chung nhằm đạt được kiến thức
Trang 12theo một ngành chuyên môn chính nào đó theo sở thích và định hướng nghề nghiệp của SV sau này Ưu việt của hình thức đào tạo tín chỉ là SV được hoàn toàn chủ động lựa chọn trong việc tích lũy nhóm kiến thức phù hợp với định hướng nghề nghiệp, phù hợp năng lực, sở thích cá nhân và phù hợp với kế hoạch cá nhân Tuy nhiên, đào tạo theo hình thức tín chỉ cũng có những khiếm khuyết nhất định, cần nhận diện và tìm kiếm giải pháp khắc phục:
Thứ nhất: Nếu như trong hình thức đào tạo theo niên chế, nhà trường
thiết kế chương trình đào tạo và kế hoạch học tập cho SV, 01 thời khóa biểu chung cho tất cả SV của lớp chuyên ngành, còn trong học chế tín chỉ SV tự thiết kế cho mình kế hoạch học tập, tự xây dựng thời khóa biểu của riêng mình dựa vào chương trình đào tạo của nhà trường Vấn đề đặt ra là SV có đủ kiến thức, kinh nghiệm để thiết kế cho mình một kế hoạch học tập phù hợp với định hướng nghề nghiệp của mình hay không? Phần lớn SV hệ chính qui vừa tốt nghiệp THPT chưa hiểu biết nhiều về lĩnh vực mình sẽ học, việc học hỏi kinh nghiệm từ các thế hệ SV khóa trước cũng hạn chế, nhất là trong những năm đầu tiên áp dụng học chế tín chỉ Những điểm yếu đang lộ rõ tại nhiều trường trong quá trình thực hiện đào tạo theo học chế tín chỉ: Theo Hiệu trưởng Trường CĐ Công nghiệp Nam Định, ông Trần Ngọc Lợi, thì: “Hầu hết
SV đều gặp khó khăn khi lựa chọn và đăng ký học phần, do SV không biết nên đăng ký học phần nào trước, học phần nào sau” Theo ông, tính chủ động của SV rất thấp SV không quen làm việc độc lập, vẫn giữ tư duy dựa vào giáo viên chủ nhiệm và cán bộ lớp Vì vậy, nhiều SV không biết trường tổ chức những môn học nào, kế hoạch học tập ra sao…Bằng chứng là ĐH Bách khoa TP.HCM và ĐH Sư phạm Kỹ thuật TP.HCM khi mới đào tạo theo hệ tín chỉ cũng có gần 500 SV ở mỗi trường bị buộc thôi học [28]
Thứ hai: đào tạo theo hình thức niên chế, nhà trường quản lý SV theo
lớp, mỗi lớp có 01 GVCN Lớp là tổ chức tương đối chặt chẽ, thống nhất và bao quát toàn bộ các lĩnh vực từ học tập, thi cử, đến việc tham gia các phong trào, các hoạt động đoàn thể, hoạt động xã hội, kể cả sinh hoạt nội trú… Đơn
vị lớp trong hệ niên chế ổn định và xuyên suốt qua các năm học cho đến khi
SV ra trường Trong khi đó theo học chế tín chỉ, xuất hiện đồng thời hai hệ thống tổ chức (lớp theo khoa chuyên ngành và lớp theo mỗi học phần) Trong
Trang 13đó, lớp SV (lớp theo chuyên ngành) giữ cố định trong cả khóa học, nơi hình thành các tổ chức đoàn thể của SV, tổ chức đánh giá kết quả rèn luyện của
SV, song chỉ là danh nghĩa và hình thức bởi 90% thời gian ở trường SV lên lớp theo lớp học phần Trong khi đó lớp học phần là tạm thời, cấu trúc nội bộ lỏng lẻo, nơi thông báo các thông tin về học tập và tổ chức các hoạt động học tập liên quan đến học phần đó Vì vậy, việc theo dõi mức độ chuyên cần trong học tập và xét kết quả rèn luyện của SV là một vấn đề nan giải Hơn thế nữa, Học chế tín chỉ bỏ hẳn điều kiện dự thi, có nghĩa là SV không cần lên lớp Điều này sẽ tạo cho SV có ý thức kém trong học tập sẽ càng có thói quen chây lười dẫn đến có nhiều SV bị tạm ngưng hoặc buộc thôi học vì kết quả học tập kém cỏi
Phân tích trên đây cho thấy sự đa dạng trong công tác quản lý SV trong đào tạo tín chỉ Quản lý SV trong đào tạo theo tín chỉ có thể xem như
là quản lý “động” Việc quản lý theo kiểu “động“ là một khó khăn, thách thức và đòi hỏi phải thay đổi nhận thức và cách thức tổ chức đào tạo, cách thức quản lý SV
Từ hai lý do trên cho thấy CVHT có vai trò vô cùng quan trọng trong đào tạo theo học chế tín chỉ Quá trình học tập, rèn luyện của SV đạt kết quả tốt hay không phụ thuộc rất lớn vào vai trò định hướng, quản lý, giám sát của
CVHT Vai trò của CVHT thể hiện ở một số điểm sau:
1.2.1.1 Vai trò của CVHT đối với hoạt động học tập của sinh viên:
- CVHT là người giúp SV hiểu rõ ngành học mà SV đã lựa chọn, giúp
SV khẳng định lại quyết định lựa chọn ngành nghề mà trước đây do thiếu thông tin có thể họ chưa thật hiểu hết những ngành nghề mà họ đã chọn CVHT làm cho SV hiểu rõ hơn ngành nghề tương lai của mình, những đặc thù nghề nghiệp, cơ hội việc làm trong tương lai và cả những phẩm chất cần
có để hành nghề được thuận lợi nhất CVHT giúp SV ổn định tâm lý, chuẩn
bị tâm thế cho một chương trình học tập của SV trong trường đại học
- CVHT giúp SV xây dựng định hướng và kế hoạch học tập, trong đó
CVHT phải giúp SV hiểu rõ mục tiêu, nội dung, chương trình môn học, lộ trình học tập của các giai đoạn, các năm học CVHT tư vấn giúp SV hiểu rõ mục tiêu của từng môn học, những điều kiện tiên quyết khi lựa chọn môn học
Trang 14và xác định môn nào học trước, môn nào học sau và những nội dung cần giải quyết để hoàn thành tốt nhất môn học Nếu CVHT là giáo viên trực tiếp giảng dạy các môn học cụ thể của nhóm hay lớp mình làm cố vấn thì có thể tư vấn cho học sinh những vấn đề cụ thể hơn, như xác định những vấn đề nào cần giải quyết ở trên lớp, vấn đề nào làm việc theo nhóm, vấn đề nào SV tự học ở nhà và hướng dẫn những hoạt động tự học cho SV
- CVHT là người hướng dẫn SV lựa chọn và tìm kiếm các phương tiện
học tập, các nguồn tài liệu tham khảo phục vụ cho học tập một cách có hiệu quả Hơn ai hết CVHT cũng là các giảng viên nắm rõ tình hình trang thiết bị, phòng thí nghiệm và các nguồn tài liệu phục vụ học tập của cơ sở đào tạo rõ nhất, vì vậy họ sẽ là người tư vấn, hướng dẫn tốt nhất cho SV trong quá trình học tập ở trên lớp và tự học ở nhà Có vấn học tập giúp SV rút ngắn quá trình tìm kiếm tài liệu và lựa chọn những tài liệu đáng tin cậy nhất để học tập và tham khảo CVHT cũng có thể là người trọng tài phân xử những tranh luận của SV trong việc lựa chọn tài liệu, phương tiện học tập
- CVHT là người theo dõi sự tiến bộ trong quá trình học tập của SV và
kế hoạch, tiến độ học tập của SV CVHT không chỉ kiểm tra quá trình học tập
ở trên lớp mà còn kiểm tra quá trình tự học của SV, kịp thời uốn nắn những lệch lạc trong học tập và thực hiện kế hoạch, tiến độ học tập của SV, kịp thời đưa ra những lời khuyên bổ ích, giúp học sinh tự điều chỉnh những lệc lạc có thể xảy ra
1.2.1.2 Vai trò của CVHT đối với hoạt động rèn luyện của sinh viên
Các hoạt động văn nghệ, thể thao và hoạt động đoàn thể trong nhà trường cũng như ngoài xã hội giúp SV rèn luyện thân thể, tăng cường tính cộng đồng, tham gia hoạt động xã hội v.v CVHT giúp SV hiểu rõ mục tiêu của các hoạt động rèn luyện trong nhà trường, giúp họ có ý thức, lòng say mê trong việc tham gia các hoạt động chính trị- xã hội, văn hóa, văn nghệ, thể thao, các hoạt động hướng đến lợi ích cộng đồng, phòng chống tệ nạn xã hội, rèn luyện thành con người phát triển toàn diện cả về đức, trí, thể, mỹ
Ngoài công tác tư vấn về học tập, CVHT còn đảm nhiệm vai trò theo dõi, đôn đốc SV trong hoạt động rèn luyện ở nhà trường; kết hợp với ban cán
sự lớp, chi đoàn, hội SV đánh giá thành tích hoạt động, tình hình vi phạm
Trang 15qui chế của SV từ đó đánh giá kết quả rèn luyện của SV…
1.2.1.3 Vai trò của CVHT đối với SV trong các hoạt động khác
CVHT không chỉ là người tư vấn cho SV trong suốt quá trình học tập
mà còn là người đồng hành cùng SV, lắng nghe tâm tư tình cảm của SV hỗ trợ, giúp đỡ SV vượt qua những khó khăn trong cuộc sống SV Những khó khăn của SV có thể về tài chính, tình cảm và các kỹ năng xử lý tình huống trong môi trường sống mới Các bạn SV thường đến từ rất nhiều nơi, thời gian đầu tiên của cuộc sống xa nhà các bạn thường mong muốn được chia sẻ, đặc biệt là SV năm thứ nhất khi mới bước chân vào cổng trường đại học, môi trường mới lại không có sự quản lý của gia đình thì CVHT là người cần giám sát những hoạt động của SV
Qua hoạt động cố vấn cho các lớp SV, CVHT nắm bắt được tâm tư, nguyện vọng, tình cảm, năng lực cá nhân, hoàn cảnh gia đình, khó khăn, ước vọng của từng SV để từ đó có những đề xuất với nhà trường các biện pháp hỗ trợ cho các SV khó khăn cũng như biện pháp quản lý đối với SV bị chi phối bởi các vấn đề phức tạp của xã hội, giúp SV có những định hướng đúng đắn trong cuộc sống v.v
1.2.2 Nhiệm vụ của CVHT
Qua tham khảo các mô hình CVHT ở một số các trường đại học trên thế giới và Việt Nam theo quan điểm của tác giả CVHT có những nhiệm vụ
cơ bản sau:
Một là, tư vấn cho SV trong lĩnh vực học tập: CVHT có nhiệm vụ tìm
hiểu và hướng dẫn SV tìm hiểu chương trình học tập và cách lựa chọn môn học; Hướng dẫn cho SV đăng ký môn học; Theo dõi việc đăng ký học tập của
SV cho phù hợp với quy định của trường; Thảo luận và hướng dẫn SV cách chọn môn bắt buộc, môn tự chọn cho phù hợp với mục tiêu, yêu cầu đào tạo của nhà trường; Hướng dẫn SV về phương pháp học tập, nghiên cứu và thường xuyên theo dõi kết quả học tập của SV; Tư vấn đối với việc đăng ký môn học của SV nếu phát hiện thấy có môn học chưa hợp lý; Nhắc nhở SV khi thấy kết quả học tập của họ giảm sút; Hướng dẫn và giúp đỡ SV giải quyết những khó khăn vướng mắc trong học tập; Giải thích cho SV về cách
Trang 16tính điểm trung bình chung của mình và hướng dẫn SV về cách học tập, nghiên cứu nâng cao trình độ
Hai là, CVHT có nhiệm vụ tư vấn cho SV trong các lĩnh vực như:
Hướng dẫn SV thực hiện các quy định về sinh hoạt trong trường cũng như trong tập thể xung quanh; Bàn bạc và góp ý về các vấn đề cá nhân như: vệ sinh, sức khỏe, tinh thần và thể lực; Bàn bạc và góp ý về các vấn đề xã hội như rèn luyện bản thân, kết bạn, tham gia các hoạt động xã hội, cần tránh những tệ nạn xã hội nơi môi trường đô thị…; Trao đổi, góp ý về việc phát triển nhân cách, hành vi và đạo đức; Trao đổi và đóng góp các ý kiến về các vấn đề nghề nghiệp như: đặc tính nghề nghiệp, tình trạng, môi trường làm việc; Hướng dẫn hoặc tổ chức cho SV tham gia các hoạt động ngoại khóa, các câu lạc bộ, các phong trào tình nguyện…
Ba là CVHT cần thực hiện các nhiệm vụ khác như: Xem xét các yêu
cầu của SV để giải quyết đúng theo quy định; Phối hợp với các giảng viên, các đơn vị công tác liên quan, nhất là phòng Công tác SV, phòng Đào tạo để giúp đỡ và tạo điều kiện cho SV học tập; Quy định thời gian tiếp SV để họ có thể thường xuyên đến nhận ý kiến tư vấn; Thu thập tư liệu về các SV mà mình phụ trách để lập hồ sơ về họ; Xây dựng mối quan hệ thân thiện và hiểu biết lẫn nhau giữa SV, giảng viên, tập thể và nhà trường; Viết giấy giới thiệu cho SV nếu họ có yêu cầu đi gặp những người khác; Báo cáo lại cho Ban Giám hiệu và Hội đồng CVHT tình hình về các SV mà mình phụ trách; Thông báo cho gia đình SV về kết quả học tập rèn luyện của SV; Phối hợp công tác với Hội đồng CVHT; Giải thích cho SV rõ về vai trò, nhiệm vụ của sinh viên đối với CVHT
1.3 Tham khảo mô hình CVHT một số trường đại học trên thế giới
1.3.1 Mô hình CVHT ở Mỹ và một số nước châu Âu
Có nhiều mô hình CVHT khác nhau, tùy theo quan điểm của các nhà nghiên cứu Trên thế giới, có một số mô hình CVHT trong các trường ĐH đã được áp dụng nhằm có những tác động tích cực đến việc học tập của người học Trong khuôn khổ của đề tài này, tác giả tập trung làm rõ một số mô hình CVHT theo quan điểm tổ chức quản lý Các mô hình CVHT này được áp dụng trong nhiều trường ĐH trên thế giới (chủ yếu trong các trường ĐH ở Mỹ)
Trang 17Pardee (2000), Habley (1983, 2004) nghiên cứu hoạt động của CVHT trong các trường ĐH chủ yếu ở Mỹ đã phân loại 3 đạng mô hình CVHT như sau: Mô hình phi tập trung (mô hình có sự phân cấp), Mô hình tập trung và
Mô hình chia sẻ [43],[46] Trong mô hình có sự phân cấp, hoạt động CVHT được thực hiện bởi các giảng viên và nhân viên trong các khoa, ở mô hình tập trung, toàn bộ hoạt động CVHT được diễn ra ở các đơn vị, trung tâm có sự quản lý, như các trung tâm tham vấn và cố vấn với một giám đốc và nhân viên cùng làm việc trong một tòa nhà/văn phòng Trong mô hình chia sẻ, hoạt động CVHT được chia sẻ giữa những đơn vị trung tâm và các giảng viên hoặc nhân viên ở các khoa Trong mỗi dạng thức mô hình có thể phân chia nhiều kiểu mô hình khác nhau:
1.3.1.1 Mô hình phi tập trung (mô hình phân cấp)
Trong mô hình phi tập trung, hoạt động CVHT được thực hiện bởi các giảng viên và nhân viên trong các khoa Dạng mô hình phi tập trung được nhắc đến nhiều là mô hình chỉ có một thành phần - đó là khoa và mô hình vệ tinh
- Mô hình một giảng viên (Faculty - Only model)
Đây là mô hình Một giảng viên- SV CVHT là giảng viên trong khoa Khoa, trường không có đơn vị tư vấn riêng Mỗi CVHT (thường là giáo viên kiêm nhiệm) được phân một lượng SV nhất định và chịu trách nhiệm với khoa
về hoạt động cố vấn của mình Với mô hình này, CVHT thường gần gũi với
SV, nắm bắt tình hình SV tốt Tuy nhiên, chất lượng tư vấn thường không đồng nhất, và những vấn đề trọng tâm của cuộc tư vấn thường bị thu hẹp lại [46]
Theo đánh giá của Tổ chức khảo thí các trường ĐH Mỹ (American College Testing’s- ATC’s), mô hình Một giảng viên- SV này chiếm 25% trong các trường ĐH ở Mỹ
- Mô hình vệ tinh (Satellite model)
Ở mô hình này, mỗi khoa hoặc trường thiết lập, duy trì và kiểm soát một cách thức tư vấn riêng để hợp với cơ sở đào tạo của mình Ví dụ, họ có thể thành lập nhiều đơn vị tư vấn riêng lẻ ngay trong một trường
Mô hình vệ tinh thể hiện sự tôn trọng quyền tự chủ của các khoa, gần gũi với lớp môn học và nó có thể giúp cá nhân hóa người học Tuy nhiên sẽ
Trang 18tốn kém về kinh phí và có khó khăn trong quá trình chuyển đổi SV giữa các khóa học, giữa các khoa và có sự khác biệt về chất lượng dịch vụ
1.3.1.2 Mô hình tập trung (Centralised model)
Ở Mô hình tập trung, còn gọi là Mô hình khép kín (self-contained model), một đội ngũ CVHT sẽ tư vấn cho SV trong suốt quá trình học tập tại trường, từ khi bắt đầu nhập học cho tới lúc ra trường Với cách thức này thì ở các khoa, trường không có CVHT nữa Việc tư vấn cho tất cả SV (từ tuyển sinh đầu vào đến việc bắt đầu khóa học) được thực hiện bởi nhân viên của trung tâm hay văn phòng cố vấn Ưu điểm của mô hình này là các nhân viên được đào tạo bài bản, đảm bảo được chất lượng tư vấn, có sự giám hộ về các dịch vụ tư vấn và có các dịch vụ riêng cho những người có nhu cầu đặc biệt Tuy nhiên, nhược điểm cơ bản là tốn kém về chi phí cho nhân viên và hoạt động, tương tác giữa giáo viên và SV bị giảm [46]
Trong mô hình tập trung, toàn bộ hoạt động CVHT từ định hướng tới khi kết thúc khóa học đều diễn ra ở trung tâm tham vấn hay văn phòng cố vấn Các nhân viên tư vấn ở đây có thể là cố vấn làm việc toàn thời gian hoặc bán thời gian, là các nhà tham vấn, các giảng viên, các thực tập sinh, hay SV
Trong các trung tâm hay văn phòng này thường có một giám đốc giám sát toàn bộ hoạt động của CVHT Có 14% các trường trong nghiên cứu của ACT’s sử dụng mô hình này Đây là mô hình phổ biến thứ hai ở các trường
ĐH công lập Điểm mạnh của mô hình này là có các nhà cố vấn được đào tạo,
có địa điểm văn phòng làm việc được đặt tại cơ sở đào tạo, CVHT có thể đễ dàng giúp đỡ với SV một cách thiết thực
1.3.1.3 Mô hình chia sẻ (Shared models)
Trong mô hình chia sẻ, hoạt động CVHT được chia sẻ giữa những đơn
vị trung tâm và các giảng viên hoặc nhân viên ở các khoa Một trong những
mô hình đầu tiên của nhóm mô hình chia sẻ là mô hình bổ sung
- Mô hình bổ sung (Supplementary model)
Hệ thống CVHT được thiết lập ở cấp Khoa Tất cả các SV đều có các CVHT là giảng viên trong khoa Ngoài ra, SV còn có thêm nhân viên ở văn phòng cố vấn, trợ giúp cho giảng viên Tuy nhiên, quyết định về chương trình học của SV sẽ do các CVHT của khoa/ trường đảm nhiệm Người trợ giúp
Trang 19giảng viên có thể đảm nhận thực hiện một số công việc như: cung cấp thông tin nói chung và giới thiệu về khóa học cho SV, cung cấp các nguồn lực, tham gia xây dựng sổ tay CVHT
- Mô hình phân tách (Split model)
Ở mô hình này, việc tư vấn cho SV được phân ra theo các nhóm SV cụ thể: nhóm SV mới nhập trường, nhóm SV chưa có quyết định quá trình học tập của mình, nhóm SV dự bị, nhóm liên thông, nhóm SV có nguy cơ Các nhóm này sẽ được hỗ trợ riêng tại văn phòng cố vấn chuyên trách Tất cả các
SV sau khi lựa chọn khóa học sẽ được các CVHT là giảng viên, là CVHT chuyên nghiệp, thực tập sinh hoặc SV đồng đẳng tại khoa trợ giúp
- Mô hình kép (dual model )
Mỗi SV có hai CVHT: CVHT tại khoa giúp SV giải quyết các vấn đề thuộc khóa học, chương trình học tập và CVHT thuộc văn phòng CVHT trường giúp SV về các yêu cầu chung, các chính sách và thủ tục liên quan đến học tập và cuộc sống ĐH Văn phòng cố vấn có toàn bộ trách nhiệm tư vấn cho toàn sv Có 5% các trường trong nghiên cứu của ACT’S áp dụng mô hình này
- Mô hình tổng hợp (total intake model)
Tất cả các SV khi mới vào trường sẽ được tư vấn tại phòng tư vấn dành riêng cho sv năm thứ nhất, với các nhân viên là các cố vấn chuyên nghiệp, các nhà tham vấn, giảng viên, các thực tập sinh hoặc các SV đồng đẳng Những cán bộ CVHT ở phòng tư vấn cho năm đầu tiên, ngoài nhiệm vụ cố vấn, họ còn là giảng viên và có thể dạy một số chuyên đề cho sv năm đầu tiên Sau khi SV đạt được những yêu cầu của học kỳ ban đầu (như đăng ký ban đầu, đạt được một điểm số trung bình nhất định ), SV sẽ chuyển về các Khoa/chuyên ngành mà họ đăng ký Tại đây, SV sẽ được các CVHT khoa tư vấn Có 6% các trường trong nghiên cứu của ACT’s áp dụng mô hình này
Nghiên cứu của ACT’s về sự thay đổi các dạng thức mô hình CVHT, từ góc độ tổ chức, trong các năm 1987 và 2003 ở các trường ĐH của Mỹ cho thấy có sự dao động, thay đổi trong hình thức tư vấn cho SV (xem bảng 1) Năm 2003 báo cáo khảo sát quốc gia (Hoa Kỳ) cho thấy có 7% các chương trình tư vấn ở trường cao đẳng cộng đồng và 28% ở các trường ĐH sử đụng
SV làm người tư vấn
Trang 20Tình trạng ĐH cộng đồng 2năm ĐH công 4 năm
(Nguồn: Habley, 2004; dẫn theo Roger Gabb, 2007)
1.3.1.4 Mô hình cố vấn SV (Student Advisor model)
Ngoài 7 mô hình được Habley giới thiệu ở trên, hình thức cố vấn bởi các đồng đẳng SV - SV là CVHT cũng được áp dụng trong một sổ các trường
ĐH ở Mỹ Nhiều trường cao đẳng và ĐH giới thiệu hình thức tư vấn đồng đẳng vào các thời điểm khi số lượng đơn đăng ký tại các trung tâm tư vấn quả tải Ví dụ như ĐH Temple ở Philadelphia, sử dụng đồng đẳng viên như là một phần thiết yếu của một chiến lược phối hợp toàn trường ĐH để đối phó với nhu cầu cao điểm vào thời điểm đăng ký/ghi danh
Trường ĐH Sussex (Anh) cũng đã áp dụng một mô hình CVHT với sự giúp đỡ của SV - Mô hình cố vấn SV Bộ phận dịch vụ hỗ trợ sv của trường tuyển dụng khoảng từ 2 đến 5 SV năm trên có kết quả học tập tốt, có thể đáp ứng được nhiệm vụ CVHT để hỗ trợ cho các SV ban đầu Với mô hình này, SV sẽ được giới thiệu đến các CVHT SV, Khi phát sinh những vấn đề mới, các cố vấn
SV sẽ chuyển vấn đề của SV lên cố vấn cấp cao hơn - người giám sát [46]
Như vậy với hình thức tư vấn này, SV mới nhập trường sẽ được tư vấn bởi các cố vấn đồng đẳng trước khi được giới thiệu đến CVHT chuyên nghiệp Nhiệm vụ chính của cố vấn SV là cung cấp lời khuyên và hướng dẫn
Trang 21cho SV về một loạt các vấn đề cá nhân, tài chính và học tập Ngoài việc cung cấp dịch vụ tư vấn, các cố vấn có một số nhiệm vụ khác, đó là theo dõi sự có mặt của SV, quản lý việc thôi học tạm thời của SV, duy trì liên lạc với SV về việc nghỉ học, ký tắt vào đơn xin học bổng từ Quỹ học bổng, giữ liên lạc để sắp xếp cho SV khuyết tật và giám sát chương trình tư vấn của trường, cố vấn
SV là điểm đến đầu tiên cho bất kỳ SV nào cần tư vấn hoặc hỗ trợ Công việc này được hiểu là sự chuyên tiếp, trung gian giữa SV và CVHT Họ cũng sẽ rất vui vẻ trả lời bất kỳ thắc mắc nào của SV liên quan đến các dịch vụ SV và các thủ tục, Họ sẽ thảo luận với bạn bất kỳ vấn đề gì mà SV quan tâm liên quan đến mỗi SV [46]
Năm 2003 báo cáo khảo sát quốc gia cho thấy 7% các chương trình tư vấn ở trường cao đẳng cộng đồng và 28% ở các truờng ĐH sử dụng SV làm người tư vấn
Koring và Campbell đã mô tả bốn loại hình chương trình cố vấn đồng đẳng viên Đó là:
Một cố vấn đồng đẳng được kết hợp với một CVHT của khoa
Một cố vấn đồng đẳng được kết hợp với một nhân viên tư vấn chuyên nghiệp
Một cố vấn đồng đẳng là trợ ly chuyên môn trong một đơn vị tư vấn tập trung
Cố vấn đồng đẳng là trợ lý trong khu ký túc xá [46]
Nhiều trường cao đẳng và ĐH giới thiệu hình thức tư vấn đồng đẳng vào các thời điểm khi số lượng đơn đăng ký xin tư vấn tại các trung tâm tư vấn quá tải Ví dụ như ĐH Temple ờ Philadelphia, sử đụng đồng đẳng viên như là một phần thiết yếu của một chiến lược phối hợp toàn trường ĐH để đối phó với nhu cầu cao điểm vào thời điểm đăng ký / ghi danh
Trong cuốn “Làm gì để duy trì SV”, Habley và McClanahan (2004)
điểm qua thông tin về những thực hành CVHT thành công dựa trên khảo sát quốc gia cùa ACT’S trên hơn 1000 trường cao đẳng Họ thấy rằng, CVHT ở các trường có can thiệp đến SV thì đều có tác động lớn đến SV theo hướng tích cực ở hầu hết các dạng trường Chất lượng của tư vấn học tập thường xác
Trang 22định bởi chất lượng của các mối liên hệ tồn tại giữa các SV và các cố vấn của
họ, dù bất kể CVHT hoạt động theo mô hình trợ giúp nào
So sánh tính chất hoạt động trong các các mô hình CVHT ở Anh và ở
Mỹ Ở Anh hình thức tham gia tư vấn là tự nguyện Ở hầu hết các trường ĐH
và cao đẳng, hình thức CVHT hoặc giám hộ học tập cho SV là một hình thức
tự nguyện, SV có quyền chọn tham gia hoặc không tham gia dịch vụ trên Về phương pháp tiếp cận, các trường sử dụng phương pháp tiếp cận đời sống - học tập (pastoral- academic approaeh) tổng hợp Theo thông lệ thì người giám
hộ cá nhân sẽ đảm nhiệm vai trò là người giám sát và giúp đỡ SV trong việc học tập cũng như trong các hoạt động sống khác Họ được kỳ vọng là sẽ có thể hỗ trợ cho sự phát triển của SV về khía cạnh học tập cũng như nhân cách Thông thường, hoạt động CVHT sẽ được chịu trách nhiệm bởi khoa/trường
Vì vậy việc vận hành hệ thống CVHT này như thế nào là tùy thuộc vào sự sắp xếp của khoa/trường đó CVHT không có hoạt động hỗ trợ đặc biệt cho các nhóm SV khác nhau
Trong khi đó ở Mỹ (cùng như ở Úc), hình thức tham gia tư vấn của SV
là bắt buộc Tại các trường cao đẳng cộng đồng và các trường ĐH của Mỹ,
SV có nghĩa vụ tham gia các buổi hoạt động CVHT, ít nhất là đối với việc đưa ra một số quyết định học tập Chính điều này phản ánh một sự ngầm định rằng, có nhiều SV rất cần được tư vấn và hỗ trợ nhưng lại không có khả năng tìm kiếm sự giúp đỡ nếu đề tự họ yêu cầu Phương pháp tiếp cận của CVHT
là lấy SV làm trung tâm phát triển Hầu hết các CVHT ở Mỹ đã thoát ra khỏi cách tiếp cận cung cấp thông tin cho SV, mà sử dụng một cách tiếp cận khác, trong đó CVHT sẽ làm việc với SV để giúp họ vạch rõ và thực hiện để đạt được kế hoạch học tập của họ Đây là một hình thức chuyển đổi từ chỗ là người quản lý đơn thuần đến vai trò là một phần trong quá trình học tập của
SV Hình thức tổ chức kết hợp giữa các chuyên viên tư vấn chuyên nghiệp và các CVHT thuộc các khoa Hầu như các trường cao đẳng và ĐH ở Hoa Kỳ sử dụng hình thức kết hợp các chuyên viên cố vấn chuyên nghiệp và các cán bộ
là giảng viên mà việc hoạt động CVHT chiếm tối đa 10% khối lượng công việc của họ Việc kết hợp này tạo nên sự cân bằng giữa các kiến thức chung
và các kỹ năng nâng cao của chuyên viên tư vấn với những hiểu biết về
Trang 23phương pháp học tập (discipline - based knowledge) và các kỹ năng tư vấn phong phú của CVHT Chuyên gia cố vấn chuyên nghiệp được xem như là một cầu nối vô tư, làm việc dựa trên quyền lợi của SV mà họ tư vấn
Một đặc điểm của hệ thống CVHT ở Hoa Kỳ là họ cung cấp cả các dịch
vụ hỗ trợ tư vấn chuyên sâu, thường là thông qua một trung tâm tư vấn tập trung Các đối tượng làm việc của họ là các nhóm SV có nguy cơ cao và các
SV này được chỉ định phải tham gia bắt buộc một cách nghiêm túc Việc xác định nhóm SV nào là có nguy cơ còn tùy thuộc vào từng trường ĐH Tuy nhiên, các nhóm có thể là: SV năm thứ nhất, SV chuyển đổi liên thông, các
SV không chính thức (undecided or undeclared student), SV chưa được chuẩn
bị kỹ lưỡng (under- prepared student), SV chịu các hình thức quản chế, SV thuộc nhóm dân tộc thiểu số, SV là vận động viên Nhấn mạnh vào việc giữ chân SV với trường ĐH Sự phát triển của ngành “công nghiệp” tư vấn của nền giáo dục ĐH Mỹ được mở ra với sự quan tâm lớn hưởng tới cải thiện tỉ lệ
SV duy trì tiếp tục quá trình học của mình tại trường ĐH, đặc biệt là tỉ lệ SV tiếp tục theo học năm thứ nhất ở cả các trường cao đẳng cộng đồng và các trường ĐH Điều này được phản ánh trong các chỉ báo sử dụng trong các chương trình cố vấn bao gồm tỉ lệ SV tiếp tục theo học và các chỉ số về sự tham dự của SV
1.3.2 Mô hình CVHT tại một số nước châu Á
Các tài liệu nghiên cứu về CVHT ở châu Á mà tác giả thu nhận được
là khá ít ỏi so với những nghiên cứu ở Hoa Kỳ và chúng không cho thấy rõ các xu hướng nghiên cứu về CVHT ở các nước này, Dựa trên những số liệu
có được về hoạt động của CVHT của các nước ở châu Á tác giả đã tìm hiểu hoạt động CVHT tại các trường ĐH ở Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan, Malaysia và Singapore
Nhật Bản, CVHT của trường ĐH, chủ yếu là CVHT cho SV quốc tế là người quyết định tât cả các nội dung trợ giúp và chịu trách nhiệm tuyển chọn các trợ giáo (tutor) - Đó là những SV, học viên cao học hoặc nghiên cứu sinh trong trường Những trợ giáo này có nhiệm vụ giúp đỡ SV quốc tế làm quen
với môi trường học mới, trợ giúp ngôn ngữ, các vấn đề trong học tập cũng
như những khó khăn gặp phải trong cuộc sống hằng ngày Ngoài ra, một số
Trang 24trợ giáo còn trợ giúp SV về mặt tâm lý
Hệ thống trợ giáo (Tutor sytem) - được thành lập hơn 30 năm qua và
đã trở thành một phần quan trọng trong giáo dục và hỗ trợ SV quốc tế ở hầu hết các trường ĐH công lập và một số trường tư thục ở Nhật Bản Hệ thống trợ giáo trong các trường công lập Nhật Bản được thực hiện ở cấp trường hoặc cấp khoa Một số trường áp dụng các phòng trợ giáo với lịch làm việc định kỳ mà SV có thể tới khi cần trợ giúp Tuy nhiên, các nghiên cứu về CVHT ở Nhật Bản đã chỉ ra rằng, hệ thống trợ giáo gặp phải một số hạn chế như: 1/ Không rõ các nhiệm vụ của người trợ giáo (Ninomiya, Ishida&Takeshima 1995); 2/ Có vấn đề về hướng dẫn (Murata, 1999); 3/ ít tập trung vào vấn đề giảng dạy và cố vấn (Lassegard:2006) [41, tr359]
Lassegard cho rằng, mặc dù nhiều khoa đã cố gắng cải thiện hệ thống giáo dục và hỗ trợ SV quốc tế nhưng việc quản lý hệ thống trợ giáo ở các trường ĐH công lập Nhật Bản có rất ít sự thay đổi căn bản Sự yếu kém về mặt quản lý làm cho các vấn đề kể trên của hệ thống trợ giáo trong các trường ĐH Nhật Bản trở nên nghiêm trọng hơn Chẳng hạn việc thiếu sự định hướng, hướng dẫn hoặc theo dõi đội ngũ trợ giáo là những rào cản chính đối với một hệ thống trợ giáo hiệu quả và có trách nhiệm hơn [41]
trường ĐH Mở Quốc gia Hàn Quốc cung cấp dịch vụ tư vấn học tập online cho SV song song với các văn phòng tư vấn trong trường, nơi SV khi có nhu cầu tư vấn thì sẽ được trợ giúp bởi các chuyên gia tư vấn Ngoài ra, hệ thống
hỗ trợ SV còn được thông qua các trợ giáo và hệ thống CVHT cũng được vận hành nhằm giúp đỡ SV trong học tập và giảm t lệ bỏ học ở SV [40]
thuật, nhiều trường học ở Thái Lan đã phát triển hệ thống thông tin và dịch
vụ mang tính đột phá nhằm thúc đẩy hiệu quả và mối quan hệ với SV Một trong những sáng kiên này là Hệ thống Gợi ý SV (Student Recommendation System) - SRM SRM được hiểu là “một quá trình dựa trên kiến thức được đòi hỏi ở SV với mục đích chính là giữ được mối quan hệ khăng khít và hiệu quả giữa SV và trường ĐH thông qua việc giám sát chặt chẽ các hoạt động học tập trên con đường học thuật của họ” Hệ thống này có thể được sử dụng
Trang 25để cung cấp những lời khuyên về khoá học và tham vấn cho SV năm thứ nhất
để đạt được sự kết hợp tốt hơn giữa năng lực của SV và việc hoàn thành thành công khoá học
Trên thực tế, các giảng viên có thể không có đủ thời gian để tư vấn cho
SV do khối lượng công việc nhiều và không có công cụ thích hợp để hỗ trợ
SV nên hệ thống dịch vụ này ở trường ĐH thường được cung cấp bởi các nhà tham vấn chuyên nghiệp hoặc cố vấn có nhiều năm kinh nghiệm làm việc trong tổ chức hoặc lĩnh vực giáo dục ĐH Tuy nhiên, với khối lượng SV ngày càng tăng và các lựa chọn ngày càng được mở rộng, khối lượng công việc đối với các cố vấn này ngày càng nặng và trở nên không thể đảm đương được
Rõ ràng rằng một số hình thức của hệ thống điện tử thông minh sẽ có ích trong việc trợ giúp nhóm cố vấn này hoàn thành nhiệm vụ
Ví dụ, trường ĐH Sripatum, Thái Lan, theo Tuaksubun, C & Mungsing (2007), đã phát triển một hệ thống trợ giúp học tập điện tử thông minh (Intelligent Tutoring System - ITS) dựa vào phương pháp tiếp cận học tập tập trung vào SV nhằm phục vụ các nhu cầu khác nhau và thúc đẩy các khả năng tiềm tàng của người học Hệ thống này bao gồm mô đun về học tập
cá nhân và mô đun về cách thức giải quyết vấn đề hợp tác Mô đun hỗ trợ học tập cá nhân được thiết kế để cung cấp những bài học thích hợp cho cá nhân người học căn cứ vào kiến thức nền tảng, hứng thú và phong cách học tập trước khi sử dụng hệ thống trợ giúp học tập Một phần mềm được sử dụng để giám sát và xử lý các tham số để sắp xếp các chủ đề học tập và các
bài tập cho cá nhân Mô đun hỗ trợ học tập dựa trên các vấn đề hợp tác được thiết kế để giới thiệu các vấn đề trợ giúp và cung cấp phương tiện trợ giúp
người học với các thông tin bổ ích và những lời khuyên cho việc giải quyết vấn đề Người trợ giáo sẽ đưa ra biện pháp khắc phục và lời khuyên khi người học gặp khó khãn trong quá trình học tập Hệ thống cũng được thiết kế
để người học có thể chuyển giữa các mô đun trong suốt buổi trợ giúp bất kỳ lúc nào họ muốn [47, tr18-19]
Trong khi ở Singapore, công việc CVHT cho SV là một nhiệm vụ nặng
nề cho những kết quả thực tiễn tức thời Vì vậy, việc hướng dẫn cho SV lựa chọn và lên kế hoạch học tập của mình làm sao để phát huy tối đa nội lực của
Trang 26họ đòi hòi tính chuyên môn cao của người cố vấn Khi mà các chương trình học tập được đưa ra ngày càng trở nên phức tạp và chi phí thời gian các cán
bộ trong trường cao thì việc trợ giúp học tập cho SV càng cần phải trở thành một hệ thống chuyên nghiệp Trường ĐH quốc gia Singapore đã phát triển một hệ thống cố vấn thông minh gọi là PACE - viết tắt của cố vấn lập kế hoạch khóa học và đăng ký môn học PACE được triển khai trên hệ thống máy tính trong toàn trường với các đặc điểm như thân thiện với người sử dụng và dễ dùng, thích ứng với những thay đổi về chương trình học, có thể cung cấp lời khuyên và giải thích thỏa đáng, dễ duy trì (về chương trình vả tài liệu), và nhanh mạnh trong việc trả lời cũng như quay vòng thời gian Hệ thống này không nhàm mục đích thay thế nhu cầu được tham vấn một cách thông thái và cảm thông từ các CVHT là con người của sinh vièn Nó giúp
SV tập trung kỹ càng hơn vào các vấn đề để cân nhắc và hình dung chúng trong các tình huống khác nhau trước khi tìm kiếm lời khuyên, do đó có thể làm giảm gánh nặng cho CVHT PACE đơn giản hóa quá trình đảm bảo sự kiên định và kế hoạch bằng việc kết hợp phương pháp tập trung và mục tiêu
và hệ thống dựa trên kiến thức Tiếp cận này dẫn đến năng suất và sự linh hoạt tiêu biểu, cải thiện việc thực thi và sự dễ dàng phát triển và duy trì phần mềm Một mô hình quyết định được dùng cho cố vấn khoá học dựa trên nhu cầu của SV cần biết “phải làm gì?” và “làm như thế nào” Mô hình này bao gồm việc lập hồ sơ thế mạnh và điểm yếu của SV, tạo ra một chương trình học tập của các cá nhân thích hợp với nhu cầu của từng cá nhân và lập ra kế hoạc cho các khoá học đã chọn
Theo Gunadhi, H Lim KH & Yeong, WY (1995) PACE cho phép trường ĐHQG Singapore tập trung vào chất lượng của sự cố vấn hơn là sự vận hành cơ học của hệ thống khi triển khai Với cách tiếp cận này, thứ bậc các mục tiêu được sử dụng để thể hiện các dữ liệu và cấu trúc kiến thức (ví dụ khoá học, các yêu cầu về chương trình học) Kiến thức cục bộ (1 Khó khăn của khoá học như điều kiện tiên quyết, sự tồn tại của khoá học; 2 Lời khuyên
về khóa học gợi ý; 3 Lời khuyên về cách thức lập kế hoạch khóa học) được đưa vào như là các phương pháp trong khuôn khổ các mục tiêu trong khi kiến thúc toàn thể (1 Chương trình chung và cấu trúc các khóa học; 2 cấu trúc
Trang 27học kỳ - năm học và các kỳ trong năm; 3 Những khó khăn chung như số lượng tối thiểu, số khóa học trong một học kỳ; 4 Lời khuyên về khóa học nên học dựa trên những mong muốn về nghề nghiệp và khó khăn chung) được lưu trữ trong cơ sở các nguyên tắc Một phương tiện để rút ra kết luận sẽ di chuyển đi lại theo chuỗi các nguyên tắc toàn thể và nguyên tắc cục bộ liên quan để đưa ra lời khuyên và hướng dần SV lựa chọn và lập kế hoạch khóa học [36, tr23] Trong Khuôn khổ của PACE, vai trò của cố vấn khóa học (course advisor) được kẹp giữa vai trò của nhà tham vấn nghề và vai trò của
hệ thống lập thời gian biểu như hình vẽ sau:
Hình 3 Mô hình PACE có sự phối hợp của CVHT và nhà tham vấn nghề
Nhà tham vấn nghề giúp SV quyết định xem chúng sẽ theo đuổi loại nghề nghiệp gì Nhà cố vấn khóa học khám phá sự kết hợp tốt nhất của các khóa học sẽ hỗ trợ cho mục tiêu này nhưng lưu ý đến những điều khác nữa như năng khiếu của SV Có thể gợi ý tốc độ và trình tự cho các khoá học nhưng mức thấp nhất phải là chi tiết của một học kỳ trong 1 năm Hệ thống lập thời gian biểu sẽ mô tả chi tiết hơn kế hoạch để học các khoá này, xác định cụ thể thời gian, thời hạn, địa điểm và các thông tin khác Việc cố vấn
sẽ đi theo các bước sau: 1 ) Khám phá mục đích cuộc sống, 2) Khám phá mục đích nghề nghiệp 3) Lựa chọn chương trình 4) Lựa chọn khóa học, và 5) Lập kế hoạch khóa học PACE định nghĩa nhà cố vấn khóa học là nhà tham
Nhà tham vấn nghề
Nhà cố vấn khoá học
Hệ thống lập thời khoá biểu
Các vấn đề cần giải quyết
Việc gì?
Khoá học nào? Khi nào phải học
Trình tự khoá học, địa điểm, Thời gian, thời hạn các lớp học
Trang 28vấn nghề sơ khai vì đã gợi ý một bộ các khóa học từ danh sách định trước các
cơ hội nghề nghiệp [36, tr25]
định hướng được tổ chức cho SV năm thứ nhất để cung cấp những hướng dẫn cần thiết và giúp đỡ nâng cao kỹ năng và khả năng điều chỉnh của SV cùng với các cán bộ của trường và khoa Họ được khuyến khích thiết lập mối quan
hệ không chính thức với SV ngoài lớp học và phòng thí nghiệm để có kế hoạch giúp đỡ tốt hơn cho SV năm thứ nhất đương đầu với những yêu cầu và thách thức có thể tạo ra sự căng thẳng trong cuộc sống của họ ở trường ĐH
1.4 Khảo sát mô hình CVHT ở một số trường đại học ở Việt Nam
1.4.1 Mô hình CVHT ở Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
Mô hình CVHT trường Đại học Bách khoa Hà Nội (ĐHBKHN) là mô hình phân tách, mô hình này việc tư vấn cho SV sẽ được phân ra theo các nhóm SV cụ thể Ví dụ như nhóm mới nhập trường, nhóm SV dự bị, nhóm
SV liên thông, nhóm SV chưa có quyết định quá trình học tập của mình, nhóm SV có nguy cơ…
Đội ngũ CVHT trường ĐHBKHN tiền thân là giảng viên trẻ và nhóm
SV tình nguyện do văn phòng Đoàn sáng lập từ năm 2003 Năm 2006, khi ĐHBKHN thực hiện chương trình đào tạo theo tín chỉ, hoạt động tư vấn tự nguyện của nhóm giảng viên trẻ thuộc Đoàn Thanh Niên quản lý đã chuyển sang hoạt động chính thức, có đánh giá và kiểm tra kiểm tra định kỳ Trường chia đội ngũ CVHT thành 2 nhóm CVHT riêng biệt, một nhóm chuyên tư vấn cho SV năm thứ nhất và một nhóm chuyên tư vấn cho SV từ năm thứ 2 đến năm cuối
CVHT phụ trách nhóm SV năm thứ nhất có thể tư vấn cho toàn bộ SV của trường về các môn học chung, giải thích cho SV về các vấn đề liên quan đến đào tạo tín chỉ và hướng dẫn SV tìm hiểu thông tin, quy chế Ngoài ra nhóm CVHT này còn khuyến khích SV tham gia các hoạt động đoàn thể và can thiệp vào những vấn đề của SV như chính sách học bổng, vay vốn, xác nhận thông tin CVHT sẽ đồng hành cùng lớp SV trong các hoạt động như: chọn cán bộ lớp, xem xét khen thưởng và k luật với SV
Trang 29Mô hình CVHT trường ĐH Bách Khoa Hà Nội
CVHT phụ trách SV từ năm thứ 2 trở đi sẽ tư vấn cho SV chọn môn học và nhắc nhở SV khi kết quả học tập của SV giảm sút hoặc SV có thái độ học tập không chuyên cần Thêm vào đó, CVHT tham gia hướng dẫn SV tham gia nghiên cứu khoa học và hướng dẫn các phương pháp học tập ở bậc
ĐH Nếu SV không đăng ký được môn học thì trong một số trường hợp đặc biệt CVHT có thể giúp SV liên lạc với phòng đào tạo để được trợ giúp Ngược lại, nếu SV đăng ký thừa tín chỉ thỉ CVHT sẽ tư vấn hủy môn học và
ký vào phiếu đăng ký hủy môn học
Ở trường ĐHBKHN, nhóm CVHT tư vấn cho SV năm thứ nhất sẽ do Đoàn trường và phòng chính trị Công tác SV trực tiếp quản lý Các CVHT cần có báo cáo cho Đoàn và Phòng CTCTHSSV về hoạt động của họ sau mỗi
kỳ học Đối với CVHT cho SV năm thứ 2 trở lên sẽ do các Khoa, Viện trực tiếp quản lý, theo dõi hoạt động và đánh giá CVHT của đơn vị mình Mỗi CVHT phụ trách một lớp thuộc Khoa/Viện nơi mà họ làm việc Số SV trung bình họ phải quản lý là khoảng 45-80 SV/năm
1.4.2 Mô hình CVHT trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Mô hình CVHT của trường trường Đại học Kinh tế Quốc dân (ĐHKTQD) là mô hình kép, cụ thể SV của trường có 2 CVHT – một CVHT trực thuộc Khoa, hoặc của Trường giúp SV các vấn đề về khoa học và một CVHT thuộc phòng tư vấn sẽ giúp SV các vấn đề chung, như chính sách và các thủ tục hành chính
CVHT (Đoàn trường và phòng Công tác chính trị SV)
CVHT (Khoa/Viện)
SV năm thứ nhất
SV năm thứ 2 trở lên
Trang 30Đội ngũ CVHT của trường ĐHKTQD hình thành từ năm 2006 Xuất phát từ việc Ban Giám hiệu nhà trường nhận thấy quá trình thực hiện công việc của CVHT có nhiều chồng chéo VD có GV nhà ở rất xa trường, khi SV cần ký giấy tờ CVHT lại không đến trường hôm đó, dẫn đến việc SV không kịp nộp hồ sơ, nộp đơn…Năm 2010 ĐHKTQD thành lập văn phòng CVHT Văn phòng thuộc sự quản lý của Phòng Thanh tra khảo thí của trường (Văn phòng này chịu trách nhiệm và thực hiện công tác thanh tra, khảo thí, kiểm định và bảo đảm chất lượng trong quản lý trường ĐHKTQD) Văn phòng có một hệ thống CVHT chuyên nghiệp để đáp ứng được những yêu cầu, thắc mắc của SV
Đội ngũ CVHT trường ĐHKTQD được chia làm 2 bộ phận: CVHT chuyên trách và CVHT kiêm nhiệm CVHT chuyên trách có văn phòng làm việc hằng ngày, SV có thể gọi điện hoặc liên hệ trực tiếp CVHT chuyên trách
sẽ giải đáp tất cả thắc mắc của SV từ các thủ tục hành chính đến những vấn đề liên quan đến ĐKMH; học nâng điểm; hu môn; lựa chọn môn; khiếu nại điểm Khi SV có nhu cầu thông tin về chuyên ngành hẹp CVHT chuyên trách
sẽ hướng dẫn các em đến gặp Khoa Nhiệm vụ chủ yếu của CVHT chuyên trách là phổ biến các quy chế đào tạo theo tín chỉ cho sinh viên, định hướng việc lựa học tín chỉ cho Sv theo từng học kỳ, từng năm học để đảm bảo được
số lượng tín chỉ tích luỹ theo quy định và thời gian học tập của SV CVHT chuyên trách nắm bắt các thông tin về các tín chỉ được đào tạo trong mỗi học
kỳ, mỗi năm học và cả khoá học để hướng dẫn cho SV lựa chọn đăng ký các tín chỉ mà SV muốn học trong mỗi học kỳ cũng như toàn khoá học
Mô hình CVHT trường ĐHKTQD
Sinh viên
CVHT kiêm nhiệm (Khoa)
CVHT chuyên trách (Văn phòng CVHT)
Trang 31CVHT kiêm nhiệm do Khoa quản lý nhưng họ cũng phối hợp với văn phòng CVHT để giải quyết công việc Trước, giữa kỳ và cuối mỗi kỳ học CVHT kiêm nhiệm đều gặp mặt SV Số SV mà CVHT phải quản lý trung bình từ 70-80 SV/năm CVHT kiêm nhiệm phụ trách giải quyết những thắc mắc của SV liên quan đến kiến thức chuyên ngành, tư vấn cho các em về việc lựa chọn các môn học trong tổ hợp các môn cần học Họ chỉ đến lớp theo lịch
đã hẹn với SV, trả lời các em qua điện thoại, mail Theo ý kiến của một GV
đang làm CVHT: “CVHT kiêm nhiệm nhiều lúc cũng không nắm rõ về các thủ
tục hành chính nên sẽ không chỉ được cho SV nên làm gì? Bắt đầu từ đâu? Như thế nào? CVHT chuyên trách nhiều khi cũng lúng túng, do vậy trước khi ĐKMH, CVHY phải gặp lớp để hướng dẫn việc chọn các môn học Ví dụ
tổ hợp môn Kinh tế quốc tế có 3 môn chẳng hạn, nhưng các em chỉ cần học 1 môn, thì CVHT hướng dẫ các em là nên đăng ký 1 môn thôi” (Nữ GV, 35
tuổi, ĐHKTQD)
1.4.3 Mô hình CVHT ở trường Đại học Khoa học Tự nhiên Hà Nội
Mô hình CVHT ở trường Đại học Khoa học tự nhiên Hà Nội (ĐHKH TN-HN) là mô hình bổ sung, mô hình này là các giảng viên có thêm vai trò như một cố vấn, họ tư vấn cho tất cả các SV khi SV có nhu cầu, nhưng SV không chỉ gặp GV để được trợ giúp mà họ có thể gặp một nhân viên thuộc phòng đào tạo Các chuyên viên ở phòng này sẽ cung cấp thông tin cho sinh viên, giới thiệu chương trình đào tạo, nói về quy trình thủ tục, tư vấn lựa chọn môn học hoặc quy trình đăng ký môn học…Ở mô hình này, các chuyên viên có thể hỗ trợ CVHT và tư vấn học tập cho SV
Trường ĐHKHTNHN hiện nay đang tồn tại cả hai chức danh CVHT
và giáo viên chủ nhiệm (GVCN) Trường có sự phân biệt giữa giảng viên được gọi là CVHT và GVCN, sự phân định này dựa trên tiêu chí lựa chọn để
bổ nhiệm CVHT ở trường ĐHKHTNHN bắt buộc phải có học vị từ thạc sĩ trở lên và tối thiểu là 2 năm kinh nghiệm Tiêu chí lựa chọn CVHT hoặc GVCN ở trường ĐHKHTNHN cũng rất rõ ràng, GVCN có thể do cán bộ trẻ đảm nhiệm, còn CVHT nhất thiết phải do một người có trình độ chuyên môn
và nhiều kinh nghiệm nghề nghiệp Trong quá trình điều tra tôi được biết đa phần CVHT của trường ĐHKHTNHN đều có học vị tiến sỹ
Trang 32Thêm một yếu tố nữa để phân biệt CVHT và GVCN là CVHT đảm nhiệm nhiều công việc hơn GVCN, tuy nhiên trong văn bản quy định của trường lại chưa nêu rõ từng nhiệm vụ cụ thể của CVHT Tuy có sự phân định giữa GVCN và CVHT nhưng sự phân định này cũng chỉ là tương đối vì
SV có thể hỏi GVCN những câu hỏi mà đáng lẽ ra họ phải hỏi CVHT và
GVCN cũng có thể trả lời các câu hỏi dành cho CVHT trong trường hợp họ biết Ví dụ SV cũng có thể hỏi GVCN những câu liên quan đến đăng ký môn
học (ĐKMH) trên web, làm thế nào đăng ký được hay tại sao lại không đăng
ký được, những vấn đề thuộc về kỹ thuật
CVHT là người giúp các em SV có thể ĐKMH cho đúng thời hạn, đúng tiến độ, tiến trình học tập phù hợp với điều kiện của SV và điều kiện tổ chức lớp học của nhà trường Trong “chương trình tiên tiến” theo định hướng của Bộ giáo dục thì SV có thể làm nghiên cứu khoa học cùng với thầy
cô giáo, cùng CVHT CVHT sẽ tư vấn cho SV tất cả các vấn đề liên quan đến quá trình học tập, ĐKMH, phương pháp học tập và cách thức nghiên cứu khoa học Trong khi đó GVCN tư vấn hỗ trợ SV về khía cạnh đời sống, ví dụ thuê nhà ở đâu là tốt nhất? Tìm học bổng như thế nào? Làm thế nào để làm thẻ ngân hàng, vé xe bus, làm thẻ sinh viên Riêng khoa Toán của ĐHKHTN-HN, người trợ lý đào tạo cũng được coi là CVHT bởi SV có thể hỏi trợ lý đào tạo của Khoa tất cả các vấn đề liên quan đến việc học tập và đào tạo
CVHT và GVCN đều thuộc sự quản lý của Khoa CVHT và GVCN có mối quan hệ chặt chẽ với các trợ lý đào tạo chính quy và trợ lý công tác sinh viên Họ phải thường xuyên làm việc với các trợ lý này bởi chính các trợ lý
là đầu mối liên hệ gắn kết với các phòng ban như: phòng Đào tạo, phòng Chính trị công tác học sinh sinh viên Riêng với GVCN thì họ tiếp nhận các văn bản của Khoa, Trường liên quan đến phong trào SV và triển khai hoạt động, họ làm việc với cấp Khoa liên quan đến các vấn đề chuyên môn và các
kỹ năng sư phạm, ngoài ra không có nhiều thắc mắc liên quan tới các vấn đề khác Như vậy, SV trường ĐHKHTNHN có 2 người hỗ trợ chính là CVHT
và GVCN, tuy nhiên SV muốn cung cấp thông tin về vấn đề đào tạo, môn học và các chính sách thì họ cũng có thể lên Phòng Đào tạo và Phòng Chính
Trang 33trị học sinh sinh viên Về nguyên tắc thì CVHT và GVCN là người gần gũi nhất với SV nhưng trên thực tế nhiều khi SV chưa chủ động tìm đến CVHT hoặc GVCN để nhờ trợ giúp mà có khi xảy ra sự việc ngoài mong muốn rồi
họ mới tìm đến CVHT hoặc GVCN với vai trò là cầu nối giữa SV và các phòng ban chức năng
1.4.4 Mô hình cố vấn học tập trường Đại học Bách khoa Đà Nẵng
Mô hình CVHT ở trường Đại học Bách khoa Đà Nẵng là mô hình có
sự hỗ trợ của sinh viên Ở mô hình trợ giúp này, khi sv có nhu cầu tư vấn về thủ tục và các vấn đề liên quan đến quá trình đào tạo sẽ được giới thiệu đến CVHT để được cho lời khuyên và hỗ trợ, tuy nhiên có điểm khác biệt là CVHT không phải là những cán bộ chuyên nghiệp hay những giảng viên mà
sẽ là những sinh viên, còn gọi là cố vấn sv Hiện nay, ở Việt Nam có một số trường ĐH tồn tại mô hình này, trong đó có trường ĐH ngoại ngữ (thuộc ĐHQGHN)
Cố vấn sv được lựa chọn từ những sv năm thứ 2 trở lên, có hạnh kiểm
tốt, học lực khá, nhiệt tình và hiểu những hoạt động liên quan đến sv (hoạt động học tập và hoạt động sinh hoạt tại trường) Mỗi năm đội cố vấn sv lại
có sv ra trường nhưng cũng có những thành viên mới được tuyển lựa
Theo ý kiến của các SV đang làm công tác tư vấn cho thấy, đội tư vấn
sv thường trực trong phòng Chính trị công tác sv (theo giờ làm việc của phòng) và trong Ký túc xá của trường để tư vấn cho sv khóa sau về vấn đề học tập, tiến trình học tập, cách thức ĐKMH, tiếp cận lựa chọn môn học, giải đáp các bài tập khó, chia sẻ về kinh nghiệm, trao đổi phương pháp học tập, phong cách giảng dạy của giảng viên, cách thức liên hệ với thầy cô phụ trách các môn, hướng dẫn cách tìm học bổng Ngoài ra thành viên của đội cố vấn
sv có quyền xác nhận sv của trường thông qua việc ký vào giấy xác nhận, ký giấy giới thiệu, hỗ trợ giải quyết các vấn đề về chính sách, xác nhận hộ nghèo, đơn xin vào ký túc xá, giới thiệu các chương trình tình nguyện và mùa hè xanh
Trang 34Hình : Mô hình CVHT trường Đại học Bách khoa Đà Nẵng
Đội ngũ cố vấn SV của trường ĐHBKĐN được phân theo khoá, họ hoạt động tình nguyện và do phòng chính trị công tác SV quản lý Đội ngũ cố vấn SV của mỗi lớp còn làm nhiệm vụ như là cầu nối giữa SV và các phòng ban để giải quyết vấn đề khó khăn của SV Đội ngũ CVHT SV được GVCN
hỗ trợ, ví dụ, theo dõi sĩ số lớp, cung cấp thông tin về hoàn cảnh và điều kiện của SV Công việc cố vấn SV gần giống với công việc của CVHT ở các trường nhưng chức năng và quyền hạn của nhóm SV tình nguyện này lại hạn chế nhất định về thẩm quyền của một người làm CVHT Tuy nhiên, nhờ có đội ngũ tư vấn SV mà 1 số những thắc mắc của SV trong trường được giải đáp phù hợp, theo cách nhìn và kinh nghiệm của những “người trong cuộc”
1.4.5 Mô hình CVHT của trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh
Mô hình CVHT của trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh (ĐHBKTPHCM) là mô hình một giảng viên, mô hình này có đặc điểm
là các SV được phân cho một giảng viên là CVHT Khi SV có nhu cầu được trợ giúp họ sẽ đến gặp trực tiếp CVHT để được tư vấn CVHT là giảng viên hoặc chuyên viên (giáo vụ) của Khoa được phân làm công tác tư vấn chủ yếu
về học tập và một số vấn đề khác
Có thể khẳng định rằng, trường ĐHBKTPHCM là trường đầu tiên trong cả nước chuyển từ phương thức đào tạo niên chế sang đào tạo tín chỉ (năm 1993) với khung đào tạo rút xuống còn 4,5 năm Mỗi SV khi mới nhập học sẽ nhận được cuốn “Niên giám 2010” cho biết số học kỳ, sổ môn học/học
kỳ, số tín chỉ tối thiểu và tối đa, môn nào tiên quyết, môn nào được học Trong năm học đầu tiên thì các môn học đưa ra là “cứng” không thay đổi được và SV
Cố vấn SV (Đồng đẳng viên)
Trang 35buộc phải theo lịch trình đó nhưng từ năm thứ 2 trở đi SV bắt đầu được lựa chọn ĐKMH thì vai trò của GVCN càng trở nên quan trọng hơn Tính từ khi thành lập trường đến nay trường ĐHBKTPHCM vẫn duy trì tên gọi của người quản lý lớp SV, hỗ trợ SV trong quá trình học tập là GVCN
Khi đỗ vào trường, GVCN sẽ trao số tay và phiếu ĐKMH cho sinh viên, SV có thể hỏi GVCN để xin lời khuyên khi ĐKMH vì GVCN là người nắm vững các quy định học vụ, đặc biệt là chương trình đào tạo chuvên ngành của SV, hiểu rõ tình hình học tập, hoàn cảnh của SV
Mô hình cố vấn học tập trường ĐH Bách Khoa TP Hồ Chí Minh
GVCN phải ký duyệt và chịu trách nhiệm liên đới về tính chính xác hợp lý của phiếu ĐKMH, Việc thu nhận phiếu ĐKMH được tổ chức tương tự như khi phát phiếu, quy trình phải được sự nhất trí của các GVCN và Khoa sẽ
công bố rộng rãi ngay từ khi phát phiếu ĐKMH cho SV CVHT trường ĐH
BKTPHCM có nhiệm vụ quản lý điểm của SV; nắm được thông tin về học lại, học vượt để tư vấn cho SV CVHT cũng tư vấn cho SV về tầm quan trọng
của từng loại điểm thi, hệ số điểm thi để giúp SV đạt kết quả tốt nhất Bên cạnh đó, CVHT cũng quản lý môn học và hỗ trợ SV ĐKMH Với SV năm
thứ nhất, CVHT sẽ tổ chức một buổi giới thiệu đại diện của SV khóa trước
với SV khóa sau nhằm mục đích SV có thể hỗ trợ nhau CVHT sẽ nhắc nhờ
SV (từ năm thứ 2) khi thấy tiến trình đào tạo của SV “có vấn đề”
CVHT của trường ĐHBK.TPHCM là giáo viên làm công tác giảng dạy
ở khoa được giao nhiệm vụ tư vấn cho SV Khoa là đơn vị trực tiếp quản lý các hoạt động của CVHT Khi có thông báo mới, phòng đào tạo sẽ gửi công văn xuống ban chủ nhiệm khoa và từ đó khoa triển khai xuống CVHT hoặc giáo vụ Khoa Tùy theo từng trường mà CVHT quản lý số lượng SV nhiều hay ít, thông thường mỗi kỳ một CVHT của trường ĐHBKTPHCM phải chịu
Sinh viên Giảng viên
(CVHT Khoa)
Trang 36trách nhiệm khoảng 50-100 sinh viên Khi được phân công phụ trách một lớp
SV thì CVHT sẽ theo lớp đó từ khi vào cho đến khi kết thúc, mỗi tháng hoặc
2 tuần họ có một cuộc gặp định kỳ với sinh viên Công cụ hỗ trợ cho công việc của CVHT là hệ thống phần mềm quản lý điểm và hồ sơ của sinh viên
1.4.6 Mô hình CVHT của trường đại học Kinh tế - Luật (ĐHQG TPHCM)
Mô hình CVHT của trường Đại học Kinh tế - Luật là mô hình khép kín, ở mô hình này các SV có thể được trợ giúp bởi một phòng đào tạo Ở mô hình này không cần vai trò của CVHT hay GVCN, hoặc nếu có thì rất mờ nhạt trong hoạt động trợ giúp SV Khi cần giải đáp thông tin SV sẽ trực tiếp lên phòng đào tạo để được tư vấn từ việc tuyển sinh đến việc bắt đầu khoá học như thế nào
Có thể nói mô hình trợ giúp sv hiện nay của trường ĐH Kinh tế - Luật
là mô hình khá đặc biệt Trước khi chuyển sang phương thức đào tạo tín chỉ,
các GVCN là người trợ giúp SV Từ khi chuyển sang đào tạo tín chỉ, SV
không còn người trợ giúp trực tiếp là GVCN nữa SV học theo lớp môn học
tự truy cập Website của trường, khi có khó khăn họ sẽ được tư vấn, hỗ trợ từ phòng đào tạo Theo quy chế của Trường, GVCN kiêm CVHT sẽ có nhiệm
vụ giới thiệu chương trình học cho sinh viên, giải thích chương trình đào tạo, hướng dẫn sv ĐKMH Tuy nhiên, do điều kiện giảng đường sv học ở xa văn phòng trường (đoạn đường giáo viên phải di chuyển từ thành phố lên khu giảng đường khá dài) nên các GVCN này không có nhiều thời gian cho sinh viên Như vậy, vô hình trung mối quan hệ của sv và CVHT/GVCN cũng rất lỏng lẻo, trách nhiệm của CVHT tự động chuyển sang cho nhân viên phòng đào tạo GVCN chủ yếu thực hiện các việc, sự vụ quản lý lớp sv như tổ chức các buổi trao đổi, họp- lớp vào đầu năm học, cuối năm học
Chuyên viên phòng đào tạo của trường ĐH Kinh tế-Luật thuộc ĐHQGTPHCM đóng vai trò như là CVHT Họ giải quyết tất cả những thắc mắc của sv xung quanh vấn đề học tập, đào tạo Cụ thể, các chuyên viên của phòng đào tạo chịu trách nhiệm vào điểm, tư vấn cho SV đăng ký đúng môn học, hướng dẫn ĐKMH phù hợp, tiếp nhận các đơn xin hủy lịch học, học đủ tín chí, tích lũy để bảo vệ đúng hạn hoặc sớm trước hạn, khai thác nguồn thông tin trên trang website của trường
Trang 37Hình 7 Mô hình cố vấn học tập trường ĐH Kinh tế Luật
(ĐHQGTPHCM)
Chuyên viên cùa phòng đào tạo trường Kinh tế - Luật được chia thành các tổ chịu trách nhiệm từng bộ phận hỗ trợ sinh viên, mỗi người phụ trách một mảng, có thể là làm điểm, lên lịch giảng, mời giảng, giải quyết các thắc mắc ĐKMH của SV, đăng ký nhầm, hủy đăng ký Tùy vào cấp độ khó khăn trong các vấn đề của SV mà chuyên viên của mỗi tổ phải báo cáo lên tổ trưởng hoặc lãnh đạo cấp phòng và cấp cao hơn Ví dụ SV học quá hạn có được bảo vệ không Hệ thống phần mềm của phòng đào tạo trên hệ thống website là công cụ đắc lực cho CVHT Mỗi sv đều có tài khoản riêng trong
hệ thống thông tin, họ hoàn toàn chủ động trong việc tự quản lý tiến trình học tập, có thể chủ động tìm kiếm các thông tin liên quan đến các quy định đào tạo trên website của trường Khi SV cần tư vấn sâu hơn về tiến trình học tập hoặc muốn làm rõ thông tin, họ sẽ gặp trực tiếp hay gửi email, gọi điện cho chuyên viên phòng đào tạo để được tư vấn, hỗ trợ Thực tế, số SV có nhu cầu đến phòng đào tạo tư vấn là rất lớn, trung bình mỗi lớp khoảng 60-70 SV và một kỳ có từ 170- 173 lớp môn học Theo ý kiến của lãnh đạo phòng chính trị công tác SV trường ĐH Kinh tế - Luật TP HCM, nếu tính thời gian tiếp Sv của CVHT thì trung bình mỗi ngày (ngoài công việc của phòng) họ phải bỏ
ra từ 4-5 giờ để tư vấn cho SV và vào thời điểm cuối học kỳ, có thể tư vấn cho SV trung bình 6h/ngày
Sinh viên Cố vấn phòng
Đào tạo
Trang 38Chương 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC CỐ VẤN HỌC TẬP Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIAO THÔNG VẬN TẢI HIỆN NAY
2.1 Vài nét về CVHT và công tác CVHT ở Trường Đại học Giao thông vận tải
Mô hình CVHT của Trường Đại học Giao thông vận tải cũng tương tự như mô hình CVHT của Trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh là mô hình một giảng viên, mô hình này có đặc điểm là các SV được phân cho một giảng viên là CVHT Khi SV có nhu cầu được trợ giúp họ sẽ đến gặp trực tiếp CVHT để được tư vấn CVHT là giảng viên của Khoa được phân làm công tác tư vấn chủ yếu về học tập và một số vấn đề khác Khoa là đơn vị trực tiếp quản lý các hoạt động của CVHT
Theo quy định thì CVHT là giảng viên đã qua thời gian tập sự, được Hiệu trưởng quyết định công nhận theo đề nghị của Trưởng bộ môn phụ trách chuyên ngành (PTCN) và được lãnh đạo Khoa, Viện, Trung tâm quản lý sinh viên (QLSV) đồng ý CVHT phải có phẩm chất tốt, chuyên môn vững vàng, nắm vững chương trình đào tạo, các quy chế, quy định về đào tạo theo hệ thống tín chỉ, nắm vững các qui định về công tác quản lý sinh viên, chế độ chính sách đối với sinh viên và các qui định liên quan đến quyền và nghĩa vụ của sinh viên
Theo quyết định số 2245/QĐ-ĐHGTVT thì CVHT ở trường ĐHGTVT
có những nhiệm vụ cơ bản sau:
Một là, tư vấn cho SV đăng ký học tập
- Tư vấn cho SV của lớp phụ trách xây dựng kế hoạch học tập cho toàn khóa học; thời hạn đăng ký học, mức học phí, đăng ký học phần (học phần bắt buộc, học phần tự chọn, học phần tiên quyết) trong từng học kỳ một cách hợp
lý để đảm bảo hoàn thành chương trình đào tạo của toàn khoá học Theo dõi tình hình, kết quả học tập của SV theo từng học kỳ để tư vấn cho SV đăng ký, điều chỉnh kế hoạch học tập cho phù hợp
- Hướng dẫn SV về quy trình đăng ký học tập Ví dụ: mã số học phần, tên học phần, đăng ký lớp học phần, số lượng tín chỉ Tư vấn cho SV để việc tăng, giảm học phần phù hợp với quy định của Trường, phù hợp với khả
Trang 39năng, điều kiện học tập của SV, kiểm tra và xác nhận tư vấn của mình vào sổ
- Tiếp nhận thông tin của Nhà trường, các Khoa, Viện, Trung tâm QLSV, phòng ĐTĐH, phòng CTCT&SV cung cấp để thực hiện tốt các phương pháp quản lý SV
- Tổ chức bầu hoặc kiện toàn ban cán sự lớp chuyên ngành vào đầu mỗi năm học, báo cáo lãnh đạo Khoa, Viện, Trung tâm QLSV công nhận bổ nhiệm
- Tổ chức đánh giá kết quả rèn luyện SV: Phổ biến hướng dẫn thực hiện quy chế, chủ trì họp lớp đánh giá điểm rèn luyện cho từng SV Hoàn thành bảng tổng hợp đánh giá kết quả rèn luyện đúng thời gian quy định
- Khuyến khích, tạo điều kiện và tư vấn cho SV tham gia các hoạt động học thuật, nghiên cứu khoa học, rèn luyện kỹ năng thu thập, xử lý thông tin, tiếp cận doanh nghiệp và các hoạt động văn, thể, mỹ lành mạnh, bổ ích
- Tổ chức họp lớp theo thời khóa biểu của Nhà trường, tìm hiểu và giải quyết những vấn đề nảy sinh đối với SV, nhắc nhở những SV có ý thực học tập chưa tốt
- Thông báo cho SV về thời gian và địa điểm làm việc để SV gặp xin ý kiến tư vấn về các vấn đề trong học tập, rèn luyện (khuyến khích có hình thức làm việc qua internet để tiết kiệm thời gian, thông tin trao đổi được lưu giữ, nhiều SV có thể cùng tham khảo)
- Ghi chép đầy đủ nội dung họp lớp và thông tin SV của lớp phụ trách vào Sổ công tác CVHT
- Giữ mối liên hệ thường xuyên với gia đình SV
Trang 40- Tham gia đầy đủ hội nghị CVHT do Nhà trường, Khoa, Viện, Trung tâm QLSV tổ chức
- Thực hiện chế độ báo cáo bằng văn bản nộp cho Bộ môn và Khoa, Viện, Trung tâm QLSV sau khi tổ chức họp cuối học kỳ
Ba là, thời gian và nội dung làm việc với lớp chuyên ngành của CVHT
- Giữ mối liên hệ thường xuyên với lớp SV để nắm tình hình lớp, mỗi tuần CVHT bố trí ít nhất 1 tiết để SV được gặp hoặc tư vấn trao đổi, có thể bằng nhiều hình thức như: gặp trực tiếp, điện thoại, email …(chọn hình thức, địa điểm thích hợp, thuận lợi cho SV)
- Hàng tháng làm việc với Ban cán sự lớp chuyên ngành, tổ chức họp lớp định kỳ theo thời khóa biểu của Nhà trường Các buổi họp lớp cần ghi Biên bản họp vào Sổ công tác CVHT và nộp Báo cáo tình hình lớp SV cho lãnh đạo Khoa, Viện, Trung tâm QLSV, cụ thể:
+ Họp đầu học kỳ I với các nội dung:
Công bố thành phần ban cán sự lớp do CVHT chỉ định (đối với các lớp năm thứ nhất) hoặc tổ chức họp lớp chuyên ngành bầu chọn ban cán sự lớp Phân công nhiệm vụ cụ thể cho ban cán sự lớp Thông báo cho SV được biết về vai trò, trách nhiệm của CVHT đối với lớp SV Quy định thời gian, địa điểm SV có thể gặp xin tư vấn hoặc trao đổi qua điện thoại, thư điện tử vv
Tổ chức đánh giá kết quả rèn luyện SV, đánh giá CVHT theo kế hoạch của Nhà trường (đối với các lớp SV từ năm thứ 2 trở đi)
Phổ biến công tác năm học và của học kỳ
Phổ biến, hướng dẫn những nội dung cơ bản của các quy chế, quy định về học tập và rèn luyện của SV, chú ý những bổ sung, thay đổi mới trong các quy định hiện hành Hướng dẫn SV tìm hiểu các thông tin trong cuốn “Sổ tay SV”của Nhà trường
Hướng dẫn những điều cần lưu ý về phương pháp học tập, nghiên cứu khoa học, tham gia các hoạt động đoàn thể, xã hội
Các công việc khác theo yêu cầu quản lý của Nhà trường, Khoa, Viện, Trung tâm QLSV, Bộ môn có liên quan đến lớp (nếu có)
+ Họp cuối học kỳ I và II với các nội dung: