1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tóm tắt luận án tiếng việt: Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, xét nghiệm và điều trị một số bệnh tăng sinh tủy ác tính giai đoạn 2015 2018 tại Viện Huyết học Truyền máu Trung ương.

24 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, xét nghiệm và điều trị một số bệnh tăng sinh tủy ác tính giai đoạn 2015-2018 tại Viện Huyết học – Truyền máu Trung ương
Trường học Viện Huyết học Truyền máu Trung ương
Chuyên ngành Huyết học
Thể loại Luận án
Năm xuất bản 2018
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 573,74 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, xét nghiệm và điều trị một số bệnh tăng sinh tủy ác tính giai đoạn 2015 2018 tại Viện Huyết học Truyền máu Trung ương. Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, xét nghiệm và điều trị một số bệnh tăng sinh tủy ác tính giai đoạn 2015 2018 tại Viện Huyết học Truyền máu Trung ương. Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, xét nghiệm và điều trị một số bệnh tăng sinh tủy ác tính giai đoạn 2015 2018 tại Viện Huyết học Truyền máu Trung ương. Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, xét nghiệm và điều trị một số bệnh tăng sinh tủy ác tính giai đoạn 2015 2018 tại Viện Huyết học Truyền máu Trung ương. Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, xét nghiệm và điều trị một số bệnh tăng sinh tủy ác tính giai đoạn 2015 2018 tại Viện Huyết học Truyền máu Trung ương. Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, xét nghiệm và điều trị một số bệnh tăng sinh tủy ác tính giai đoạn 2015 2018 tại Viện Huyết học Truyền máu Trung ương. Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, xét nghiệm và điều trị một số bệnh tăng sinh tủy ác tính giai đoạn 2015 2018 tại Viện Huyết học Truyền máu Trung ương. Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, xét nghiệm và điều trị một số bệnh tăng sinh tủy ác tính giai đoạn 2015 2018 tại Viện Huyết học Truyền máu Trung ương. Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, xét nghiệm và điều trị một số bệnh tăng sinh tủy ác tính giai đoạn 2015 2018 tại Viện Huyết học Truyền máu Trung ương. Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, xét nghiệm và điều trị một số bệnh tăng sinh tủy ác tính giai đoạn 2015 2018 tại Viện Huyết học Truyền máu Trung ương. Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, xét nghiệm và điều trị một số bệnh tăng sinh tủy ác tính giai đoạn 2015 2018 tại Viện Huyết học Truyền máu Trung ương. Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, xét nghiệm và điều trị một số bệnh tăng sinh tủy ác tính giai đoạn 2015 2018 tại Viện Huyết học Truyền máu Trung ương. Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, xét nghiệm và điều trị một số bệnh tăng sinh tủy ác tính giai đoạn 2015 2018 tại Viện Huyết học Truyền máu Trung ương. Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, xét nghiệm và điều trị một số bệnh tăng sinh tủy ác tính giai đoạn 2015 2018 tại Viện Huyết học Truyền máu Trung ương. Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, xét nghiệm và điều trị một số bệnh tăng sinh tủy ác tính giai đoạn 2015 2018 tại Viện Huyết học Truyền máu Trung ương. Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, xét nghiệm và điều trị một số bệnh tăng sinh tủy ác tính giai đoạn 2015 2018 tại Viện Huyết học Truyền máu Trung ương. Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, xét nghiệm và điều trị một số bệnh tăng sinh tủy ác tính giai đoạn 2015 2018 tại Viện Huyết học Truyền máu Trung ương. Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, xét nghiệm và điều trị một số bệnh tăng sinh tủy ác tính giai đoạn 2015 2018 tại Viện Huyết học Truyền máu Trung ương.

Trang 1

GIỚI THIỆU LUẬN ÁN

1 Đặt vấn đề

Các bệnh tăng sinh tủy ác tính (myeloproliferative neoplasms – MPN) không có nhiễm sắc thể Ph gồm: đa hồng cầu nguyên phát (polycythemia vera – PV), tăng tiểu cầu tiên phát (essential thrombocythemia – ET) và xơ tủy nguyên phát (primary myelofibrosis – PMF) Đây là nhóm bệnh đơn dòng của tế bào gốc sinh máu, đặc trưng bởi sự tăng sinh quá mức của một, hai hoặc cả ba dòng tế bào tủy kèm

theo lách to và gặp tỷ lệ cao đột biến gen JAK2 V617F PV và ET đặc

trưng bởi tăng sinh mạnh dòng hồng cầu hoặc tiểu cầu, nguy cơ cao biến chứng huyết khối có thể dẫn đến giảm thời gian sống thêm của bệnh nhân Trong khi đó, PMF có biểu hiện lâm sàng đa dạng và nặng nề hơn: triệu chứng toàn thân, lách to nhiều, giảm các dòng tế bào máu, sinh máu ngoài tủy và nguy cơ tiến triển thành lơ xê mi cấp trong vòng một đến vài năm Bệnh nhân PMF có chất lượng cuộc sống giảm sút và thời gian sống thêm ngắn hơn nhiều khi so với các bệnh nhân PV và ET Đột biến

gen JAK2 V617F được phát hiện với tỷ lệ cao ở các bệnh nhân này: 95%

bệnh nhân PV, 50-60% bệnh nhân ET và PMF Cùng với sự tiến bộ không ngừng của lĩnh vực di truyền - sinh học phân tử, các đột biến gen mới tiếp tục được tìm ra và phát huy vai trò quan trọng trong chẩn đoán, tiên lượng

và điều trị bệnh: JAK2 exon 12, CALR, MPL

Với mong muốn đưa ra được góc nhìn đầy đủ nhất có thể về đặc điểm lâm sàng, xét nghiệm, thực tiễn điều trị các bệnh tăng sinh tủy ác tính, trên cơ sở đó góp phần nâng cao năng lực chẩn đoán, cải thiện chất

lượng điều trị bệnh nhân, chúng tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, xét nghiệm và điều trị một số bệnh tăng sinh tủy ác tính giai đoạn 2015-2018 tại Viện Huyết học – Truyền máu Trung ương” nhằm

hai mục tiêu:

1 Mô tả một số đặc điểm lâm sàng, xét nghiệm của các bệnh tăng sinh tủy ác tính: đa hồng cầu nguyên phát, tăng tiểu cầu tiên phát và xơ tủy nguyên phát

2 Đánh giá kết quả điều trị, sống thêm toàn bộ và mối liên quan với một số đặc điểm sinh học của bệnh nhân tăng sinh tủy ác tính

Trang 2

2 Tính cấp thiết của Luận án

Nhóm các bệnh tăng sinh tủy ác tính đặc trưng bởi tăng sinh các

tế bào máu trưởng thành, có biệt hóa Bệnh nhân thường có triệu chứng lách to, tăng một các dòng tế bào máu, tiến triển dần trong nhiều năm,

có thể chuyển dạng lơ xê mi cấp hoặc xơ tủy thứ phát Ngoại trừ lơ xê

mi kinh dòng bạch cầu hạt với bất thường di truyền đặc trưng là nhiễm

sắc thể Ph và tổ hợp gen lai BCR/ABL1, các bệnh tăng sinh tủy ác tính

kinh điển gồm PV, ET và PMF cùng chia sẻ đặc điểm chung về các đột

biến gây bệnh: JAK2, CALR exon 9 và MPL exon 10 Các đột biến này

xảy ra ở tế bào gốc tạo máu, hoạt hóa con đường tín hiệu JAK-STAT dẫn đến tăng sinh và biệt hóa các tế bào máu Cho đến nay, đã có nhiều bước tiến mang tính đột phá về cơ chế sinh bệnh, đặc biệt là những hiểu biết về các đột biến gen đã góp phần đáng kể vào chẩn đoán, tiên lượng

và điều trị bệnh nhân Chính vì vậy, nghiên cứu về đặc điểm lâm sàng, xét nghiệm và điều trị một số bệnh tăng sinh tủy ác tính sẽ giải đáp được những yếu tố liên quan đến triệu chứng lâm sàng, xét nghiệm và kết quả điều trị của bệnh nhân, đặc biệt với sự xuất hiện của các đột biến gen mới

3 Những đóng góp mới của Luận án

Nghiên cứu thực hiện trên số lượng lớn bệnh nhân (422), đã cho thấy kết quả đáng tin cậy về biểu hiện lâm sàng, xét nghiệm bao gồm

đặc điểm tế bào máu, tủy xương, đặc biệt kết quả phân tích gen JAK2, CALR, MPL bằng kỹ thuật giải trình tự gen thế hệ mới Đồng thời,

nghiên cứu đã cung cấp kết quả giá trị về đáp ứng với điều trị và thời gian sống thêm toàn bộ cũng như một số yếu tố liên quan đến thời gian sống thêm của các nhóm bệnh nhân Kết quả của luận án đóng góp những thông tin có giá trị thực tiễn cao cho các bác sĩ huyết học lâm sàng, có thể là nguồn tham khảo trong thực hành chẩn đoán và điều trị bệnh nhân MPN tại Việt Nam

4 Bố cục của Luận án

Luận án có 140 trang Đặt vấn đề (2 trang), kết luận và kiến nghị (3 trang) Luận án gồm 4 chương Chương 1: Tổng quan tài liệu (38 trang); Chương 2: đối tượng và phương pháp nghiên cứu (19 trang); Chương 3: Kết quả nghiên cứu (38 trang); Chương 4: bàn luận (40 trang) Kết quả bao gồm 36 bảng, 21 biểu đồ Luận án có 180 tài liệu tham khảo (9 tài liệu tiếng Việt và 171 tài liệu tiếng Anh)

Trang 3

Chương 1 TỔNG QUAN 1.1 Tổng quan về bệnh tăng sinh tủy ác tính không có nhiễm sắc thể Ph

Bảng xếp loại các bệnh tăng sinh tủy ác tính lần đầu tiên được ủy ban xếp loại các bệnh máu ác tính của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) công bố năm 2001 với nỗ lực của nhiều nhà khoa học trên thế giới Theo hệ thống xếp loại này, bốn bệnh tăng sinh tủy ác tính thường gặp nhất gồm có: Lơ xê mi kinh dòng bạch cầu hạt (CML), PV, ET và PMF Trong số các bệnh tăng sinh tủy ác tính kinh điển nêu trên, trong khi CML

có đặc trưng về mặt di truyền bởi chuyển đoạn tương hỗ giữa nhiễm sắc thể

số 9 và 22, tạo ra nhiễm sắc thể Ph trong khoảng 95% các trường hợp, thì các bệnh còn lại cùng chia sẻ đặc điểm chung là sự có mặt của đột biến gen

JAK2 V617F trong phần lớn trường hợp Đột biến gen JAK2 V617F lần

đầu tiên được công bố vào năm 2005, được coi là phát hiện có ý nghĩa quan trọng nhất trong suốt hơn 30 năm nghiên cứu về các bệnh tăng sinh tủy ác tính Đột biến này được tìm thấy ở hầu hết bệnh nhân PV, khoảng 50% bệnh nhân ET và PMF, đã điều chỉnh các tiêu chí chẩn đoán nhóm bệnh MPN kinh điển Nhờ những hiểu biết mới về cơ chế bệnh sinh, xếp loại bệnh MPN của WHO năm 2008 như sau:

– Lơ xê mi kinh dòng bạch cầu hạt có BCR/ABL1 (+) - CML

– Đa hồng cầu nguyên phát - PV

– Tăng tiểu cầu tiên phát - ET

– Xơ tủy nguyên phát - PMF

– Lơ xê mi kinh bạch cầu hạt trung tính - CNL

– Lơ xê mi kinh bạch cầu hạt ưa acid - CEL

– Tăng tế bào mast toàn thể

– Bệnh tăng sinh tủy ác tính chưa xếp loại

Tất cả các thể bệnh MPN phát sinh từ một tế bào gốc sinh máu đột biến, tăng sinh đơn dòng và tạo ra hầu như tất cả các tế bào dòng tủy Sự tăng sinh đơn dòng của tế bào gốc sinh máu đột biến trong MPN

đi kèm với tăng sinh một hoặc nhiều dòng tế bào máu Chúng ta có thể thấy, PV không chỉ tăng quá mức dòng hồng cầu mà còn liên quan đến

Trang 4

tăng sinh cả dòng bạch cầu hạt và mẫu tiểu cầu ET được đặc trưng bởi

sự gia tăng số lượng tiểu cầu do mẫu tiểu cầu tăng sinh mạnh, trong khi PMF là một bệnh lý đa dạng cả về đặc điểm lâm sàng lẫn sinh học, được xác định bởi sự hiện diện của xơ hóa tủy xương (tăng quá mức sợi collagen) và tăng sinh mẫu tiểu cầu Tăng sinh các tế bào máu trong PMF ban đầu khu trú trong tủy xương và sau đó mở rộng đến các vị trí ngoài tủy (sinh máu ngoài tủy) như sinh máu tại lách

1.2 Các đột biến gen JAK2, CALR, MPL và con đường tín hiệu

JAK-STAT gây tăng sinh tế bào máu

Đột biến gen JAK2 V617F được phát hiện năm 2005, là một đột

biến điểm ở vị trí nucleotide 1849 với sự thay thế G thành T xảy ra trên

exon 14 của gen JAK2, dẫn đến acid amin valine ở codon 617 được thay bằng phenylalanine Đột biến JAK2 V617F được tìm thấy ở hầu hết

bệnh nhân PV (khoảng 95%) và ở 50 – 60% bệnh nhân ET và PMF Đột

biến JAK2 V617F phát sinh từ một tế bào sinh máu đa tiềm năng, xuất

hiện ở tất cả các tế bào dòng tủy và cũng có thể thấy trong các tế bào dòng lympho, chủ yếu là tế bào B và tế bào NK Rất hiếm gặp đột biến này ở các bệnh lý dòng tủy ác tính khác Bên cạnh đột biến trên exon

14, một số đột biến khác trên exon 12 của gen JAK2 cũng được ghi nhận Đột biến JAK2 exon 12 gặp với tỷ lệ 3-4% ở bệnh nhân PV,

thường được chỉ định khi bệnh nhân đa hồng cầu không có đột biến

JAK2 V617F Hầu như không gặp đột biến này ở ET và PMF

Đột biến gen MPL được báo cáo lần đầu vào năm 2006 ở những bệnh nhân ET và PMF không có đột biến JAK2 V617F Có hai kiểu đột biến chính của gen MPL (thụ thể của thrombopoietin) nằm trên exon 10

liên quan đến các bệnh MPN Hay gặp nhất là các đột biến trên tryptophan W515 nằm ở ranh giới giữa vùng xuyên màng và tế bào chất

(cytosol) của MPL, phổ biến nhất là đột biến MPL W515L và W515K Đột biến MPL W515 gặp ở ET và PMF, với tỷ lệ lần lượt là 3% và 5%,

nhưng cũng có thể gặp ở một số bệnh nhân thiếu máu dai dẳng tăng nguyên hồng cầu sắt vòng có số lượng tiểu cầu cao

Trang 5

Cuối năm 2013, các đột biến dịch chuyển khung (frameshift

mutation) trên gen CALR đã được phát hiện ở phần lớn bệnh nhân ET

và PMF không mang đột biến JAK2 và MPL Theo nhiều báo cáo trước đây, tỷ lệ gặp đột biến gen CALR khoảng 25% ở bệnh nhân ET và 20%

ở bệnh nhân PMF Hiện có trên 50 đột biến đã được mô tả, hầu hết đều

thuộc exon 9 của gen CALR, nhưng hai đột biến thường gặp nhất là mất

52 bp (p.L367fs * 46), còn được gọi là typ 1 và chèn thêm 5 bp (p.K385fs * 47), còn được gọi là typ 2 Có sự khác biệt lớn về tần suất

giữa đột biến CALR typ 1 và typ 2 ở bệnh nhân ET và PMF: ở ET, đột

biến typ 1 và typ 2 phân bố tương đối đều nhau (55% và 35%) trong khi

ở PMF, đột biến typ 1 chiếm chủ yếu (75% và 15%)

Các đột biến gen JAK2 V617F, MPL và CALR có liên quan chặt chẽ

đến sự hoạt hóa con đường tín hiệu gây tăng sinh tế bào máu JAK-STAT thông qua tương tác với các receptor của erythropoietin, thrombopoietin (MPL) và G-CSF Khi các cytokine liên kết với receptor đặc hiệu trên màng tế bào sẽ gây ra những thay đổi trong cấu trúc của các receptor, hoạt hóa các phân tử JAK liên kết với receptor bằng cách phosphoryl hóa chúng Các phân tử JAK2 đã hoạt hóa sẽ tạo điều kiện để các phân tử tín hiệu khác, đặc biệt là các STAT gắn vào receptor và được phosphoryl hóa Kết quả của con đường tín hiệu JAK-STAT là các phân tử STAT đã hoạt hóa sẽ di chuyển vào nhân tế bào, điều hòa quá trình phiên mã của các gen đích, làm tăng sinh các tế bào máu

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu:

422 bệnh nhân tăng sinh ác tính, chẩn đoán và điều trị lần đầu tại Viện Huyết học - Truyền máu Trung Ương từ tháng 12/2015 đến tháng 12/2019 Do đại dịch Covid-19 giai đoạn 2020-2021, một số bệnh nhân không thể đến khám và theo dõi định kỳ, để đảm bảo đủ cỡ mẫu, chúng tôi đã thu thập thêm bệnh nhân của năm 2019 Các bệnh nhân trong nghiên cứu được điều trị và theo dõi đến tháng 06/2021

Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân: Bệnh nhân được chẩn đoán xác định

1 trong 3 bệnh: Đa hồng cầu nguyên phát (109 bệnh nhân), Tăng tiểu

Trang 6

cầu tiên phát (250 bệnh nhân), Xơ tủy nguyên phát (63 bệnh nhân) theo tiêu chuẩn của WHO năm 2008 Bệnh nhân trên 16 tuổi, tự nguyện tham gia vào nghiên cứu, có đầy đủ thông tin về xét nghiệm và quá trình theo dõi điều trị

Tiêu chuẩn loại trừ bệnh nhân: Bệnh nhân lơ xê mi kinh dòng bạch

cầu hạt có BCR/ABL1 dương tính, tăng sinh tủy thứ phát

Cỡ mẫu: Thuận tiện

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu

- Mô tả cắt ngang có phân tích

2.2.2 Nội dung nghiên cứu

+ Một số đặc điểm xét nghiệm của bệnh nhân theo thể bệnh: số lượng

và hình thái tế bào máu ngoại vi, tế bào học và mô học tủy xương, đông máu huyết tương, một số chỉ số hóa sinh máu;

+ Xác định bất thường nhiễm sắc thể: tỷ lệ bất thường nhiễm sắc thể, đặc điểm bất thường số lượng và cấu trúc nhiễm sắc thể;

+ Xác định tỷ lệ một số đột biến gen có ý nghĩa trong MPN: JAK2 V617F, JAK2 exon 12, CALR typ 1, typ 2 và MPL W515L/K;

+ Phân nhóm nguy cơ tại thời điểm chẩn đoán: PV gồm 2 nhóm nguy

cơ thấp và cao dựa vào yếu tố tuổi và tiền sử huyết khối; ET gồm 4 nhóm nguy cơ rất thấp, thấp, trung bình, cao dựa vào yếu tố tuổi,

tiền sử huyết khối, số lượng bạch cầu, đột biến gen JAK2 V617F;

PMF gồm 4 nhóm nguy cơ thấp, trung bình – 1, trung bình – 2, cao dựa vào yếu tố tuổi, số lượng bạch cầu, Hb, tỷ lệ tế bào blast máu ngoại vi, triệu chứng toàn thân;

Trang 7

+ So sánh một số đặc điểm lâm sàng, xét nghiệm của bệnh nhân theo

tình trạng đột biến gen (JAK2 V617F, JAK2 exon 12, CALR, MPL)

và theo nhóm nguy cơ

- Mục tiêu 2:

+ Đánh giá kết quả điều trị: bệnh nhân được điều trị với các liệu pháp tốt nhất hiện có (Best available therapy – BAT) theo hướng dẫn điều trị các bệnh lý huyết học được Bộ Y Tế ban hành và khuyến cáo điều trị của Mạng lưới lơ xê mi Châu Âu (European LeukemiaNet – ELN)

+ Đánh giá đáp ứng điều trị về huyết học dựa trên các tiêu chí của ELN;

+ Đánh giá tỷ lệ tử vong, tỷ lệ xuất hiện các biến cố huyết khối, chuyển dạng xơ tủy (với PV và ET), chuyển dạng lơ xê mi cấp (với PMF), thời gian sống thêm toàn bộ;

+ Tìm hiểu mối liên quan giữa một số đặc điểm sinh học với thời gian sống thêm toàn bộ

2.2.3 Một số tiêu chuẩn đánh giá

– Một số tiêu chuẩn sử dụng trong đánh giá các biểu hiện lâm sàng:

+ Triệu chứng toàn thân được xác định khi bệnh nhân có một

trong ba dấu hiệu sau: (1) gầy sút trên 10% trọng lượng cơ thể trong vòng một năm tính đến thời điểm chẩn đoán, (2) sốt không giải thích được nguyên nhân, (3) ra mồ hôi đêm trên 1 tháng;

+ Biến cố huyết khối động mạch bao gồm: nhồi máu cơ tim cấp,

cơn đau thắt ngực không ổn định, đột quỵ, cơn thiếu máu não cục bộ thoáng qua, bệnh động mạch ngoại vi;

+ Biến cố huyết khối tĩnh mạch bao gồm: huyết khối tĩnh mạch

sâu, thuyên tắc phổi, huyết khối tĩnh mạch cửa hoặc tĩnh mạch mạc treo, huyết khối tĩnh mạch xoang não;

+ Rối loạn vi tuần hoàn gồm một trong các biểu hiện: tê bì tay

chân, đau đầu, chóng mặt, đỏ và đau đầu chi;

+ Phụ thuộc truyền máu là khi bệnh nhân có triệu chứng thiếu

máu đòi hỏi phải truyền khối hồng cầu ở bất kỳ lần vào viện nào

– Tiêu chuẩn đánh giá mức độ xơ hóa tủy xương của tác giả Thiele gồm 4 mức độ: 0, 1, 2, 3;

– Tiêu chuẩn đánh giá bất thường nhiễm sắc thể theo ISCN 2020;

Trang 8

– Tiêu chuẩn phân nhóm nguy cơ bệnh nhân PV:

Tuổi < 60

Thấp Không có tiền sử huyết khối

Tuổi ≥ 60

Cao

Có tiền sử huyết khối

– Tiêu chuẩn phân nhóm nguy cơ bệnh nhân ET:

Cao Có tiền sử huyết khối hoặc tuổi > 60 và có đột

– Tiêu chuẩn phân nhóm nguy cơ bệnh nhân PMF:

Trang 9

– Tiêu chuẩn đáp ứng điều trị của PV theo ELN 2011:

*Triệu chứng liên quan đến bệnh gồm: rối loạn vi tuần hoàn, ngứa, đau đầu

– Tiêu chuẩn đáp ứng điều trị của ET theo ELN 2011:

Trang 10

– Một số tiêu chuẩn đáp ứng điều trị của PMF theo ELN 2013:

Cải thiện lâm sàng − Cải thiện tình trạng thiếu máu, lách to hoặc

triệu chứng lâm sàng

− Không có bằng chứng tiến triển của bệnh hoặc tăng nặng mức độ thiếu máu, giảm tiểu cầu, bạch cầu trung tính

Cải thiện thiếu

máu

Bệnh nhân không phụ thuộc truyền máu: Hb tăng

≥ 20 g/l so với ban đầu Bệnh nhân phụ thuộc truyền máu: không còn phụ thuộc truyền máu

để phân tích tác động của một số yếu tố nguy cơ

2.3 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu

Nghiên cứu đã được thông qua hội đồng đạo đức Trường Đại học

Y Hà Nội theo quyết định số 187/HĐĐĐĐHYHN ngày 20 tháng 02 năm 2016 Bệnh nhân và gia đình tự nguyện tham gia vào nghiên cứu

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu có 422 bệnh nhân, bệnh nhân nữ chiếm tỷ lệ cao hơn ở

ET và PMF (60,8% và 58,7%), trong khi PV gặp nhiều hơn ở bệnh nhân nam (55%) Tuổi trung bình là 60,3 ± 15,3; 59% bệnh nhân ≥ 60 tuổi

Trang 11

Trong nhóm bệnh nhân nghiên cứu, ET gặp nhiều nhất (59,2%), tiếp đến là PV (25,8%) và ít gặp nhất là PMF (14,9%)

3.2 Một số đặc điểm lâm sàng và xét nghiệm của bệnh nhân tăng sinh tủy ác tính

PV (n = 109)

PMF (n = 63)

Rối loạn vi tuần hoàn (tê tay

chân, đỏ và đau đầu chi…) 114 45,6 67 61,5 3 4,8

Tiền sử huyết khối (nhồi máu

não, nhồi máu cơ tim, huyết

khối tĩnh mạch sâu chi

dưới…)

47 18,8 14 12,8 9 14,3

Trong những bệnh nhân có tiền sử huyết khối, phần lớn trường hợp là huyết khối động mạch (35/47 bệnh nhân ET có nhồi máu não hoặc nhồi máu cơ tim; 13/14 bệnh nhân PV có nhồi máu não; 8/9 bệnh nhân PMF có nhồi máu não hoặc nhồi máu lách) Chúng tôi gặp 2 bệnh nhân ET có nhiều hơn 1 vị trí huyết khối: 1 bệnh nhân có nhồi máu phổi

và huyết khối tĩnh mạch sâu chi dưới, 1 bệnh nhân có nhồi máu não, nhồi máu phổi và huyết khối tĩnh mạch sâu chi dưới

Trang 12

Mức độ lách to khác nhau giữa 3 thể bệnh, cụ thể, bệnh nhân ET

và PV chủ yếu gặp lách to độ I và II (23/24 bệnh nhân ET và 18/21 bệnh nhân PV), trong khi đó 19/57 bệnh nhân PMF có lách to độ III và

IV Bên cạnh đó, phần lớn trường hợp lách to ở bệnh nhân PMF có mật

độ chắc (82,5%) và sờ thấy bờ răng cưa (26,3%)

b Một số đặc điểm xét nghiệm

Một số đặc điểm về tế bào máu ngoại vi của các bệnh nhân như sau: – 82,6% bệnh nhân PMF có Hb < 120 g/l, trong đó 30,2% bệnh nhân có Hb < 80 g/l và đây là những bệnh nhân cần truyền máu Trong khi đó, 26,8% bệnh nhân ET có Hb < 120 g/l;

– Phần lớn bệnh nhân ở cả 3 thể bệnh đều có số lượng bạch cầu tăng > 10 G/l (72,4% ở ET; 68,8% ở PV; 71,4% ở PMF), tuy nhiên phần lớn không tăng quá 25 G/l Số bệnh nhân có số lượng bạch cầu tăng cao > 25 G/l chiếm 11,6% ở ET, 11,0% ở

PV (n = 109)

PMF (n = 63)

Ngày đăng: 30/05/2023, 06:33

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w