PHẦN MỞ ĐẦU PAGE 1 PHẦN MỞ ĐẦU 1 Tính cấp thiết của đề tài Trong những năm gần đây, các dự án đầu tư xây dựng công trình ngày một nhiều với quy mô ngày càng lớn hơn đòi hỏi công tác quản lý dự án ngày[.]
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, các dự án đầu tư xây dựng công trình ngày mộtnhiều với quy mô ngày càng lớn hơn đòi hỏi công tác quản lý dự án ngày càng phảihoàn thiện và khoa học hơn Công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình giữvai trò quan trọng đối với mọi khâu của quá trình thực hiện dự án, từ khâu chuẩn bịthực hiện cho tới hoàn thành đưa công trình vào sử dụng Công tác quản lý dự án tốt
sẽ giúp tiết kiệm chi phí cũng như nâng cao hiệu quả đầu tư xây dựng công trình
Quản lý dự án là một công tác có yếu tố của quản lý hành chính nói chung nhưng gắn liền với nó là vấn đề về quản lý kinh tế, chính vì vậy nó được đặc biệt coi trọng trong một đơn vị, một quy trình của dự án trong xây dựng Nếu quản lý không tốt không những ảnh hưởng lớn tới các phân đoạn dự án, chất lượng công trình, tiến độ, khả năng tài chính thậm trí là an toàn mạng sống của con người
Hiện nay khái niệm rủi ro được biết đến khá đơn thuần, nhiều người chỉ nghĩ một cách đơn giản, tự phát về nó mà không biết rằng đó là một môn khoa học đã được nghiên cứu áp dụng trong nhiều ngành ở các nước phát triển Trong quá trình thi công xây dựng công trình, một sai lầm kỹ thuật nhỏ ở một công việc nào đó có thể dẫn tới hậu quả không lường trước được
Với tầm quan trọng của quản lý rủi ro trong công tác quản lý dự án và sự cầnthiết hoàn thiện quản lý dự án ở doanh nghiệp nói chung và Tổng công ty Tư vấn xây dựng Việt Nam nói riêng tôi đã chọn đề tài luận văn thạc sỹ là: “Quản lý rủi ro trong dự án đầu tư xây dựng cơ bản của Tổng công ty tư vấn xây dựng Việt Nam (áp dụng tại công trình 25 Lý Thường Kiệt, Hà Nội)”
2 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là quản lý rủi ro tại dự án đầu tư xây dựng côngtrình 25 Lý Thường Kiệt, Hà Nội
3 Phạm vi nghiên cứu
Trang 2Phạm vi nghiên cứu của luận văn giới hạn ở việc quản lý dự án đầu tư xây dựngcông trình mà Tổng công ty tư vấn Xây dựng Việt Nam là chủ đầu tư.
4 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn về quản lý rủi ro trong đầu tư xây dựng công trình và phân tích thực trạng công tác quản lý rủi ro đầu tư xây dựng công trình tại Tổng công ty tư vấn xây dựng Việt Nam, và trên cơ sở đó đưa ra những giải pháp hoàn thiện quản lý dự án nhằm nâng cao chất lượng quản lý dự án
và phòng tránh những rủi ro trong công tác quản lý
5 Phương pháp nghiên cứu
- Luận văn vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử,đường lối chính sách của đảng và nhà nước về phát triển kinh tế xã hội vào tronglĩnh vực đầu tư xây dựng; kết hợp nghiên cứu định tính với định lượng
- Đồng thời, luận văn cũng sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phântích, tổng hợp vấn đề
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị và tài liệu tham khảo, nội dung của luận văngồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề chung về QLRR trong Dự án đầu tư Xây dựng công trình Chương 2: Thực trạng QLRR Dự án Đầu tư Xây dựng công trình của ban quản lý
dự án 25 Lý Thường Kiệt, Hà Nội
Chương 3: Một số biện pháp nâng cao chất lượng công tác quản lý và phòng tránh
những rủi ro trong công tác quản lý
Trang 3CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QLRR TRONG DỰ ÁN ĐẦU TƯ
XDCT 1.1 Tổng quan về Dự án đầu tư và QLDA đầu tư
1.1.1 Tổng quan về Dự án đầu tư
+ Dự án là những nỗ lực có thời hạn nhằm tạo ra một sản phẩm dịch vụ duy nhất.+ Dự án là một tổng thể các hoạt động phụ thuộc lẫn nhau nhằm tạo ra sản phẩmhoặc dịch vụ duy nhất trong khoảng thời gian xác định với sự ràng buộc về nguồnlực và ngân sách
+ Dự án là những nỗ lực có thời hạn nhằm tạo ra một sản phẩm hoặc dịch vụ duynhất Mọi dự án đều có điểm bắt đầu và kết thúc Dự án kết thúc khi mục tiêu của
dự án đã đạt được hoặc dự án bị loại bỏ
- Khái niệm dự án đầu tư
Dự án đầu tư là tập hợp đề xuất bỏ vốn trung và dài hạn để tiến hành các hoạt độngđầu tư trên địa bàn cụ thể, trong khoảng thời gian xác định
Như vậy dự án đầu tư có thể xem xét từ nhiều góc độ khác nhau:
+ Về mặt hình thức nó là một tập hợp hồ sơ tài liệu trình bày một cách chi tiết và có
hệ thống các hoạt động và chi phí theo một kế hoạch để đạt được những kết quả vàthực hiện được những mục tiêu nhất định trong tương lai
+ Trên góc độ quản lý, dự án đầu tư là một công cụ quản lý sử dụng vốn, vật tư, laođộng để tạo ra các kết quả tài chính, kinh tế - xã hội trong một thời gian dài
Trang 4+ Trên góc độ kế hoạch, dự án đầu tư là một công cụ thể hiện kế hoạch chi tiết củamột công cuộc đầu tư sản xuất kinh doanh, phát triển kinh tế - xã hội, làm tiền đềcho cho các quyết định đầu tư và tài trợ
+ Về mặt nội dung, dự án đầu tư là một tập hợp các hoạt động có liên quan với nhauđược kế hoạch hoá nhằm đạt các mục tiêu đã định bằng việc tạo ra các kết quả cụthể trong một thời gian nhất định, thông qua việc sử dụng các nguồn lực xác định
1.1.1.2 Đặc điểm dự án đầu tư xây dựng công trình
- Dự án có mục tiêu, kết quả xác định
- Dự án có chu kỳ phát triển và có thời gian tồn tại hữu hạn
- Sản phẩm của dự án mang tính đơn chiếc, độc đáo
- Dự án liên quan đến nhiều đối tượng: Chủ đầu tư, đơn vị thiết kế, đơn vị thi công,nhà cung ứng…
- Dự án đầu tư xây dựng luôn bị hạn chế bởi các nguồn lực: Tiền vốn, nhân lực,công nghệ kỹ thuật, vật tư thiết bị, thời gian thực hiện
- Dự án đầu tư xây dựng có tính rủi ro cao
1.1.2.3 Phân loại
a/ Theo quy mô và tính chất
- Dự án quan trọng quốc gia: do Quốc hội xem xét, quyết định về chủ trương đầu tư;
- Các dự án còn lại được phân thành 3 nhóm A,B,C theo quy định tại phụ lục 1 nghịđịnh 12/2009/NĐ-CP
b/ Theo nguồn vốn đầu tư:
- Dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước;
- Dự án sử dụng vốn tín dụng do Nhà nước bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triểncủa Nhà nước;
- Dự án sử dụng vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp nhà nước;
- Dự án sử dụng vốn khác bao gồm cả vốn tư nhân hoặc sử dụng hỗn hợp nhiềunguồn vốn
1.1.2.4 Quy trình thực hiện dự án đầu tư xây dựng công trình
Dự án đầu tư xây dựng công trình được thực hiện qua 3 giai đoạn:
Trang 5- Chuẩn bị đầu tư
- Thực hiện đầu tư
- Kết thúc xây dựng đưa dự án vào khai thác sử dụng
Quá trình thực hiện dự án đầu tư xây dựng công trình được tóm tắt qua sơ đồsau:
Sơ đồ 1.1: Nội dung của quá trình đầu tư và xây dựng
a Giai đoạn chuẩn bị đầu tư
Trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư, vấn đề chất lượng, sự chính xác của các kết quảnghiên cứu, việc tính toán và lập tổng mức đầu tư là quan trọng nhất Thực hiện tốtcông tác chuẩn bị đầu tư sẽ tạo tiền đề cho các giai đoạn tiếp theo đạt hiệu quả kinh
tế (đúng tiến độ, tránh phá đi làm lại, tránh các chi phí không cần thiết), tạo điềukiện cho quá trình hoạt động của dự án được thuận lợi, nhanh chóng thu hồi vốnđầu tư và có lãi Tất cả các công trình dự định đầu tư đều phải trải qua giai đoạnchuẩn bị đầu tư và chuẩn bị chu đáo các công tác sau đây:
- Nghiên cứu sự cần thiết phải đầu tư và quy mô đầu tư xây dựng công trình;
- Tiếp xúc thăm dò thị trường trong nước hoặc ngoài nước để tìm nguồn cung ứngvật tư, thiết bị, khả năng có thể huy động các nguồn vốn để đầu tư và lựa chọn hìnhthức đầu tư;
- Điều tra khảo sát, chọn địa điểm xây dựng;
Trang 6- Lập dự án đầu tư hoặc lập báo cáo kinh tế kỹ thuật Riêng đối với các dự án quantrọng quốc gia, chủ đầu tư phải lập báo cáo đầu tư xây dựng công trình trình quốchội xem xét, quyết định về chủ trương đầu tư;
- Gửi hồ sơ dự án và các văn bản trình đến người có thẩm quyền quyết định đầu tư,
tổ chức cho vay vốn đầu tư và cơ quan thẩm định dự án;
Giai đoạn này kết thúc khi nhận được văn bản Quyết định đầu tư nếu đây là đầu tưcủa Nhà nước hoặc văn bản Giấy phép đầu tư nếu đây là đầu tư của các thành phầnkinh tế khác
b Giai đoạn thực hiện đầu tư
Dự án được thực hiện phải đảm bảo hiệu quả đầu tư sao cho thời gian là ngắnnhất, chi phí là nhỏ nhất và đạt được hiệu quả cao nhất Trong giai đoạn này chi phíphải bỏ ra lớn và sử dụng trong suốt những năm thực hiện đầu tư Do đó, việc rútngắn thời gian là vấn đề quan trọng và cần thiết nhằm hạn chế các thiệt hại do bị ứđọng vốn và thi công dở dang Thời gian thực hiện đầu tư phụ thuộc rất nhiều vàocông tác chuẩn bị đầu tư, vào việc quản lý thực hiện đầu tư và quản lý thực hiện cáchoạt động khác có liên quan trực tiếp đến kết quả của quá trình thực hiện đầu tư.Giai đoạn thực hiện đầu tư giữ vai trò quyết định trong việc thực hiện quá trình đầu
tư nhằm vật chất hoá vốn đầu tư thành tài sản cố định cho nền kinh tế quốc dân
Ở giai đoạn này trước hết phải làm tốt công tác chuẩn bị xây dựng
Chủ đầu tư có trách nhiệm:
- Xin giao đất hoặc thuê đất theo quy định của Nhà nước
- Xin giấy phép xây dựng và giấy phép khai thác tài nguyên
- Chuẩn bị mặt bằng xây dựng
- Mua sắm thiết, bị và công nghệ
- Tổ chức tuyển chọn tư vấn khảo sát, thiết kế, giám định kỹ thuật và chất lượngcông trình
- Thẩm định và phê duyệt thiết kế kỹ thuật, tổng dự toán
- Tổ chức đấn thầu mua sắm thiết bị, thi công xây lắp công trình
- Ký kết hợp đồng với nhà thầu để thực hiện dự án
Trang 7Các tổ chức xây lắp có trách nhiệm:
- Chuẩn bị các điều kiện cho thi công xây lắp San lấp mặt bằng xây dựng điện,nước, công xưởng kho tàng, bến cảng, đường sá, lán trại và công trình tạm phục vụthi công, chuẩn bị vật liệu xây dựng v.v
- Chuẩn bị xây dựng những hạng mục công trình mà nhà thầu trúng thầu
- Bước tiếp theo của giai đoạn thực hiện đầu tư là tiến hành thi công xây lắp côngtrình theo đúng thiết kế, dự toán và tổng tiến độ được duyệt Trong bước này các cơquan, các bên đối tác có liên quan đến việc xây lắp công trình phải thực hiện đầy đủtrách nhiệm của mình, cụ thể là:
- Chủ đầu tư có nhiệm vụ theo dõi, kiểm tra việc thực hiện các hợp đồng
- Các nhà tư vấn có trách nhiệm giám định kỹ thuật và chất lượng công trình theođúng chức năng và hợp đồng đã ký kết
- Các nhà thầu phải thực hiện đúng tiến độ và chất lượng xây dựng công trình như
đã ghi trong hợp đồng
Yêu cầu quan trọng nhất đối với các công tác thi công xây lắp là đưa công trình vàokhai thác, sử dụng đồng bộ, hoàn chỉnh, đúng thời hạn quy định theo tổng tiến độ,đảm bảo chất lượng và hạ giá thành xây lắp
c Giai đoạn kết thúc xây dựng đưa dự án vào khai thác sử dụng
Giai đoạn vận hành các kết quả của giai đoạn thực hiện đầu tư nhằm đạtđược mục tiêu của dự án Nếu các kết quả của giai đoạn thực hiện đầu tư đảm bảotính đồng bộ, chất lượng tốt, đúng tiến độ thì hiệu quả hoạt động của các kết quảnày và mục tiêu của dự án chỉ còn phụ thuộc trực tiếp vào việc tổ chức quản lý vàkhai thác Thực hiện tốt giai đoạn chuẩn bị đầu tư và thực hiện đầu tư sẽ tạo điềukiện thuận lợi cho quá trình tổ chức quản lý, khai thác Nội dung công việc của giaiđoạn kết thúc xây dựng đưa công trình vào khai thác sử dụng bao gồm:
- Nghiệm thu, bàn giao công trình;
- Thực hiện việc kết thúc xây dựng;
- Vận hành công trình, và hướng dẫn sử dụng công trình;
- Bảo hành công trình;
Trang 8- Quyết toán vốn đầu tư;
- Phê duyệt quyết toán
Công trình chỉ được bàn giao toàn bộ cho người sử dụng khi đã xây lắp hoànchỉnh theo thiết kế được duyệt và nghiệm thu đạt chất lượng Hồ sơ bàn giao phảiđầy đủ theo quy định và phải được nộp lưu trữ theo các quy định pháp luật về lưutrữ Nhà nước
Sau khi nhận bàn giao công trình, chủ đầu tư có trách nhiệm khai thác, sửdụng đầy đủ năng lực công trình, hoàn thiện tổ chức và phương pháp quản lý nhằmphát huy đầy đủ các chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật đã đề ra trong dự án
1.2 Quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình
1.2.1 Khái niệm quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình
Quản lý dự án là tác động quản lý của chủ thể quản lý thông qua quá trìnhlập kế hoạch, điều phối thời gian, nguồn lực và giám sát quá trình phát triển của dự
án nhằm đảm bảo cho dự án hoàn thành đúng thời hạn, trong phạm vi ngân sáchđược duyệt và đạt được các yêu cầu đã định về kỹ thuật và chất lượng sản phẩm,dịch vụ bằng những phương pháp và điều kiện tốt nhất cho phép
Nói cách khác, quản lý dự án là hoạt động quản trị quá trình hình thành, triểnkhai và kết thúc dự án, trong một môi trường hoạt động nhất định, với không gian
và thời gian xác định
1.2.2 Các hình thức quản lý dự án
Theo nghị định 12/2009/NĐ-CP ngày 12 tháng 2 năm 2009 của chính phủ về quản
lý dự án đầu tư xây dựng công trình thì có hai hình thức quản lý dự án chủ yếu là:
- Hình thức chủ đầu tư trực tiếp quản lý dự án
- Hình thức chủ đầu tư thuê tư vấn quản lý dự án
1.2.2.1 Hình thức chủ đầu tư trực tiếp quản lý dự án
Chủ đầu tư thành lập Ban Quản lý dự án để giúp chủ đầu tư làm đầu mốiquản lý dự án Ban Quản lý dự án phải có năng lực tổ chức thực hiện nhiệm vụ quản
lý dự án theo yêu cầu của chủ đầu tư Ban Quản lý dự án có thể thuê tư vấn quản lý,giám sát một số phần việc mà Ban Quản lý dự án không có đủ điều kiện, năng lực
Trang 9để thực hiện, nhưng phải được sự đồng ý của chủ đầu tư Ban quản lý được chủ đầu
tư lập ra có thể quản lý 1 hay nhiều dự án do chủ đầu tư giao phụ thuộc vào nănglực của ban quản lý đó Ban quản lý được lập ra phải đảm bảo các nguyên tắc:
- Ban quản lý dự án do chủ đầu tư thành lập, là đơn vị trực thuộc chủ đầu tư.Quyền hạn, nhiệm vụ của ban quản lý do chủ đầu tư giao
- Ban quản lý dự án có trách nhiệm pháp nhân hoặc sử dụng pháp nhân củachủ đầu tư để tổ chức quản lý thực hiện dự án
- Cơ cấu tổ chức của ban quản lý dự án bao gồm giám đốc (Trưởng ban), phógiám đốc (Phó trưởng ban) và lực lượng chuyên môn, nghiệp vụ Cơ cấu bộ máycủa ban quản lý dự án phải phù hợp với nhiệm vụ được giao và bảo đảm dự án đượcthực hiện đúng tiến độ, chất lượng và tiết kiệm chi phí Các thành viên của ban quản
lý dự án làm việc theo chế độ chuyên trách hoặc kiêm nhiệm
- Một ban quản lý dự án có thể được giao đồng thời quản lý thực hiện nhiều
dự án, nhưng phải bảo đảm từng dự án được theo dõi, ghi chép riêng và quyết toánkịp thời theo đúng quy định của pháp luật
- Ban quản lý dự án hoạt động theo quy chế do chủ đầu tư ban hành, chịutrách nhiệm trước chủ đầu tư và pháp luật theo nhiệm vụ, quyền hạn được giao
- Chủ đầu tư phải cử người có trách nhiệm để chỉ đạo, đôn đốc, kiểm tra banquản lý dự án thực hiện quyền hạn, nhiệm vụ để bảo đảm dự án được thực hiệnđúng nội dung và tiến độ đã được phê duyệt Chủ đầu tư phải chịu trách nhiệm toàndiện về những công việc thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của mình theo quy định củapháp luật, kể cả những công việc đã giao cho ban quản lý dự án thực hiện
Trường hợp ban quản lý dự án có tư cách pháp nhân và năng lực chuyên mônthì có thể được giao nhiệm vụ quản lý thực hiện dự án của chủ đầu tư khác khi cơquan thành lập ra ban quản lý dự án chính là cấp quyết định đầu tư của dự án đó.Trong trường hợp này cấp quyết định đầu tư phải có quyết định phân giao nhiệm vụ
cụ thể và ban hành cơ chế phối hợp giữa chủ đầu tư và ban quản lý dự án để bảođảm dự án được thực hiện đúng tiến độ, chất lượng và hiệu quả Sau khi công tácxây dựng hoàn thành, ban quản lý dự án bàn giao công trình cho chủ đầu tư khai
Trang 10thác sử dụng Ban quản lý dự án loại này có thể được nhận thầu làm tư vấn quản lý
dự án cho chủ đầu tư khác nếu có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật và được
cơ quan quyết định thành lập ra ban quản lý dự án cho phép
1.2.2.2 Chủ đầu tư thuê tư vấn quản lý dự án.
Hình thức chủ đầu tư thuê tư vấn quản lý dự án là hình thức chủ đầu tư kýhợp đồng thuê một pháp nhân khác làm tư vấn quản lý dự án
Trong trường hợp này thì tổ chức tư vấn đó phải có đủ điều kiện năng lực tổchức quản lý phù hợp với quy mô, tính chất của dự án Trách nhiệm, quyền hạn của
tư vấn quản lý dự án được thực hiện theo hợp đồng thoả thuận giữa hai bên
Khi áp dụng hình thức thuê tư vấn quản lý dự án, chủ đầu tư vẫn phải sửdụng các đơn vị chuyên môn thuộc bộ máy của mình hoặc chỉ định đầu mối để kiểmtra, theo dõi việc thực hiện hợp đồng của tư vấn quản lý dự án
Tư vấn quản lý dự án thực hiện các nội dung quản lý thực hiện dự án theo hợpđồng ký với chủ đầu tư Hợp đồng thuê tư vấn quản lý dự án phải nêu rõ phạm vicông việc và nội dung quản lý; quyền hạn, trách nhiệm của tư vấn và của chủ đầu tư
Tư vấn quản lý dự án có trách nhiệm tổ chức bộ máy và cử người phụ trách
để trực tiếp thực hiện nhiệm vụ quản lý thực hiện dự án theo hợp đồng đã ký vớichủ đầu tư Tư vấn quản lý dự án phải có văn bản thông báo về nhiệm vụ, quyềnhạn của người phụ trách và bộ máy của tư vấn trực tiếp thực hiện quản lý dự án chochủ đầu tư biết và thông báo tới các nhà thầu khác và tổ chức, cá nhân có liên quan
Tư vấn quản lý dự án được thuê thêm tổ chức, cá nhân khác tham gia thựchiện một số phần việc quản lý thực hiện dự án, nhưng phải được chủ đầu tư chấpthuận
1.2.3 Vai trò của Quản lý dự án
Quản lý dự án có các tác dụng chủ yếu sau:
- Giúp tổ chức cơ cấu quản trị, tăng cường các hoạt động lập kế hoạch, điềuhành thực hiện, kiểm soát, ra quyết định kịp thời để đảm bảo dự án đạt mục tiêu đề
ra Giúp tạo ra sản phẩm và dịch vụ có chất lượng cao hơn
Trang 11Lập kế hoạch
Thiết lập mục tiêu
Dự tính nguồn lựcXây dựng kế hoạch
Điều phối thực hiện
Bố trí tiến độ thời gianPhân bố nguồn lựcPhối hợp các hoạt độngKhuyến khích động viên
Giám sát, kiểm tra, đánh giá
Đo lường kết quả
So sánh với mục tiêu
Báo cáoGiải quyết vấn đề
- Liên kết tất cả các hoạt động, công việc của dự án Liên kết các nhóm thựchiện dự án với khách hàng và các bên liên quan khác Tăng cường sự hợp tác giữacác thành viên tham gia dự án
- Tạo điều kiên phát triển sớm những khó khăn vướng mắc nảy sinh và điềuchỉnh kịp thời trước những thay đổi Tạo điều kiện đàm phán trực tiếp giữa các bên
để giải quyết bất đồng
1.2.4 Quá trình quản lý dự án
Quản lý dự án bao gồm ba giai đoạn chủ yếu Đó là việc lập kế hoạch, việcđiều phối thực hiện và giám sát dự án Nội dung chủ yếu là quản trị tiến độ thờigian, chi phí thực hiện dự án nhằm đạt được những mục tiêu cụ thể Đây là một chutrình năng động và có tính chất phản hồi cho việc tái lập kế hoạch như trình bàytrong hình 1.2 dưới đây:
Sơ đồ 1.2 : Mối liên hệ các giai đoạn của quá trình quản lý dự án
Trang 121.2.5 Nội dung quản lý dự án
Quản lý dự án gồm 9 lĩnh vực chính như trong hình 1.3
Lập kế hoạch tổng quan: là quá trình tổ chức dự án theo một trình tự lôgic, là
việc chi tiết hóa các mục tiêu dự án hoàn thành những công việc cụ thể và hoạchđịnh một chương trình để thực hiện các công việc đó nhằm đảm bảo các lĩnh vựcquản lý khác nhau của dự án được kết hợp chính xác và đầy đủ
Quản lý phạm vi: là việc xác định, giám sát thực hiện mục tiêu dự án, xác
định công việc nào thuộc về dự án và cần phải thực hiện công việc nào ngoài phạm
vi dự án
Quản lý thời gian: là việc lập kế hoạch, phân phối và giám sát tiến độ thời
gian nhằm đảm bảo thời hạn hoàn thành dự án Nó chỉ rõ mỗi công việc kéo dài baolâu, khi nào bắt đầu, khi nào kết thúc và toàn bộ dự án bao giờ sẽ hoàn thành
- Quản lý thay đổi phạm vi
Quản lý thời gian
- Tuyển dụng
- Phát triển nhóm
Quản lý thông tin
- Lập kế hoạch
- Phân phối thông tin
- Báo cáo tiến độ
- Quản trị hợp đồng
- Quản trị tiến độ cung ứng
Trang 13Sơ đồ 1.3 : Các lĩnh vực quản lý dự án
Quản lý chi phí: Là quá trình dự toán chi phí, giám sát thực hiện chi phí theo
tiến độ cho từng công việc và toàn bộ dự án Cần tổ chức, phân tích số liệu và báocáo chi phí dự án
Quản lý chất lượng: là quá trình triển khai giám sát tiêu chuẩn chất lượng
cho việc thực hiện dự án, đảm bảo chất lượng sản phẩm dự án đáp ứng yêu cầu củaChủ đầu tư
Quản lý nhân lực: là việc hướng dẫn, phối hợp những nỗ lực của mọi thành
viên tham gia dự án vào việc hoàn thành mục tiêu dự án
Quản lý thông tin: là quá trình đảm bảo các dòng thông tin thông suốt một
cách nhanh nhất và chính xác giữa các thành viên dự án và các cấp quản lý khácnhau
Quản lý rủi ro: là việc xác định các yếu tố rủi ro dự án, lượng hóa mức độ
rủi ro và có kế hoạch đối phó cũng như quản trị từng loại rủi ro
Quản lý hợp đồng và hoạt động mua bán: là quá trình lựa chọn, thương
lượng, quản lý hợp đồng và điều hành việc mua bán nguyên vật liệu, trang thiết bị,dịch vụ … cần thiết cho dự án Quá trình quản trị này giải quyết vấn đề: bằng cáchnào dự án nhận được hàng hóa và dịch vụ cần thiết của các tổ chức bên ngoài cungcấp cho dự án, tiến độ cung cấp, chất lượng cung cấp như thế nào
1.2 QLRR trong QLDA Đầu tư
1.2.1 Rủi ro và QLRR
1.2.1.1 Rủi Ro
a Khái niệm về rủi ro.
Trong cuộc sống hàng ngày, cũng như trong hoạt động kinh tế của con ngườithường có những tai nạn, sự cố bất ngờ, ngẫu nhiên xảy ra, gây thiệt hại về người vàtài sản Những tai họa, tai nạn, sự cố xảy ra một cách bất ngờ, ngẫu nhiên như vậygọi là rủi ro Như vậy, theo quan điểm này có thể định nghĩa “rủi ro là những sựkiện bất lợi, bất ngờ xảy ra và gây tổn thất cho con người”
Trang 14Nói đến rủi ro là đề cập đến những sự kiện không may mắn, bất ngờ đã xảy
ra gây những thiệt hại về lợi ích của con người gồm: sức khỏe, tinh thần, tài sản, lợibất hưởng Như vậy, rủi ro là sự biến động tiềm ẩn ở những kết quả Rủi ro hiệndiện trong hầu hết hoạt động của con người Khi có rủi ro người ta không thể dựđoán được chính xác kết quả Sự hiện diện của rủi ro gây ra sự bất định Như vậy,
sự bất định là sự nghi ngờ về khả năng của chúng ta trong tiên đoán kết quả nó xuấthiện khi một cá nhân nhận thức được nguy cơ về rủi ro Nguy cơ rủi ro có thể phátsinh bất cứ khi nào và không thể dự đoán trước được Và một khi xảy ra thì hậu quảthường thấy là mang lại nhiều tổn thất cho người gánh chịu rủi ro đó
- Tính bất ngờ: rủi ro bao gồm những sự kiện mà con người không thể đo lường
nó một cách đầy đủ và chắc chắn.Tất cả các rủi ro đều bất ngờ với những mức độkhác nhau dẫn đến việc con người có thể nhận diện rủi ro hay không Trong trườnghợp con người không thể đoán trước được rủi ro và không nhận dạng được thì nó sẽxảy ra hoàn toàn bất ngờ với con người Cũng có những rủi ro mà con người nhậndạng được nhưng không thể đo lường một cách chính xác những thiệt hại mà nó cóthể mang lại Tuy nhiên, nếu con người có thể nhận dạng và tính được chính xác cácrủi ro có thể đến với mình thì rủi ro sẽ không còn nữa mà nó trở thành những sựkiện bất lợi mà con người không mong muốn xảy ra như thiên tai, thời tiết…
- Tính chất ngoài mong đợi: trong cuộc sống, con người ai cũng mong muốn nhậnđược lợi ích cũng như những điều tốt đẹp may mắn trong mọi lĩnh vực và hoạt độngcủa cuộc sống Tuy nhiên trong cuộc sống không phải lúc nào cũng được như vậy.Những điều, những sự kiện không may mắn, gây tổn thất cho cuộc sống của conngười luôn tồn tại và trở thành điều không mong muốn trong cuộc sống hay nóicách khác đó là những sự kiện ngoài mong đợi của con người
Trang 15- Tính sự cố gây ra tổn thất: những rủi ro xảy ra không thể đo lường được hoặc đolường một cách không chính xác dẫn đến những hậu quả cho con người trong hoạtđộng họ tham ra có rủi ro Trên thực tế, tổn thất mà mỗi rủi ro mang lại là khônggiống nhau, có thể nhiều, ít hay đôi khi có thể coi là không hề mang lại tổn thất gì Tổn thất mà các rủi ro mang lại tồn tại dưới nhiều dạng khác nhau: hữu hình (tàisản, vật chất ) hay vô hình (sức khoẻ, tinh thần, trách nhiệm, đạo đức ).
Nói cách khác, dù được nhìn nhận dưới những góc độ hay hình thái khác nhau thìrủi ro đều bao hàm trong nó sự bất ngờ, ngoài mong đợi của con người và gây nênnhững tổn thất khác nhau đối với các hoạt động mà con người tham gia
c Phân loại rủi ro
+ Phân loại theo tính chất của rủi ro.
- Rủi ro thuần tuý: loại rủi ro chỉ có thể dẫn đến những tổn thất về mặt kinh tế haykhả năng kiếm lời của hoạt động
Rủi ro thuần tuý thường đưa đến kết quả mất mát và tổn thất khi xảy ra Như rủi rohoả hoạn, cháy nổ sẽ dẫn đến việc mất mát một số tài sản nhưng nếu không xảy rathì sẽ không gây thiệt hại gì
Rủi ro thuần tuý liên quan đến việc phá huỷ tài sản, động đất gây phá huỷ các toànhà
Theo đó, rủi ro này có nguyên nhân từ những đe doạ, nguy hiểm rình rập, và vì vậynên biện pháp để đối phó với nó chính là hình thức bảo hiểm
- Rủi ro suy tính: đây là loại rủi ro xảy ra do ảnh hưởng của các nguyên nhân khó
+ Theo khả năng dự đoán
- Rủi ro có thể tính được: loại rủi ro có tần số xuất hiện có thể đoán được ở mứcchính xác và độ tin cậy cao
Trang 16- Rủi ro không thể tính được: tần số xuất hiện của loại rủi ro này quá bất thường
và khó để có thể dự đoán
+ Theo nguồn gốc rủi ro.
- Rủi ro nội sinh: là những rủi ro do những nguyên nhân nội tại của dự án Nhữngnhuyên nhân nội sinh thường nhắc đến như: quy mô, mức độ phức tạp, tính mới lạcủa dự án, các nhân tố ảnh hưởng đến tốc độ thiết kế và xây dựng, hệ thống tổ chứcquản lý dự án
- Rủi ro ngoại sinh: là những rủi ro do những nguyên nhân bên ngoài gây nên.Những nhân tố ngoại sinh thường gặp là lạm phát, biến đổi thị trường, tính sẵn cócủa lao động và nguyên liệu, độ bất định về chính trị, những ảnh hưởng của thờitiết
+ Theo phạm vi ảnh hưởng của rủi ro.
- Rủi ro cơ bản: là những rủi ro sinh ra từ những nguyên nhân ngoài tầm kiểm soátcủa con người Hậu quả mà nó mang lại thường rất nghiêm trọng, khó lường, có ảnhhưởng đến cộng đồng và toàn xã hội.Thường thì hầu hết các rủi ro này xuất phát từcác tác động tương hỗ thuộc về kinh tế, chính trị, xã hội
- Rủi ro riêng biệt: rủi ro xuất phát từ biến cố chủ quan và khách quan từ cá nhân,
tổ chức và ảnh hưởng tới lợi ích của từng cá nhân, tổ chức như sai lầm trong lựachọn chiến lược kinh doanh, đối tác hay mặt hàng kinh doanh trong từng thời kì
+ Phân loại rủi ro theo lĩnh vực.
Là cách phân loại rủi ro theo các lĩnh vực của đời sống kinh tế-xã hội Các rủi
ro có thể phát sinh từ những lĩnh vực khác nhau của cuộc sống: về chính trị (nhữngthay đổi bất thường của thể chế chính trị), về kinh tế (lạm phát, suy thoái, ) pháp lý(pháp luật, thủ tục hành chính, các hợp đồng kinh tế), môi trường kinh doanh, vănhoá khác nhau giữa các nước, sự mất cân đối về thông tin giữa các bên,…
1.2.1.2 Quản lý rủi ro
a Khái niệm
Quản lý rủi ro là một chức năng của quản lý chung để nhận dạng, đánh giá,
đối phó với những nguyên nhân và hậu quả của rủi ro đối với một tổ chức Mục
Trang 17đích của quản trị rủi ro là cho phép tổ chức tiến đến những mục đích của nó bằngcon đường trực tiếp và có hiệu quả nhất.
Do môi trường kinh doanh đầy những biến động và rủi ro, và những yếu tốnày có những tác động không tốt đến hoạt động và kết quả kinh doanh nên hoạtđộng quản lý rủi ro là cấp thiết Nếu quản lý rủi ro không tốt sẽ làm tăng nguy cơthất bại trong hoạt động sản xuất, kinh doanh Điều đó cho thấy vai trò quan trọngcủa quản lý rủi ro
b Quá trình quản lý rủi ro
Quản lý rủi ro gồm có hai quá trình: đánh giá rủi ro và kiểm soát rủi ro, trong
đó đánh giá rủi ro là rất cần thiết và phải được tiến hành ngay từ đầu và ở bất kỳthời điểm nào, hơn nữa công tác kiểm soát rủi ro chỉ có hiệu quả sau khi đã tiếnhành đánh giá rủi ro một cách kỹ lưỡng Tuy nhiên, có một số quan điểm cho rằngquản trị rủi ro chỉ bao gồm đánh giá rủi ro mà không cần kiểm soát rủi ro, do vậysau khi tiến hành đánh giá rủi ro họ cho là mình đã thực hiện hoàn chỉnh chức năngquản trị Rất nhiều dự án đã dành rất nhiều thời gian và nỗ lực đến đánh giá rủi rosau đó thì bỏ qua hoàn toàn công tác kiểm soát rủi ro, đó là một sai lầm, vì sau khi
đã nhận diện và đánh giá được rủi ro mà không tiến hành kiểm soát các rủi ro đó thìcác rủi ro đó sẽ vẫn xảy ra và vẫn gây ra tổn thất Do đó, sau khi nhận diện và cóbiện pháp đối phó với rủi ro đó thì cần tiến hành hoạt động kiểm soát rủi ro để ngănchặn hoặc hạn chế rủi ro tiếp tục xảy ra hoặc gây thiệt hại
QUẢN LÝ RỦI RO CÓ HIỆU QUẢ
Giảm thiểu rủi ro Lập kế hoạch khẩn cấp Đo lường và kiểm soát rủi ro
Kiểm soát rủi roXác định những yếu tố bất định Phân tích rủi ro Sắp xếp thứ tự ưu tiên rủi ro
Đánh giá rủi roQuản lý rủi ro
Trang 18Nguồn: www.netcomuk.uk
* Đánh giá rủi ro
Xác định yếu tố bất địnhĐánh giá rủi ro Phân tích rủi ro
Sắp xếp rủi ro theo thứ tự
ưu tiên cần đối phó
Nguồn: www.netcomuk.ukQuá trình đánh giá rủi ro bao gồm 3 yếu tố:
- Xác định các yếu tố bất định (hay sự không chắc chắn): cần phải rà soát lại
toàn bộ kế hoạch đã lên và tìm kiếm những yếu tố bất định hoặc những hạn chế của
kế hoạch
- Phân tích rủi ro: Phân tích rủi ro là việc xác định những yếu tố bất định trên ảnh
hưởng như thế nào đến quá trình thực hiện dự án, chi phí và việc đáp ứng nhu cầucủa khách hàng
- Sắp xếp rủi ro theo thứ tự ưu tiên đối phó: Sau khi đã xác định và phân loại rủi
ro, tùy theo rủi ro thuộc nhóm nào mà cần có hành động cần thiết đối phó với loạirủi ro đó
* Kiểm soát rủi ro
Tối thiểu hóa rủi ro
Đo lường và kiểm soát rủi ro
Trang 19Nguồn: www.netcomuk.uk
Kiểm soát rủi ro bao gồm 3 nhân tố:
- Tối thiểu hóa rủi ro: Cần tiến hành tối thiểu hóa những rủi ro đã được
nhận dạng ngay từ giai đoạn đầu của dự án Tối thiểu hóa rủi ro có thể tiến hànhthông qua việc giảm khả năng xảy ra rủi ro cũng như giảm tác động của rủi ro đó.Thực tế đã chứng minh đầu tư vào việc giảm rủi ro trong thời gian đầu của dự án làmột sự đầu tư khôn ngoan Nếu chờ đến khi rủi ro xảy ra và gây ra hậu quả rồi mớitìm cách khắc phục tổn thất sẽ làm tăng chi phí của dự án lên rất cao Ngược lại, tốithiểu hóa các rủi ro ngay từ giai đoạn bắt đầu sẽ mang lại nhiều lợi ích và chi phícủa dự án sẽ giảm đáng kể
- Lập kế hoạch: việc tiến hành đánh giá rủi ro sẽ cho chúng ta thấy những
điểm bất ổn của dự án Vì vậy, kế hoạch ứng phó với các rủi ro bao gồm các rủi ro
đã được xác định và kế hoạch khẩn cấp để hồi phục lại trạng thái ban đầu nếu cácrủi ro đó xảy ra Ít nhất thì kế hoạch đó phải xác định được người sẽ phụ trách việchồi phục sau rủi ro, bản chất của rủi ro, các hành động để đối phó và phương phápngăn chặn hoàn toàn rủi ro đó
- Đo lường và kiểm soát rủi ro: Để kiểm soát được rủi ro thì chúng ta phải
đo lường tác động của nó đến những yếu tố của dự án Trong một dự án, những yếu
tố luôn đo lường được đó là: thời gian thực hiện, chi phí và sự hài lòng của kháchhàng Sau khi đánh giá và xác định rõ các rủi ro đã xảy ra, các nhà quản trị rủi ro cónhiệm vụ phải giám sát các rủi ro đó, có những hành động thích hợp để ngăn chặnnhững rủi ro này diễn ra hoặc những kế hoạch phục hồi lại nếu các rủi ro đó xảy ra
Công tác kiểm soát rủi ro phải luôn được tiến hành đồng thời cả ba nhiệm vụtrên sau khi đã tiến hành nhận định và đánh giá rủi ro Tối thiểu hóa rủi ro, lập kếhoạch đối phó và kiểm soát rủi ro là ba nhân tố, ba nhiệm vụ khác nhau nhưngkhông tách rời nhau Cả ba nhiệm vụ này cần được tiến hành đồng thời và songsong Không có nhân tố nào quan trọng hơn và cũng không có nhân tố nào có thể bịxem nhẹ Do vậy, để công tác kiểm soát rủi ro có hiệu quả thì vấn đề quan trọng
Trang 20nhất là đảm bảo được ba nhiệm vụ trên được tiến hành đồng thời với sự quan tâm vàđầu tư như nhau.
c Các biện pháp quản lý rủi ro
Né tránh rủi ro là một biện pháp hữu hiệu, nó đảm bảo rằng người thực hiện
sẽ không phải gánh chịu những tổn thất, thiệt hại trong trường hợp rủi ro đó xảy ra,nhưng nó lại làm mất đi những lợi ích có thể có nếu như chấp nhận rủi ro đó Hơnnữa, trong nhiều trường hợp không thể né tránh rủi ro vì rủi ro và cơ hội thườngsong song tồn tại Trong kinh doanh nếu né tránh hoàn toàn các rủi ro thì cũng cónghĩa là đã từ bỏ hoàn toàn các cơ hội sinh lợi Một rủi ro lại không tồn tại trongmột môi trường cụ thể nên tránh rủi ro này lại làm tăng hoặc phát sinh những rủi rokhác
* Ngăn chặn và giảm thiểu tổn thất
Biện pháp ngăn chặn và giảm thiểu tổn thất nhằm làm giảm các tổn thất cóthể xảy ra hoặc giảm mức thiệt hại khi tổn thất xảy ra
- Ngăn chặn rủi ro: đây là một lựa chọn khôn ngoan hơn cả vì sau khi biết
được khả năng xảy ra rủi ro thì chấp nhận rủi ro đó với một sự chuẩn bị sẵn sàng vàvẫn hoàn thành công việc với một chi phí phù hợp để vẫn có lợi trong tương lai
- Giảm thiểu tổn thất: nghĩa là làm giảm bớt giá trị của hư hại khi tổn thất
xảy ra nói cách khác là làm giảm mức độ nghiêm trọng của tổn thất Đây là nhữngbiện pháp được tiến hành sau khi tổn thất đã xảy ra Các biện pháp này cũng chứng
tỏ một số tổn thất đã xảy ra mặc dù đã có những nỗ lực ngăn chặn nhất định Dovậy, các biện pháp này cần được tiến hành một cách nghiêm túc và chặt chẽ
* San xẻ rủi ro
Trang 21Rủi ro được san xẻ thông qua việc mua bảo hiểm Đây là phương pháp quantrọng được sử dụng phổ biến nhất để chống lại rủi ro Bảo hiểm là một sách lượcnhằm làm giảm tính không chắc chắn trong quá trình kinh doanh Có hai loại hìnhbảo hiểm:
- Tự bảo hiểm: Đây là một biện pháp dự phòng trước khi rủi ro xảy ra.
Thông thường các quỹ dự phòng tài chính được lập ra để tự khắc phục những sự cốtrong kinh doanh Biện pháp này có hạn chế là không phải cá nhân hay tổ chức nàocũng có khoản tiền dự trữ, quỹ dự trữ này cũng thường không bù đắp được nhữngtổn thất lớn, mang tính thảm họa, hơn nữa nếu ai cũng dự trữ thì sẽ gây đọng vốnlớn trong xã hội
- Mua bảo hiểm (chuyển rủi ro): các dịch vụ bảo hiểm được các công ty
bảo hiểm cung cấp Các công ty này đưa ra hàng loạt các hợp đồng bảo hiểm khácnhau, gồm một phạm vi rộng lớn các loại nguy cơ, rủi ro có thể xảy ra Người muabảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm và sẽ được bồi thường khi có tổn thất do rủi rođược bảo hiểm gây ra Các công ty bảo hiểm thu phí của nhiều đối tượng, vớinguyên tắc là “lấy số đông bù số ít”, số người tham gia bảo hiểm thì nhiều nhưng sốngười gặp phải tổn thất thì ít, nên rủi ro được chia xẻ đều cho các đối tượng thamgia bảo hiểm Ưu điểm của biện pháp này là không gây đọng vốn lớn, phạm vi bùđắp lớn nên có thể bù đắp cho những tổn thất mang tính thảm họa, do vậy, biệnpháp này ngày càng phát triển và được sử dụng rộng rãi
1.3 Rủi ro trong Dự án đầu tư xây dựng - nguyên nhân và hậu quả
Rủi ro luôn tiềm ẩn trong mọi giai đoạn của dự án Kể từ khi xác định chủtrương đầu tư, chuẩn bị đầu tư, cho đến khi kết thúc dự án đưa vào khai thác sửdụng, có rất nhiều nhân tố là nguyên nhân trực tiếp và gián tiếp gây ra rủi ro, đồngthời rủi ro xảy ra cũng đưa đến các hậu quả nhất định Do vậy việc đánh giá nguyênnhân và hậu quả của rủi ro phải căn cứ vào các khâu, các giai đoạn của dự án Hình1.7 thể hiện nhóm các rủi ro trong Dự án đầu tư xây dựng để đánh giá nguyên nhân
và hậu quả rủi ro
Rủi ro do chủ trương đầu tư sai Rủi ro trong triển khai & điều hành Giai
Trang 22lệch kế hoạch đầu tư
đoạnchuẩn bị
g bốtrí vàsửdụngvốn
Rủirotron
g lựachọnnhàthầu
Rủi rotrongthicông,nghiệ
m thu,thanhtoán
Rủirotrongquản
lý vàtriểnkhaithựchiệndựán
Rủirodobiếnđộngnềnkinhtế,giácả
Rủirotrongthanhtoánvốn
Giaiđoạnthựchiện dựán
đoạnkhaithác DAHình 1.7 Đánh giá rủi ro trong DA đầu tư xây dựng
1.3.1 Đánh giá nguyên nhân và hậu quả của các rủi ro trong giai đoạn chuẩn
bị Dự án
1.3.1.1 Đánh giá nguyên nhân và hậu quả của các rủi ro có nguyên nhân từ chủ
trương đầu tư sai lầm:
Việc xác định chủ trương đầu tư có ý nghĩa quan trọng đối với hiệu quả kinh
tế, hiệu quả xã hội của Dự án xây dựng Các rủi ro do sai lầm về chủ trương đầu tư
sẽ gây mất hiệu quả đầu tư, gây hậu quả nghiêm trọng như lãng phí, thất thoát bao
gồm cả lãng phí trực tiếp và lãng phí gián tiếp Các rủi ro do chủ trương đầu tư bao
gồm: rủi ro trong công tác quy hoạch, trong khâu quyết định đầu tư, được trình bày
cụ thể như sau:
Các rủi ro do đầu tư không có quy hoạch, không theo quy hoạch, chất lượng
quy hoạch chưa cao, quy hoạch không phù hợp với đặc điểm kinh tế xã hội của
Trang 23vùng… làm các mục tiêu của dự án không đạt được Nguyên nhân gây ra rủi ro này
là do quy hoạch chưa đi trước một bước, tầm nhìn ngắn, thiếu tính chiến lược, thiếu
sự liên kết chặt chẽ giữa các quy hoạch, chưa đánh giá được hết các yếu tố kháchquan nên định hướng của quy hoạch còn yếu, nhiều quy hoạch mang tính chủ quan
Quyết định đầu tư chưa phù hợp với quy hoạch, chưa nghiên cứu kỹ thịthường, thiếu thông tin, công tác dự báo chưa tốt, không tính toán đúng quy luậtcung - cầu cũng là nguyên nhân gây rủi ro tác động đến hiệu quả dự án
Các rủi ro do đầu tư theo phong trào, bố trí vốn đầu tư phân tán, dàn trải, thờigian xây dựng kéo dài, nợ đọng vốn trong xây dựng cơ bản lớn gây hậu quả nặng nềđến dự án, làm giảm hiệu quả đầu tư
Các rủi ro do chọn sai địa điểm đầu tư, không phù hợp với điều kiện địa lý,kinh tế xã hội … có tác động trực tiếp đến hiệu quả dự án, tác dộng đén mục tiêu dự
án, làm cho khi triển khai thực hiện dự án phải sửa đổi, điều chỉnh, gây hậu quả làtình trạng lãng phí, thật thoát lớn vốn đầu tư, tốn kém chi phí giải phóng mặt bằng,xây dựng công trình…
Rủi ro do thay đổi chủ trương đầu tư, xác định quy mô dự án, lựa chọn thiết
bị công nghệ xây dựng, phương án thi công… không chính xác cũng dẫn đến khôngphù hợp với đặc điểm, điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội của khu vực, giảm hiệuquả đầu tư
Các rủi ro do công tác thẩm định dự án còn hạn chế, thể hiện ở việc phântích, đánh giá các mặt kỹ thuật, công nghệ, kinh tế tài chính… trước khi ra quyếtđịnh đầu tư thực hiện chưa đầy đủ, bỏ sót nội dung, đánh giá sai lệch các nội dung
dự án là các rủi ro làm ảnh hưởng đến mục tiêu dự án Ngoài ra công tác lập và phêduyệt dự án, trong thực tế cũng còn nhiều bất cập như dự án chưa đủ điều kiên quyđịnh đã được ghi kế hoạch cấp vốn, mang lại hậu quả nghiêm trọng đến hiệu quả dự
án Mặt khác còn các rủi ro khác liên quan đền công tác thẩm định và ra quyết địnhđầu tư như rủi ro do kéo dài thời gian thẩm định, do ý chí, chủ trương của cấp cóthẩm quyền tác động khá mạnh điến hiệu quả dự án Nguyên nhân gây ra các rủi ronày là do hệ thống văn bản còn bất cập, thông tin yếu kém
Trang 241.3.1.2 Đánh giá nguyên nhân và hậu quả của các rủi ro trong công tác triển khai và điều hành kế hoạch đầu tư hàng năm.
Nhiểu rủi ro có thể xuất hiện trong quá trình triển khai và điều hành kế hoạchđầu tư hàng năm Các rủi ro này có thể do nhiều nguyên nhân gây ra, và đưa đếnhậu quả là lãng phí, thất thoát, tiêu cực, tham nhũng trong các dự án xây dựng Cóthể kể đến các vấn đề sau:
Các rủi ro do bố trí danh mục các dự án đầu tư trong kế hoạch đầu tư hàngnăm quá phân tán, không sát với tiến độ thi công đã được phê duyệt, gây hậu quảkhá nặng nề, thể hiện ở chỗ danh mục đầu tư càng nhiều, thời gian đầu tư càng bịkéo dài, hậu quả của rủi ro như gây lãng phí vốn đầu tư cả về trực tiếp và gián tiếpcàng lớn
Các rủi ro do bố trí vốn đầu tư phân tán, dàn trải, không đúng quy định, thiếutập trung, thiếu tính kế thừa trong quy hoạch, kế hoạch, số lượng dự án nhóm B, Cnăm sau lớn hơn năm trước, hoặc dự án không đủ điều kiện để bố trí kế hoạch vẫnghi vào kế hoạch vốn đầu tư hàng năm làm cho việc triển khai kế hoạch gặp khókhăn, phải chờ đợi, hoặc có khi khối lượng thực hiện vẫn không đủ điều kiện thanhtoán… cũng là các rủi ro tác động đáng kể đến mục tiêu dự án Các rủi ro gây nêntình trạng chiếm dụng vốn và nợ đọng lớn, kéo dài gây lãng phí, thất thoát
Các rủi ro do bố trí kế hoạch đầu tư hàng năm cho các dự án không theo sátcác mục tiêu định hướng của chiến lược, của kế hoạch 5 năm, hoặc không theo sáttiến độ đầu tư thực hiện dự án đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt trong quyếtđịnh đầu tư… là các rủi ro gây hậu quả nặng nề, gián tiếp làm thất thoát, lãng phívốn đầu tư sau này, bởi vì khi dự án hoàn thành đưa vào khai thác, sử dụng sẽ thiếuđồng bộ với các hoạt động khác của các ngành và cả xã hội
1.3.2 Đánh giá nguyên nhân và hậu quả của rủi ro trong giai đoạn thực hiện
dự án:
1.3.2.1 Đánh giá nguyên nhân và hậu quả của các rủi ro trong khảo sát thực tế: