Trong nền kinh tế thị trường, tài chính và tiền tệ có một vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống kinh tế-xã hội của mỗi một quốc gia, cũng như trong phạm vi toàn thế giới.Viêc học tậ
Trang 1Giáo án môn lý thuyết tài chính- tiền tệ (Người soạn Châu Đình Phương)
Chương I
Đại cương về tài chính và tiền tệ
(Lý thuyết 6 tiết)
Tài chính và tiền tệ là những phạm trù kinh tế của sản xuất và lưu thông hàng hoá Trong nền kinh tế thị trường, tài chính và tiền tệ có một vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống kinh tế-xã hội của mỗi một quốc gia, cũng như trong phạm vi toàn thế giới.Viêc học tập, nghiên cứu lý thuyết tài chính và tiền tệ không những rất cần cho giới kinh doanh; mà rất cần cho các nhà hoạch định chính sách, các nhà lãnh đạo, các viên chức tác nghiệp trong các ngành kinh tế; đặc biệt trong 2 ngành tài chính-ngân hàng.
Những nội dung chủ yếu của chương này là:
*Bản chất của tiền tệ;
*Chức năng của tiền tệ;
*Sự phát triển của các hình thái tiền tệ;
*Khối tiền tệ;
*Chế độ tiền tệ
*Bản chất của tài chính;
*Chức năng của tài chính
I. Bản chất của tiền tệ:
1 Sự ra đời của tiền tệ:
+Do đòi hỏi ngày càng tăng lên của nền kinh tế hàng hoá;
+Tiền tệ ra đời từ những hình thái giá trị giản đơn nhất; đến hình thái giá trị toàn bộ; và cuối cùng là hình thái tiền tệ
2 Bản chất của tiền tệ:
+Bản chất của tiền tệ là gì vẫn đang là một câu hỏi mà câu trả lời cho nó không phải dơn giản
+Đến nay, tiền tệ vẫn được xem là vật ngang giá chung.
II. Chức năng của tiền tệ:
1 Đơn vị đo lường giá trị;
2 Phương tiện trao đổi
3 Phương tiện dự trữ về mặt giá trị
III Sự phát triển của các hình thái tiền tệ:
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế hàng hoá thì các hình thái của tiền tệ ngày càng được hoàn thiện, phong phú và đa dạng
1 Tiền tệ bằng hàng hoá
+Thông thường, đó là những hàng hoá quan trọng bậc nhất, hoặc những đặc sản
quý hiếm của địa phương;
+Với sự phân công lao động xã hội lần thứ 2, hình thái tiền tệ chuyển dần sang các
kim loại Vào giai đoạn cuối của thời kỳ này, hình thái tiền tệ được cố định ở
vàng; vì vàng có những đặc điểm ưu việt hơn các hàng hoá khác trong thực hiện
các chức năng của tiền tệ (tính đồng nhất, dẽ phân chia, dễ mang theo, thuận tiện khi thực hiện chức năng dự trữ giá trị)
2 Tiền giấy (giấy bạc ngân hàng)
Trang 2+Sự ra đời của tiền giấy đánh dấu sự phát triển rất cao của hình thái tiền tệ Do sản
xuất và trao đổi hàng hoá ngày một tăng lên, mà tiền vàng không còn đủ để đáp ứng cho yêu cầu của lưu thông hàng hoá, nên tiền giấy được ra đời Lúc đầu, tiền giấy được phát hành trên cơ sở lượng tiền vàng hiện có; và nó có thể đổi ra vàng Tuy nhiên, tiền giấy được phát hành ra ngày càng nhiều (do yêu cầu của trao đổi hàng hoá), vượt quá mức vàng dự trữ nên nó không còn tự do chuyển đổi ra vàng
+Sở dĩ tiền giấy thực hiện được các chức năng của tiền tệ vì, bản thân tiền giấy là
đồng tiền được pháp luật thừa nhận Đó là sự thừa nhận về vai trò đại diện cho giá trị của một sản phẩm hàng hoá-dịch vụ nào đó
+So với các hình thái tiền tệ trước đó, tiền giấy có những đặc điểm ưu việt như: dễ
mang theo để thực hiện việc trao đổi hàng hoá, thanh toán nợ nần; thuận tiện khi thực hiện chức năng dự trữ dưới hình thức giá trị; với các mệnh giá khác nhau thì các giá trị hàng hoá-dịch vụ khác nhau được thể hiện; bằng chế độ độc quyền phát hành giấy bạc, tiền giấy có nhiều thuận lợi trong việc ổn định sức mua của nó Việt Nam đã có tiền giấy từ thời Nhà Hồ- năm 1396
3 Tiền ghi sổ
+Là những khoản tiền gửi không kỳ hạn ở ngân hàng
+Những ưu việt của tiền ghi sổ:
-giảm chi phí lưu thông tiền mặt;
-nhanh chóng và thuận tiện trong thanh toán qua ngân hàng’
-an toàn trong sử dụng tiền;
-tạo thuận lợi cho NHTW quản lý và điều tiết lượng tiền cung ứng.
IV Khối tiền tệ:
Nói đến khối tiền tệ là nói đến tiền đang lưu hành (gồm toàn bộ tiền mặt do NHTW
phát hành đang lưu hành ngoài hệ thống ngân hàng); tiền gửi không kỳ hạn ở ngân hàng thương mại (tiền gửi mà chủ sở hữu của nó có thể phat séc để thanh toán tiền mua hàng hay dịch vụ); tiền gửi tiết kiệm ở các NHTM, tiền gửi có kỳ hạn ở NHTM; chứng từ có giá có tính “lỏng” cao như chứng chỉ tiền gửi, thương phiếu, tín phiếu, trái phiếu
Để biết được thực trạng vận động của các loại tiền nhằm phục vụ cho điều hành chính sách tiền tệ của NHTW, khối tiền tệ được phân chia như sau:
1 Khối tiền tệ M1: khối tiền tệ này chỉ bao gồm những phương tiện được chấp nhận ngay trong trao đổi hàng hoá mà không phải qua một bước chuyển đổi nào cả:
Tiền đang lưu hành;
Tiền gửi không kỳ hạn ở NHTM;
2 Khối tiền tệ M2:
Lượng tiền theo M1;
Tiền gửi tiết kiệm ở các NHTM;
3 Khối tiền tệ M3:
Lượng tiền theo M2
Tiền gửi có kỳ hạn ở NHTM;
4 Khối tiền tệ L:
Lượng tiền theo M3
Chứng từ có giá có tính lỏng cao
V Chế độ tiền tệ:
Là quy định của pháp luật về cơ sở đảm bảo cho đồng tiền quốc gia (bản tệ) thực
hiện được các chức năng vốn có của nó.
Trang 31 Chế độ song bản vị:
+ Theo chế độ này, đồng tiền của một nước được xác định bằng trọng lượng cố
định của 2 kim loại thường là vàng và bạc Năm 1792 ở Mỹ, 1 dola vàng = 1,603
gram vàng ròng; 1 dola bạc = 24,06 gram bạc ròng Như vậy, trọng lượng 1 dola bạc nặng gấp 15 lần trọng lượng 1 dola vàng
+Chế độ song bản vị đã dãn đến tình trạng tiền có giá trị thấp đuổi tiền có giá trị
cao khỏi lưu thông Điều này đã xẩy ra ở Mỹ trong thế kỷ 19 khi Mỹ đang giữ chế
độ song bản vị Vì vậy, trong suốt giai đoạn đầu từ 1792 đến 1834 vàng rút khỏi lưu thông, chỉ còn lại bạc giữ vai trò bản vị
2 Chế độ bản vị tiền vàng:
+Với chế độ này thì đồng tiền của một nước được đảm bảo một lượng vàng nhất định theo pháp luật
+Để thực hiện chế độ bản vị tiền vàng, các điều kiện theo đó là:
*Nhà nước không hạn chế việc đức tiền vang;
*Tiền giấy quốc gia được Nhà nước xác định bằng một trọng lượng vàng nhất định và được tự do chuyển đổi ra vàng theo tỷ lệ quy định
*Tiền vàng được lưu thông không hạn chế
3 Chế độ bản vị vàng thỏi:
+Theo chế độ này, một đơn vị tiền tệ quốc gia có một trọng lượng vàng cố định +Vàng được đúc thành thỏi mà không đúc thành tiền;
+Vàng không lưu thông trong nền kinh tế mà chỉ dự trữ để làm phương tiện thanh
toán quốc tế và chuyển tài sản ra nước ngoài;
+Tiền giấy quốc gia được đổi ra vàng theo luật định, nhưng phải với một số lượng
tiền giấy nhất định, ít nhất phải tương đương với một thỏi vàng
4 Chế độ bản vị vàng hối đoái:
+Theo chế độ này, tiền giấy quốc gia không được trực tiép chuyển đổi ra vàng; +Tiền giấy quốc gia muốn đổi ra vàng phải thông qua một ngoại tệ Ngoại tệ;
ngoại tệ này phải được tự do chuyển đổi ra vàng như USD, Bảng Anh
5 Chế độ bản vị ngoại tệ:
+ Với chế độ này, đơn vị tiền tệ quốc gia được xác định bằng ngoại tệ Tất nhiên, đây phải là các đồng tiền tự do chuyển đổi
+ Chế độ này được sử dụng phổ biến ở các nước thiếu vàng; hoặc bị lệ thuộc nước khác về chính trị
+Một biến tướng khác của chế độ bản vị ngoại tệ được thịnh hành từ năm 1944 đến năm 1971 có 2 đặc trưng cơ bản:
*Vàng và USD có thể chuyển đổi lẫn nhau;
*Theo đó, NHTW các nước duy trì một tỷ giá cố định giữa giữa dồng tiền quốc gia của họ với USD
+Chế độ bản vị ngoại tệ đã kết thúc khi Tổng thống Mỹ tuyên bố không đổi USD
ra vàng ngày 15/8/1971
6 Chế độ bản vị tiền giấy không chuyển đổi ra vàng:
+Theo chế độ này, đơn vị tiền tệ của một nước không thể tự do chuyển đổi ra
vàng;
+Sức mạnh thực tế của đồng tiền các nước phụ thuộc vào sức mua của nó; vào số
lượng hàng hoá và dịch vụ mà nó có thể mua được
Trang 4VI Bản chất của tài chính:
1 Sự ra đời của phạm trù tài chính:
+Sự ra đời của tiền tệ với việc thực hiện các chức năng vốn có của nó đã làm
xuất hiện nhu cầu tích luỹ và phân phối các sản phảm đã được sản xuất ra cho mọi thành viên trong xã hội.Nhu cầu này cũng đã làm phát sinh đòi hỏi tạo lập
và sử dụng các quỹ tiền tệ trong nền kinh tế cho các mục đích tiêu dùng cho đời sống và sản xuất của xã hội
+Với sự ra đời của Nhà nước, Ngân sách Nhà nước cũng phải được tạo ra để
duy trì hoạt động của bộ máy quản lý Nhà nước;
+Như vậy, sự ra đời của phạm trù tài chính là một tất yếu nhằm đáp ứng đòi hỏi
nhu cầu tập trung và sử dụng các quỹ tiền tệ trong nền kinh tế của đất nước để phục vụ cho việc quản lý nhà nước cũng như đáp ứng mọi nhu cầu về sản xuất
và tiêu dùng của các thành viên trong xã hội thông qua việc thực hiện phân phối
và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân trong từng thời kỳ nhất định
2 Bản chất của tài chính:
+Tài chính là các quan hệ kinh tế trong phân phối tổng sản phẩm xã hội
dưới hình thức giá trị, thông qua đó tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ ; nhằm đáp ứng yêu cầu tích luỹ và tiêu dùng của các chủ thể trong nền kinh tế.
+Khác với tiền tệ, tài chính là sự vận động tương đối của tiền tệ với chức năng
phương tiện thanh toán và phương tiện tích luỹ trong lĩnh vực phân phối
nhằm tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ
+Bản chất của tài chính được thể hiện qua các quan hệ kinh tế chủ yếu trong
quá trình phân phối tổng sản phẩm xã hội dưới hình thức giá trị sau đây:
*Quan hệ kinh tế giữa Nhà nước với cơ quan, đơn vị kinh tế, dân cư;
*Quan hệ kinh tế giữa các tổ chức tài chính trung gian, với các cơ quan, tổ
chức kinh tế phi tài chính, dân cư
*Quan hệ kinh tế giữa các cơ quan, đơn vị kinh tế, dân cư với nhau và các
quan hệ kinh tế trong nội bộ các chủ thể đó
*Quan hệ kinh tế của các quốc gia với nhau trên thế giới.
3 Chức năng của tài chính:
+Chức năng phân phối:
*Phân phối qua tài chính là sự phân phối tổng sản phẩm xã hội dưới hình
thức giá trị
*Phân phối qua tài chính bao hàm cả quá trình phân phối lần đầu và phân
phối lại
-Phân phối lần đầu là sự phân phối tổng sản phẩm xã hội cho các chủ
thể tham gia vào quá trình sản xuất vật chất và dịch vụ Qúa trình phân phối làn đầu, giá trị tổng sản phẩm xã hội sẽ được hình thành các quỹ tiền tệ sau đây:
+Quỹ bù đắp các chi phí vật chất đã bỏ ra trong quá trình sản
xuất, làm dịch vụ Phần này hình thành quỹ khấu hao tài sản cố định và khôi phục lại vốn lưu động đã bỏ ra
+Quỹ tích luỹ để tái sản xuất mở rộng, đầu tư phát triển kinh tế; +Quỹ tiêu dùng cho cá nhân và cho Nhà nước.
Trang 5-Qúa trình phân phối lại là quá trình trực tiếp phân phối những phần
thu nhập cơ bản, những quỹ tiền tệ đã được hình thành trong phân phối lần đầu
ra phạm vi rộng hơn; bao gồm cả lĩnh vực kkhông sản xuất vật chất và dịch vụ
+Chức năng giám đốc:
*Chức năng giám đốc tài chính là khả năng khách quan của phạm trù tài
chính Nhờ đó mà người ta có thể tổ chức kiểm tra quá trình vận động của các nguồn tài chính để tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ Khả năng đó được biểu hiện ngay trong quá trình thực hiện chức năng phân phối của tài chính Tại đó, người ta có thể:
-Kiểm tra mục đích, quy mô và hiệu quả của quá trình tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ
-Khác với chức năng giám đốc tài chính, công tác kiểm tra tài chính là các hoạt động chủ quan của con người trong việc kiểm tra quá trình phân phối để tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ
*Đối tượng giám đốc của tài chính là các quá trình tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ trong nền kinh tế
-Thông qua việc giám đốc để kiểm tra và điều chỉnh các quá trình phân phối tổng sản phẩm xã hội dưới hình thức giá trị; kiểm tra việc tạo lập và chấp hành các chỉ tiêu kế hoạch, các định mức kinh tế-tài chính, quá trình hạch toán kinh tế, việc chấp hành các đạo luật về tài chính, các chính sách ché độ tài chính của Nha nước
Câu hỏi ôn tập (trong giáo trình)
Trang 6Chương 2
Tổng quan về hệ thống tài chính
(Lý thuyết 5 tiết)
Tài chính là một trong những ngành kinh té tổng hợp quan trọng nhất của một quốc gia Tài chính được tổ chức như thế nào là vấn đề cần được sự quan tâm đặc biệt của các nhà chức trách của đất nước, của các nhà hoạch định chính sách cũng như của tát cả những
ai trực tiếp làm việc trong ngành tài chính; và cả những người quan tâm đến sự phát triển nền tài chính của đất nước.Đây cũng là lý do để học sinh, sinh viên thuộc các ngành quản lý kinh tế cần phải nắm vững lý thuyết tổng quan về hệ thống tài chính.
I Vai trò của hệ thống tài chính:
Để thấy được vai trò của hệ thống tài chính, cần phải hiểu “hệ thống tài chính là gì?”;
nói cách khác cần “khái niệm:” như thế nào về hệ thống tài chính.
Khái niệm hệ thống tài chính:
“Hệ thống tài chính là tổng thể các bộ phận khác nhau trong một cơ cấu tài chính, mà
ở đó các quan hệ tài chính hoạt động trên các lĩnh vự khác nhau nhưng có mối liên hệ tác động lẫn nhau theo những quy luật nhất định”
Những nội dung cần được hiểu một cách thấu đáo trong khái niệm này là gì? Tất nhiên, đó là:
*các bộ phận khác nhau trong một cơ cấu tài chính;
*các quan hệ tài chính hoạt động trên các lĩnh vực khác nhau;
*mối liên hệ tác động lần nhau giữa các quan hệ tài chính diễn ra như thế nào?
+Về các bộ phận khác nhau trong một cơ cấu tài chính: gồm các tụ điểm
vốn và bộ phận dẫn vốn
-Các tụ điểm vồn gồm:
# Tài chính doanh nghiệp;
# Ngân sách nhà nước;
# Tài chính dân cư;
# Tài chính đối ngoại
-Bộ phận dẫn vốn bao gồm:
# Thị trường tài chính và các tổ chức tài chính trung gian
+Về các quan hệ tài chính hoạt động trên các lĩnh vực khác nhau:
-Đó là các quan hệ phát sinh trong quá trình hoạt động giữa các tụ điểm vốn với
nhau; giữa các tụ điểm vốn với bộ phận dẫn vốn (cả trong nước và ngoài nước)
Ví dụ: tài chính hộ gia đình có thể có quan hệ thường xuyên hoặc không thường xuyên với tất cả các tụ điểm và các bộ phận trong hệ thống tài chính
Với tụ điểm vốn tài chính đối ngoại, những kênh vận động vốn của tài chính đối ngoại
có rất nhiều quan hệ như:
*Quan hệ nhận viện trợ hoặc vay vốn nước ngoài cho quỹ NSNN hoặc cho các doanh nghiệp, thậm chí cho cả dân cư
*Quan hệ về tiếp nhận vốn đầu tư nước ngoài giữa các tổ chức kinh tế trong nước và ngoài nước
Trang 7*Qúa trình thanh toán xuất-nhập khẩu giữa các doanh nghiệp, các tổ cức kinh tế trong nước và ngoài nước
*Việc thực hiện các hợp đồng tái bảo hiểm, chuyển phí bảo hiểm và thanh toán bảo hiểm đối với các pháp nhân nước ngoài hoặc ngược lại, thu nhận phí bảo hiểm và nhận bồi thường từ các tổ cức nước ngoài
*Qúa trình chuyển tiền và tài sản giữa các cá nhân ngoài nước cho thân nhân trong nước và ngược lại
II Cấu trúc của hệ thống tài chính:
Hệ thống tài chính được cấu trúc như sau:
Tài chính doanh nghiệp Ngân sách nhà nước
Thị trường tài chính và các
tổ chức tài chính trung gian
Tài chính dân cư, Tài chính đối ngoại
tổ chức xã hội
Như vậy, cấu trúc tài chính gồm có các tụ điểm vốn và bộ phận dẫn vốn.
A Các tụ điểm vốn là nơi tạo ra các nguồn tài chính Các tụ điểm vốn thường xuyên
có các mối quan hệ với nhau
1 Tài chính doanh nghiệp: Đây là nơi nguồn tài chính xuất hiện; và cũng là nơi thu
hút lại phần quan trọng các nguồn tài chính trong nền kinh tế Do vậy, trong hệ thống tài chính, tài chính doanh nghiệp được coi như những tế bào có khả năng tái tạo ra các nguồn tài chính Do vậy nó có tác động rất lớn đến đời sống xã hội, đến
sự phát triển hay suy thoái của nền kinh tế
Trong nền kinh tế thị trường, đặc trưng cơ bản của bộ phận tài chính doanh nghiệp thể hiện ở chỗ nó bao gồm những quan hệ tài chính vận hành theo cơ chế kinh doanh lợi nhuận cao
2 Ngân sách nhà nước:
+Là phương tiện vật chất cần thiết để hệ thống chính quyền nhà nước thực hiện
nhiệm vụ của mình; đồng thời giữ vai trò to lớn trong việc điều tiết vĩ mô đối với nền
kinh tế
+Hoạt động thu-chi NSNN làm nảy sinh các mối quan hệ kinh tế giữa Nhà nước với các tổ chức kinh tế-xã hội, các tàng lớp dân cư; với các nhà nước khác Đồng thời cũng tạo ra mối quan hệ kinh tế giữa giữa một tụ điểm vốn quan trọng là Ngân sách Nhà nước với các bộ phận khác của hệ thống tài chính
3 Tài chính dân cư (tài chính hộ gia đình) và các tổ chức xã hội:
+Đây là một tụ điểm vốn trong hệ thống tài chính(dân giàu, nướcmạnh)
+Tính chất phân tán và đa dạng là đặc điểm nổi bật của tài chính hộ gia đình +Có thể có quan hệ thường xuyên hoặc không thường xuyên với tất cả các tụ điểm
và các bộ phận trong hệ thống tài chính
4 Tài chính đối ngoại:
Trang 8+Đặc điểm của tụ điểm tài chính đối ngoại là không tập trung vào một tụ điểm nhất định mà được phân tán, đan xen vào các quan hệ tài chính khác
+Do tính chất đặc thù và vai trò đặc biệt quan trọng của các quan hệ tài chính đối ngoại mà người ta thừa nhận nó hình thành mọt bộ phận có tính độc lập tương đối + Tài chính đối ngoại có các kênh vận động như:
-Quan hệ nhận viện trợ hoặc vay vốn nước ngoài cho quỹ NSNN hoặc cho các doanh nghiệp, thậm chí cho cả dân cư
-Quan hệ về tiếp nhận vốn đầu tư nước ngoài giữa các tổ chức kinh tế trong
và ngoài nước;
-Qúa trình thanh toán xuất-nhập khẩu giữa các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế trong và ngoài nước
-Việc thực hiện các hợp đồng tái bảo hiểm, chuyển phí bảo hiểm và thanh toán bảo hiểm đối với các pháp nhân nước ngoài hoặc ntgược lại, thu nhận phí bảo hiểm và nhận bồi thường từ các tổ chức nước ngoài;
-Qúa trình chuyển tiền và tài sản giữa các cá nhân ngoài nước cho thân nhân trong nước vcà ngược lại
B Bộ phận dẫn vốn thực hiện chức năng dẫn vốn giữa các tụ điểm vốn trong hệ thống tài chính bao gồm thị trường tài chính và các tổ chức tài chính trung gian.
* Hoạt động của thị trường tài chính thực hiện chức năng dẫn vốn từ
những người có vốn sang những người cần vốn thông qua hoạt động tài chính trực tiếp Hoạt động dẫn vốn trực tiếp được thực hiện bằng cách hững người cần vốn bán
ra thị trường các công cụ nợ, các cổ phiếu hoặc thực hiện các món vay thế chấp.
Những người có vốn sẽ sử dụng tiền vốn của mình để mua vào các công cụ nợ hoặc các cổ phiếu đó Như vậy, vốn đã được chuyển từ người có vốn sang người cần vốn một cách trực tiếp
* Các trung gian tài chính thực hiện việc dẫn vốn thông qua hoạt động tài chính gián tiếp.
+Huy động vốn từ những người có vốn (người tiết kiệm) để cho những
người cần vốn vay lại Nhờ vậy, các trung gian tài chính đã tập trung được các nguồn vốn nhỏ từ hộ gia đình, các tổ chức kinh tế thành những nguồn vốn lớn Vì thế, các trung gian tài chính đáp ứng được những nhu cầu mà thị trường tài chính không giải quyết được
+Các trung gian tài chính được chia thành:
- Các ngân hàng thương mại;
- Các tổ chức tài chính trung gian phi ngân hàng như công ty bảo hiểm, quỹ trợ cấp, công ty tài chính, quỹ đầu tư
III Chính sách tài chính quốc gia:
Chính sách tài chính quốc gia ở Việt Nam hiện nay bao gồm các lĩnh vực : Tài chính
nhà nước, tài chính doanh nghiệp, tài chính dân cư Chính sách tài chính quốc gia có
vai trò đặc biệt quan trọng có tính quyết định đến quy mô và tốc độ phát triển kinh tế-xã hội của đất nước
1 Mục tiêu của chính sách tài chính quốc gia:
*Tăng cường tiềm lực tài chính đất nước; đặc biệt là năng lực tài chính nhà
nước và tài chính doanh nghiệp:
Trang 9+Đảm bảo nhu cầu về vốn đi đôi với nâng cao hiệu quả sử dụng vốn +Tạo điều kiện để đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế cao;
+Tăng tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế;
+Cải thiện cán cân thanh toán quốc tế
*Kiểm soát lạm phát:
+Bằng cách cải tổ cơ bản chính sách tài chính; đặc biệt là chính sách thuế và cơ cấu thu-chi ngân sách;
+Loại bỏ nguy cơ tái lạm phát, kiểm soát được lạm phát, ổn định giá
cả và sức mua của đồng tiền
*Tạo công ăn việc làm cho người dân
2 Những quan điểm cơ bản
*Tập trung sức chuyển hướng cơ chế quản lý chính sách tài chính- tiền tệ
kiểu “động viên tập trung” sang chính sách tài chính phân quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính của các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, theo
cơ chế thị trường định hướng XHCN, đảm bảo bình đẳng lợi ích giũa các thành phần kinh té theo nguyên tác hiệu quả kinh tế.
*Phân biệt rõ chức năng, nhiệm vụ của tài chính nhà nước và tài chính
doanh nghiệp Tài chính nhà nước thực hiện chức năng xã hội, an ninh quốc phòng
là chủ yếu Thông qua các hoạt động thu-chi mà điều tiết lợi ích, định hướng và thúc đẩy phát triển sản xuất theo yêu cầu của thị trường và định hướng của nhà nước trên nguyên tắc tối đa hoá lợi nhuận của sản xuất kinh doanh.
*Phân biệt rõ chức năng, nhiệm vụ của tài chính nhà nứoc và ngân hàng;
trong đó, tài chính nhà nước (ngân khố quốc gia) là khách hàng của ngân hàng; đồng thời ngân hàng là đối tượng quản lý về mặt tài chính nhà nước trong khuôn khổ các luật lệ về tài chính.
*Thực hiện cơ chế mở lành mạnh, không đơn thuần coi cân bằng ngân sách
là mục tiêu của chính sách tài chính Một ngân sách thếu hụt hay dư thừa không phải là kém quan trọng so với một ngân sách cân bằng và đều là những công cụ tài chính ứng với từng hoàn cảnh cụ thể mà nhà nước có thể sử dụng để tác động đến quy mô và phương pháp phát triển kinh tế-xã hội(kích thích hay hạn chế tăng trưởng).
*Chính sách tài chính phải giải phóng triệt để mọi nguồn vốn trong nước,
của các thành phần kinh tế và của toàn dân để phát triển kinh doanh, hình thành thị trường vốn trong nước để đảm bảo huy động vốn nhanh, sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn; đồng thời mở rộng hoạt động kinh tế tài chính đối ngoại nhằm thu hút mạnh các nguồn vốn nước ngoài, vừa tranh thủ kỹ thuật tiên tiến vừa gắn thị trường vốn trong nước với thị trường vốn quốc tế; trên cơ sở đó tham gia ngày càng sâu sắc vào phân công lao động quốc tế.
*Để phân phối và sử dụng các nguồn tài chính đảm bảo tạo ra cơ cấu kinh tế
hợp lý và có hiệu quả; chính sách tài chính của nhà nước cần xác định rõ các mục tiêu ưu tiên phát triển, nhằm vào các khu vực cho phép tăng thu ngoại tệ, đảm bảo khả năng trả nợ, thu hút nhiều nhân lực và thúc đẩy phát triển công nghệ mới và kỹ thuật tiên tiến.
*Việc xây dựng chính sách tài chính cần đứng trên quan điểm hệ thống, đặt
trong mối quan hệ với việc đổi mới các chính sách, công cụ khác như chính sách
Trang 10tiền tệ-tín dụng, chính sách giá cả và thu nhập, chính sách ngoại hối nhằm tạo sức mạnh tổng hợp và chuyển biến đồng bộ trong các hoạt động kinh tế, tránh tình trạng chồng chéo, triệt tiêu lẫn nhau.
*Để xây dựng và thực hiện chính sách tài chính quốc gia một cách có hiệu
quả, cần coi trọng việc việc kết hợp giữa lý luận với thực tiễn của đất nước để đưa
ra được chính sách phù hợp (đặc biệt đối với các khoản thu-chi ngân sách).
*Coi trọng việc củng cố và nâng cao tính pháp lệnh của hoạt động tài chính; hoàn chỉnh hệ thống văn bản pháp quy về tài chính Tăng cường vai trò kiểm soát
và thanh tra tài chính; trong đó, giám đốc việc thu chi là nội dung quan trọng của chính sách tài chính quốc gia.
3 Nội dung của chính sách tài chính quốc gia:
3.1 Chính sách về vốn:
*Nói đến vốn là nói đến các nguồn vật tư và tài sản trong các doanh nghiệp, nguồn tiền mặt hoặc các tài sản khác dự trữ trong dân Do vậy, vốn là điều kiện tiên quyết để duy trì và phát triển sản xuất; đồng thời là cơ sở để phân phối lợi nhuận và đánh giá hiệu quả các hoạt động kinh tế.
Các nguồn vốn chủ yếu bao gồm: vốn đầu tư kinh tế của nhà nước, vốn của
các doanh nghiệp, vốn bằng tiền và tiền nhàn rỗi của dân cư, và vốn của các doanh nghiệp và tổ chức tài chính quốc tế.
Để huy động các nguồn vốn nói trên cần có các chính sách phù hợp nhằm làm cho các thành phần kinh tế trong xã hội có thể phát huy tối đa năng lực hoạt dộng sản xuất kinh doanh của mình Muốn vậy, trước hết nhà nước cần có chiến lược về vốn Chiến lược này, không những tạo ra được nhiều nguồn vốn trong nước, ngoài nước; mà còn hướng việc sử dụng các nguồn đó có hiệu quả nhất Do vậy, bên cạnh việc phát triển, mở rộng các khu kinh tế, tạo lập những tập đoàn kinh tế mạnh; Nhà nước cần chú trọng đến việc phát triển thị trường vốn, thị trường tiền
tệ Hoạt động của các thị trường này không những có ý nghĩa về việc làm phong phú, đa dạng thêm các nguồn vốn; mà còn có ý nghĩa rất to lớn cho việc thực hiện các mục tiêu của chính sách tiền tệ quốc gia Bên cạnh đó, việc thực hiện cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước một cách triệt để sẽ là động lực cho hoạt động sản xuất kinh doanh ngày càng có chất lượng và hiệu quả
Nguồn vốn cấp phát từ ngân sách nhà nước cho lĩnh vực kinh tế : Nguồn vốn
này bao gồm các khoản thu ngân sách, vốn do bán cổ phiếucác công ty quốc doanh, vốn vay hoặc viện trợ của nước ngoài và các tổ chức tài chính quốc tế Tại Việt Nam, nguồn vốn này chiếm tỷ trọng khá lớn trong tổng số vốn đầu tư của nền kinh tế đang được sử dụng trong các công trình trọng điểm nhà nước, trong đó phần lớn là các công trình kết cấu hạ tầng và một số ngành công nghiệp nặng
Để nguồn vốn từ ngân sách được sử dụng có hiệu quả hơn, phương thức sử dụng vốn đóng vai trò rất quan trọng Các phương thức sử dụng vốn có thể được lựa chọn có thể là:
*Chuyển vốn xây dựng cơ bản của nhà nước sang dạng tín dụng ngân hàng dài hạn
*Xác định trọng điểm đầu tư của Nhà nước
*Phần vốn thu hồi được do bán cổ phiếu các doanh nghiệp, công ty quốc doanh có thể dùng để đầu tư mở rộng một số ngành có mức doanh lợi cao và công nghiệp mũi nhọn