[Type here] BỘ NGOẠI GIAO HỌC VIỆN NGOẠI GIAO BÀI THI GIỮA KỲ MÔN VĂN HOÁ VIỆT NAM & HỘI NHẬP QUỐC TẾ Đề tài Đặc trưng của đô thị Việt Nam truyền thống và Sự thay đổi của những đặc trưng này trong quá[.]
Trang 1[Type here]
BỘ NGOẠI GIAO HỌC VIỆN NGOẠI GIAO
BÀI THI GIỮA KỲMÔN: VĂN HOÁ VIỆT NAM & HỘI NHẬP QUỐC TẾ
Đề tài: Đặc trưng của đô thị Việt Nam truyền thống và Sự thay đổi của những đặc trưng này trong quá trình hội nhập quốc tế ở Việt Nam
Học kỳ 1, Năm học 2022 - 2023Hình thức: Tiểu luận
TS Nguyễn Thị Hồng Thuý
Người thực hiện:
Mã sinh viên:
Lý Anh Thư TTQT49 - C1 - 1889
Khoa - Lớp: Truyền thông và Văn hoá đối ngoại
Trang 2
LỜI MỞ ĐẦU
Vai trò của đề tài trong môn Văn hóa Việt Nam
Bằng cách tìm hiểu và nghiên cứu về đặc trưng của đô thị Việt Nam và cách các đặc trưng ấy thay đổi trong thời kỳ toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay, sinh viên không chỉ nâng cao nhận thức, mở rộng sự hiểu biết về chủ đề hết sức quen thuộc và gần gũi mà còn góp phần đem những kiến thức đó đóng góp vào diện mạo văn hóa riêng của dân tộc, gây dựng lòng yêu nước và yêu mến văn hóa
Tổ quốc Có thể khẳng định, các đô thị nước ta còn đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc phát triển, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của cả nước cũng như của các vùng và của tỉnh Vai trò đó đã và đang được xác định rõ trong chính sách phát triển Đó chính là bài học về sự kế thừa những giá trị truyền thống tốt đẹp để làm giàu thêm cho đất nước và phát triển các giá trị đó trong thời kỳ hội nhập quốc tế, toàn cầu hóa như hiện nay.
Trang 3MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
CHƯƠNG I - CƠ SỞ LÝ LUẬN
I Khái niệm về đô thị
II Đô thị Việt trong quá trình hội nhập quốc tế
CHƯƠNG II - ĐẶC TRƯNG CỦA ĐÔ THỊ TRUYỀN THỐNG
I Cơ sở hình thành và phát triển của các đặc trưng
II Những đặc trưng đô thị truyền thống VN
CHƯƠNG III - SỰ THAY ĐỔI CỦA CÁC ĐẶC TRƯNG TRONG QUÁ
TRÌNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ
I Sự thay đổi của các đặc trưng đô thị
II Ưu điểm của những thay đổi đó
III Nhược điểm của những thay đổi đó
IV Giải pháp để phát triển đô thị Việt Nam hiện nay
TỔNG KẾT PHỤ LỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 5CHƯƠNG I - CƠ SỞ LÝ LUẬN
I Khái niệm về đô thị
1 Khái niệm
- Căn cứ theo văn hoá xã hội
Đô thị là nơi tập trung dân cư, chủ yếu lao động phi nông nghiệp, sống và làm việctheo kiểu thành thị (Giáo trình quy hoạch đô thị, ĐH Kiến trúc, Hà Nội) Đô thị là điểm tập trung dân cư với mật độ, chủ yếu là lao động nông nghiệp, cơ sở hạ tầng thích hợp, là trung tâm tổng hợp hay trung tâm chuyên ngành có vai trò thúc đẩy
sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, của một vùng trong tỉnh hoặc trong
huyện (Thông tư 31/TTLD, ngày 20/11/1990 của liên Bộ Xây dựng và ban tổ chức
cán bộ chính phủ)
- Căn cứ theo pháp lý: Ở Nghị định số 72/2001/NĐ-CP căn cứ pháp lýTheo ngày 05.10.2001 của Chính phủ về việc phân loại đô thị và cấp quản lí đô thị thì đô thị là các điểm dân cư có các yếu tố cơ bản:
● Là trung tâm tổng hợp hay trung tâm chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước hoặc một vùng lãnh thổ nhất định;
● Quy mô dân số ít nhất là 4.000 người;
● Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp trong tổng số lao động tối thiểu là 65%;
● Cơ sở hạ tầng phục vụ các hoạt động của dân cư tối thiểu phải đạt 70% mức tiêu chuẩn, quy chuẩn quy định đối với từng loại đô thị;
● Mật độ dân cư phù hợp với quy mô, tính chất và đặc điểm của từng loại đô thị
2 Lịch sg hình thành
Trang 6Lần đầu tiên đô thị xuất hiện ở Việt Nam là khá muộn nếu so với nhiều nước trên thế giới theo Viện Sg học Việt Nam Các đô thị cổ sau khi hình thành thường có xuhướng phát triển không đồng đều chứ không liên tục, theo sự thay đổi địa điểm củakinh đô của các triều đại Điều này đưa tới một kết luận tổng quát về lịch sg và tínhchất của đô thị Việt Nam truyền thống đó là: các đô thị Việt Nam thường phụ thuộcnhiều vào dấu ấn hành chính – chính trị nhiều hơn là dịch vụ, thương mại.
3 Vai trò của đô thị
Vai trò kinh tế: Đây là chức năng chủ yếu của đô thị Đô thị là một bộ phận của
nền kinh tế quốc dân, là điều kiện cho giao thương và sản xuất phát triển, tạo điều kiện thúc đẩy công nghiệp hóa nhanh chóng, tạo ra thị trường linh hoạt và có năng suất lao động cao
Vai trò xã hội: Vai trò này ngày càng có phạm vị lớn hơn khi quy mô dân cư đô thị
ngày càng tăng lên Những yêu cầu về nơi cư trú, y tế, giao thông vẫn luôn là những vấn đề nặng nề bởi sự gia tăng dân số đô thị và sự thay đổi của những yêu cầu này theo bối cảnh phát triển và thời gian
Vai trò văn hóa: Tất cả các đô thị đều có nhu cầu giáo dục và giải trí cao Do đó
các hệ thống trường học, du lịch, viện bảo tàng ngày càng phát triển và được chú trọng trong việc bồi dưỡng tinh thần và thể chất của dân đô thị
4 Cấu trúc đô thị
- Thời Trung Đại: Đô thị là nơi ở của vua chúa, là trung tâm chính trị, văn hóa của
giai cấp thống trị, có quy mô, xây dựng theo kiểu thành quách Đô thị được tổ chứcxây dựng theo các phường hội thủ công chuyên môn hóa với thành lũy, hào nước bảo vệ phía ngoài cùng Mặt bằng đô thị thường phát triển tự do một cách hài hòa với tự nhiên theo nhu cầu phát triển của đô thị
Trang 7- Thời hiện đại: Dân số đô thị tăng nhanh với sự xuất hiện hàng loạt các đô thị
mới, dân cư tăng nhanh và đông đúc hơn, thuật ngữ “đô thị nấm”xuất hiện: Trung tâm đô thị thường tập trung nhiều công trình phục vụ công cộng và cá nhân như ngân hàng, sở giao dịch, công ty, cơ quan, khách sạn, nhà hàng, khu giải trí, biệt thự; Ngoại ô đa số là khu nhà dân và những khu công nghiệp quy mô; Khu vực nội
đô phát triển mạnh ra các vùng ngoại vi, dẫn đến việc phải điều chỉnh ranh giới của
đô thị (thị xã, thành phố) => Xu hướng chung của các đô thị Việt Nam hiện nay là phát triển nhanh, mở rộng cả về quy mô diện tích đất đai lẫn quy mô dân số
5 Cách vận hành của đô thị
Đô thị được lập ra bởi nhà nước là chủ yếu để thực hiện chức năng hành chính Đặc điểm này của đô thị có nét tương đồng với đô thị Trung Quốc vì nhà nước đều quản lý từ Điền (ruộng công) đến Đinh (dân số) Đô thị Việt Nam trực tiếp chịu sự quản lý và cai quản của nhà nước phong kiến, nhằm đảm bảo số tô thuế lao dịch vàbinh dịch cho nhà nước Có câu “Dưới gầm trời không có đất đai nào không phải của nhà vua” - chính vì lý do này mà các đô thị cổ của Việt Nam hay Trung Quốc không có sự độc lập tự trị
II Đô thị Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế
Hội nhập quốc tế chính là quá trình các nước tiến hành các hoạt động tăng cường sự gắn kết giữa các nước đó với nhau dựa trên sự chia sẻ về lợi ích, mục tiêu, giá trị, nguồn lực, quyền lực (thẩm quyền định đoạt chính sách) và các quốc gia này sẽ cần phải tuân thủ các luật chơi chung trong khuôn khổ các định chế hoặc
tổ chức quốc tế => Trong phát triển đô thị, nói cụ thể hơn về vấn đề áp dụng hội nhập quốc tế song song địa phương hóa, đó là việc vận dụng mô hình đô thị toàn cầu phù hợp với đặc điểm văn hóa - xã hội và tự nhiên của địa phương Bản chất
đó chính là quá trình phát triển hiện đại mà myi quốc gia, trên cơ sở kết hợp ấy và
Trang 8tùy vào điều kiện thực tiễn, lựa chọn cho mình cách phát triển phù hợp [ Phụ lục 2]
CHƯƠNG II - NHỮNG ĐẶC TRƯNG CỦA ĐÔ THỊ VIỆT NAM
TRUYỀN THỐNG
I Cơ sở hình thành và phát triển của các đặc trưng
1 Cơ sở hình thành
- Cơ sở nền văn hoá, nếp sống, tư tưởng
Đặt trên bàn cân so sánh với các nước phương Tây, trong khi họ coi làng xã như một cái bao tải khoai tây rời rạc còn đô thị lại là một tổ chức tự trị, độc lập, vững mạnh thì ngược lại, đối với người Việt Nam, làng xã nông nghiệp lại là tổ chức tự trị cao và đô thị thì yếu ớt, lệ thuộc và phát triển kém hơn Lý do là bởi một quy luật tất yếu từ bao đời nay, đã in sâu vào trong tư tưởng của người dân: Văn hóa Việt Nam nông nghiệp trọng trĩnh, làng xã là trung tâm của văn hóa nông thôn và
là tất cả nên làng xã tự trị và có uy quyền
- Cơ sở chính trị
Đô thị truyền thống Việt Nam chủ yếu gắn liền với mục đích hành chính - chính trị
Vì thế, phần "đô" xuất hiện trước, kéo theo nó là phần "thị" xuất hiện nhằm phục
vụ trước tiên cho bản thân gia đình những vua chúa, quan lại, tầng lớp trên trong
xã hội Yếu tố “đô” trong đô thị Việt Nam luôn gắn liền với “Thành”, “Dinh”,
“Trấn” là những trung tâm cai trị của chính quyền nhà nước quân chủ, được xây dựng bởi lực lượng cầm quyền trong xã hội Mặt khác, do nhu cầu phát triển kinh
tế, cũng có các đô thị được hình thành - đây là nơi giao lưu của các luồng hàng trong quan hệ thương mại, nơi tập trung các cư dân buôn bán, tạo thành các “thị” (tức là phố, phường), sau đó do nhu cầu quản lý, nhà nước phong kiến đặt các cơ
Trang 9sở kiểm soát, các nhiệm sở của mình, dần hình thành lên đô thị, chẳng hạn như Hội
An (Quảng Nam), Vĩnh Bình (Lạng Sơn) Phần “đô” luôn điều hành, quản trị phần
“thị” Các tầng lớp thị dân trong “thị” luôn bị chi phối bởi các tầng lớp trên là tầng lớp quan lại, quý tộc
xã là trung tâm văn hóa nông thôn
II Những đặc trưng đô thị truyền thống VN
1 Những đặc trưng đô thị truyền thống
1.1 Số lưyng và quy mô đô thị ở Việt Nam là không đáng kể nếu so sánh với nông thôn
Cho tới tận thế kỷ thứ XVI thì chỉ mới có một đô thị xuất hiện là Kẻ Chợ (Thăng Long) - một trung tâm kinh tế - văn hóa - chính trị ở đất Đại Việt Kể từ sauthế kỉ XVI, các đô mới dần xuất hiện và đa phần gắn bó với mục đích ngoại thương (Phố Hiến, Hội An, Sài Gòn ) Nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu bị kéo dài, nặng nề tính bao cấp cùng với chiến tranh cho nên tốc độ đô thị hoá diễn ra rất chậm chạp kể từ thập kỷ 80 trở về trước Có thời kỳ đô thị hóa bị âm tính do di dân
và di tản dân cư đô thị về nông thôn
1.2 Đô thị truyền thống của Việt Nam không mang nội dung giống như phương Tây
Trang 10Trước hết, xét về nguồn gốc, phtn lớn đô thị Việt Nam là do nhà nước sản sinh ra Các đô thị lớn nhỏ, ra đời vào các giai đoạn khác nhau như Văn Lang, Cổ
Loa, Luy Lâu, Thăng Long, Phú Xuân (Huế)… đều hình thành theo con đường nhưthế Bản thân do tầng lớp trí thức chiếm phần lớn ở đô thị nên vấn đề chính trị là
vô cùng nhạy cảm Vậy nên dù có văn hóa hội tụ đa dạng, tạo nên nét riêng hay dù
là nơi có tỷ lệ phát triển kinh tế cao nhất nhưng đô thị Việt Nam truyền thống trướchết vẫn phải là trung tâm chính trị rồi mới đến trung tâm kinh tế và văn hóa Thường thì bộ phận quản lý trong đô thị hình thành trước rồi một cách tự phát, bộ phận làm kinh tế mới được hình thành dần dần
Về mặt chức năng Đô thị Việt Nam thực hiện chức năng hành ch{nh là chủ ,
yếu Chính vì thế mà các đô thị đều do nhà nước quản lý, ngay cả đối với một số ít
đô thị tự phát như Vĩnh Bình, Vân Đồn, hay cả Hội An, Phố Hiến… thì nhà nước cũng đặt bộ máy cai trị ở đó để nắm trọn quyền kiểm soát
Về mặt quản lý Đô thị Việt Nam đều do nhà nước quản lý, Nhà nước đặt ra
đô thị thì dễ hiểu là nhà nước phải quản lý và khai thác (thông qua bộ máy quan lại) Ngay cả một số ít đô thị hình thành tự phát do ở những địa điểm giao thông buôn bán thuận tiện như Vĩnh Bình (Lạng Sơn), Vân Đồn (thuộc tỉnh Quảng Ninh, Phố Hiến (Hưng Yên) và Hội An, thì ngay sau khi hình thành, nhà nước cũng lập tức đặt một bộ máy cai trị trùm lên để nắm trọn quyền kiểm soát và khai thác
[Phụ lục 2]
1.3 Đô thị truyền thống Việt Nam bị phụ thuộc vào nông thôn, và bị nông thôn hoá; tư duy nông nghiệp; căn t{nh nông dân đã in đậm dấu ấn trong văn hoá
đô thị của Việt Nam
Nông thôn Việt Nam không chỉ kìm giữ, không cho làng xã phát triển thành đô
thị mà còn chi phối cả đô thị, khiến đô thị chịu ảnh hưởng của nông thôn và mang đặc tính nông thôn rất đậm nét Đất nước chúng ta vốn là nước nông nghiệp, 90%
Trang 11dân số sống ở vùng nông thôn và gắn liền cuộc sống với nghề nông “Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống”.
- Tổ chức hành chính của đô thị truyền thống:
Tổ chức hành chính của đô thị Việt Nam được sao phỏng theo tổ chức nông thôn
Đô thị truyền thống cũng chia thành các phủ, huyện, tổng, thôn Đời Gia Long, huyện Thọ Xương ở Hà Nội (quận Hoàn Kiếm và Hai Bà Trưng bây giờ) chia làm
8 tổng Cho đến tận năm 1940, các làng quanh hồ Hoàn Kiếm vẫn còn chức tiên chỉ, thứ chỉ
- Nếp sống, lối sống của đô thị truyền thống - Tính cộng đồng tập thể và tính tự trị
+ Cho đến tận những năm 80, ở các đô thị Việt Nam vẫn rất phổ biến lối kiến trúc khu tập thể, “chung cư” – ở đó tất cả đều tập thể, cộng đồng y như trong một làng:
bể nước tập thể, bếp tập thể, thùng rác tập thể, và cả nhà vệ sinh cũng tập thể; hànhlang thì dài dằng dặc chung cho tất thảy mọi nhà
+ Lối tổ chức đô thị truyền thống theo phườngViệc tổ chức theo phường sẽ có lợi hơn cho người bán khi họ có điều kiện để hy trợ nhau, vay mượn hàng, giới thiệu khách Không phải tự nhiên mà tục ngữ có câu “Buôn có bạn, bán có phường” Mặt khác, tính tự trị cũng khiến việc tổ chức theo phường sẽ có lợi hơn cho người mua khi họ được khảo giá, ít nguy cơ mua phải hàng giả
[Phụ lục 5]
3 Lý giải các đặc trưng từ các góc độ
3.1 Từ góc độ văn hoá, tư tưởng
Tư tưởng “trọng nông, ức thương” đã kìm hãm sự phát triển của thương nghiệp, coi hoạt động thương nghiệp chỉ là thứ yếu Vì vậy, không tồn tại một tầng lớp thương nhân độc lập, chỉ có những thương nhân gắn chặt với làng quê, với nghề nông; điều đó dẫn đến việc văn hoá đô thị đích thực không có
Trang 12Văn hoá lúa nước ăn sâu vào trong tư tưởng người dân, thể hiện qua việc người dân mong muốn tìm kiếm sự ổn định (thiên về tính âm) Điều đó dẫn đến sự bảo tồn mạnh mẽ cả về không gian văn hoá và suy nghĩ, tư tưởng của nông dân (chính sách “bế quan toả cảng”) Vì thế, sự phát triển của thương nghiệp bị kìm hãm:
không có đô thị nào thực sự phát triển lên từ sự giao thương cả [Phụ lục 3]
3.2 Từ góc độ ch{nh trị
Chế độ phong kiến Việt Nam mang tính tập quyền Để duy trì tính tập quyền này, các nhà nước phong kiến đã phải tìm đủ mọi cách để loại trừ những tác nhân gây ra khuynh hướng phân quyền trong xã hội Một triều đình tập quyền chuyên chế (điển hình là thời Lê sơ và thời Nguyễn) đứng ở bên trên và là tâm điểm một cộng đồng các làng xã tự quản, trên lý thuyết phần nào hàm chứa những yếu tố dânchủ, bình đẳng Những tác nhân đó lại chính là: nghề thủ công, thương mại, giai tầng thương nhân và văn hóa đô thị Ở đây có xuất hiện tình trạng đồng mưu giữa chính quyền phong kiến tập quyền và thể chế làng xã trong việc kìm hãm thủ công nghiệp và thương nghiệp vì cả hai loại thể chế này đều sợ cấu trúc khép kín của chúng sẽ bị phá vỡ
Hầu hết các đô thị lớn ở Việt Nam như Thăng Long, Huế, Sài Gòn, v.v nguyên bản đều là những vùng nông thôn, qua những lần được các triều đại hoặc chính quyền chọn làm nơi đầu não thì mới kéo theo sự phát triển các hoạt động sản xuất
và thương nghiệp Chính vì vậy, các đặc tính nông thôn vẫn luôn hiện hữu trong các đô thị
Đối với một số ít đô thị tự phát từ quá trình giao lưu thương mại thì nhà nước sẽđặt các bộ máy quản lý tại đó Ví dụ, triều Trần đặt quan cai quản Vân Đồn như một trọng trấn gồm có quan Trấn, quan Lộ và quan Sát hải sứ, đặt ở đây một đội quân riêng gọi là quân Bình Hải, có nhiệm vụ tuần tra bảo bảo vệ vùng biển Đông Bắc, kiểm soát an ninh hoạt động ngoại thương
Trang 133.3 Từ góc độ kinh tế
Thị trường tiêu thụ hàng hoá không được mở rộng do nhu cầu còn ít: phục vụ chủ yếu nhu cầu của tầng lớp quan lại phong kiến; còn lại hầu hết người dân thì theo chế độ tự cung tự cấp: khi các phường, các làng nghề cùng làm một nghề thì chỉ phục vụ cho các quan lại còn không có sự giao thương giữa người dân cùng một làng Chính quyền vua chúa thì chỉ xem thủ công nghiệp như một hoạt động cung cấp vật phẩm tiêu sái và đổi lấy hàng hóa nước ngoài Thương nghiệp vì những lý
do trên mà không thể có diện mạo độc lập, và bị bóp nặn kiệt sức
3.4 Các góc độ khác
Sự sẵn có về đất đai sản xuất dẫn đến nhu cầu mua bán là không cần thiết vì người
ta có thể theo mô hình tự cung tự cấp: tự trồng trọt, sản xuất nông nghiệp
Hệ thống giao thông kém phát triển, không có nhiều tuyến đường thông thương dẫn đến lưu thông, trao đổi hàng hoá hết sức khó khăn
CHƯƠNG III - SỰ THAY ĐỔI CỦA CÁC ĐẶC TRƯNG ĐÔ THỊ VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ
I Sự thay đổi của các đặc trưng đô thị
1 Các đặc trưng cũ có thay đổi hay không?
- Thay đổi về số lưyng và quy mô đô thị
Đô thị truyền thống: Nếu như trước đây, số lượng đô thị gần như bị áp đảo bởi
nông thôn khi đến thế kỷ 19, Việt Nam mới chỉ có hơn 10 đô thị ở cả ba miền thì đến nay, số lượng đô thị của Việt Nam cũng tăng với tốc độ đáng ngạc nhiên cùng với quá trình đô thị hóa
Đô thị ngày nay: Trong khoảng 10 năm trở lại đây, chúng ta đã chứng kiến quá
trình đô thị hóa đã diễn ra rất mạnh mẽ tại các đô thị lớn như: Hà Nội, Thành phố
Hồ Chí Minh, Đà Nẵng… Chính điều này đã tạo ra một hiệu ứng tích cực thúc đẩy
đô thị hóa nhanh lan toả diện rộng trên phạm vi cả nước Có khá nhiều đô thị mới,
Trang 14khu đô thị mới được hình thành; nhiều đô thị cũ được cải tạo, nâng cấp hạ tầng cơ sở,…
- Thay đổi về chức năng đô thị
Theo như đặc trưng truyền thống, mục đích và lý do ra đời của đô thị Việt Nam trước hết là để thực hiện chức năng hành chính, quân sự trước, rồi mới đến chức năng là trung tâm kinh tế, văn hoá của đất nước Tuy nhiên, hiện nay phần lớn các
đô thị đều tập trung vào mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội hơn cả: Trong những năm qua, khu vực đô thị ngày càng thể hiện vai trò động lực, đầu tàu phát triển kinh tế - xã hội của các vùng và cả nước, đóng góp khoảng 70% GDP cả nước, chiếm tỷ trọng chi phối trong thu ngân sách, xuất khẩu, sản xuất công nghiệp Khu vực đô thị đang tạo động lực phát triển cho khu vực nông thôn: Hằng năm tạo ra hàng triệu việc làm mới, thu hút, quy tụ lao động các địa phương ở mọi trình độ; lànơi tiêu thụ chủ yếu hàng nông sản và các sản phẩm địa phương; cung cấp toàn bộ các dịch vụ giáo dục, y tế chất lượng cao không chỉ phục vụ cư dân đô thị, mà còn phục vụ khu vực nông thôn; đóng góp lớn trong thực hiện các hoạt động an sinh xãhội, giảm nghèo quốc gia và liên kết với các vùng nông thôn để tạo thế trận an ninh
- quốc phòng
- Thay đổi về Văn hoá Đô thị
Văn hoá Đô thị ngày nay không còn bị lệ thuộc vào Văn hoá Nông thôn, bị nông thôn hoá; tư duy nông nghiệp; căn tính nông dân
+ Trong quan hệ Cư trú - Ứng xử:
Nông thôn: Thông thường ở nông thôn Việt Nam, quan hệ cư trú - ứng xg kết cấu
theo kiểu: gia đình - họ tộc - láng giềng - làng xóm - xã hội
Đô thị: Ở thành thị, quan hệ cư trú - ứng xg kết cấu giản đơn hơn ở nông thôn: gia
đình - đường phố - xã hội
Trang 15=> Người thành thị khi bước chân ra khỏi nhà đã hoà mình với xã hội rồi Ở nông thôn, myi gia đình có thể tự túc được lương thực, thực phẩm, còn ở thành phố, con người phải phụ thuộc vào dịch vụ Nhu cầu tiêu dùng của người đô thị thường cao hơn, đa dạng hơn và hướng tới sự khá giả Vì vậy, dịch vụ công cộng không thể thiếu đối với cư dân đô thị; Văn hoá ứng xg của người đô thị có phần thiên về quan
hệ trên cơ sở luật pháp và thị trường nhiều hơn, người đô thị sống sòng phẳng và
có vẻ “lạnh lùng” hơn
+ Trong tập quán sản xuất, kinh doanh:
Nông thôn: Tác phong “Nông nghiệp”, sản xuất nhỏ, trì trệ, luộm thuộm, manh
mún; thói quen việc “hôm nay không làm thì để ngày mai làm” không đi đâu mà vội vàng Do đó cho lúc nào cũng trong trình trạng “nước đến chân mới nhảy”;
“công nhân, lao động có quyền rủ nhau đình công bất cứ lúc nào”
Đô thị: Hình thành tác phong công nghiệp hiện đại; xây dựng được ý thức chấp
hành pháp luật, ý thức công dân và ý thức cá nhân Xã hội công dân đang manh nha hình thành ở khu vực đô thị Những thay đổi của đô thị trong quá trình hội nhập quốc tế đang làm thay đổi tập quán sản xuất, kinh doanh của người đô thị theo hướng công nghiệp hoá, đa thành phần, đa dạng dịch vụ theo kinh tế thị trường Trong tổ chức đời sống văn hoá, người dân đô thị đã: cơ bản khắc phục được tác phong sản xuất nhỏ, trì trệ, luộm thuộm, manh mún
+ Phong tục tập quán, tín ngưỡng:
Cưới xin là một sinh hoạt văn hóa gắn bó với đời sống myi con người, trở thành một hoạt động không thể thiếu trong cộng đồng người dân ở nông thôn Hoạt động cưới xin ở đô thị có được những bước chuyển biến đáng kể, đã tiết kiệm, đỡ tốn kém, gọn gàng, không gây ảnh hưởng phức tạp cho xã hội và theo đời sống mới Việc tang lễ theo lối cũ với những hủ tục đã được xóa bỏ, nếu như trước đây trong đám tang, vẫn còn cảnh lăn đường, khóc mướn, rắc vàng mã (khi đưa tang), việc