Phạm Hà Trang – TTQT48C1B Học viện Ngoại giao Khoa Truyền thông và Văn hóa Đối ngoại *** TIỂU LUẬN Môn học Văn hoá Việt Nam và hội nhập quốc tế Đề tài ĐẶC TRƯNG CỦA ĐÔ THỊ VIỆT NAM TRUYỀN THỐNG VÀ SỰ[.]
Trang 1Học viện Ngoại giao Khoa Truyền thông và Văn hóa Đối ngoại
-*** -TIỂU LUẬN
Môn học: Văn hoá Việt Nam và hội nhập quốc tế
Đề tài
ĐẶC TRƯNG CỦA ĐÔ THỊ VIỆT NAM TRUYỀN THỐNG VÀ SỰ THAY ĐỔI CỦA CÁC ĐẶC TRƯNG NÀY TRONG QUÁ TRÌNH HỘI
NHẬP QUỐC TẾ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Giảng viên: TS.Đào Ngọc Tuấn TS.Trần Hồng Thuý
Sinh viên: Phạm Hà Trang Lớp: TTQT48C1B
Hà Nội, 23/12/2021
Trang 2MỤC LỤC
A MỞ ĐẦU
Vai trò của đề tài trong môn Văn hóa Việt Nam 3
B NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
I Cơ sở lý luận
1 Khái niệm về đô thị 3
a Lịch sử hình thành 4
b Vai trò của đô
thị 4
c Cách vận hành của đô
thị 5
2 Hội nhập quốc
tế 5
II Về đặc trưng của đô thị truyền thống
1 Cơ sở hình thành và phát triển của các đặc
trưng 5
2 Những đặc trưng đô thị truyền
thống 6
3 Các đô thị truyền thống tiêu
biểu 7
4 Lý giải các đặc trưng từ góc độ văn
hóa 11
III Sự thay đổi của các đặc trưng trong quá trình hội nhập quốc tế
Trang 31 Tổng quan về đô thị Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế 14
2 Sự thay đổi của các đặc trưng đô
thị 14
3 Ưu nhược điểm của những thay đổi
đó 15
C TỔNG KẾT 17
PHỤ LỤC: Tài liệu tham
khảo 18
A MỞ ĐẦU
Vai trò của đề tài trong môn Văn hóa Việt Nam
Bằng cách tìm hiểu và nghiên cứu về đặc trưng của đô thị Việt Nam và cách các đặc trưng ấy thay đổi trong thời kỳ toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay, sinh viên không chỉ nâng cao nhận thức, mở rộng sự hiểu biết về chủ đề hết sức quen thuộc và gần gũi mà còn góp phần đem những kiến thức đó đóng góp vào diện mạo văn hóa riêng của dân tộc, gây dựng lòng yêu nước và yêu mến văn hóa Tổ quốc Có thể khẳng định, các đô thị nước ta còn đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc phát triển, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của cả nước cũng như của các vùng và của tỉnh Vai trò đó đã và đang được xác định rõ trong chính sách phát triển Đó chính là bài học về sự kế thừa những giá trị truyền thống tốt đẹp để làm giàu thêm cho đất nước và phát triển các giá trị đó trong thời kỳ hội nhập quốc tế, toàn cầu hóa như hiện nay
B NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
I Cơ sở lý luận
Trang 41 Đô thị
Ở căn cứ văn hóa xã hội: Đô thị là khu vực tập trung dân cư sinh sống có mật độ cao và chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp, là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hoá hoặc chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh
tế - xã hội của quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, một địa phương, bao gồm nội thành, ngoại thành của thành phố; nội thị, ngoại thị của thị xã; thị trấn
Ở căn cứ pháp lý: Theo Nghị định số 72/2001/NĐ-CP ngày 05.10.2001 của Chính phủ về việc phân loại đô thị và cấp quản lí đô thị thì đô thị là các điểm dân cư có các yếu tố cơ bản:
- Là trung tâm tổng hợp hay trung tâm chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước hoặc một vùng lãnh thổ nhất định;
- Quy mô dân số ít nhất là 4.000 người;
- Tỉ lệ lao động phi nông nghiệp trong tổng số lao động tối thiểu là 65%;
- Cơ sở hạ tầng phục vụ các hoạt động của dân cư tối thiểu phải đạt 70% mức tiêu chuẩn, quy chuẩn quy định đối với từng loại đô thị;
- Mật độ dân cư phù hợp với quy mô, tính chất và đặc điểm của từng loại đô thị
a Lịch sử hình thành
Lần đầu tiên đô thị xuất hiện ở Việt Nam là khá muộn nếu so với nhiều nước trên thế giới theo Viện Sử học Việt Nam Các đô thị cổ sau khi hình thành thường có xu hướng phát triển không đồng đều chứ không liên tục, theo sự thay đổi địa điểm của kinh đô của các triều đại Điều này đưa tới một kết luận tổng quát về lịch sử và tính chất của đô thị Việt Nam truyền thống đó là: các đô thị Việt Nam thường phụ thuộc nhiều vào dấu ấn hành chính – chính trị nhiều hơn
là dịch vụ, thương mại, cũng có nghĩa là yếu tố “đô” trong “đô thị” hoàn toàn lấn át yếu tố thị
Hiện nay, đô thị ở Việt Nam thường được chủ yếu tổ chức theo một không gian cụm đô thị, rải đều cả nước Theo đó, chùm đô thị phía Bắc tập trung ở khu vực
Trang 5sông Hồng, nổi bật là TP Hà Nội, chùm đô thị phía Nam là khu vực đồng bằng sông Cửu Long với đô thị trung tâm là TP Hồ Chí Minh
b Vai trò của đô thị
Vai trò kinh tế: Đây là chức năng chủ yếu của đô thị Đô thị là một bộ phận của nền kinh tế quốc dân, là điều kiện cho giao thương và sản xuất phát triển, tạo điều kiện thúc đẩy công nghiệp hóa nhanh chóng, tạo ra thị trường linh hoạt và
có năng suất lao động cao
Vai trò xã hội: Vai trò này ngày càng có phạm vị lớn hơn khi quy mô dân cư đô thị ngày càng tăng lên Những yêu cầu về nơi cư trú, y tế, giao thông vẫn luôn là những vấn đề nặng nề bởi sự gia tăng dân số đô thị và sự thay đổi của những yêu cầu này theo bối cảnh phát triển và thời gian
Vai trò văn hóa: Tất cả các đô thị đều có nhu cầu giáo dục và giải trí cao Do đó các hệ thống trường học, du lịch, viện bảo tàng ngày càng phát triển và được chú trọng trong việc bồi dưỡng tinh thần và thể chất của dân đô thị
c Cách vận hành của đô thị
Đô thị được lập ra bởi nhà nước là chủ yếu để thực hiện chức năng hành chính Đặc điểm này của đô thị có nét tương đồng với đô thị Trung Quốc vì nhà nước đều quản lý từ Điền (ruộng công) đến Đinh (dân số) Đô thị Việt Nam trực tiếp chịu sự quản lý và cai quản của nhà nước phong kiến, nhằm đảm bảo số tô thuế
lao dịch và binh dịch cho nhà nước Có câu “Dưới gầm trời không có đất đai nào không phải của nhà vua” - chính vì lý do này mà các đô thị cổ của Việt
Nam hay Trung Quốc không có sự độc lập tự trị
Trong khi đó, ở Châu Âu thời Trung cổ, tiểu tư sản công thương đa phần làm chủ các thành phố lớn và các lãnh chúa phong kiến không có sự chi phối lên các
đô thị Đô thị ở châu Âu độc lập, có hiến chương riêng và không đứng ở địa vị
lệ thuộc vào chế độ phong kiến
2 Hội nhập quốc tế
Toàn cầu hóa về kinh tế được cho là xu thế phát triển tất yếu và không loại trừ bất cứ một quốc gia nào Trong khi đó toàn cầu hóa về văn hóa lại đặt ra nhiều
Trang 6vấn đề, nhất là trong phát triển đô thị Một khái niệm mới (GloCal) kết hợp giữa toàn cầu hóa (Globalisation) với địa phương hóa (Localization) xuất hiện thu hút sự quan tâm của nhiều người Trong phát triển đô thị, nói cụ thể hơn, đó là việc vận dụng mô hình đô thị toàn cầu phù hợp với đặc điểm văn hóa - xã hội và
tự nhiên của địa phương Bản chất đó chính là quá trình phát triển hiện đại mà mỗi quốc gia, trên cơ sở kết hợp ấy và tùy vào điều kiện thực tiễn, lựa chọn cho mình cách phát triển phù hợp
II Đặc trưng đô thị truyền thống
1 Cơ sở hình thành và phát triển của đặc trưng đô thị
Trong khi ở phương Tây, người ta coi làng xã như một cái bao tải khoai tây rời rạc còn đô thị lại là một tổ chức tự trị, độc lập, vững mạnh thì ngược lại, người Việt Nam làng xã nông nghiệp lại là tổ chức tự trị cao và đô thị thì yếu ớt, lệ thuộc và phát triển kém hơn Lý do là bởi một quy luật tất yếu từ bao đời nay: ở văn hóa Việt Nam nông nghiệp trọng tĩnh, làng xã là trung tâm của văn hóa nông thôn và là tất cả nên làng xã tự trị và có uy quyền
Bóc tách hai chữ “đô thị”, ta dễ dàng nhận ra yếu tố “đô” luôn gắn liền với
“Thành”, “Dinh”, “Trấn” – những trung tâm cai trị của chính quyền nhà nước quân chủ và được xây dựng bởi lực lượng cầm quyền trong xã hội Những nhu cầu giao thương, tìm kiếm các nguồn hàng thương mại đã tạo thành các “thị” – tức là phố, phường Có thể thấy, phần “đô” luôn điều hành phần “thị”, bởi các tầng lớp thị dân trong phần “thị” luôn bị chi phối bởi các tầng lớp quan lại, quý tộc, đô thị Việt Nam bị nông thôn kìm giữ, không cho làng xã phát triển thành
đô thị
2 Những đặc trưng đô thị truyền thống
Với nhu cầu quản lý, nhà nước phong kiến đặt các cơ sở kiểm soát mà từ đó dần hình thành lên đô thị, vậy nên có thể kết luận đô thị Việt Nam có những đặc trưng nổi bật như sau:
Số lượng và quy mô đô thị ở Việt Nam là không đáng kể nếu so sánh với nông thôn Cho tới tận thế kỷ thứ XVI thì chỉ mới có một đô thị xuất hiện là Kẻ
Trang 7Recommandé pour toi
Ielts Academic General Task 2 - How to Write at a Band 9 Level
Đại cương truyền thông quốc tế 100% (3)
633
english-grammar-mcq-test-with-answers-intermediate-06 englishtestsonline
Unit 5 - unit 5 cultural identity
2020-2021 Chuyên Lam Sơn đề
Suite du document ci-dessous
89
3
10
8
Trang 8Chợ (Thăng Long) - một trung tâm kinh tế - văn hóa - chính trị ở đất Đại Việt
Kể từ sau thế kỉ XVI, các đô mới dần xuất hiện và đa phần gắn bó với mục đích ngoại thương (Phố Hiến, Hội An, Sài Gòn )
Đô thị Việt Nam có sự đan xen, hòa trộn giữa nông thôn và thành thị.
Đất nước chúng ta vốn là nước nông nghiệp, 90% dân số sống ở vùng nông thôn
và gắn liền cuộc sống với nghề nông (“Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống”) Chính vì vậy mà lối sống và văn hóa của chúng ta cũng bị ảnh hưởng ít nhiều bởi tư duy nông nghiệp và căn tính nông dân Nhìn chung, quá trình hội nhập quốc tế cùng với công cuộc công nghiệp hóa – hiện đại hóa đang khiến quá trình đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ và rộng khắp hơn tuy vẫn có sự len lỏi của đời sống xã hội và nông thôn
Về chính trị, văn hóa, kinh tế và xã hội, không giống như Trung Hoa hay Phương tây, đô thị Việt Nam được nhà nước sinh ra và chịu sự quản lý trực tiếp của nhà nước phong kiến Bản thân do tầng lớp trí thức chiếm phần lớn ở đô thị nên vấn đề chính trị là vô cùng nhạy cảm Vậy nên dù có văn hóa hội tụ đa dạng, tạo nên nét riêng hay là dù là nơi có tỷ lệ phát triển kinh tế cao nhất nhưng
đô thị Việt Nam trước hết vẫn phải là trung tâm chính trị rồi mới đến trung tâm kinh tế và văn hóa Thường thì bộ phận quản lý trong đô thị hình thành
trước rồi một cách tự phát, bộ phận làm kinh tế mới được hình thành dần dần
Trong khi Phương Tây lấy chức năng kinh tế làm “kim chỉ nam” thì đô thị Việt Nam thực hiện chức năng hành chính là chủ yếu Chính vì thế mà các đô thị
đều do nhà nước quản lý, ngay cả đối với một số ít đô thị tự phát như Vĩnh Bình, Vân Đồn, hay cả Hội An, Phố Hiến thì nhà nước cũng đặt bộ máy cai trị
ở đó để nắm trọn quyền kiểm soát Trong đô thị ngoại trừ bộ phận quản lý thì còn có bộ phận kinh tế (buôn bán); bộ phận quản lý hình thành trước theo kế hoạch, rồi dần dần, bộ phận làm kinh tế mới được hình thành một cách tự phát Trong nhiều trường hợp, bộ phận kinh tế không thể phát triển hoặc phát triển rất yếu ớt như trong phần II.3 dưới đây
Trong lịch sử Việt Nam, đô thị phần nhiều vẫn còn phụ thuộc vào nông thôn
và bị nông thôn hóa do người Việt đã quen với văn hóa nông thôn và bản chất
Trang 9văn hóa này cũng đã in đậm dấu ấn trong văn hóa đô thị Việt Nam Ta thấy rõ nhất sự chi phối của nông thôn lên đô thị qua những biểu hiện:
- Đô thị tổ chức hành chính dựa trên mô phỏng tổ chức của nông thôn – cũng có phủ, huyện, tổng, thôn và chỉ thêm phường Tuy nhiên thì bản chất phường vốn là nơi tập trung của những người cùng nghề va xuất xứ
từ cùng một làng quê Tới tận năm 1940, làng xã quanh hồ Gươm vẫn còn tổng, tiên chỉ, thứ chỉ Lối tổ chức này đã khiến người Châu Âu không khỏi ngỡ ngàng
- Làng và phố nằm xen kẽ nhau Làng Bát Tràng (Gia Lâm) nằm ở ngoại thành Hà Nội, làng Bưởi (Từ Liêm) làm giấy, làng Vạn Phúc (Hà Đông) làm lụa
- Tính cộng đồng của lối sống nông thôn cũng được áp dụng lên lối sống
đô thị Cho tới những năm 80, kiểu kiến trúc khu tập thể - các nhà sinh hoạt chung với nhau, tụ tập bên bể nước tập thể, nhà vệ sinh tập thể, hàng lang dài dùng chung, các hộ dân cư đều quen biết và sống theo kiểu cộng đồng với nhau – vẫn rất phổ biến
3 Các đô thị tiêu biểu
Bản chất đặc trưng về số lượng đô thị truyền thống là nhỏ và khá ít đã được thể hiện rõ ràng ở việc chỉ có 3 đô thị truyền thống tiêu biểu
Hà Nội
Nhà Lý
Tại Kinh thành Thăng Long, nhà Lý đã thực hiện công cuộc xây dựng nhiều lâu đài, cung tẩm, đền chùa và thành luỹ bảo vệ Từ đố, Thăng Long với hình ảnh Rồng bay lên đẹp đẽ và tượng trưng cho khí thế vươn lên của dân tộc, mở đầu một giai đoạn phát triển lớn của đất nước Đặc biệt, khu vực Hoàng Thành được xây dựng gần hồ Tây gồm cung điện Hoàng gia và các công trình chính trị Phần còn lại của đô thị là những dân cư, gồm các phường nông nghiệp, công nghiệp và thương nghiệp Tức ở đây ta thấy rõ rằng chính trị vẫn được đặt lên hàng đầu và là ưu tiên của chính quyền, sau mới đến kinh tế và các lợi ích liên quan Thăng Long nhanh chóng trở thành trung tâm văn hóa, chính trị và kinh tế của cả quốc gia chỉ sau một thập kỷ
Trang 10Nhà Trần
Nhà Lý suy vong Triều Trần thành lập Vua Trần Thái Tông lên ngôi năm 1226, vẫn đống đô ở Thăng Long Nhà Trần cho mở rộng kinh thành Thăng Long hơn trước, chia khu vực cư trú của nhân dân thành 61 phường Ở cách sắp xếp tổ chức đô thị này, ta thấy rõ việc đô thị vẫn thời nhà Trần vẫn đang chịu ảnh hưởng của nông thôn và mang đặc tính nông thôn rất đậm nét: Lối tổ chức này xuất hiện bởi tính cộng đồng vốn có của nông thôn Việc tổ chức theo phường
sẽ có lợi hơn cho người bán khi họ có điều kiện để hỗ trợ nhau, vay mượn hàng, giới thiệu khách Không phải tự nhiên mà tục ngữ có câu “Buôn có bạn, bán có phường” Mặt khác, tính tự trị cũng khiến việc tổ chức theo phường sẽ có lợi hơn cho người mua khi họ được khảo giá, ít nguy cơ mua phải hàng giả Nền kinh tế công thương nghiệp cũng phát sinh tầng lớp thị dân Thăng Long cũng là nơi có nhiều học giả, trí thức nổi tiếng như Hàn Thuyên, Lê Văn Hưu, Chu Văn An… Việc xây dựng phủ Thiên Trường chủ yếu nhàm vào vai trò quan trọng của đời sống chính trị nhà Trần, là hành cung quan trọng nhất và được coi như là kinh đô thứ hai sau Thăng Long tuy nhiên không phát triển về mặt kinh
tế bằng mặt chính trị Vậy tức là đô thị ở thời này vẫn đặt hành chính là chức năng trước hết
Nhà Hồ
Nhà Trần suy vong Năm 1400 Hồ Quí Ly cướp ngôi nhà Trần, lập ra triều Hồ
và cho xây dựng kinh đô mới ở vùng An Tồn (Vĩnh Lộc, Thanh Hoá) gọi là Tây
Đô (nhân dân quen gọi là thành nhà Hồ) Nhờ sự phát triển của ngoại thương và nền kinh thế hàng hóa, đô thị Thăng Long bước vào thời kỳ phồn vinh, thu hút thêm nhiều cư dân sinh sống Giai đoạn này còn được là Kẻ Chợ và gắn liền với câu ca: “Thứ nhất Kinh kỳ, thứ nhì Phố Hiến” bởi sự giàu có và sầm uất của thành phố lúc bấy giờ, đặc biệt là Phố Hiến – đô thị mang những nét đặc trưng rất truyền thống đã kể trên
Pháp thuộc
Năm 1858 triều đình Nguyễn bán nước, dâng Hà Nội cho Pháp Nền văn hóa phương Tây theo chân người Pháp du nhập vào Việt Nam kéo theo những xáo
Trang 11trộn trong xã hội Hà Nội dần mang dáng dấp của một đô thị châu Âu và vẫn tiếp tục giữ vai trò là trung tâm văn hóa, nghệ thuật, tri thức của cả quốc gia Khu phố cổ Hà Nội, trung tâm lịch sử của thành phố, hiện nay vẫn là khu vực đông đúc nhất Qua nhiều năm, những cư dân sinh sống nhờ các nghề thủ công, buôn bán tiểu thương đã hình thành những con phố nghề đặc trưng mang những cái tên như Hàng Bạc, Hàng Bồ, Hàng Đường, Hàng Thùng Mỗi loại hàng “
hóa đều có một phố riêng Ở phố Bát Sứ – tất cả đều xanh Tiếp đến phố Bát Đàn – tất cả đều đỏ Rồi đến phố Hàng Đồng lấp lánh ánh kim vàng chói Phố Hàng Thêu và phố Hàng Tranh, màu sắc tươi vui sặc sỡ.” – Julien, 1884 Lối tổ chức đô thị này không chỉ phỏng theo nông thôn mà còn thể hiện rất rõ tính đặc trưng của văn hóa “phường” của nông thôn cũ – đô thị mới
Lịch sử Hà Nội thời kỳ đổi mới
Hà Nội đã trải qua nhiều tháng năm phấn đấu gian khổ để đi lên cùng cả nước
Hà Nội từ xưa đến nay vẫn luôn nổi tiếng với thành ngữ “Hà Nội 36 phố phường” với những làng nghề nổi tiếng và đông đúc nhất Việt Nam Hà Nội không chỉ là trung tâm văn hóa của cả nước mà còn mang đậm những bản sắc riêng mà không nơi đâu có được Sự chi phối của nông thôn đã để lại hậu quả là trong lòng các đô thị, cho tới tận bây giờ, vẫn còn tồn tại những lũy tre xanh giữa ốc đảo làng quê, có tiếng gà kêu mỗi sáng Cạnh quảng trường Ba Đình vẫn còn làng hoa Ngọc Hà, gần công viên Thống Nhất có làng Kim Liên, phía Tây có làng Láng với nghề trống rau hung nổi tiếng ở Hà Nội
Huế
Nằm ở vị trí trung tâm của đất nước và trong vùng kinh tế trọng điểm miền Trung, Huế đã được Trung ương xác định là đô thị loại I Thành phố Huế là kinh
đô phong kiến cuối cùng của Việt Nam, vốn có lịch sử và truyền thống văn hóa lâu đời với những giá trị và bản sắc độc đáo Huế từng là cố đô của Việt Nam thời phong kiến dưới triều nhà Nguyễn (1802 - 1945)
Bộ mặt đô thị của Huế từ trước thế kỉ XIX đã hiện ra cùng với việc xây dựng phần ‘đô’, ‘thành’ trên một xùng đất nông thôn như thế Các nhà đều lát nền bằng đá, những máng đều làm bằng kẽm để hứng nước Quanh nhà còn trồng xen các loại cây cối Vườn sau có núi giả, đá quý, ao vuông, hồ quanh Sự hình