1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Chủ đề pháp luật quyền tự do ngôn luận đối với truyền thông tên đề tài quyền tự do ngôn luận đối với không gian mạng việt nam hiện nay

22 7 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quyền tự do ngôn luận đối với không gian mạng Việt Nam hiện nay
Tác giả Nguyễn Hải Yến
Người hướng dẫn TS. Đào Xuân Hội
Trường học Học viện Ngoại giao Khoa Truyền Thông Quốc Tế
Chuyên ngành Pháp luật Và Đạo Đức Truyền Thông
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2022-2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 2,6 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI NÓI ĐẦUQuyền tự do ngôn luận, tự do báo chí của công dân là một trong nhữngquyền không thể tước bỏ của con người theo Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền củaLiên Hợp Quốc, được Nhà nước và

Trang 1

HỌC VIỆN NGOẠI GIAO KHOA TRUYỀN THÔNG QUỐC TẾ

TIỂU LUẬN

MÔN: PHÁP LUẬT VÀ ĐẠO ĐỨC TRUYỀN THÔNG

TÊN CHỦ ĐỀ: Pháp luật quyền tự do ngôn luận đối với truyền thông

TÊN ĐỀ TÀI: Quyền tự do ngôn luận đối với không gian mạng Việt Nam hiện nay

Tên giáo viên giảng dạy : TS Đào Xuân Hội

Hà Nội, ngày 14 tháng 12 năm 2022

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU 1

CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2

1 Cơ sở lý luận 2

1.1 Khái niệm liên quan 2

1.2 Đặc điểm quyền tự do ngôn luận trên không gian mạng 3

2 Cơ sở pháp lý 3

3 Kinh nghiệm quốc tế 6

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CỦA QUYỀN TỰ DO NGÔN LUẬN ĐỐI VỚI KHÔNG GIAN MẠNG VIỆT NAM VÀ THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT, THỰC THI PHÁP LUẬT LIÊN QUAN ĐẾN QUYỀN TỰ DO NGÔN LUẬN ĐỐI VỚI KHÔNG GIAN MẠNG VIỆT NAM 7

1 Khía cạnh tích cực 7

2 Khía cạnh tiêu cực 10

CHƯƠNG III: Ý KIẾN CÁ NHÂN 13

CHƯƠNG IV: GIẢI PHÁP 14

1 Giải pháp tổ chức thực hiện trong thực tiễn 14

2 Giải pháp liên quan đến hoàn thiện hệ thống pháp luật 15

KẾT LUẬN 16

TÀI LIỆU THAM KHẢO 17

Trang 3

LỜI NÓI ĐẦU

Quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí của công dân là một trong nhữngquyền không thể tước bỏ của con người theo Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền củaLiên Hợp Quốc, được Nhà nước và hệ thống pháp luật quốc tế thừa nhận, bảo vệ vàđảm bảo thực hiện Trong thời kỳ hiện đại, tự do ngôn luận, tự do báo chí được coi

là biểu hiện của một xã hội bình đẳng, dân chủ và có tác dụng thúc đẩy sự pháttriển xã hội Tuy nhiên một vài thành phần cho rằng quyền tự do ngôn luận, tự dobáo chí là được bày tỏ bất cứ ý kiến nào và lợi dụng điều này với mục đích xấu,nhằm xâm hại tới lợi ích của Nhà nước, tổ chức và công dân Nhất là trong thời kỳcông nghệ phát triển, con người có khả năng bày tỏ quan điểm của mình về mộtvấn đề trong đời sống một cách dễ dàng trên rất nhiều nền tảng và phương tiện Vìvậy, bất kỳ ai cũng có thể trở thành nạn nhân của vấn nạn sử dụng quyền tự dongôn luận, tự do báo chí vào mục đích xấu Chỉ với một vài thao tác đơn giản,những bài viết với nội dung xấu, gây tổn hại tới lợi ích quốc gia, dân tộc, và xâmphạm quyền được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩmcủa công dân đã được đăng tải Do đó, cần tìm hiểu kỹ khái niệm, hệ thống pháp lý,nhằm đảm bảo quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí của công dân, đồng thời không

để kẻ gian sử dụng để chống phá Nhà nước, chống phá chính quyền, hay xúc phạmđến danh dự và nhân phẩm của công dân

Kiến thức về chủ đề bài tiểu luận của em còn nhiều hạn chế, mong nhậnđược sự góp ý của các thầy cô Em xin chân thành cảm ơn!

Trang 4

CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1 Cơ sở lý luận

1.1 Khái niệm liên quan

Quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí là quyền cơ bản của công dân, đượcquy định trong Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền và Luật nhân quyền quốc tế củaLiên hợp quốc cũng như Hiến pháp và Pháp luật Việt Nam Theo quy định tại Điều

19 Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền (1948), quyền tự do ngôn luận là quyền khôngthể tước bỏ của con người, bao gồm tự do giữ ý kiến mà không bị can thiệp, cũngnhư tự do tìm kiếm, tiếp nhận và truyền bá thông tin, tư tưởng, ý kiến của mìnhtrong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội bằng bất kỳ hình thức nào [1] Các hìnhthức có thể bao gồm lời nói, văn bản (viết tay hoặc đánh máy), hoặc ở thời điểmhiện nay còn có thể trình bày dưới bản điện tử (thông qua thư điện tử, các ứng dụngnhắn tin, các ứng dụng mạng xã hội) hoặc dưới những hình thức khác (tranh vẽ, cácmàn trình diễn nghệ thuật, …) [2]

Quyền tự do báo chí là quyền của công dân được sáng tạo tác phẩm báo chí,tiếp cận và cung cấp thông tin báo chí, phản hồi thông tin trên báo chí; liên kết với

cơ quan báo chí thực hiện sản phẩm báo chí, in và phát hành báo in Báo chí làcông cụ để truyền tải quan điểm, ý chí Nhà nước và là tiếng nói của nhân dân, cũng

là nơi để mọi người tiếp cận với sự thật, thông tin và sự kiện đang diễn ra trongnước và ngoài nước Nhìn chung, báo chí là phương tiện để công dân thực hiệnquyền tự do ngôn luận của mình

Quyền tự do ngôn luận trên không gian mạng của công dân là quyền được

“phát biểu ý kiến về tình hình đất nước và thế giới; tham gia ý kiến xây dựng vàthực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; góp

ý kiến, phê bình, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo trên báo chí đối với các tổ chức củaĐảng, cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội – nghềnghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp và các tổ chức, cá nhân khác”

Trang 5

1.2 Đặc điểm quyền tự do ngôn luận trên không gian mạng

Tuy nhiên, giống như các quyền tự do khác, quyền tự do ngôn luận khôngphải quyền tự do tuyệt đối và có một số giới hạn nhất định được quy định trongHiến pháp Việt Nam cũng như một số điều luật trong các bộ luật Những hạn chếchung liên quan đến quyền tự do ngôn luận bao gồm các hành vi xâm hại đến lợiích của Quốc gia; làm tổn hại tới danh dự và nhân phẩm công dân khác; gây chia rẽcác nhóm công dân; vi phạm các thỏa thuận liên quan tới bảo mật và riêng tư, viphạm các điều luật của Nhà nước [2]

Đối với không gian mạng, quyền tự do ngôn luận cũng có những giới hạnnêu trên, xong quyền tự do ngôn luận trên không gian mạng còn chưa được quản lýchặt chẽ Những bài đăng chứa thông tin sai sự thật, ảnh hưởng tới quyền lợi của cánhân, tổ chức hay xâm hại đến lợi ích Quốc gia còn tồn tại Điều này là do sự tiệnlợi của các ứng dụng nhắn tin hay ứng dụng mạng xã hội khiến các cơ quan chứcnăng không thể vào cuộc kịp thời và chưa có những văn bản hướng dẫn thi hànhpháp luật với các trường hợp cụ thể Bên cạnh đó, một số phần tử phản động, chốngphá Nhà nước lợi dụng và đánh tráo khái niệm quyền tự do ngôn luận, lợi dụngkhông gian mạng với mục đích làm nền tảng đăng tải những bài viết xuyên tạc sựthật nhằm chống phá chế độ và hạ thấp vị trí nước ta trong mắt bạn bè quốc tế

2 Cơ sở pháp lý

Hiến pháp năm 2013 đã lần đầu sử dụng thuật ngữ quyền con người và dànhchương II quy định về quyền con người, quyền và tự do của công dân Điều 25,chương II, Hiến pháp năm 2013 quy định: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự

do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình” [3]

Luật Báo chí năm 2016 xác định rõ hơn quyền tự do báo chí và tự do ngônluận trên báo chí của công dân tại chương II Điều 11 quy định về Quyền tự dongôn luận trên báo chí của công dân, đó là quyền được “phát biểu ý kiến về tìnhhình đất nước và thế giới; tham gia ý kiến xây dựng và thực hiện đường lối, chủ

Trang 6

Recommandé pour toi

trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; góp ý kiến, phê bình, kiếnnghị, khiếu nại, tố cáo trên báo chí đối với các tổ chức của Đảng, cơ quan nhànước, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xãhội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp và các tổ chức, cá nhân khác” [4]

Bộ luật cũng xác định trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo đảm thựchiện quyền tự do báo chí tại điều 13: “Nhà nước tạo Điều kiện thuận lợi để côngdân thực hiện quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí và để báochí phát huy đúng vai trò của mình; Báo chí, nhà báo hoạt động trong khuôn khổpháp luật và được Nhà nước bảo hộ, không ai được lạm dụng quyền tự do báo chí,quyền tự do ngôn luận trên báo chí để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền vàlợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân; Báo chí không bị kiểm duyệt trước khi

in, truyền dẫn và phát sóng” [4]

Ngoài ra, hình phạt cho những hành vi xâm phạm tới quyền tự do ngôn luận,

tự do báo chí của công dân cũng được quy định trong pháp luật nước ta Điều 167,

Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định về “Tội xâm phạmquyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, quyền biểu tình của côngdân” [5]

Tuy nhiên, đi đôi với việc bảo đảm quyền con người là trách nhiệm và nghĩa

vụ của công dân, và mọi quyền tự do, trong đó có quyền tự do ngôn luận, tự do báochí đều phải có giới hạn nhất định Việc thực hiện quyền tự do ngôn luận, tự do báochí phải trong khuôn khổ pháp luật quy định, đồng nghĩa với việc công dân phảinghiêm túc tuân thủ các quy định của pháp luật nhằm bảo đảm trật tự an toàn xãhội, chế độ xã hội, không gây phương hại tới lợi ích Quốc gia và dân tộc Điều 9Luật Báo chí 2016 nghiêm cấm các hành vi: “đăng, phát thông tin chống Nhà nướcCộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; đăng, phát thông tin có nội dung gây chia rẽgiữa các nhóm công dân, tầng lớp trong xã hội, phá hoại việc thực hiện chính sáchđoàn kết quốc tế; đăng, phát thông tin có nội dung kích động chiến tranh nhằm

Suite du document ci-dessous

Trang 7

The end of history f fukuyama

Sustainability-12-07427

19 Trần Thị Thanh Thảo - tiểu luận của học viện ngoại giao

Commuting - Many people are now spending more and more time travelling to work or school,

21

11

1

1

Trang 8

chống lại độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩaViệt Nam; xuyên tạc lịch sử; phủ nhận thành tựu cách mạng; xúc phạm dân tộc, anhhùng dân tộc; tiết lộ thông tin thuộc danh Mục bí mật nhà nước, bí mật đời tư của

cá nhân và bí mật khác theo quy định của pháp luật; đăng thông tin cổ súy các hủtục, mê tín, dị đoan, thông tin về những chuyện thần bí gây hoang mang trong xãhội, ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội và sức khỏe của cộng đồng; kíchđộng bạo lực; tuyên truyền lối sống đồi trụy; miêu tả tỉ mỉ những hành động dâm ô,hành vi tội ác; thông tin không phù hợp với thuần phong mỹ tục Việt Nam; đăng,phát thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của cơ quan, tổchức, danh dự, nhân phẩm của cá nhân; quy kết tội danh khi chưa có bản án củaTòa án; đăng, phát thông tin ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường về thể chất

và tinh thần của trẻ em; đe dọa, uy hiếp tính mạng, xúc phạm danh dự, nhân phẩmcủa nhà báo, phóng viên; phá hủy, thu giữ phương tiện, tài liệu, cản trở nhà báo,phóng viên hoạt động nghề nghiệp đúng pháp luật.” [4] Ngoài ra, Điều 331, BộLuật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) cũng quy định về tội “Lợi dụng cácquyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp phápcủa tổ chức, cá nhân” [5]

Với sự xuất hiện và phổ biến của không gian mạng, bên cạnh Luật Báo chí

2016, Luật An ninh mạng 2018 cũng quy định “Các hành vi bị nghiêm cấm về anninh mạng” tại Điều 8, gồm: “Hành vi sử dụng không gian mạng, công nghệ thôngtin, phương tiện điện tử để vi phạm pháp luật về an ninh quốc gia, trật tự, an toàn

xã hội; tổ chức, hoạt động, câu kết, xúi giục, mua chuộc, lừa gạt, lôi kéo, đào tạo,huấn luyện người chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; xuyên tạclịch sử, phủ nhận thành tựu cách mạng, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc,xúc phạm tôn giáo, phân biệt đối xử về giới, phân biệt chủng tộc; thông tin sai sựthật gây hoang mang trong Nhân dân, gây thiệt hại cho hoạt động kinh tế - xã hội,gây khó khăn cho hoạt động của cơ quan nhà nước hoặc người thi hành công vụ,xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác; hoạt

Trang 9

động mại dâm, tệ nạn xã hội, mua bán người; đăng tải thông tin dâm ô, đồi trụy, tộiác; phá hoại thuần phong, mỹ tục của dân tộc, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộngđồng; xúi giục, lôi kéo, kích động người khác phạm tội.” [6] Điều 12, Luật Côngnghệ thông tin 2006 quy định về “Các hành vi bị nghiêm cấm” sau: “Chống Nhànước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, phá hoại khối đoàn kết toàn dân; kíchđộng bạo lực, tuyên truyền chiến tranh xâm lược, gây hận thù giữa các dân tộc vànhân dân các nước, kích động dâm ô, đồi trụy, tội ác, tệ nạn xã hội, mê tín dị đoan,phá hoại thuần phong mỹ tục của dân tộc; tiết lộ bí mật nhà nước, bí mật quân sự,

an ninh, kinh tế, đối ngoại và những bí mật khác đã được pháp luật quy định; xuyêntạc, vu khống, xúc phạm uy tín của tổ chức, danh dự, nhân phẩm, uy tín của côngdân; quảng cáo, tuyên truyền hàng hóa, dịch vụ thuộc danh mục cấm đã được phápluật quy định” [8]

3 Kinh nghiệm quốc tế

Điều 19 Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền (năm 1948) quy định: “Ai cũng cóquyền tự do quan niệm và tự do phát biểu quan điểm; quyền này bao gồm quyềnkhông bị ai can thiệp vì những quan niệm của mình, và quyền tìm kiếm, tiếp nhậncùng phổ biến tin tức và ý kiến bằng mọi phương tiện truyền thông không kể biêngiới quốc gia.” [1] Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR)năm 1966 cũng quy định: “Mọi người có quyền tự do ngôn luận Quyền này baogồm tự do tìm kiếm, tiếp nhận và truyền đạt thông tin, ý kiến, không phân biệt lĩnhvực, hình thức tuyên truyền bằng miệng, bằng bản viết, in, hoặc dưới hình thứcnghệ thuật, thông qua bất kỳ phương tiện thông tin đại chúng nào tùy theo sự lựachọn của họ” [8]

Tuy nhiên, pháp luật quốc tế cũng quy định quyền tự do ngôn luận khôngphải là tuyệt đối Điều 29, Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền (năm 1948) khẳngđịnh: “Mỗi người đều có nghĩa vụ đối với cộng đồng, trong khi hưởng thụ cácquyền về tự do cá nhân, phải chịu những hạn chế do luật định nhằm mục đích duy

Trang 10

nhất là bảo đảm việc thừa nhận và tôn trọng đối với các quyền tự do của ngườikhác và phù hợp với những đòi hỏi chính đáng về đạo đức, trật tự công cộng vàphúc lợi chung trong một xã hội dân chủ.” [1] Điều 19, Công ước ICCPR quy định:

“Việc thực hiện quyền tự do ngôn luận có thể phải chịu một số hạn chế nhất định vànhững hạn chế này cần được quy định bởi pháp luật, nhằm tôn trọng các quyềnhoặc uy tín của người khác; bảo vệ an ninh quốc gia hoặc trật tự an toàn xã hội, sứckhỏe hoặc đạo đức của xã hội.” [8]

Điều này cũng được thể hiện cụ thể trong bộ luật của các quốc gia trên thếgiới Ngay từ năm 1798, Đạo luật Phản loạn của Mỹ đã quy định “việc viết, in, phátbiểu hay phổ biến… mọi văn bản sai sự thực, có tính chất xúc phạm hay ác ý chốngchính quyền đều là tội.” Bên cạnh đó, theo Hiến pháp Mỹ, Tòa án tối cao đượcphép đưa ra những trừng phạt pháp lý khi phát hiện báo chí có hành vi phá hoại,lăng nhục, vu khống, xúc phạm nhà nước, xã hội và cá nhân Ở các quốc gia khác,quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí cũng được công nhận về nguyên tắc và cũngkhông được coi là quyền “tuyệt đối” Điều 17, Hiến pháp Cộng hòa Kyrgyzstanquy định: “Hiến pháp và Luật của nước Cộng hòa Kyrgyzstan hạn chế đối với việcthực hiện các quyền và quyền tự do được cho phép chỉ trong trường hợp nhằm đảmbảo quyền và tự do của người khác, đảm bảo an toàn và trật tự xã hội, toàn vẹn lãnhthổ và bảo vệ trật tự hiến pháp Nhưng trong quá trình thực hiện, tinh thần về cácquyền và các quyền tự do hợp hiến không được phép bị ảnh hưởng.” Điều 8 Hiếnpháp Senegal cũng coi các quyền này là “đối tượng điều chỉnh và bị hạn chế bởiluật và các quy định pháp luật” [11]

Trang 11

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CỦA QUYỀN TỰ DO NGÔN LUẬN ĐỐI VỚI KHÔNG GIAN MẠNG VIỆT NAM VÀ THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT, THỰC THI PHÁP LUẬT LIÊN QUAN ĐẾN QUYỀN TỰ DO NGÔN

LUẬN ĐỐI VỚI KHÔNG GIAN MẠNG VIỆT NAM

1 Khía cạnh tích cực

Quyền tự do ngôn luận cho phép công dân được truyền đạt thông tin, ý kiếncủa mình dưới bất kỳ hình thức nào Cùng với sự phát triển của công nghệ thôngtin, tự do ngôn luận có thêm nhiều hình thức thể hiện, trong đó phải kể đến Internet

và mạng xã hội Những nền tảng này trở thành công cụ phổ biến để mọi cá nhân, tổchức bày tỏ quan điểm và quảng bá hình ảnh, từ đó có thể lan truyền nhanh chóngnhững hình ảnh tích cực, hoặc có thể tố cáo, khiếu nại những hành vi sai trái củacác tổ chức hoặc cá nhân

Đầu tiên, sự tích cực có thể được nhìn thấy ở những chủ đề cấp thiết đượcbàn luận trên mạng xã hội Nhờ có quyền tự do ngôn luận, người tham gia mạng xãhội có thể đưa ra những chủ đề cần nhận được nhiều sự chú ý và quan tâm của côngchúng nhằm thu hút sự thảo luận và giải pháp cho vấn đề đó Ví dụ, trong nhữngnăm gần đây, nhiều dự án thành lập bởi các em học sinh trung học phổ thông trênđịa bàn khắp cả nước đã tập trung vào nhiều vấn đề cấp bách trong cuộc sống nhưvấn đề bảo vệ môi trường, vấn đề bắt nạt học đường, vấn đề tâm sinh lý trẻ vị thànhniên, … Những dự án này tạo được những tiếng vang nhất định trên các trang mạng

xã hội, mang đến những thông tin bổ ích, giúp mọi người có cái nhìn rõ hơn vềnhững vấn đề ấy Ngoài ra còn có các tổ chức và các cộng đồng, diễn đàn phi lợinhuận được thành lập nhằm tạo cơ hội cho các nạn nhân lên tiếng Cụ thể hơn, cóthể kể đến trang S.O.S – Share Our Stories, nơi chia sẻ về nạn quấy rối tình dụctrong xã hội hiện nay Trang Facebook này đem đến cho người dùng mạng xã hộimột cái nhìn toàn diện hơn về tệ nạn này và cũng là một nơi để chia sẻ cảm nhận,suy nghĩ và câu chuyện thực tế về nạn quấy rối tình dục Bên cạnh đó, cũng cónhiều cá nhân, nhà báo, nhà hoạt động xã hội hoạt động tích cực trên các nền tảng

Ngày đăng: 29/05/2023, 10:10

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[2] Bộ Tư pháp, Quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí , [Trực tuyến]. Địa chỉ: https://pbgdpl.moj.gov.vn/qt/tintuc/Lists/ToGap/Attachments/355/To%20gap%2010%20-%20Bao%20chi%20-%20Tieng%20Viet.pdf [Truy cập 14/12/2022] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí
Tác giả: Bộ Tư pháp
[3] Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, “Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam”, 28/11/2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
Tác giả: Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 2013
[4] Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, “ Luật Báo chí 2016 ”, 05/04/2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Báo chí 2016
Tác giả: Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 2016
[5] Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, “ Bộ luật Hình sự 2015 ”, 27/11/2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật Hình sự 2015
Tác giả: Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 2015-11-27
[6] Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, “Luật An ninh mạng 2018”, 12/06/2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật An ninh mạng 2018
Tác giả: Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 2018
[7] Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, “Luật Công nghệ thông tin 2006”, 29/06/2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Công nghệ thông tin 2006
Tác giả: Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 2006
[8] Đại hội đồng Liên hợp quốc, “Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị”, 16/12/1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị
Tác giả: Đại hội đồng Liên hợp quốc
Năm: 1996
[11] Về tự do ngôn luận, tự do báo chí https://khanhhoa.gov.vn/Resources/Docs/Thongbao/Nam2014/Thang5/0-Ve Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về tự do ngôn luận, tự do báo chí
[1] Đại hội đồng Liên hợp quốc, Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền, 10/12/1948, 217 A (III). [Trực tuyến]. Địa chỉ: https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Quyen-dan-su/Tuyen-ngon-quoc-te-nhan-quyen-1948-65774.aspx [Truy cập 14/12/2022] Link

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w