1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tiểu luận môn lịch sử văn minh thế giới tình hình phục hưng nho giáo trong xã hội trung quốc hiện nay

15 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tình hình phục hưng Nho giáo trong xã hội Trung Quốc hiện nay
Người hướng dẫn TS. Lý Tường Vân
Trường học Học viện Ngoại Giao
Chuyên ngành Lịch sử văn minh thế giới
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 3,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đặc biệt, thời kỳ Đông Chu xuất hiện nhiều nhất các học thuyết tư tưởng tạo thành cục diện “bách gia tranh minh”, trong đó Nho giáo là một trong bốn học thuyết tư tưởng quan trọng, có ản

Trang 1

HỌC VIỆN NGOẠI GIAO

KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

***

TIỂU LUẬN MÔN: LỊCH SỬ VĂN MINH THẾ GIỚI

Hà Nội, 2021 MỤC LỤC

1

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 3

NỘI DUNG 3

Ⅰ Quá trình hình thành và phát triển của Nho giáo thời kỳ cổ-trung đại 3

1 Bối cảnh xã hội 3

2: Lịch sử hình thành của Nho giáo 4

3: Sự phát triển của Nho giáo qua các thời kì 5

.Tình hình phục hưng Nho giáo trong xã hội Trung Quốc hiện nay Ⅱ 9

1 Tình hình Nho giáo dưới sự sụp đổ của chế độ phong kiến và chính quyền mới. 9

2 Hành trình phục hưng Nho giáo trong thời đại mới 10

3 Nguyên nhân phục hưng Nho giáo 11

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 13

2

Trang 3

MỞ ĐẦU

Khi nói đến lịch sử văn minh nhân loại, chúng ta thường nghĩ đến những thành tựu vĩ đại mà loài người đã đạt được trong suốt quá trình hình thành và phát triển của mình Nhìn nhận lại tiến trình lịch sử, ngay từ thuở sơ khai con người đã bước vào nền văn minh của chính mình Văn minh Trung Quốc thời kỳ cổ-trung đại là một nền văn minh

to lớn, đồ sộ và có sức ảnh hưởng đến toàn thể nhân loại Tại đây đã sớm hình thành các học thuyết chính trị và triết học nhưng thường bị trộn lẫn vào nhau và khó thể phân tách Đặc biệt, thời kỳ Đông Chu xuất hiện nhiều nhất các học thuyết tư tưởng tạo thành cục diện “bách gia tranh minh”, trong đó Nho giáo là một trong bốn học thuyết

tư tưởng quan trọng, có ảnh hưởng lâu dài nhất tại Trung Quốc Bài tiểu luận này của

em làm rõ hai vấn đề: “ Quá trình hình thành và phát triển của Nho giáo trong lịch sử cổ-trung đại Trung Quốc” và “Tình hình phục hưng Nho giáo trong xã hội Trung Quốc hiện hay” để có cái nhìn trực quan nhất về sự phát triển rực rỡ và sự trường tồn của một học phái lớn trên thế giới

NỘI DUNG

Ⅰ Quá trình hình thành và phát triển của Nho giáo thời kỳ cổ-trung đại.

1 Bối cảnh xã hội.

Sau khi đánh bại nhà Thương vào khoảng thế kỉ TCN, tộc Chu ở hạ lưu sông HoàngⅪ

Hà (vùng Thiểm, Cam Túc ngày nay) thành lập lên nhà Chu (khoảng thế kỉ TCN Ⅺ đến năm 221 TCN) Tồn tại qua hơn tám thế kỉ, triều Chu trải qua hai thời kỳ: Tây Chu ( thế kỉ -Ⅺ Ⅷ TCN) và Đông Chu ( thế kỉ Ⅷ- năm 221 TCN)

Thời kì Tây Chu kinh đô được đặt ở Cảo Kinh phía Tây Đây là thời kì hệ thống chính trị và xã hội Trung Quốc được củng cố ổn định và vững chắc Vua và quý tộc lập ra triều đình gọi là “Thiên triều”; Vua xưng “Thiên tử”, nghĩa là con của Trời, tự cho mình quyền thay Trời cai trị thiên hạ Triều Chu không ngừng mở rộng lãnh thổ xuống phía Đông, đem đất phong con em và công thần để lập ra các nước chu hầu quy phục nhà Chu Về sau, khi triều đình nhà Chu ngày càng suy yếu, đất nước rơi vào tình cảnh

“thù trong giặc ngoài” Nội bộ các nước chu hầu tranh thủ thời cơ đứng dậy nổi loạn chống lại triều đình, phát động chiến tranh để thôn tính lẫn nhau Bên ngoài, các bộ lạc

du mục tấn công uy hiếp bờ cõi nước Chu Đến đầu thế kỉ Ⅷ TCN, kinh đô Cảo Kinh

bị tấn công và tàn phá bởi bộ tộc Tây nhung, vua Chu buộc phải dời đô sang Lạc Ấp ở

3

Trang 4

phía Đông, mở ra thời kì Đông Chu, hay thời kì Xuân thu-Chiến quốc, kéo dài hơn năm thế kỉ ( thế kỉ Ⅷ-năm 221 TCN)

Thời kì Đông Chu trải qua hai giai đoạn là Xuân thu (722-481 TCN) và Chiến quốc (403-221 TCN) Thời kì Xuân thu các nước chư hầu đánh nhau liên miên để tranh giành đất đai và ngôi vị bá chủ thiên hạ, tiến tới tiêu diệt lẫn nhau để thống nhất Trung Quốc, trong đó có năm nước lớn mạnh nhất là Tấn, Tề, Tồng, Sở, Tần Cuộc chiến tranh kéo dài giữa các nước và trong nội bộ triều đình thì đến giai đoạn Chiến quốc có

7 nước lớn là Tề, Sở, Yên, Hàn, Ngụy, Triệu, Tần Trong đó có nước Tần do có nhiều cải cách về kinh tế và chính trị phù hợp, tiến bộ đã trở thành nước lớn mạnh nhất Vào nửa sau thế kì TCN, nhà Tần liên tiếp đánh bại các nước và thống nhất Trung Quốc Ⅲ vào năm 221 TCN, khép lại thời kì cổ đại và mở ra thời kì trung đại của lịch sử Trung Quốc

2 Lịch sử hình thành của Nho giáo.

Chữ Nho( ) được ghép từ được ghép từ chữ Nhân(người) và chữ Nhu(cần dùng) 儒 ghép Chữ Giáo( ) là dạy, tôn giáo, một mối đạo.Vậy, Nho giáo hay Nho gia chính là 教 một trường phái học thuyết tư tưởng về Nhân đạo, về đạo làm người trong mối quan

hệ gia đình và xã hội

Nho gia là trường phái tư tưởng lớn và có sức ảnh hưởng lớn nhất thời kì Đông Chu và

cả Trung Quốc sau này Người sáng lập ra Nho giáo là Khổng Tử (551-479 TCN), tên

là Khâu, hiệu là Trọng Ni, người nước Lỗ Tuy nhiên, cơ sở và nền móng của Nho giáo

đã bắt đầu được hình thành từ thời Tây Chu, với đóng góp đặc biệt của Chu Công Đán, hay còn gọi là Chu Công, một công thần khai quốc thời nhà Chu Ông là người đã giúp củng cố, mở rộng và điều chỉnh hệ thống lễ nghi phong kiến Hệ thống phức tạp này phụ thuộc vào quan hệ huyết thống, liên minh hôn nhân hay các giao ước hoặc thỏa thuận, thương lượng giữa các nước với nhau Các giá trị văn hóa và chuẩn mực xã hội được duy trì giữa các nước chư hầu được dự đoán dựa trên một tầm nhìn chinh trị tổng quát, cụ thể là quyền lực tập trung trong tay “thiên tử” (Vua), người năm quyền lực đạo đức và tôn giáo bởi “ thiên mệnh” Sự đoàn kết xã hội có được không phải do sự ràng buộc của pháp luật mà ở sự tuân thủ lễ nghi Việc thực hiện điều này đã giúp cho thời kì Tây Chu trụ vũng trong hòa bình và thịnh vượng suốt hơn năm thế kỉ Được truyền cảm hứng từ tài năng chính trị của Chu Công, Khổng Tử đã nuôi dưỡng khát vọng cả đời được sánh vai với bậc công thần bằng cách áp dụng triết lí chính trị

mà ông học được từ các hiền nhân và quân tử cổ đại Khi còn trẻ, Khổng Tử từng giữ một số chức quan nhỏ nhưng sau nước Lỗ loạn lạc nên ông sang nước Tề tuy nhiên lại không được trọng dụng Sau ông lại quay trở về nước Lỗ để dạy học và làm một số chức quan nhỏ tại đây Khổng Tử đã cũng các học trò của mình đi đến nhiều nước như

Vệ, Trần, Sở, để truyền bá tư tưởng chính trị của mình và mở trường dạy học nhưng không đạt được chủ trương chính trị mong muốn Cuối đời ông quay lại nước Lỗ dạy học Học trò của ông lên đến 3000 người trong đó có 72 người vang danh thiên hạ

3 Sự phát triển của Nho giáo qua các thời kì.

*Nho giáo nguyên thủy- Tiền Tần:

4

Trang 5

Nho giáo thời kì này có nội dung bao quát rộng lớn và mang tính học thuật cao Song

hành với việc giảng dạy đạo đức, Khổng Tử còn tham gia chỉnh lí các sách: Thi, Thư

Lễ, Nhạc, Dịch, Xuân Thu Về sau Nhạc bị thất lạc nên năm tác phẩm còn lại được lưu

truyền gọi là Ngũ kinh Bên cạnh đó, lời nói của Khổng Tử cũng lời ứng đáp của ông với học trò và người đương thời cũng được học trò của ông ghi chép lại thành sách

Luận ngữ.

Hệ thống tư tưởng của Khổng Tử bao quát bốn phương diện: triết học, đạo đức, chính trị và xã hội

Về phương diện triết học, Khổng Tử giữ thái độ trung lập, không rõ ràng với thiên mệnh và quỷ thần Cụ thể, một mặt ông vẫn giữ tư tưởng truyền thống, cho rằng trời

có uy lực vô song, có sức mạnh dịch chuyển càn khôn, chi phối mọi hoạt động và số phận của vạn vật Hay nói cách khác, con người không thể tránh khỏi “mệnh trời” Mặt khác, ông cũng cho rằng trời chỉ là giới tự nhiên, bốn mùa thay đổi, vạn vật sinh sôi không phụ thuộc ý trời Về vấn đề quỷ thần, Khổng Tử vẫn giữ thái độ ngờ vực, hoài nghi mà cho rằng “Chưa biết việc người sao có thể biết việc quỷ thần”, “Chưa biết sự sống, sao biết việc chết” Thế vậy nhưng bản thân ông lại rất coi trọng việc cúng tế, tang sự Thái độ ngờ vực, không rõ ràng trong tư tưởng của Khổng Tử chính là giao thoa giữa chủ nghĩa duy vật và duy tâm

Về phương diện luân lý đạo đức quan điểm của Khổng Tử có một phạm vi bao quát ,

trên nhiều phương diện như nhân, nghĩa, trí ,lễ, dũng mà trong đó ông đặt chữ

“nhân” lên hàng đầu

Nhân, là lòng thương người, “điều mà mình không muốn thì đừng bắt người khác làm”, cũng là hiểu lễ nghĩa, hợp lễ thì làm; không hợp lễ thì không nhìn, không nghe, không nói, không làm Nhân cũng bao quát rất nhiều lớp nghĩa khác, là cung (cung kính), cảm (dũng cảm), độ (độ lượng), tín (tin tưởng), mẫn (cần cù) Có thể nói, nhân trong tư tưởng của Khổng Tử là một phạm trù rộng lớn, gần như bao quát toàn bộ đức con người

Nói cho cùng, đạo nhân của Khổng Tử chính là đạo đức, phẩm chất của một chính nhân quân tử và được nhìn nhận dưới hai khía cạnh: đối với bản thân và đối với mọi người Đối với bản thân thì phải biết tu thân dưỡng tính; biết giữ bản thân trong sạch; biết giữ đúng lễ, nghĩa; biết phân biệt thiện-ác, đúng-sai và không ngừng vươn lên trong cuộc sống

5

Trang 6

Ngoài nhân, Khổng Tử còn chủ trương chú trọng chữ “lễ”, tức là lễ nghi trong quy phạm đạo đức Tuy vậy, lễ không phải là một phương diện đạo đức độc lập mà luôn gắn liền với nhân bởi nhân là gốc rễ, là nội dung thì lễ lại chính là phương tiện biểu hiện nhân Khổng Tử chủ trương con người tu dưỡng đạo nhân thì sẽ không làm điều trái lễ nghĩa, như vậy thì giang sơn xã tắc mới được ổn định Sở dĩ mà Khổng Tử muốn khôi phục lễ nghĩa bởi cuối thời Chu, lễ bị xem thường, thậm chí là bị phá vỡ dẫn đến các hành động trái luân thường đạo lí: tôi giết vua, thần phản quân, con giết cha, vợ hại chồng,

Về phương diện chính trị Khổng Tử chủ trương đường lối trị nước là phải dựa vào ,

đạo đức và lễ giáo, tức là người nắm quyền dùng sự đức độ và lễ giáo của bản thân để cảm hóa dân, đưa nhân dân vào khuôn phép mà thực lòng quy phục Đồng thời, ông cũng phê phán lỗi cai trị hà khắc và tàn bạo làm dân chúng lầm than mà đâm ra oán hận, nổi dậy phản đối Theo ông, đức trị phải đặt giáo dục lên hàng đầu Phải yêu dân, thương dân, đồng cảm với dân; cải thiện đời sống cho họ và cho dân học hành, tránh việc bạo hành, bóc lột nhân dân đến bần cùng Chủ trương của ông cũng là trọng dụng người tài, có đạo đức và lễ nghĩa mà chọn lọc, đề xướng họ vào bộ máy cai trị đất nước

Về phương diện giáo dục, Khổng Tử đã có những đóng góp vô cùng quan trọng Ông

đã phản đối chế độ “học tại quan phủ”, sáng lập nên chế độ giáo dục tư thục ở Trung Quốc, đồng thời nhấn mạnh mọi người đều phải học, không phân biệt giai cấp, cao sang hay nghèo hèn Vua cũng phải học, quan cũng phải học, dân không biết càng phải học Làm gì cũng phải học, không thể dựa vào cảm tính mà áp dụng thực tiễn Phương châm giáo dục của Khổng Tử chính là “Tiên học lễ, hậu hoc văn” và “Học đi đôi với hành” Trước người ta phải hiểu và học được lễ nghĩa, cách làm người; sau mới đến việc tiếp thu kiến thức Song song với đó, việc học kiến thức cũng đi liền với việc áp dụng cái mình học vào cuộc sống, không thì đó cũng chỉ là lí thuyết suông Ông cũng dạy học trò thái độ cầu thị, khong giấu dốt “Biết thì nói biết, không biết thì nói không biết, như thế mới là người hiểu biết Bên cạnh đó, Khổng Tử cũng xem trọng những nỗ lực vươn lên và sự tự học của bản thân mỗi người, học tập phải kết hợp với suy xét, tìm hiểu, lĩnh hội kiến thức mới nhưng cũng phải ôn tập kiến thức trước đó, ôn tập đi cũng đi đôi với thực hành luyện tập

Quan điểm giáo dục của Khổng Tử mang nhiều ý nghĩa tích cực và nhiều phương pháp của ông vẫn đúng đắn và được áp dụng rộng rãi trong xã hội ngày nay Tuy nhiên, đương thời, Khổng Tử chỉ chú trọng vào vấn đề tu thân dưỡng tính mà coi nhẹ những kiến thức về tự nhiên vạn vật và lao động sản xuất Vì vậy, các học thuyết của ông không được trọng dụng thời bấy giờ Thế nhưng, tư tưởng của ông lại được các học trò của mình kế thừa và phát triển thành hệ tư tưởng cho đến tận hôm nay

Mạnh Tử được biết đến là người kế thừa xuất sắc nhất hệ tư tưởng Khổng Tử và đưa Nho giáo phát triển lên một bậc Ông là người nước Trâu và là học trò của Khổng Cấp, cháu nội Khổng Tử

Trước hết về quan điểm triết học, Mạnh Tử lại rơi vào chủ nghĩa duy tâm chủ quan Ông đặt niềm tin vào mệnh trời và tin rằng mọi sự đều trên đời đều do trời quyết định

6

Trang 7

Recommandé pour toi

Speech X Practice - Huijhy - Auditing and Assurance Services: an Applied Approach

Beliefs in Society - Knowledge Organisers

Sauce and Spoon - As a a plan

PAD102 Final Soalan 2

intro to public administration 100% (3)

Suite du document ci-dessous

20

22

3

1

Trang 8

Thế nhưng, những bậc quân tử đã tu dưỡng được đến cái cực hạn của chân, thiện, mĩ lại có thể cảm hóa trời đất

Về phương diện đạo đức, Mạnh Tử có thêm hai điểm khác biệt so với hệ tư tưởng của Khổng Tử

Một là, ông chủ trương con người sinh ra đều có bản tính lương thiện “Nhân chi sơ, tính bản thiên” Vì vậy, nếu một người nhận được sự giáo dục tốt có thể đạt được đến giới hạn cực thiện Ngược lại, nếu một người không thể trở thành người tốt thì đó lại không phải do nhân tính sai lạc mà do bản thân không biết tu dưỡng mà đánh mất nhân tính

Hai là, trong quan điểm luân lí của mình, Mạnh Tử coi trọng nhất là chữ “nghĩa” Do

đó không nên chú trọng lợi ích Nếu từ bậc quân vương đến dân chúng đều đặt lợi ích lên trên thì đất nước sẽ lâm nguy

Tiếp đó là về mặt chính trị thì Mạnh Tử vẫn tiếp tục phát huy đường lối đức trị của Khổng Tử nhưng đồng thời ông cũng nhấn mạng hai phương diện là nhân chính (chính

sự dựa trên đức nhân) và thống nhất Qua đó ông đưa ra chủ trương giảm nhẹ hình phạt, sưu thuế, tạo điều kiện để dân chúng có cuộc sống ổn định mà tăng gia sản xuất Trong mối quan hệ quân thần, ông cũng nhấn mạnh tới quan hệ hai chiều “ Vua xem

bề tôi như tay chân thì bề tôi xem vua như tâm phúc; vua xem bề tôi như bùn đất rau

cỏ thì bề tôi xem vua như cừu thù.”

Đường lối chính trị của Mạnh Tử chủ trương thống nhất, nghĩa là chấm dứt chiến tranh, thống nhất thiên hạ để nhân dân có cuộc sống thái bình mà an cư lạc nghiệp Không thể phủ nhận rằng chủ trương chính trị của Mạnh Tử mang theo những điểm sáng về dân chủ và tiến bộ đáng trân trọng Thế nhưng, đương thời xã hội loạn lạc, các nước chiến tranh triền mien để tranh giành lợi ích và thâu tóm lần nhau thì tư tưởng của ông lại được đánh giá là viển vông, xa rời thực tế nên không được các vua chấp thuận

*Nho giá thời kì nhà Hán-Hán Nho:

7

Trang 9

Sau khi thống nhất Trung Quốc, do vẫn giữ hệ tư tưởng Pháp gia làm đường lối trị nước nên triều Tần cũng nhanh chóng bị lật đổ Đến thời Hán, năm 136 TCN, Hán Vũ

Đế (140-87 TCN) đồng ý đề xuất và cải biên của Đổng Trọng Thư (179-104 TCN) – một trọng thần đắc lực của triều Hán, đã tuyên chỉ “bãi truất bách gia, độc tôn Nho thuật” (Loại bỏ các giáo phái khác để đề cao Nho giáo) Hán Vũ Đế đã đưa Nho giáo lên hàng quốc giáo và dùng nó làm công cụ thống nhất đất nước về tư tưởng Từ đó, Nho giáo trở thành một hệ tư tưởng chính thống bảo vệ chế độ phong kiến Trung Hoa suốt 2000 năm Nho giáo thời kì này được gọi là Hán Nho

Đổng Trọng Thư đã đưa học thuyết Nho giao tiến thêm một bước, đặc biệt là về phương diện triết học và đạo đức

Về tư tưởng triết học, ông lấy Nho giáo là cơ sở để dung nạp các hệ tư tưởng khác, đặc biệt là thuyết Âm dương, Ngũ hành để hình thành một hệ thống tư tưởng thần học duy tâm chủ nghĩa gọi là thuyết “thiên nhân cảm ứng” , nghĩa là dùng sự tác động qua lại của thiên mạnh và nhân loại kết hợp với thuyết Âm dương, Ngũ hành để giải thích mọi

sự trên đời Ông chủ trương trời là nguồn gốc, là đấng tối cao chi phối vạn vật không

có ngoại lệ Ông cũng vận dụng thuyết ngũ hành âm dương và trời sinh vạn vật kết hợp từ đó phát triển thuyết âm dương ngũ hành lên một tầm cao mới Đổng Trọng Thư nêu ra quy luật “liền nhau thì sinh ra nhau, cách nhau thì thắng nhau” của Ngũ hành; dùng ngày, tháng, năm để giải thích số lượng đốt xương và bộ phận cơ thể con người Điểm khác biệt của Hán Nho so với thời kì Nho giáo nguyên thủy chính là việc Đổng Trọng Thư đề cao vai trò và quyền lực của giai cấp thống trị, đặt Thiên tử triều Hán ngang với Thiên tử triều Chu Thiên tử chính là con trời, thay trời cai trị thiên hạ, “thay trời hành đạo”, dùng “lễ trị” để che đậy “pháp trị”, nhân dân phục tùng Thiên tử cũng chính là phục tùng ý trời

Về đạo đức, Đổng Trọng Thư đã hệ thống hóa các mối quan hệ luân lý thành phạm trù

Tam cương (Quân thần cương, Phụ tử cương, Phu phụ cương), Ngũ thường (nhân, nghĩa,lí,trí,tín) và Lục kỉ ( các mỗi quan hệ với người nganh hàng với cha, mẹ, anh em,

họ hàng, thầy giáo, bạn bè) Ông chủ trương sử dụng thuyết Âm dương cho rằng dương (vua, cha, chồng) là tôn quý, âm là thấp kém (bề tôi, con, vợ) vì vậy mà âm phải phục tùng dương, đề cao quyền vua, quyền cha, quyền chồng trong xã hội phong kiến

Dưới sự bổ sung, phát triển và cải biến của Đổng Trọng Thư, hệ thống học thuyết Nho gia đã trở nên hoàn thiện, trở thành công cụ đắc lực để cai trị của triều đình phong kiến

*Nho giáo thời kì nhà Tống-Tống Nho:

Từ sau thời Hán, Nho giáo trở thành hệ thống tư tưởng chủ yếu tại Trung Quốc và cũng vào triều Hán, Phật giáo bắt đầu du nhập vào trong Trung Quốc và Đạo giáo ra đời Sang thời Tống, tuy được thừa hưởng một nền kinh kế và văn hóa triều Đường nhưng không vững mạnh để chống lại những cuộc xâm lược bờ cõi từ bên ngoài và ổn định xã hội bằng hệ thống lí luân Nho giáo, các nhà Nho thời Tống đã có những bổ sung và đổi mới Một mặt, Tống Nho vẫn đề cao và phát triển hệ thống tư tưởng học

8

Trang 10

thuyết Nho gia Mặt khác, các nhà Nho thời Tống đã tiếp thu các tinh hoa từ Phật giáo

và Đạo giáo, cụ thể là việc bổ sung các yếu tố “tâm linh” từ Phật giáo và các yếu tố

“siêu hình” lấy từ Đạo giáo để phục vụ cho việc cai trị và đào tạo quan lại

Về mặt triết học, các nhà Nho đời Tống muốn giải thích nguồn gốc vũ trụ và mỗi quan

hệ giữa tinh thần với vật chất mà họ gọi là lý và khí Lý (ý thức) có trước, là nguồn gốc của vạn vật, bất di bất dịch không thể thay đổi Khí (vật chất) là cái có sau, phụ thuộc vào lý Nhìn chung, lý và khí làm cho tạo ra vạn vật nhưng lý vẫn là căn bản và chủ yếu Như vậy, thời kì Tống Nho đã hình thành một hệ thống tư tưởng duy tâm khách quan có kết cấu tư biện chặt chẽ gọi là phái Lý học Các nhà Nho tiêu biểu cho học phái này phải kể đến Chu Dôn Di, Trình Hạo, Trình Di, Chu Hy,

Tuy nhiên, do quá tôn sùng và lĩnh họi một cách máy móc những hệ thống tư tưởng của những người sáng lập Nho giáo, coi cương ngũ thường, chế độ danh phận hay gia trưởng phụ quyền là tuyệt đối, Tống Nho dần trở nên bảo thủ, phục cổ, khắt khe hơn

so với ý nghĩa ban đầu của nó Sự hình thành của Lý học chính là bước tiến lớn cuối cùng của Nho giáo Tóm lại, với vai trò là hệ thống tư tưởng trị quốc trải dài suốt 2000 năm, Nho giáo có những đóng góp quan trọng trong việc đưa ra đường lối trị quốc, bồi dưỡng đạo đức, phát triển văn hóa, xã hội và giáo dục Thế nhưng đến cuối cùng của chế độ phong kiến, Nho giáo cũng chịu trách nhiệm cho việc kéo lại sự phát triển tiến tới văn minh của Trung Quốc do sự bảo thủ, khắt khe của nó

.Tình hình phục hưng Nho giáo trong xã hội Trung Quốc hiện nay.

1 Tình hình Nho giáo dưới sự sụp đổ của chế độ phong kiến và chính quyền mới.

Nho giáo là hệ thống học thuyết tư tưởng thống trị xã hội của Trung Quốc, có sưca ảnh hưởng đặc biệt lớn tới các quốc gia Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam, bán đảo Triều Tiên, Nhật Bản Tuy nhiên vào thế kỉ ⅩⅨ, sau khi tiếp xúc với văn hóa phương Tây, giới trí thức Trung Quốc nhận thức rằng sự bảo thủ, khắt khe với lối tư duy cũ kĩ và lạc hậu của Nho giáo đang kiềm hãm sự phát triển của Trung Quốc, khiến Trung Quốc yếu hèn và bị bắt nạt bởi các quốc gia tư bản phương Tây Vì vậy, Nho giáo cần phải bị lật

đổ nếu Trung Quốc muốn trở thành một quốc gia văn minh, hiện đại

Sau khi chế độ quân chủ bị lật đổ sau cuộc cách mạng 1911-1912, Nho giáo càng bị vùi dập, chỉ trích nặng nề Cho đến khi chủ tịch Mao Trạch Đông củng cố quyền lực

9

Ngày đăng: 29/05/2023, 09:37

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w