1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Môn văn hóa việt nam và hội nhập quốc tế đề tài kết quả giao lưu giữa văn hóa việt nam với văn hóa phương tây trong truyền thống và hiện tại

48 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Kết quả giao lưu giữa văn hóa Việt Nam với văn hóa phương Tây trong truyền thống và hiện tại
Tác giả Ngô Hoàng Yến, Vi Phan Nguyễn Cẩm Tú, Vương Thùy Trang, Nguyễn Quỳnh Trang, Nguyễn Thu Trang, Vũ Nguyệt Xuân, Đinh Trọng Việt, Phạm Thị Hà Trang, Nguyễn Thanh Tùng, Lê Thị Thu Thủy
Người hướng dẫn Cô Trần Hồng Thúy, Thầy Đào Ngọc Tuấn
Trường học Học viện Ngoại Giao
Chuyên ngành Văn hóa Việt Nam và hội nhập quốc tế
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 48
Dung lượng 5,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đi cùng với nhiệm vụ đó, chúng ta cần có những kiến thức nền tảng, hiểu biết toàn diện, rõ ràng vềnền văn hóa nước nhà và giao thoa văn hóa giữa Việt Nam và các nước kháctrên thế giới để

Trang 1

BỘ NGOẠI GIAO HỌC VIỆN NGOẠI GIAO KHOA TRUYỀN THÔNG VÀ VĂN HÓA ĐỐI NGOẠI

-*** -TIỂU LUẬN MÔN: VĂN HÓA VIỆT NAM VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ

Đề tài: Kết quả giao lưu giữa văn hóa Việt Nam với văn hóa phương Tây

trong truyền thống và hiện tại

Giảng viên hướng dẫn: Cô Trần Hồng Thúy

Thầy Đào Ngọc Tuấn

Sinh viên thực hiện: Ngô Hoàng Yến Vi

Phan Nguyễn Cẩm TúVương Thuỳ TrangNguyễn Quỳnh Trang Nguyễn Thu Trang

Vũ Nguyệt XuânĐinh Trọng ViệtPhạm Thị Hà TrangNguyễn Thanh Tùng

Lê Thị Thu Thủy

Trang 2

2 Đặc trưng văn hóa phương Tây và văn hóa phương Việt Nam

2.1 Văn hóa phương Tây

3 Nguyên nhân dẫn đến giao lưu văn hoá giữa Việt Nam và phương Tây3.1 Trong truyền thống

II KẾT QUẢ GIAO LƯU VĂN HÓA PHƯƠNG TÂY TRONG TRUYỀN

1 Giai đoạn từ thế kỷ XVI - cuối thế kỷ XIX 15

2 Giai đoạn từ nửa cuối thế kỷ XIX - giữa thế kỷ XX 162.1 Những biến đổi của văn hóa Việt Nam dưới tác động của giao lưu

3 Giai đoạn từ năm 1954 - 1975 của thế kỷ XX 22

III KẾT QUẢ GIAO LƯU VĂN HÓA PHƯƠNG TÂY TRONG HIỆN

2 Những biến đổi của văn hoá Việt Nam dưới tác động của giao lưu văn hoá

C KẾT LUẬN

PHÂN CÔNG NHIỆM VỤ

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 3

A MỞ ĐẦU

Trong thời đại hội nhập hiện nay, việc gìn giữ, bảo tồn, phát huy tính đặc trưng

và sự độc đáo của nền văn hóa đất nước là một bổn phận, nhiệm vụ quan trọngbậc nhất của mỗi con người, mỗi dân tộc, mỗi quốc gia Đi cùng với nhiệm vụ

đó, chúng ta cần có những kiến thức nền tảng, hiểu biết toàn diện, rõ ràng vềnền văn hóa nước nhà và giao thoa văn hóa giữa Việt Nam và các nước kháctrên thế giới để từ đó bảo tồn, gìn giữ, phát huy nền văn hóa dân tộc, đồng thờikhông ngừng tiếp thu, học hỏi từ những nền văn minh khác nhau để hoàn thiện,cải thiện, tránh lạc hậu so với tiến trình phát triển của nhân loại

Giờ đây, vấn đề về khoảng cách địa lý đã không còn là một rào cản khi conngười đang sống trong bối cảnh thế giới tân tiến, hiện đại với sự hỗ trợ của côngnghệ và khoa học kỹ thuật thời đại mới Nhờ vậy mà nhu cầu, cơ hội giao lưuvăn hóa giữa các quốc gia không còn gói gọn trong phạm vi khu vực, châu lục

mà đã vươn ra khắp toàn cầu Trong quá trình giao lưu văn hóa với các quốc giatrên thế giới, Việt Nam đã tiếp thu và hội nhập, giao thoa nhiều nền văn hóakhác nhau, nhưng vẫn giữ gìn và phát huy bản sắc truyền thống riêng biệt củadân tộc Quá trình giao thoa văn hóa của Việt Nam và Phương Tây đã diễn raxuyên suốt gần hai thế kỷ, đem lại nhiều thay đổi lớn lao cùng đột phá mạnh mẽ

về cả phạm vi tinh thần, kĩ thuật và nghệ thuật Song, bên cạnh những lợi thế màchúng ta tiếp nhận được từ nền văn hóa nước bạn, sự giao thoa văn hóa vớiPhương Tây cũng đã đem lại một số hạn chế, ảnh hưởng nhất định cho ViệtNam

Nhằm mở rộng hiểu biết về nền văn hóa nước nhà, bổ sung kiến thức nền tảng,thiết yếu cần có phục vụ công cuộc phát huy cái tích cực và triệt tiêu cái tiêucực, đồng thời giữ gìn, bảo tồn, phát huy văn hóa truyền thống tốt đẹp của Tổquốc, nhóm 10 xin trình bày những hiểu biết về “Kết quả giao lưu văn hóa giữaViệt Nam và Phương Tây”

Trang 4

đó tức là văn hóa.”

Như vậy, văn hóa là bao hàm toàn bộ những khía cạnh khác nhau của cuộcsống, xã hội, sản phẩm của con người như ngôn ngữ, tiếng nói, tôn giáo, tưtưởng, của dân tộc, đất nước trong quá khứ và hiện tại Đi qua thời gian, vănhóa trở thành “những giá trị, truyền thống và thị hiếu - những yếu tố xác địnhđặc tính riêng của mỗi dân tộc” (theo UNESCO)

“Văn hóa” là một danh từ mang hàm nghĩa bao quát rộng, vì vậy sẽ rất khó đểđịnh nghĩa, giải thích được hoàn toàn ý nghĩa, nội dung của nó Có thể hiểu rằngvăn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần bởi loài ngườitạo nên và tích lũy nên qua quá trình hoạt động thực tiễn cũng như sự tương tácđối với các loại môi trường khác nhau

- Văn hóa chính là đặc trưng riêng của xã hội loài người, là cái phân biệt giữangười và động vật;

- Về mặt sinh học, văn hóa không được kế thừa từ di truyền mà chỉ có thể đượcthẩm thấu từ việc học tập, giao tiếp, tuyên truyền;

- Văn hóa cũng có thể hiểu là cách ứng xử theo một khuôn mẫu nào đó đã đượcngười xưa, người đi trước đặt ra và duy trì nó

Trang 5

1.2 Giao lưu tiếp biến văn hóa

Giao lưu văn hóa là hình thức quan hệ trao đổi văn hóa, tăng cường sự hiểu biếtlẫn nhau, học hỏi lẫn nhau, từ đó nảy sinh những nhu cầu mới thúc đẩy mỗi nềnvăn hóa phát triển Trong quá trình đó diễn ra sự giao thoa, pha trộn, dẫn đến độkhúc xạ khác nhau, làm cho văn hóa của mỗi chủ thể có sự biến đổi hoặc không.Giao lưu văn hóa tạo ra hiện tượng tiếp biến (tiếp thụ và cải biến) văn hóa.Không có giao lưu, tiếp xúc văn hóa thì không có tiếp biến văn hóa

“Tiếp biến văn hóa là sự tiếp xúc giữa những nhóm người khác nhau về vănhóa, do đó sinh ra những sự thay đổi về văn hóa trong mỗi nhóm do tiếp nhận

và biến đổi giá trị văn hóa” (UNESCO) Khái niệm tiếp biến văn hóa có thểđược hiểu là quá trình một cá nhân hoặc một nhóm người (có hoặc không có ýthức) khi tiếp xúc trực tiếp và liên tục với một cộng đồng hay một cá nhân kháchấp thụ nhiều hay ít nền văn hóa của cộng đồng hay các cá nhân, nhóm ngườinày

Giao lưu tiếp biến văn hóa là sự gặp gỡ, đối thoại, thâm nhập và học hỏi lẫnnhau giữa các nền văn hóa khác biệt nhau, kết quả là các nền văn hóa ấy thayđổi bổ sung, làm giàu cho nhau để cùng hướng tới phát triển bền vững Giao lưutiếp biến văn hóa là sự vận động thường xuyên của xã hội, của văn hóa, gắn bóvới tiến hóa xã hội và cũng gắn bó với sự phát triển của văn hóa Giao lưu tiếpbiến văn hóa vừa là kết quả của sự trao đổi văn hóa, vừa là chính bản thân sựtrao đổi ấy, do đó sự giao lưu tiếp biến văn hóa có một tầm quan trọng trong lịch

sử nhân loại

Giao lưu tiếp biến văn hóa tạo điều kiện cho những nước đang phát triển sửdụng những mặt mạnh, những lợi thế đặc trưng của mình, kết hợp với nhữngmặt mạnh, những ưu thế của nền văn minh tiên tiến để phát triển Giao lưu tiếp

Trang 6

biến văn hóa giúp các quốc gia phác họa một chiến lược phát triển nhằm khaiphá những khả năng tiềm ẩn của con người Vì vậy, văn hóa sẽ trở thành độnglực và hệ điều tiết của sự phát triển xã hội theo hướng bền vững.

2 Đặc trưng văn hóa phương Tây và văn hóa Việt Nam

2.1 Văn hoá phương Tây

Những nét cơ bản của nền văn hoá phương Tây xoay quanh những hệ tư tưởngliên quan tới triết học, văn học nghệ thuật và thành phần pháp lý Văn hóaphương Tây có rất nhiều sự đổi thay, theo nhiều giai đoạn thời gian như PhụcHưng, Cải cách kháng cách, Thời kỳ khai sáng và được lan ra rộng rãi trongthời kỳ chủ nghĩa thực dân Mỗi giai đoạn đều gặt hái được khá nhiều thành tựu

ở mọi lĩnh vực và điều này cũng trở thành nguồn cảm hứng cho nhiều quốc giakhác nhau trên toàn thế giới bao gồm cả Việt Nam

Về khía cạnh đời sống, con người phương Tây từ nhỏ đã được nuôi dạy để hìnhthành lối sống tự lập, phân tác Họ cũng được giáo dục về ý thức cá nhân, tôntrọng những bản sắc riêng biệt và hiểu được tầm quan trọng của “cái tôi” trongcuộc sống Trong phương thức giao tiếp, đặc trưng của người phương Tây làthẳng thắn, nói đúng trọng tâm cốt yếu của vấn đề, tránh “vòng vo tam quốc”.Ngoài ra, tại đây tính tự do, dân chủ được đặt lên hàng đầu Mọi quyền cá nhânđều được coi trọng và trở thành ưu tiên

Một điểm nữa đến từ cách nhìn nhận và đánh giá về thế giới xung quanh, ngườiphương Tây coi trọng lối tư duy “duy lý” chứ không phải “duy tình”, chính bởi

vì thói quen xem xét thế giới chỉ có thể là trắng hoặc đen chứ không chấp nhậnmột thế giới đen - trắng lẫn lộn Họ thường phân minh công tư rõ ràng, có tínhthực tế trong nhận thức và hành động

Trang 7

2.2 Văn hoá Việt Nam

Trong văn hoá Việt Nam, hệ thống biểu đạt được chia theo 2 loại quy mô nhỏ vàlớn, cá nhân và cộng đồng

- Quy mô nhỏ - cá nhân - chính là văn hoá nhân cách của người Việt Nam

Có những phẩm chất trở thành nổi trội trong tính cách của người Việt, xuất phát

từ việc chúng ta duy trì một nền nông nghiệp lúa nước hàng ngàn năm qua và từ

đó hình thành nên những căn tính nông dân, những đặc trưng của một xã hộinông nghiệp Những đặc điểm này có ảnh hưởng trực tiếp đến văn hoá xã hộitruyền thống và hiện đại của Việt Nam Có thể liệt kê và kể đến những đặc tínhnhư:

+ Khả năng đối phó linh hoạt với mọi tình thế và lối ứng xử mềm dẻo;

+ Tinh thần đoàn kết, cố kết cộng đồng để tạo sức mạnh;

+ Giản dị chất phác, ưa đơn giản, ghét cầu kỳ, xa hoa;

+ Tấm lòng rộng mở và giàu cảm xúc lãng mạn;

+ Cần cù, chịu thương, chịu khó, giỏi chịu đựng gian khổ;

+ Trọng tuổi tác, trọng người già (lão quyền);

+ Tập tính kém hạch toán, không quen lường tính xa;

+ Tác phong tùy tiện, kỷ luật không chặt chẽ;

+ Tâm lý bình quên chủ nghĩa;

+ Nhân ái, vị tha và rộng lượng;

+ Nặng tình nhẹ lý, chín bỏ làm mười;

+ Tâm lý sống lâu lên lão làng, đề cao chủ nghĩa kinh nghiệm;

+ Tư tưởng bảo thủ đóng cửa, tự thu xếp mọi việc, không cầu thị

Bên cạnh đó, đặc điểm lối sống từ văn hoá ăn, mặc, ứng xử cũng bị ảnh hưởng

ít nhiều và từ đó hình thành nên những đặc trưng rất rõ nét trong nền văn hoáViệt Như trong lối sống của người Việt, vì có điều kiện tự nhiên thích hợp vớinghề trồng trọt nên ở Việt Nam đã tồn tại loại hình văn hoá có nguồn gốc nông

Trang 8

nghiệp Đặc trưng của loại hình này là lối sống định cư, sống lệ thuộc vào điềukiện tự nhiên, khí hậu, thời tiết - những yếu tố đóng vai trò quyết định đối vớinghề nông Bởi vậy dẫn đến tính tôn trọng đến mức sùng bái tự nhiên, đặt raquan điểm cho rằng những hiện tượng khác trong vũ trụ đều bình đẳng với loàingười.

Về văn hoá ăn, tại Việt Nam, thể hiện rõ ràng nhất có thể đề cập tới là bữa ănđạm bạc gồm 3 thành phần chính là Cơm - Rau - Cá, một ảnh hưởng thuộc vềtruyền thống “văn hoá thực vật” và “văn hoá sông nước” Ngoài ra còn là tínhtổng hợp trong chế biến và trong thưởng thức món ăn cũng như sự đa dạng, đặcsắc trong quy trình chế biến món ăn Việt Nam Với vấn đề mặc, người Việt Namthường chú trọng nhất tính bền chắc của quần áo cũng như ưu tiên đối vớinhững sắc độ trầm, trung hoà Đề cập kèm theo là truyền thống ăn mặc ngàyxưa, phụ nữ thường mặc váy “quai cồng”, yếm, áo tứ thân, quần lĩnh, áo dài, độikhăn, trang phục kín đáo Còn đàn ông thì đóng khố, cởi trần, quần “lá tọa”, áocánh Cũng không thể thiếu đi các nét trong văn hoá ở và kiến trúc Ở Việt Nam,kiến trúc đa dạng, phức tạp cũng như chứa nhiều thành phần vay mượn Tuynhiên tự bản thân nó vẫn có những nét đặc trưng để khẳng định bản sắc riêngcủa mình chứ không hẳn là một sản phẩm copy chắp vá, để rồi từ đó phù hợp đểphục vụ cho nhu cầu của người dân Trong quy trình sản xuất, chất liệu và kếtcấu lẫn kiểu dáng kiến trúc phụ thuộc theo vùng nguyên liệu vì người Việt tathường tận dụng vật liệu có sẵn trong tự nhiên

- Một quy mô còn lại trong hệ thống biểu đạt văn hoá Việt Nam diễn ra ở giớihạn rộng lớn hơn chính là các cộng đồng khác nhau Cơ bản gồm: văn hoá làng

xã - đô thị, văn hoá nhà nước - dân tộc

+ Văn hoá Làng xã - Đô thị có những đặc trưng rõ rệt của chủ nghĩa tập thể.Những vấn đề xuất hiện trong đó là việc chủ nghĩa thể chế làng xã thường khóchấp nhận cái mới và hoàn toàn không có năng lực tự thay đổi, chuyển biến khi

Trang 9

đối diện với sự biến động của hoàn cảnh xã hội mà thường có tính chất tự quảnhay là chủ nghĩa cục bộ địa phương, về phía đô thị, khả năng tiếp thu cái mới vàthay đổi theo nhu cầu và sự cần thiết là có thể thực hiện, tiếp nhận liên tục theothời gian.

+ Trong văn hoá Nhà nước - Dân tộc, rõ nhất và đặc trưng nhất chính là quanniệm về “Đất nước của người Việt Nam” Chúng ta coi Đất nước thuộc về ngườidân, không phải của vua chúa hay bất cứ dòng họ nào Trong quá khứ, nhân dânViệt phải khai hoang, mở rộng khu vực sinh sống từ đó tác động đến vấn đềtrung với nước của họ, khi sự gắn bó, liên kết rất lớn, họ bày tỏ sự trung cao, vì

đó là vùng đất của họ, vùng đất mà họ sinh sống Ngoài ra còn phải kể đến chủnghĩa yêu nước của người Việt, đây chính là đặc thù văn hoá nổi trội nhất trongbản sắc người Việt Nam Hình thành từ thời xưa với sức mạnh của truyềnthuyết, áp lực bởi hoàn cảnh khác nhau do thiên nhiên lẫn sức mạnh của ý thức

về chủ quyền quốc gia thể hiện qua nhiều sự kiện lịch sử khác nhau

3 Nguyên nhân dẫn đến giao lưu văn hoá giữa Việt Nam và phương Tây

3.1 Trong truyền thống

3.1.1 Yếu tố khách quan

Từ thế kỷ XVI đến cuối thế kỷ XIX là thời điểm các giáo sĩ phương Tây bắt đầuthâm nhập vào Việt Nam truyền giáo thông qua con đường giao lưu buôn bán.Đây cũng là mốc thời gian đầu tiên đánh dấu sự giao lưu văn hóa giữa Việt Nam

và phương Tây

Từ cuối thế kỷ XIX đến giữa thế kỷ XX, Việt Nam bước vào giai đoạn Phápthuộc Trong quãng thời gian này, Pháp đã thiết lập nền cai trị tại Việt Nam dướicái mác “khai hóa văn minh” cho người dân bản xứ: Họ đã áp đặt nền văn hóa,văn minh nhuốm đậm màu sắc thực dân của phương Tây lên đời sống của ngườiViệt thông qua việc can thiệp vào các chính sách của nhà nước phong kiến ViệtNam cũng như tạo ra và thực thi những “chính sách văn hoá”

Trang 10

Giai đoạn Mỹ thay chân Pháp đánh chiếm Việt Nam (từ nửa sau thế kỷ XX đến1975), những nét văn hóa của Mỹ cũng đã được du nhập vào Việt Nam như một

3.1.2 Yếu tố chủ quan

Sự giao lưu văn hóa giữa Việt Nam và phương Tây còn đến từ tính dung chấpcủa văn hóa Việt Tính dung chấp là khi người Việt lựa chọn và kết hợp mộtcách có sáng tạo giữa các yếu tố văn hóa ngoại sinh với văn hóa bản địa để đemlại lợi ích cho dân tộc mình Xét trên bối cảnh Việt Nam phải chống lại quânxâm lược đến từ những quốc gia phát triển mạnh hơn mình thì nhu cầu tiếpnhận, học hỏi những mặt tân tiến, hiện đại trong nền văn hóa phương Tây để từ

đó hiện đại hóa đất nước là một nhu cầu tất yếu của người dân Việt

3.2 Trong hiện tại

Hiện nay, toàn cầu hóa đã trở thành xu hướng khách quan và tất yếu đối với mọiquốc gia trên thế giới bởi dù muốn hay không, các nền văn hóa đều phải cộngsinh để tồn tại Ảnh hưởng của xu thế toàn cầu hóa này ngày càng trở nên rõràng hơn từ sau cuộc cách mạng khoa học - công nghệ (xuất hiện từ những năm1950), thể hiện qua việc phổ giao lưu và tương tác giữa các nền văn hóa vớinhau được mở rộng hơn so với ngày trước, cũng như cường độ và tần suất củahiện tượng này đang ngày một cao hơn Để một quốc gia có thể phát triển được

về các mặt như kinh tế, chính trị, quân sự, xã hội… trong thời đại hiện nay, việc

Trang 11

giao lưu văn hóa với những quốc gia khác, đặc biệt với phương Tây, là một điềucần thiết.

II KẾT QUẢ GIAO LƯU VĂN HÓA PHƯƠNG TÂY TRONG TRUYỀN THỐNG

1 Giai đoạn từ thế kỷ XVI - cuối thế kỷ XIX

1.1 Đặc trưng của văn hóa từ thế kỷ XVI đến năm 1858

Chính trị trong thời kì này có sự phân liệt sâu sắc Từ sự xung đột giữa nhà Mạc

và nhà Lê đến sự xung đột gay gắt giữa nhà Lê - Trịnh ở Đàng Ngoài với cácchúa Nguyễn ở Đàng Trong, sự thống nhất đất được buổi đầu nhờ công lao củaQuang Trung Nguyễn Huệ và nhà Nguyễn của vua Gia Long đã góp phần tạocho văn hóa giai đoạn này một diện mạo khá đa dạng

Giai đoạn này cũng đã có những bước chuyển biến văn hóa quan trọng với sựlan tỏa của văn hóa phương Tây vào Việt Nam Truyền giáo và thương mại làhai con đường cơ bản giúp văn hóa phương Tây thâm nhập và trụ vững tại ViệtNam, tuy nhiên, trong giai đoạn này, sự thâm nhập của văn hóa phương Tây mớichỉ dừng lại ở mức độ gây sức ép và can thiệp gián tiếp vào chính sách của nhànước phong kiến Việt Nam

1.2 Sự xuất hiện của Kitô giáo (XVI)

Sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục có ghi chép lại rằng “NămNguyên Hòa thứ I (1533) đời vua Lê Trang Tông có có một người Tây dươngtên là Inêkhu (Ignatio) theo đường biển lén giảng đạo Giatô ở các làng NinhCường, Quần Anh, Trà Lũ nay thuộc Nam Định.” Kể từ đó càng có đông cácgiáo sĩ Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha theo thuyền buôn tìm đến để truyền giáo,chính vì vậy mà trong đời sống tư tưởng của người Việt Nam xuất hiện thêmmột tôn giáo là Kitô giáo

Trang 12

Kitô giáo (hay Cơ đốc giáo, Thiên Chúa giáo) là tên gọi chung tất cả các tôngphái cùng thờ chúa Jesus Christ Tôn giáo này xuất hiện vào thế kỷ I ở các tỉnhphía đông của đế quốc La Mã với chế độ chiếm hữu nô lệ Kitô giáo được ra đờinhư một nhánh của Do Thái giáo vùng Palestin, sau đó nhanh chóng phát triểnthành một tôn giáo độc lập - tôn giáo của những người bị áp bức Kitô giáo rađời không chỉ dựa trên tư tưởng được giải phóng và tự do trong bối cảnh mâuthuẫn và xung đột gay gắt trong đời sống xã hội do những cuộc chiến tranh xâmlược tàn khốc của đế chế La Mã mà còn cả yêu cầu thống nhất về tư tưởng,trong đó bao gồm nhu cầu về tôn giáo độc thần tại vùng Trung Cận Đông Banđầu tuy xuất hiện và hoạt động trong cộng đồng người Do Thái, Kitô giáo vẫn

bị những người theo Do Thái giáo đả kích và các chủ nô La Mã ngăn cản và đàn

áp Đến thế kỷ IV, Hoàng đế Constantin I đã chấm dứt các cuộc đàn áp, ra chỉ

dụ tha đạo và công nhận Kitô giáo là quốc giáo

Kitô giáo đã mở đầu cho quá trình giao lưu giữa văn hóa Việt Nam và văn hóaPhương Tây Thời kỳ đầu, do các giáo sĩ chưa quen thông thổ và không thôngthạo ngôn ngữ nên việc truyền giáo không mấy có kết quả Ngoài ra, thái độ củacác vương triều đối với Kitô giáo qua các thời kỳ lịch sử cũng có sự khác biệt,lúc thì cho phép hoạt động, lúc lại cấm đoán ngặt nghèo Dần dần hoạt độngtruyền giáo ngày càng tăng và hiệu quả càng khá hơn Tài liệu của giáo hội chobiết đến năm 1593, Nghệ An đã có đến 12 làng theo đạo Công giáo toàn tòng

Đến thế kỷ XVII, giáo sĩ người châu Âu bắt đầu đến Hội An (Đàng Trong) đểgiảng đạo cho người Việt và người Nhật đang thực hiện buôn bán ở nơi này.Tính từ năm 1615 đến 1625 đã có 21 thừa sai đến Đàng Trong để truyền giáo.Một phần vì người Đàng Trong rất cởi mở, phần khác vì chúa Nguyễn đangmuốn tranh thủ thúc đẩy mối quan hệ thương mại với người Bồ Đào Nha nênviệc Kitô giáo tiến vào Đàng Trong trong giai đoạn này diễn ra khá thuận lợi Sovới Đàng Trong, công cuộc truyền giáo của Đàng Ngoài lại diễn ra muộn hơn

Trang 13

Năm 1626, linh mục Giuliano cùng một số người Nhật đến Đàng Ngoài đểtruyền đạo, tuy nhiên do bất đồng ngôn ngữ nên việc truyền giáo không hứa hẹn

và linh mục đã phải trở về Ma Cao Sau đó một thời gian, linh mục Giulianocùng một số thừa sai đã tiếp tục đến Đàng Ngoài để truyền giáo, trong đó nổilên vai trò của Alexandre De Rhodes Lúc này chúa Trịnh tuy không có quánhiều hiểu biết về Kitô giáo nhưng do có cảm tình với người Bồ Đào Nha nên

đã có mong muốn thúc đẩy mối quan hệ giao thương với họ Các giáo sĩ dòngTên nhờ thông thạo tiếng Việt nên đã truyền giáo rất thành công Theo số liệucủa Giáo hội, năm 1644 ở Đàng Trong có 100 ngàn người và Đàng Ngoài năm

1737 có 250 ngàn người theo đạo Kitô giáo

1.3 Sự ra đời của chữ Quốc ngữ (XVII)

Vào thế kỷ XVII, các giáo sĩ Bồ Đào Nha vào nước ta để truyền đạo đã họctiếng Việt để dễ giảng đạo, để dễ nhớ họ đã ghi lại các âm tiếng Việt bằng chữLatinh, từ đó tạo ra nền móng cơ sở của chữ Quốc ngữ Chữ Việt ngày nay làmột thứ chữ đã được nhiều linh mục Dòng Tên ở Việt Nam dùng mẫu tự Latinh,rồi dựa vào một phần chữ Bồ Đào Nha, Ý và mấy dấu Hy Lạp để sáng tạo ravào thế kỷ XVII Từ đó chữ Quốc ngữ dần xuất hiện

Linh mục Francisco De Pina, người tới Đàng Trong năm 1617 là người châu Âuđầu tiên nói thạo tiếng Việt, cũng là người đầu tiên nghiên cứu tiếng Việt Giáo

sĩ Gaspar Luis đã ghi lại như sau: "Linh mục De Pina đến Đàng Trong năm

1617 Đó là giáo sĩ đầu tiên đã miệt mài nghiên cứu tiếng nói" Năm 1632, hai

cố đạo Gaspar de Amaral và Antonio de Barbosa đã xuất bản các cuốn từ điển

Bồ - Việt và Việt - Bồ Năm 1649 - 1651, Alexandre de Rhodes, người có công

hệ thống hóa và san định hệ chữ Quốc ngữ, đã biên soạn nên cuốn từ điển Việt

-Bồ - Latinh đầu tiên và cuốn sách Phép giảng tám ngày, một cuốn sách giáo líbằng hai thứ tiếng Latinh - Việt, đóng góp rất quan trọng trong công cuộc cảitiến chữ cái Latinh để ghép âm tiếng Việt, hình thành hệ chữ tiếng Việt Mặc dù

Trang 14

chữ Quốc ngữ đã ra đời nhưng trong một thời gian dài hệ chữ này chỉ đượcdùng chủ yếu trong giới truyền đạo do chính sách cấm đạo của nhà Nguyễn Chỉđến thế kỷ XIX khi thực dân Pháp xâm lược Việt Nam thì chữ Quốc ngữ mớiđược lưu hành rộng rãi và đặt làm văn tự chính thức của người Việt.

Xây dựng hệ chữ Quốc ngữ là công trình của nhiều giáo sĩ phương Tây, tuynhiên có thể nói rằng, trong công trình này, sự đóng góp của các trí thức ViệtNam cũng không phải là nhỏ

Sự ra đời của chữ Quốc ngữ và việc hệ chữ này được sử dụng thay thế chữ Hán

và chữ Nôm là một bước ngoặt quan trọng trong tiến trình văn hóa Việt Nam,cũng là một dấu mốc đánh dấu sự khởi đầu của công cuộc hội nhập văn hóa củaViệt Nam với toàn cầu, với nền văn minh chung của nhân loại

2 Giai đoạn từ nửa cuối thế kỷ XIX - giữa thế kỷ XX

2.1 Những biến đổi của văn hóa Việt Nam dưới tác động của giao lưu văn hóa với Pháp

2.1.1 Bối cảnh

Đầu tháng 9 năm 1858, thực dân Pháp nổ súng tiến công Đà Nẵng, mở đầu chocuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam Tuy nhiên, trước tình thế đó, triều đìnhHuế tỏ ra nhu nhược, không kiên quyết chống giặc mà chủ yếu thiên về thươngthuyết, nghị hòa và vẫn tiếp tục thực hiện các chính sách nội trị, ngoại giao lỗithời, lạc hậu khiến cho kinh tế, xã hội Việt Nam rơi vào trạng thái khủng hoảngnghiêm trọng Trong hoàn cảnh ấy, các trào lưu cải cách duy tân ra đời nhưngkhông thể thực hiện vì nhà Nguyễn bảo thủ, bất lực trong việc thích ứng với cáchoàn cảnh mới

Sau khi cơ bản hoàn thành công cuộc bình định bằng quân sự, thực dân Pháptiến hành cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất (1897 - 1914) và sau đó là cuộc

Trang 15

khai thác thuộc địa lần thứ hai (1919 - 1930) Đây là giai đoạn thực dân Phápthiết lập nền cai trị trực tiếp của nó đối với Việt Nam và kèm theo là thứ văn hóaphương Tây mang nặng màu sắc thực dân.

2.1.2 Đặc trưng văn hóa Pháp

Trong giai đoạn này, Pháp đang trên đà là một nước phát triển theo hướng côngnghiệp, xuất phát điểm không phải là văn hóa nông nghiệp nên trong tư duy vànhận thức của họ khác hẳn với chúng ta Bên cạnh đó, Pháp được tạo dựng từmối quan hệ cá nhân, coi trọng tính cá nhân, do đó trong bản thân văn hóa, tínhcứng rắn và nguyên tắc là một trong những vấn đề đặc trưng của văn hóa Pháp

Nói đến Pháp là nói đến một đất nước mang nền văn hóa đồ sộ với những côngtrình vĩ đại và có truyền thống lâu đời Lịch sử văn học Pháp thế kỷ XIX ghidấu sự thành công rực rỡ của hai dòng văn học lớn, quan trọng nhất là văn họclãng mạn và văn học hiện thực, trong đó những tác phẩm văn học kinh điển cóthể kể đến như “Những người khốn khổ”, “Thằng gù ở nhà thờ Đức Bà” (VictorHugo), “Ba chàng lính ngự lâm” (Alexandre Dumas), “Tấn trò đời” (Honoré de

Balzac), Về kiến trúc, đã từ lâu những kiểu kiến trúc Gothic hay những kiến

trúc sử dụng vật liệu kim loại đã phổ biến tại đất nước này và hầu như nó đã tạothành xu hướng trên thế giới trong rất nhiều thập kỷ Nổi bật là Khải Hoàn Môn

- tổng thể điêu khắc lớn nhất của Pháp trong thế kỷ XIX nằm ngay giữa PlaceCharles de Gaulle

2.1.3 Ảnh hưởng của văn hóa Pháp lên nền văn hóa Việt Nam trên nhiều phương diện khác nhau

Trong cơn lốc tìm kiếm thị trường để cung cấp nguyên liệu và tiêu thụ sảnphẩm, Pháp đã đẩy mạnh công cuộc khai thác thuộc địa ở Việt Nam với chínhsách khai thác được thực hiện trên các mặt như chính trị - xã hội, kinh tế, vănhóa, giáo dục Với chính sách ấy, người Việt Nam đã dần tiếp xúc và chungsống với văn hóa Pháp một cách cưỡng bức, tự phát hoặc tự giác Từ đó,

Trang 16

chương trình khai thác thuộc địa đã vô hình chung đã đẩy quá trình giao lưu vănhóa Việt - Pháp diễn ra và để lại nhiều dấu ấn còn nguyên vẹn tới ngày nay.

* Ảnh hưởng của văn hóa Pháp trong chính trị - xã hội

- Ở nước ta đã diễn ra quá trình phân hóa sâu sắc đồng thời xuất hiện các tầnglớp, giai cấp xã hội mới

+ Giai cấp tư sản ra đời sau Chiến tranh thế giới thứ nhất nhưng bị chính quyền

thực dân kìm hãm, tư bản Pháp chèn ép Phần đông họ có nguồn gốc từ các nhàthầu khoán, chủ xí nghiệp, xưởng thủ công, chủ hãng buôn… Sau khi kiếmđược số vốn khá, họ đứng ra kinh doanh riêng và trở thành những nhà tư sảnnhư Bạch Thái Bưởi, Nguyễn Hữu Thu, v.v

+ Tiểu tư sản thành thị cũng là tầng lớp mới xuất hiện, phát triển nhanh về sốlượng Đặc biệt là bộ phận học sinh, sinh viên, trí thức có trình độ học vấn, nhạybén với thời cuộc nên sớm giác ngộ và tích cực tham gia các phong trào cứunước

+ Giai cấp công nhân ra đời từ cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của thựcdân Pháp, đa số xuất thân từ giai cấp nông dân, có quan hệ trực tiếp và chặt chẽvới giai cấp nông dân, làm việc trong các đồn điền, hầm mỏ, nhà máy, xí nghiệp

và bị đế quốc, phong kiến áp bức bóc lột

- Bên cạnh đó, sự chuyển biến trong đời sống xã hội giai đoạn này còn là sựxuất hiện của các đô thị Cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX chứng kiến sự pháttriển ngày càng nhiều của đô thị Việt Nam như: Hà Nội, Hải Phòng, Sài Gòn -Chợ Lớn, Nam Định, Hòn Gai, Vinh, Huế, Đà Nẵng, Quy Nhơn, Biên Hòa, Các đô thị là nơi nhiều nhà máy, xí nghiệp, các trường học ra đời và cũng là nơihình thành nên tầng lớp tiểu tư sản Ngoài ra, xuất hiện các kiến trúc đô thị có

sự kết hợp hài hoà giữa văn hoá Việt Nam và Pháp, được gọi là phong cách kiếntrúc Đông Dương ví dụ như Đại học Đông Dương, Trụ sở Bộ Ngoại Giao, Bưuđiện Trung tâm Sài Gòn… Cũng trong thời gian này, đô thị Việt Nam chuyển từ

mô hình cổ truyền với chức năng trung tâm chính trị sang mô hình đô thị công

Trang 17

-thương nghiệp chú trọng chức năng kinh tế Những đô thị ngày càng trở thànhcác trung tâm chi phối khu vực nông thôn.

* Ảnh hưởng của văn hóa Pháp trong nền kinh tế

- Về công nghiệp: Việc xây dựng các cơ sở công nghiệp và hình thành nhiềungành công nghiệp khác nhau như khai thác mỏ, sản xuất vật liệu xây dựng, cơkhí vận tải và các ngành công nghiệp chế biến đã góp phần làm cho bộ mặt kinh

tế Việt Nam đa dạng hơn so với trước đây chủ yếu là nền kinh tế thuần nôngnghiệp Đồng thời, bên cạnh truyền thống nông nghiệp trồng lúa nước lâu đờicủa người Việt Nam, thực dân Pháp tập trung đầu tư trồng các loại cây côngnghiệp như cao su, đay, cói, đậu…

- Về giao thông vận tải: Hệ thống giao thông phát triển nhằm mục đích tăngcường trao đổi thương mại và giao lưu tiếp xúc giữa các địa phương đồng thờikhai thác các nguồn tài nguyên ở thuộc địa đưa về chính quốc Đường thủyđóng vai trò chủ đạo nên từ khi thống trị, Pháp đã tập trung khai thác triệt đểđường thủy ven biển và các kênh rạch, cải tạo và xây dựng một số cảng biểnnhư cảng Sài Gòn, cảng Hải Phòng Đường sắt là phương tiện giao thông hoàntoàn mới do người Pháp đem đến Việt Nam và tính đến năm 1912, tổng số chiềudài đường sắt ở Việt Nam là 2059 km với các tuyến đường Sài Gòn - Cần Thơ,Bắc - Nam, Hải Phòng - Lào Cai - Vân Nam Cùng với đó là sự hình thành của

hệ thống các nhà ga, những cây cầu kiên cố và các tuyến đường bộ đi songtrùng với các tuyến đường sắt cũng được khai mở như đường 70 (Hà Nội -Tuyên Quang - Lào Cai) hay những con đường xuyên rừng núi đến các khu hầm

mỏ, đồn điền

- Về ngoại thương: Đây là một trong những hoạt động của tư bản Pháp sớm cómặt ở Việt Nam Năm 1860, Pháp bắt đầu tuyên bố mở cửa biển nhằm cho cáctàu buôn Pháp được phép tự do ra vào cảng Sài Gòn, từ đây đã đánh dấu mốcchấm dứt thời kỳ của chính sách “bế quan tỏa cảng” của triều đình nhà Nguyễn.Tiếp theo, vào năm 1862, chính quyền Pháp tiến hành mở cửa biển ở Đà Nẵng

Trang 18

và năm 1885 là cửa biển Hải Phòng Nhưng đồng thời, thực dân Pháp cũng đặt

ra một hàng rào thuế quan chặt chẽ nhằm bảo vệ quyền lợi của chúng

- Về khoa học, kỹ thuật: Khoa học dần trở thành tri thức chiếm ưu thế so với cácluận thuyết đạo đức, chính trị, xã hội của nền văn hóa bản địa Đây cũng là giaiđoạn tạo lập những tiền đề cho một nền khoa học hiện đại ở Việt Nam Thể chếKhoa cử Nho gia dần biến mất, các trường Quốc học, các viện nghiên cứu mọclên và sự phát triển của tầng lớp trí thức Việt Nam

* Ảnh hưởng của văn hóa Pháp trong văn hóa, giáo dục, nghệ thuật Việt Nam

- Về giáo dục: Ngay sau khi đô hộ nước ta, chữ Hán cũng như nền giáo dục Nhohọc đã bị người Pháp khai tử ngay lập tức Từ năm 1878, tại Nam Kỳ, các giấy

tờ công văn của các cơ quan hành chính đã được thay thế bằng chữ Pháp và chữQuốc ngữ Trong đời sống, chính quyền thực dân đã đưa chữ Pháp và chữ Quốcngữ vào sách báo, mở trường dạy học mới nhằm đáp ứng nhu cầu học tập chocác con em quan chức và đào tạo đội ngũ tay sai Một số trường học tiêu biểuphải kể đến: Le Myre de Vilers ở Mỹ Tho (1879), Collège de Cantho (1917)trường Quốc Học Huế (1896), trường trung học Bảo Hộ (Collège duProtectorat) tức trường Bưởi Hà Nội (1908)

- Về tôn giáo: Pháp sử dụng Kitô Giáo như một công cụ đắc lực để lan tỏa sựảnh hưởng của văn hóa phương Tây ở Việt Nam trên nhiều mặt như ngôn ngữvới sự ra đời và sử dụng chữ Quốc ngữ; âm nhạc đặc biệt là những bài Thánh cađược dạy và hát ở các nhà thờ để phục vụ các hoạt động tôn giáo; các kiến trúcnhà thờ, tranh ảnh, tượng chúa được các giáo sĩ dần được đưa vào Việt Nam

- Về nghệ thuật: Đã có bước chuyển mạnh mẽ nhờ sự hấp thụ các chuẩn giá trịcủa nền văn hóa phương Tây, đồng thời cũng xuất hiện sự du nhập của một sốloại hình nghệ thuật mới

+ Đối với văn học: Chương trình khai thác thuộc địa của thực dân Pháp giaiđoạn nửa cuối thế kỷ XIX - giữa thế kỷ XX đã thúc đẩy tiến trình hiện đại hóavăn học, tiêu biểu là phong trào Thơ mới và chủ nghĩa lãng mạn trong văn

Trang 19

chương Thơ mới là kết quả của quá trình gặp gỡ giữa văn hóa - xã hội ViệtNam truyền thống, đậm màu sắc phương Đông với những sắc thái mới, hiện đạiđến từ phương Tây với những tên tuổi nổi bật như Thế Lữ, Xuân Diệu, HuyCận, Nguyễn Bính, Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử, Lưu Trọng Lư… Trong giaiđoạn này, nhóm Tự lực văn đoàn được thành lập, chuyên viết về dòng văn xuôilãng mạn - đây cũng là lần đầu tiên văn chương Việt có ý thức đề cao tự do cánhân, đưa cái tôi cá nhân chống lại những lễ giáo phong kiến cũ Thời kỳ này,

có thể kể đến các đại diện tiêu biểu như Khái Hưng, Nhất Linh, Thạch Lam, + Đối với kịch: Đầu thế kỷ XX, nghệ thuật sân khấu kịch Việt Nam ra đời từ kếtquả của cuộc tiếp biến trong văn hóa Việt Nam với văn hóa Pháp và phươngTây Ban đầu từ việc dịch kịch bản của người Pháp để đọc sau đó hình thành cácđoàn kịch của Việt Nam diễn lại các vở kịch của phương Tây và dần dàn chúng

ta tự viết các kịch bản về con người - xã hội Việt Nam Trong thời kỳ này, cácloại hình nghệ thuật mới bên cạnh kịch như tiểu thuyết cũng ra đời, kéo theo sựxuất hiện của các nhà hát Opera Hà Nội, Opera Hải Phòng, Opera Sài Gòn hayloại hình điện ảnh với các rạp chiếu bóng như rạp Pathé, rạp Le Tonkinois, rạpMajestic,

+ Đối với kiến trúc: Sự giao thoa của hai nền văn hóa Đông Dương - TâyPhương đã làm xuất hiện kiểu kiến trúc thuộc địa Trong kiểu kiến trúc này lạiđược chia ra thành 5 phong cách tương ứng với từng giai đoạn và đều để lạinhững công trình xây dựng vẫn còn mang những giá trị và tồn tại cho đến ngàynay Một số ví dụ như Bảo tàng Lịch sử Quân sự, Toà thị chính, Phủ Toànquyền, Trụ sở Bộ Tư pháp, Trụ sở Bộ Ngoại giao Bên cạnh những công trìnhkiến trúc mang đặc điểm thiết kế của phương Tây nhưng vẫn phù hợp với điềukiện tự nhiên của nước ta, còn có kiến trúc cầu Long Biên - một thành tựu quantrọng trong nền văn minh cầu sắt xét về mặt kỹ thuật, dần trở thành biểu tượngvăn hóa, lịch sử của Hà Nội và được xây dựng bởi mồ hôi, xương máu của biếtbao người dân Cây cầu khởi công vào 1898 và được khánh thành vào 1902, vớichiều dài là 2209m và nặng đến 17 nghìn tấn

Trang 20

2.2 Kết quả giao lưu văn hóa với Pháp

Trải qua quá trình giao lưu, tiếp xúc với văn hóa Pháp thông qua các chươngtrình khai thác thuộc địa của chính quyền thực dân từ nửa cuối thế kỷ XIX đếngiữa thế kỷ XX, văn hóa Việt Nam đã có những ảnh hưởng và tiếp thu sâu sắctrên nhiều phương diện khác nhau Sau gần một thế kỷ (1858 - 1954) được xáclập như nền văn hóa của chủ thể nắm quyền chi phối nền kinh tế - chính trị miềnNam Việt Nam, văn hóa Pháp đã có những biểu hiện tái cấu trúc lại gần nhưtoàn bộ nền văn hóa Việt Nam - điều mà văn hóa Trung Hoa hay văn hóa Ấn Độ

đã phải mất hơn hàng ngàn năm mới làm được dù chúng có cùng cội nguồntruyền thống phương Đông với Việt Nam Không những vậy, dấu ấn của cáccông trình kiến trúc, những loại hình văn học, nghệ thuật Pháp đã góp phần đemlại những sắc thái mới đa dạng, phong phú cho bức khảm văn hóa Việt Nam, tạo

ra hơi thở mới, làn sóng mới đầy sức sống cho văn hóa Việt Nam đi những bướctiến xa hơn, vững chắc hơn Trước ý đồ khai thác thuộc địa và xâm chiếm củaPháp, người Việt Nam đã cởi mở và tiếp thu có chọn lọc những luồng văn hóamới để cứu nước chứ không phải để làm nô lệ Vậy nên, kết quả của quá trìnhgiao lưu, tiếp biến này không phải là Pháp hóa văn hóa Việt Nam mà là ViệtNam hóa văn hóa Pháp

3 Giai đoạn từ năm 1954 - 1975 của thế kỷ XX

3.1 Giao lưu với văn hóa Xô Viết

Liên bang Nga - Xô Viết là quốc gia có diện tích rộng nhất thế giới, nằm trên cảhai châu lục Á, Âu Đất nước này trải dài trên nhiều loại địa hình từ sông, núi,cho đến biển cả và nhiều đồng bằng màu mỡ Với sự trù phú mà thiên nhiên bantặng, tính cách, tâm lý của con người Nga cũng được hình thành theo những đặcđiểm rất riêng, tạo nên một nền văn hoá đặc sắc trên nhiều lĩnh vực Điều nàytạo điều kiện cho Liên bang Nga - Xô Viết có những cuộc tiếp biến - giao lưuvăn hoá với những kết quả đầy ấn tượng, trong đó có cuộc giao lưu văn hoá với

Trang 21

Việt Nam.

3.1.1 Đặc trưng văn hoá Xô Viết

Nước Nga có một nền văn hóa đặc sắc thể hiện trên nhiều lĩnh vực khác nhau.Đầu tiên, khi nhắc tới văn hóa Nga, ta không thể nhắc tới lĩnh vực ẩm thực.Phong cách ăn uống của người Nga thường không quá cầu kỳ, một bữa ăntruyền thống sẽ thường gồm ba món: súp, món chính cùng khoai tây và mónnguội tráng miệng; trong đó món súp làm món khai vị được coi là biểu tượngmang tính tổng hợp trong văn hóa lối ăn của người Nga Bên cạnh đó, văn hóa

ẩm thực Nga cũng được thể hiện thông qua cách bố trí bàn ăn hay việc lựa chọnmột căn bếp ấm cúng, các thành viên ngồi đoàn tụ bên nhau Đặc điểm nàykhiến văn hóa Nga rất giống với các bữa cơm của đại đa số các gia đình ở ViệtNam, trở nên gần gũi hơn

Trang phục của người Nga cũng có những nét đặc trưng tiêu biểu tuy nhiên lạikhông quá cầu kỳ, chú trọng vào tính thuận tiện khi sử dụng, đồng thời thể hiện

sự mộc mạc, phóng khoáng Trang phục Nga có sự khác nhau trong cuộc sốngthường ngày và trong những ngày Lễ, dịp quan trọng như lễ Phục sinh, Lễ tiễnmùa đông,

Văn học Nga được coi là một nền văn hóa trù phú, đặc biệt là vào thế kỷ XIX.Với những nhà văn học nổi tiếng như Alexander Pushkin, Ivan AlekseyevichBunin, Fyodor Dostoyevsky, cùng nhiều tuyệt tác của nghệ thuật viết lách như

"Chiến tranh và hòa bình" (Lev Nikolayevich Tolstoy), nền văn học Nga thật sựphong phú và tiên tiến, có thể được coi là một trong những thành tựu rực rỡ nhấtcủa nghệ thuật thế giới Chính điều này đã tạo nên sự ảnh hưởng lâu dài và sâurộng đền nhiều nền văn học khác trên thế giới, trong đó có Việt Nam

Ngoài ra, những lĩnh vực nghệ thuật khác của Nga cũng để lại nhiều dấu ấn rõ

Trang 22

nét Những buổi diễn ballet cổ điển ở nhà hát lớn ở Mátxcơva gây được tiếngvang trên khắp thế giới, bên cạnh đó là những điệu múa trên nền âm nhạc dângian tượng trưng cho nét lao động chăm chỉ của người dân Nga đã trở thành nétđặc trưng trong văn hóa Hội họa Nga nổi bật nhất với sự du nhập của tôn giáo

từ thế kỷ X, rồi đến nghệ thuật vẽ chân dung, vẽ tranh phong cảnh Bên cạnh đó,ngành công nghiệp Điện ảnh của Nga cũng gặt hái được nhiều thành tựu đángtrân trọng, có thể kể đến như bộ phim “Chiến tranh và hòa bình” đã đoạt giải tạiLiên hoan phim quốc tế Mátxcơva và giải Oscar Kiến trúc ở Nga tuy phát triểnmuộn, nhưng cũng để lại nhiều công trình xuất sắc như các cung điện mùaĐông, cung điện mùa hè Peterhof,

Về triết học, chủ nghĩa Mác - Lênin là một học thuyết khoa học và cách mạng,tác động nhiều đến sự phát triển của văn hoá Nga, tình hình chính trị Nga nóiriêng cũng như là trên toàn thế giới Sự vận dụng sáng tạo triết học Mác - Lênintrong đời sống xã hội hiện nay đã tạo tiền đề để bồi đắp văn hoá, xây dựng đờisống cho nhiều quốc gia, dân tộc trên thế giới, trong đó có Việt Nam

3.1.2 Những biến đổi của văn hoá Việt Nam dưới tác động của giao lưu văn hoá với Liên bang Nga - Xô Viết

* Bối cảnh

Văn hóa Việt Nam chịu ảnh hưởng của văn hóa Nga khá mạnh mẽ, tùy theo mỗigiai đoạn lịch sử mà có sự tiếp nhận theo những xu hướng khác nhau, cả vềphương diện vật chất và tinh thần Tiếp xúc văn hoá Việt - Nga đã được bắt đầu

từ rất sớm, có thể tính từ thời điểm khi mà Nguyễn Ái Quốc và nhiều thanh niêncộng sản đầu tiên đã sang học đại học tại Đại học phương Đông Moskva (1923 -1930) Việc học tập tại đây đã giúp họ có thể tiếp thu tư tưởng yêu nước, giảiphóng dân tộc của chủ nghĩa Mác - Lênin Và trong nửa thế kỷ từ sau cáchmạng tháng Tám cho đến khi Liên Xô tan vỡ, giao lưu văn hóa Việt - Nga là

Trang 23

dòng chủ lưu, có ý nghĩa sâu rộng hơn cả các mối giao lưu văn hóa với các nướcanh em trong hệ thống XHCN.

Chính bởi vậy, sự giao lưu văn hoá giữa Liên bang Nga - Xô Viết với Việt Namtrải đều trên nhiều lĩnh vực, với nhiều cách thức, khía cạnh đa dạng như vănhọc, điện ảnh, sân khấu, mỹ thuật, giáo dục, đào tạo, xuất bản,

* Văn học

Nhà phê bình văn học Phạm Xuân Nguyên đã từng nói rằng: "Nền văn hóa, vănhọc của nước Nga - Xô viết đã góp phần to lớn cho gia tài tinh thần của loàingười thế kỷ XX chứ không chỉ độc giả Việt Nam Với tất cả sự anh hùng và bikịch của nó, tiếp xúc với văn hóa, văn học Nga, cái còn lại sâu đậm nhất lànhững nỗi niềm về số phận con người"

Sau Cách mạng tháng Tám, tác phẩm văn học của Nga bắt đầu bắt đầu trở nênphổ biến hơn Số tác phẩm văn học Nga được dịch và tiếp cận với người đọc ởViệt Nam trong giai đoạn năm 1945 - 1987 lên đến khoảng 903 đầu sách Mỗimột tác phẩm là một kiệt tác, chứa đựng những tư tưởng tiên tiến của thời đại,

Trang 24

lòng yêu nước nhiệt thành, khát vọng tự do, dân chủ, tinh thần nhân đạo cao cả,

tư tưởng phê phán, tố cáo xã hội sâu sắc Những tác phẩm đầy bão tố như "Đêmtrắng" của Dostoevsky, "Con đường đau khổ" của A Tolstoy, "Thép đã tôi thếđấy" của Ostrovsky,…; những bài thơ chạm tới trái tim người đọc, tinh tế đếnmẫu mực như thơ Boris Pasternak, thơ Ivan Alekseyevich Bunin đều khiến chođộc giả yêu thích, say mê Điều đó ảnh hưởng tới quan điểm về cuộc sống cũngnhư tư duy sáng tác của nhiều nhà văn Việt Nam

Không chỉ tiếp nhận nền văn học Nga, Việt Nam cũng chọn lọc, biên dịch hàngtrăm cuốn sách tiêu biểu để gửi sang Nga từ những năm 50-60 của thế kỷ trước.Ngoài ra, từ 1981 đến 1985, Nhà xuất bản Văn học ở Liên Xô đã tạo ra “Tủsách văn học Việt Nam” với nhiều thể loại như tiểu thuyết, truyện ngắn, thơ…

* Điện ảnh

Điện ảnh Việt Nam đã thật sự có những tiến bộ vượt bậc, có những bộ phimđược gửi đi dự các Liên hoan phim quốc tế ở Nga, Đức, Tiệp Khắc và giànhnhiều giải thưởng cho nước nhà Điều này có được là nhờ học hỏi theo nền điệnảnh Xô Viết, coi nó trở thành khuôn mẫu, chuẩn mực cho thể loại phim cáchmạng Đồng thời, sự góp mặt của những đạo diễn được đào tạo tại VGIK(Trường đại học Điện ảnh Quốc gia Liên Xô) đã có đóng góp rất lớn trong việcđưa điện ảnh Việt Nam tiến tới gần hơn với bạn bè quốc tế Những nhà làmphim xuất sắc có thể nhắc tới như Hải Ninh, Phạm Văn Khoa, Trần Luân Kim,Bùi Đình Hạc,

Các thể loại phim truyện, phim tài liệu, hoạt hình, phim khoa học được sảnxuất một cách đa dạng, phong phú Những bộ phim tiêu biểu, trở thành làn giómới cho nền điện ảnh nước nhà có thể kể tới là Hai người lính, Chim vànhkhuyên, Kim Đồng, Chị Tư Hậu, Nổi gió… Chúng góp phần giúp nâng caonhững giá trị về lòng yêu nước, tinh thần dũng cảm trong thời kỳ chiến tranh,

Ngày đăng: 29/05/2023, 09:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w