Kết quả là những yêu sách thiết lậpvùng đánh cá bên ngoài giới hạn vùng biển thuộc chủ quyền quốc gia của các nước venbiển đã xuất hiện từ những năm cuối thế kỉ XIX và trở nên phổ biến v
Trang 1HỌC VIỆN NGOẠI GIAO VIỆT NAM
KHOA KINH TẾ QUỐC TẾ
- -TIỂU LUẬN GIỮA KỲ MÔN CÔNG PHÁP QUỐC TẾ
ĐỀ TÀI: QUY CHẾ PHÁP LÝ VÙNG ĐẶC QUYỀN KINH TẾ
Tên lớp học phần : CPQT-1.9_LT
Giảng viên hướng dẫn : Ths Hoàng Thị Ngọc Anh
Hà Nội, ngày 1 tháng 11 năm 2022
Trang 2Danh sách thành viên nhóm 5
Trang 3MỤC LỤC
I, Lịch sử hình thành và định nghĩa vùng biển đặc quyền kinh tế 5
2.1 Căn cứ để xây dựng quy chế pháp lý cho vùng đặc quyền kinh tế 62.1.1 Căn cứ xây dựng quy chế pháp lý cho vùng đặc quyền kinh tế 62.1.2 Các căn cứ xây dựng Chế độ pháp lý về vùng ĐQKT ở Việt Nam 82.2 Chế độ pháp lý áp dụng cho Vùng Đặc quyền kinh tế 8
2.2.2 Chế độ pháp lý của nước CHXHCN Việt Nam đối với Vùng đặc quyền kinh tế 102.3 Quy chế pháp lý của Vùng ĐQKT trong Công ước luật biển 1958 và 1982 12III Vụ việc Phân định biển ở Biển Đen giữa Romania và Ukraine 143.1 Tóm tắt về Vụ Phân định biển ở Biển Đen và lập luận của các bên liên quan 14
3.2 Luật pháp được áp dụng trong vụ việc phân định ở Biển Đen 15
Trang 4LỜI MỞ ĐẦUVai trò của vùng đặc quyền kinh tế trong luật biển quốc tế đã được nhiều tác giả nghiêncứu trong nhiều năm qua Hầu như tất cả các khía cạnh liên quan của khái niệm này đãđược nghiên cứu, bao gồm cả các phương diện pháp lý, kinh tế, chính trị và xã hội của
nó Tuy nhiên, 20 năm sau khi Công ước Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982 có hiệulực, vùng đặc quyền kinh tế vẫn còn tồn tại những vụ việc, thảo luận và tranh chấp quốc
tế liên quan đến các điều khoản của Công ước Với xu thế dân số ngày một tăng lên trongkhi diện tích đất đai ngày càng bị thu hẹp thì vấn đề về nguồn nguyên liệu để phục vụ cho
sự phát triển đất nước nói chung và phát triển công nghiệp nói riêng cũng ngày càng trởnên khan hiếm, đòi hỏi các quốc gia phải mở rộng xâm lấn các vùng biển, nơi tập trungcủa nhiều nguồn khoáng sản có giá trị về mặt kinh tế Đặc biệt là trong bối cảnh xu thếphát triển kinh tế mới các năm gần đây của các quốc gia thì mối quan tâm tới phát triểnkinh tế biển càng được chú trọng Chính vì thế vùng biển này vẫn là một chủ thể cơ bảntrong luật biển quốc tế, cùng với đó là ý thức về tầm quan trọng to lớn của biển đối vớimột quốc gia thì cần thiết phải có cán cân hoạch định chung về vấn đề này
Tất cả những khía cạnh này cho ta thấy tầm quan trọng trong việc giải thích và áp dụngcác quy chế pháp lý đối với vùng biển này Trong bài tiểu luận này, nhóm chúng em sẽ đisâu vào phân tích về sự phát triển của khái niệm, bản chất pháp lý và chế độ pháp lý ápdụng cho Vùng ĐQKT Sau đó, chúng em đề cập đến một trường hợp cụ thể để làm rõ sự
áp dụng của các quy chế này Cuối cùng là sự phát triển trong tương lai của cơ chế pháp
lý Vùng ĐQKT sẽ được tìm hiểu khi xem xét các đặc điểm gây tranh cãi chính trong chế
độ pháp lý ở vùng biển này
Trang 5NỘI DUNG
I, Lịch sử hình thành và định nghĩa vùng biển đặc quyền kinh tế
1.1 Lịch sử hình thành của vùng đặc quyền kinh tế
Trong luật biển quốc tế truyền thống, biển được chia làm hai phần với quy chế pháp lýkhác nhau là lãnh hải và biển cả Tại lãnh hải, mọi tài nguyên đặt hoàn toàn dưới sự kiểmsoát của quốc gia ven biển Phía ngoài vùng biển thuộc chủ quyền quốc gia, tài nguyêncủa biển cả được để mở cho mọi quốc gia theo nguyên tắc tự do đánh bắt hải sản Từ nửacuối thế kỉ XIX, các hoạt động đánh bắt xa bờ bắt đầu phát triển mạnh mẽ, đặc biệt đốivới những quốc gia có tiềm năng về tài chính và nền hàng hải mạnh Điều này không chỉảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của ngư dân các nước ven biển trong việc khai thác ởnhững vùng biển tiếp liền lãnh hải mà còn làm nảy sinh không ít những tranh chấp giữacác quốc gia, chủ yếu liên quan đến vấn đề khai thác và bảo tồn một số loài cá cụ thể bịsuy giảm trước các hoạt động khai thác quá mức Kết quả là những yêu sách thiết lậpvùng đánh cá bên ngoài giới hạn vùng biển thuộc chủ quyền quốc gia của các nước venbiển đã xuất hiện từ những năm cuối thế kỉ XIX và trở nên phổ biến vào những năm đầuthế kỉ XX với những tuyên bố của Nga, Na Uy, Phần Lan, Alien, Thụy Sỹ hay Mỹ.Ngày 28 tháng 9 năm 1945, Tổng thống Mỹ Truman đã đưa ra tuyên bố về "Chínhsách của Mỹ đối với các hoạt động đánh cá ven bờ trên một số khu vực xác định của biểncả" với nội dung thiết lập một khu vực bảo tồn tài nguyên cả trên những khu vực tại biển
cả tiếp liền với lãnh hải của Mỹ Việc khai thác sẽ tuân theo các quy định của pháp luật
Mỹ trong những khu vực biến chỉ có ngư dân Mỹ khai thác hoặc tuân theo các điều ướcđược ký kết giữa Mỹ với các nước khác trong những khu vực biển mà việc khai thác do
cả ngư dân Mỹ và ngư dân những nước liên quan tiến hành Tuyên bố Truman đã kéotheo một loạt tuyên bố của các quốc gia khác ở châu Mỹ, châu Á ngay sau đó về việc mởrộng các vùng biển thuộc quyền tài phán ra phía biển cả
Hai Hội nghị của UN về Luật biển lần thứ nhất năm 1958 và lần thứ hai năm 1960 đãthất bại khi không giải quyết được những mâu thuẫn về lợi ích giữa các nước ven biểnvới các quốc gia khác, đặc biệt là các quốc gia đánh cá tầm xa cũng như giữa các cườngquốc hàng hải với nhau Kết quả là những tuyên bố đơn phương về quyền tài phán đối vớihoạt động đánh cá cũng như những tranh chấp trong việc bảo tồn nguồn tài nguyên đang
bị suy giảm nghiêm trọng này tiếp tục gia tăng Bên cạnh đó, sự ra đời của một loạt quốcgia sau thắng lợi của các phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc đã tất yếu xuất hiệnnhững yêu cầu thiết lập một trật tự pháp lý mới trên biển trong đó có sự tham gia và tínhđến lợi ích của những quốc gia này
Trong bối cảnh đó, sự ra đời của UNCLOS 1982 với việc ghi nhận sự xuất hiện củamột vùng biển hoàn toàn mới, vùng đặc quyền kinh tế, đã giải quyết được sự dung hòa vềlợi ích giữa các quốc gia khi một mặt ghi nhận những đặc quyền cho quốc gia ven biển
Trang 6trong một số lĩnh vực, mặt khác vẫn đảm bảo một số quyền tự do cho tất cả các quốc gia 1.2 Định nghĩa vùng đặc quyền kinh tế
Theo quy định tại Điều 55 và 57 UNCLOS 1982: Vùng đặc quyền kinh tế là một vùngnằm ở phía ngoài lãnh hải và tiếp liền với lãnh hải, đặt đuổi chế độ pháp lý riêng, theo đócác quyền và quyền tài phán của quốc gia ven biển và các quyền tự do của các quốc giakhác đều do các quy định thích hợp của Công ước điều chỉnh Vùng đặc quyền kinh tế cóchiều rộng không quá 200 hải lý kể từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Quyđịnh trên đã làm rõ một số vấn đề sau:
Thứ nhất, về vị trí, vùng đặc quyền kinh tế nằm bên ngoài lãnh thổ của quốc gia venbiển, tiếp liền với lãnh hải, có ranh giới trong là đường biên giới quốc gia trên biển, ranhgiới ngoài là một đường mà mỗi điểm trên đó cách đường cơ sở khoảng cách tối đakhông quá 200 hải lý
Thứ hai, về chiều rộng, vùng đặc quyền kinh tế có chiều rộng không quá 200 hải lýtính từ đường cơ sở
Thứ ba, trong mối quan hệ với vùng tiếp giáp lãnh hải, do vùng đặc quyền kinh tế vàvùng tiếp giáp đều có ranh giới trong là đường biên giới quốc gia trên biển mà chiều rộngcủa vùng đặc quyền kinh tế được xác định không quá 200 hải lý tính từ đường cơ sởtrong khi chiều rộng của vùng tiếp giúp không quá 24 hải lý tính từ đường cơ sở, nênthực chất, vùng đặc quyền kinh tế bao trùm lên vùng tiếp giáp lãnh hải Nói cách khác,vùng tiếp giáp lãnh hải là một bộ phận nằm trong vùng đặc quyền kinh tế Điều này lí giải
vì sao tại vùng tiếp giáp lãnh hải, quốc gia ven biển và các quốc gia khác được hưởng đầy
đủ các quy chế pháp lý mà UNCLOS 1982 quy định cho vùng đặc quyền kinh tế.Thứ tư, chế độ pháp lý của vùng đặc quyền kinh tế sẽ bao gồm cả quyền của quốc giaven biển và quyền của quốc gia khác do Công ước quy định Đây chính là đặc trưng, tạonên sự khác biệt trong chế độ pháp lý của vùng đặc quyền kinh tế với các vùng biểnthuộc chủ quyền quốc gia Điều này xuất phát do vị trí của vùng biển này cũng như cácvùng biển khác thuộc quyền chủ quyền quốc gia, mặc dù nằm bên ngoài lãnh thổ quốcgia ven biển nhưng cũng chưa thuộc vùng lãnh thổ quốc tế nên tại đó vừa ghi nhận quyềncủa quốc gia ven biển vừa ghi nhận quyền của các quốc gia khác 2
II Pháp luật về Vùng Đặc Quyền Kinh Tế
2.1 Căn cứ để xây dựng quy chế pháp lý cho vùng đặc quyền kinh tế
2.1.1 Căn cứ xây dựng quy chế pháp lý cho vùng đặc quyền kinh tế
Theo luật Biển quốc tế, quy chế, chế độ pháp lý của vùng ĐQKT được xây dựng dựatrên các nguyên tắc sau:
2 Th.s Nguyễn Thị Kim Ngân và Th.s Nguyễn Toàn Thắng, Giáo trình Luật Biển quốc tế, Nhà xuất bản Tư Pháp, Trường Đại học Luật Hà Nội, trang 120-122.
1 Th.s Nguyễn Thị Kim Ngân và Th.s Nguyễn Toàn Thắng, Giáo trình Luật Biển quốc tế , Nhà xuất bản Tư Pháp, Trường Đại học Luật Hà Nội, trang 117-120.
Trang 7Thứ nhất, nguyên tắc công bằng Nguyên tắc công bằng là cơ sở để đảm bảo quyền
và lợi ích của các quốc gia, đồng thời góp phần duy trì trật tự pháp lý trong sử dụng, khaithác và quản lý biển, đặc biệt là trong phân định các vùng biển có tranh chấp Nguyên tắcnày thể hiện các nội dung: Công bằng giữa tất cả các quốc gia: UNCLOS 1982 thừa nhậnquyền của quốc gia không có biển hoặc bất lợi về mặt địa lý được sử dụng biển cả nhưcác quốc gia có biển ở phạm vi mà Luật biển quốc tế cho phép Đối với Công bằng trongphân định biển là Đảm bảo cho mỗi quốc gia ven biển được hưởng một vùng biển đúng
và công bằng, có tính đến các hoàn cảnh hữu quan Công ước năm 1982 về Luật biển tạiĐiều 74 về hoạch định ranh giới vùng đặc quyền kinh tế theo hướng mở rộng sự thoảthuận giữa các bên tranh chấp để đạt được một “giải pháp công bằng”.3
Thứ hai, nguyên tắc tự do biển cả Nguyên tắc này có nội dung, biển cả được để ngỏcho tất cả các quốc gia, dù là những quốc gia có biển hay không có biển Nguyên tắc tự
do biển cả không cho phép bất cứ quốc gia nào có thể áp đặt một cách hợp pháp một bộphận nào đó của biển cả thuộc chủ quyền của mình Với ý nghĩa đó, trong biển cả, tất cảcác quốc gia đều được hưởng các quyền tự do Song, mỗi quốc gia, khi thực hiện cácquyền tự do biển cả phải thừa nhận và tính đến lợi ích của việc thực hiện quyền tự do trênbiển cả của các quốc gia khác Các quyền này mang tính tập quán.4Nguyên tắc này ítnhiều ảnh hướng đến việc xây dựng chế độ pháp lý cho vùng ĐQKT
Thứ ba, nguyên tắc đất thống trị biển Nguyên tắc đất thống trị biển cụ thể hóa cácquyền của quốc gia ven biển khi xác lập chủ quyền lãnh thổ và các vùng biển, bao gồmvùng đặc quyền kinh tế Theo đó, lãnh thổ đất liền là cơ sở để xác định các vùng biển củaquốc gia và từ đó quốc gia xác định, duy trì chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tàiphán của quốc gia đối với các vùng biển Nguyên tắc này có ý nghĩa quan trọng đối vớicác quốc gia ven biển Nó là cơ sở để khẳng định chủ quyền, quyền tài phán của quốc giatrên biển, góp phần giải quyết công bằng và hiệu quả tranh chấp trên biển giữa các quốcgia
Thứ tư, nguyên tắc giữ gìn di sản chung của nhân loại Nguyên tắc này là cơ sở đểxác định nghĩa vụ của các quốc gia trong vùng ĐQKT Theo quy định của UNCLOS
1982, nguyên tắc này có nội dung như sau: Không cho phép việc một quốc gia nào đó cóquyền đòi thực hiện chủ quyền hay các quyền thuộc chủ quyền của mình trên một phầnnào đó của đáy biển và lòng đất dưới đáy biển cả hoặc đối với tài nguyên của Vùng.Cộng đồng quốc tế mà thực thể có quyền thay mặt là Cơ quan quyền lực quản lý Vùngđược cho phép và kiểm soát việc thực hiện các quyền đối với tài nguyên của Vùng Cáchoạt động thăm dò, khai thác tài nguyên trong lòng đất của Vùng chỉ có thể tiến hành
4 International Lă and Diplomacy, Trần Minh, [62] UNCLOS: Biển cả , <https://iuscogens-vie.org/2018/02/17/62/>, truy cập ngày 28/10/2022.
3 LS Lê Minh Trường (2021), Phân tích các nguyên tắc của Luật Biển quốc tế hiện nay ,
<https://luatminhkhue.vn/phan-tich-cac-nguyen-tac-cua-luat-bien-quoc-te-hien-nay.aspx> truy cập ngày 28/10/2022
Trang 8dưới sự quản lý của cơ quan đó Hoạt động ở Vùng được tiến hành vì lợi ích chung củacộng đồng quốc tế với các mục đích hòa bình.
2.1.2 Các căn cứ xây dựng Chế độ pháp lý về vùng ĐQKT ở Việt Nam5
Để xây dựng nên quy chế, chế độ pháp lý cho vùng ĐQKT thì Thứ nhất, phải căn cứvào Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam Thứ hai là Nghị quyết củaQuốc hội phê chuẩn Công ước Luật Biển năm 1982; Nghị quyết Đại hội lần thứ X, Đạihội lần thứ XI của Đảng; các Nghị quyết của Đảng, Chỉ thị của Nhà nước về phát triểnkinh tế biển và đảm bảo an ninh quốc phòng Thứ ba là Các Tuyên bố của Chính phủ vềchế độ và phạm vi các vùng biển Việt Nam bao gồm: Tuyên bố của Chính phủ năm 1977
về vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam, Luật Biên giới quốc gia năm 2003;
và các văn bản pháp luật có liên quan Thứ tư là Tổng kết kinh nghiệm quản lý, bảo vệvùng biển, đảo và quá trình đổi mới việc quản lý, bảo vệ biên giới lãnh thổ quốc gia trongthời gian qua Thứ năm là Công ước Luật Biển năm 1982 của Liên hợp quốc, các điềuước song phương về phân định ranh giới các vùng biển giữa Việt Nam với các nước lánggiềng như Hiệp định năm 1997 về phân định vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa vớiThái Lan, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa với Trung Quốc trong Vịnh Bắc Bộ.Thứ sáu là Tham khảo kinh nghiệm quản lý, bảo vệ vùng biển và luật pháp về biển củacác nước như Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Nga, Mỹ, Úc, Ca-na-đa, Ấn Độ…2.2 Chế độ pháp lý áp dụng cho Vùng Đặc quyền kinh tế
2.2.1 Luật biển quốc tế về vùng đặc quyền kinh tế
Điều 56 Công ước Luật Biển 1982 đã quy định các quốc gia ven biển có các quyềnnhư sau :6
Thứ nhất, các quyền thuộc chủ quyền về thăm dò và khai thác, bảo tồn và quản lý cáctài nguyên thiên nhiên, sinh vật và phi sinh vật, của vùng nước bên trên đáy biển, của đáybiển và lòng đất dưới đáy biển, cũng như về những hoạt động khác nhằm thăm dò và khaithác vùng này vì mục đích kinh tế, như việc sản xuất năng lượng từ nước, hải lưu và gió
Cụ thể, đối với tài nguyên sinh vật, quyền chủ quyền của quốc gia ven biển thể hiện ở nộidung: Tự mình định ra khối lượng tài nguyên sinh vật có thể đánh bắt được (khoản 1 điều61) hay tự mình xác định khả năng khai thác, qua đo xác định lượng cá dư trong vùngĐQKT (khoản 2 điều 62) Ngoài ra, trong trường hợp quốc gia ven biển không khai tháchết lượng cá có thể đánh bắt thì có quyền cho phép các quốc gia khác được tham gia khaithác số dư của khối lượng cho phép đánh bắt thông qua điều ước hoặc các thỏa thuậnkhác (khoản 2 điều 62) 7
7 Trường Đại học Luật Hà Nội (2019), Giáo trình Luật biển quốc tế (tr123), NXB Tư Pháp
6 Khoản 1 Điều 56 Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật biển 1982
5 Giới thiệu Luật Biển Việt Nam 2012, <https://sngv.thuathienhue.gov.vn/?gd=26&cn=308&tc=3070>, truy cập ngày 28/10/2022
Trang 9Thứ hai, quốc gia ven biển có quyền tài phán theo đúng những quy định thích hợpcủa Công ước về việc: (i) Lắp đặt và sử dụng các đảo nhân tạo, các thiết bị và công trình;(ii)Nghiên cứu khoa học về biển; (iii) Bảo vệ và gìn giữ môi trường biển Cụ thể, tại điều
60 UNCLOS quy định quốc gia ven biển có đặc quyền về tiến hành xây dựng, cho phép
và quy định việc xây dựng, khai thác và sử dụng các đảo nhân tạo, thiết bị và công trình;
có quyền thiết lập khu vực an toàn với kích thước, chiều rộng hợp lý; có quyền xử lý đốivới các hành vi vi phạm các quy định mà mình đã ban hành như đình chỉ các hoạt độnglắp đặt, yêu cầu tháo dỡ các đảo nhân tạo, thiết bị, công trình, Ví dụ khi thiết bị, côngtrình của một quốc gia đặt trong vùng đặc quyền kinh tế của quốc gia ven biển bị tàuthuyền của một quốc gia khác đâm vào làm hư hỏng thì thẩm quyền tài phán trong trườnghợp này vẫn thuộc về quốc gia ven biển và quốc gia ven biển có quyền áp dụng các quyđịnh của mình để giải quyết các vấn về liên quan đến vụ đâm va và hậu quả của vụ đâm
va Đối với vấn đề nghiên cứu khoa học biển, thì các quốc gia muốn nghiên cứu khoa họcbiển trong vùng đặc quyền kinh tế phải xin phép và được sự đồng ý của quốc gia venbiển Và quốc gia ven biển có quyền ban hành các quy định, luật lệ để ngăn ngừa, hạnchế ô nhiễm đối với môi trường biển phát sinh từ hoạt động của tàu thuyền, từ các đảonhân tạo, thiết bị, công trình hay bất kì hoạt động nào liên quan đến đáy biển, vùng lòngđất dưới đáy biển thuộc quyền chủ quyền của mình Tàu thuyền nước khác khi có hành vi
vi phạm hay gây thiệt hại trong lĩnh vực này đều thuộc thẩm quyền tài phán của quốc giaven biển 8
Thứ ba, các quyền và các nghĩa vụ khác do Công ước quy định
Bên cạnh quyền thì các quốc gia ven biển cũng có nghĩa vụ thực hiện các biện phápbảo tồn tài nguyên sinh vật biển như xác định sản lượng sinh vật biển có thể được đánhbắt dựa trên các cơ sở khoa học, ban hành các quy định pháp luật về cấp phép đánh bắt
cá, xác định các loài, kích cỡ, thời gian được phép đánh bắt, tiến hành nghiên cứu, đàotạo về nghề cá, đồng thời thành lập cơ quan có trách nhiệm thực thi các biện pháp bảo tồntài nguyên sinh vật biển và hợp tác với các quốc gia và tổ chức quốc tế trong việc bảo tồncác loài cá đặc thù như các loài sinh sống trên vùng biển của nhiều quốc gia, các loài cá
di cư, sinh vật biển có vú, cá biển sinh đẻ tại nước ngọt (điều 61-67 UNCLOS) 9Đối với Các quốc gia khác, Theo quy định tại điều 58 UNCLOS 1982, trong vùngđặc quyền kinh tế, tất cả các quốc gia, dù có biển hay không có biển đều được hưởng baquyền tự do sau :10
Thứ nhất, quyền tự do hàng hải: trong vùng ĐQKT, tàu thuyền của mọi quốc giađược tự do đi lại mà không xin phép quốc gia ven biển Thẩm quyền tài phán đối với tàu
10 Trường Đại học Luật Hà Nội (2019), Giáo trình Luật biển quốc tế (tr 127+128), NXB Tư Pháp
9 TS Phạm Lan Dung (2022), Giáo trình Luật Quốc tế, NXB Thế Giới (tr245)
8 Trường Đại học Luật Hà Nội (2019), Giáo trình Luật biển quốc tế (tr 124+125), NXB Tư Pháp
Trang 10thuyền nước ngoài thuộc về quốc gia mà tàu mang cờ, trừ hai trường hợp: (i) những viphạm liên quan đến các lĩnh vực thuộc quyền chủ quyền và (ii) các lĩnh vực thuộc thẩmquyền tài phán của quốc gia ven biển Hành vi vi phạm của tàu thuyền nước ngoài tronghai trường hợp trên sẽ thuộc thẩm quyền tài phán của quốc gia ven biển.
Thứ hai, quyền tự do hàng không: do vùng trời phía trên vùng ĐQKT là vùng trờiquốc tế nên phương tiện bay của tất cả các quốc gia đều được hưởng quyền tự do hàngkhông mà không phải xin phép quốc gia ven biển, đồng thời thẩm quyền tài phán đối vớiphương tiện bay thuộc về quốc gia mà phương tiện bay đăng ký quốc tịch Tuy nhiên,trong thời gian bay, phương tiện bay nước ngoài vẫn phải tuân thủ các quy định về anninh hàng không cũng như an toàn bay được quy định trong các điều ước quốc tế và cácvăn bản do Tổ chức Hàng không dân dụng quốc tế (ICAO) ban hành
Thứ ba, quyền tự do đặt dây cáp, ống dẫn ngầm: mọi quốc gia có quyền tự do đặt dâycáp, ống dẫn ngầm trong vùng đặc quyền kinh tế mà không phải xin phép quốc gia venbiển, có quyền sửa chữa các dây cáp, ống dẫn ngầm hiện có mà không bị quốc gia venbiển cản trở hay gây trở ngại Ngoài ra, thẩm quyền tài phán đối với các dây cáp, ống dẫnngầm thuộc về quốc gia đặt dây cáp, ống dẫn ngầm này Tuy nhiên, trong quá trình thựchiện quyền này, các quốc gia khác không được làm ảnh hưởng đến việc thực hiện cácquyền của quốc gia ven biển, đặc biệt, phải quan tâm đến việc bảo vệ môi trường.Ngoài các quyền tự do trên, các quốc gia gặp bất lợi về địa lý và không có biển có thểtham gia khai thác lượng cá dư thừa trong vùng đặc quyền kinh tế của quốc gia ven biểnkhi quốc gia này công bố có lượng cá dư thừa trên cơ sở các thoả thuận với quốc gia venbiển và tuân theo các thể thức do quốc gia ven biển quy định Tuy nhiên, quốc gia gặp bấtlợi về mặt địa lý hoặc không có biển không thể chuyển giao quyền đánh bắt cá dư chomột bên thứ ba, đồng thời quyền đánh bắt cá dư sẽ không áp dụng nếu nền kinh tế củaquốc gia ven biển phụ thuộc lớn vào việc khai thác tài nguyên sinh vật biển trong vùngđặc quyền kinh tế (điều 69-71 UNCLOS)11
2.2.2 Chế độ pháp lý của nước CHXHCN Việt Nam đối với Vùng đặc quyền kinh tếTheo điều 15 Luật Biển Việt Nam năm 2012, Vùng đặc quyền kinh tế của nước Cộnghoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là vùng biển tiếp liền và nằm ngoài lãnh hải Việt Nam,hợp với lãnh hải thành một vùng biển có chiều rộng 200 hải lý tính từ đường cơ sở dùng
để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam Vùng đặc quyền kinh tế không phải là lãnh hải vì
nó nằm ngoài vùng lãnh hải và cũng không phải là một phần của biển cả, vì căn cứ theoĐiều 86 Công ước Luật biển 1982 thì biển cả nằm ngoài giới hạn của vùng này
Nhà nước Việt Nam có quyền chủ quyền về việc thăm dò, khai thác, quản lý và bảotồn tài nguyên thuộc vùng nước bên trên đáy biển; về các hoạt động khác nhằm thăm dò
11 TS Phạm Lan Dung (2022), Giáo trình Luật Quốc tế, NXB Thế Giới (tr246)
Trang 11và khai thác vùng này nhằm mục đích kinh tế Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa ViệtNam có quyền tài phán về lắp đặt và sử dụng đảo nhân tạo, thiết bị và công trình trênbiển, nghiên cứu khoa học biển, bảo vệ và giữ gìn môi trường biển 12
Cụ thể, Căn cứ Điều 16 Luật Biển Việt Nam 2012, trong vùng đặc quyền kinh tế, chế
độ pháp lý được thực hiện như sau:
Nhà nước Việt Nam được thực hiện các quyền sau đây Thứ nhất là Quyền chủ quyền
về việc thăm dò, khai thác, quản lý và bảo tồn tài nguyên thuộc vùng nước bên trên đáybiển, đáy biển và lòng đất dưới đáy biển; về các hoạt động khác nhằm thăm dò, khai thácvùng này vì mục đích kinh tế Thứ hai là Quyền tài phán quốc gia về lắp đặt và sử dụngđảo nhân tạo (bao gồm cả quyền tài phán theo các quy định của pháp luật về hải quan,thuế, y tế, an ninh và xuất nhập cảnh); thiết bị và công trình trên biển; nghiên cứu khoahọc biển, bảo vệ và gìn giữ môi trường biển; Ngoài ra còn có các quyền và nghĩa vụkhác phù hợp với pháp luật quốc tế
Đối với Chế độ pháp lý đối với các quốc gia khác trong vùng đặc quyền kinh tế, Nhànước tôn trọng quyền tự do hàng hải, hàng không; quyền đặt dây cáp, ống dẫn ngầm vàhoạt động sử dụng biển hợp pháp của các quốc gia khác trong vùng đặc quyền kinh tế củaViệt Nam theo quy định của Luật Biển Việt Nam 2012 và điều ước quốc tế mà nướcCHXH Việt Nam là thành viên, không làm phương hại đến quyền chủ quyền, quyền tàiphán quốc gia và lợi ích quốc gia trên biển của Việt Nam Việc lắp đặt dây cáp và ốngdẫn ngầm phải có sự chấp thuận bằng văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền củaViệt Nam Đối với các Tổ chức, cá nhân nước ngoài được tham gia thăm dò, sử dụng,khai thác tài nguyên, nghiên cứu khoa học, lắp đặt các thiết bị và công trình trong vùngđặc quyền kinh tế của Việt Nam trên cơ sở các điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xãhội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, hợp đồng được ký kết theo quy định của pháp luậtViệt Nam hoặc được phép của Chính phủ Việt Nam, phù hợp với pháp luật quốc tế cóliên quan Các quyền có liên quan đến đáy biển và lòng đất dưới đáy biển quy định tạiĐiều này được thực hiện theo quy định tại Điều 17 và Điều 18 của Luật này13 Bên cạnh
đó, điều 37 của Luật biển việt Nam cũng quy định các điều cấm trong vùng đặc quyềnkinh tế Việt Nam, cụ thể:
Khi thực hiện quyền tự do hàng hải, tự do hàng không trong vùng đặc quyền kinh tế
và thềm lục địa Việt Nam, tổ chức, cá nhân không được tiến hành các hoạt động sau đây:
1 Đe dọa chủ quyền, quốc phòng, an ninh của Việt Nam;
13 Nguồn Internet: link 2 , Thư Viện Pháp luật, Tham vấn bởi Luật sư Phạm Thanh Hữu, Vùng đặc quyền kinh tế là gì? Chế độ pháp lý của vùng đặc quyền kinh tế, truy cập ngày 30/11/2022.
12 Nguồn Internet: link 1 , Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam, Tuyên bố của Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam
về lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của VN ngày 12-5-1977, truy cập ngày 30/11/2022.