1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đề tài mối quan hệ biện chứng giữa “cái chung” và “cái riêng” với nhu cầu “bình thường hoá” của con người trong đại dịch covid 19

15 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đề tài mối quan hệ biện chứng giữa “cái chung” và “cái riêng” với nhu cầu “bình thường hoá” của con người trong đại dịch covid 19
Người hướng dẫn TS. Hà Thị Dáng Hương
Trường học Học viện Ngoại Giao
Chuyên ngành Triết học
Thể loại Tiểu luận cuối kỳ
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 600,81 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

HỌC VIỆN NGOẠI GIAO KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ TIỂU LUẬN CUỐI KỲ MÔN TRIẾT HỌC MÁC LÊ NIN BÀI THI HẾT HỌC PHẦN ĐỀ TÀI MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA “CÁI CHUNG” VÀ “CÁI RIÊNG” VỚI NHU CẦU “BÌNH THƯỜNG HOÁ” C[.]

Trang 1

HỌC VIỆN NGOẠI GIAO

KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

-TIỂU LUẬN CUỐI KỲ

MÔN TRIẾT HỌC MÁC - LÊ-NIN

BÀI THI HẾT HỌC PHẦN

ĐỀ TÀI: MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA “CÁI CHUNG” VÀ “CÁI RIÊNG” VỚI NHU CẦU “BÌNH THƯỜNG HOÁ” CỦA CON NGƯỜI TRONG ĐẠI DỊCH

COVID-19

Giáo viên hướng dẫn : TS Hà Thị Dáng Hương Sinh viên thực hiện : Nguyễn Huy Hoàng

Mã sinh viên : QHQT48A1-0924

Lớp : QHQT48A1

Hà Nội – 2021

Trang 2

MỤC LỤC

1 Cơ sở lý luận chung dưới góc độ triết học 5

1.3 Mối quan hệ biện chứng giữa “cái riêng” và “cái chung” và “cái đơn nhất” 5

2 Vận dụng cặp phạm trù “cái chung” - “cái riêng” nhằm phân tích nhu cầu

“bình thường hoá” của người dân trong đại dịch COVID-19 7

2.2 Phân tích nhu cầu “bình thường hoá” dưới góc nhìn triết học 7 2.3 Mối quan hệ biện chứng giữa “cái chung” và “cái riêng” trong nhu cầu “bình

2.4 Hệ quả của nhu cầu “bình thường hoá” và phương hướng giải quyết 10

3.2 Cần nghiên cứu cải biến “cái chung” khi áp dụng “cái chung” vào từng trường

3.3 Không được lảng tránh giải quyết những vấn đề chung khi giải quyết những vấn

3.4 Khi cần thiết, cần tạo điều kiện cho “cái đơn nhất” biến thành “cái chung” và

Trang 3

ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong suốt quá trình hoạt động và lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn coi trọng vai trò của quần chúng nhân dân đối với sự nghiệp cách mạng Đảng coi việc củng cố

và tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân là nhiệm vụ rất quan trọng, bảo đảm vững chắc sự lãnh đạo toàn diện của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.1

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiếp thu và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin hình thành nên tư tưởng độc đáo về dân vận, phát huy vai trò của quần chúng nhân dân trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng Dân

là gốc của nước, là cơ sở của mọi thắng lợi, là lực lượng tạo ra mọi của cải vật chất, tinh thần Người cho rằng: “Nước lấy dân làm gốc”, “Gốc có vững cây mới bền Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân” Do đó, chúng ta phải khẳng định rằng con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của phát triển xã hội

Đặt mỗi cá nhân vào mối quan hệ giữa gia đình, nhà trường và xã hội ta lại càng thấy tầm quan trọng giữa mối liên hệ chung – riêng Theo quan điểm triết học Mác – Lênin: “Cái riêng xuất hiện chỉ tồn tại được trong một khoảng thời gian nhất định và khi nó mất đi sẽ không bao giờ xuất hiện lại, cái riêng là cái không lặp lại Cái chung tồn tại trong nhiều cái riêng, khi một cái riêng nào đó mất đi thì những cái chung tồn tại ở cái riêng ấy sẽ không mất đi, mà nó vẫn còn tồn tại ở nhiều cái riêng khác”

Trong thời kỳ đại dịch COVID-19, việc phong tỏa và thực hiện chỉ thị “ở nhà an toàn” là vô cùng cần thiết và cấp bách nhằm ngăn chặn lây lan dịch bệnh, đảm bảo an toàn sức khỏe cho người dân Bên cạnh đó, Đảng và Nhà nước cũng đồng thời quan tâm tới nhu cầu “bình thường hoá” của người dân, tránh tâm lý “tù

túng” để có thể đưa ra những chính sách mở cửa kịp thời Qua việc vận dụng cặp phạm trù triết học “cái chung - cái riêng” và mối quan hệ biện chứng giữa chúng để làm rõ nhu cầu “bình thường hoá” của con người trong đại dịch COVID-19, ta có thể rút ra ý nghĩa phương pháp luận cho bản thân.

1 Theo ông Nguyễn Hồng Lĩnh - Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng Ban Dân vận Trung ương tại

bài báo “Phát huy vai trò của nhân dân tham gia xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo tư tưởng Hồ Chí

Minh trong giai đoạn mới” - Tạp chí Cộng Sản.

3

Trang 4

NỘI DUNG

1 Cơ sở lý luận chung dưới góc độ triết học

1.1 Khái niệm về “phương pháp luận”

Phương pháp là một hệ thống những nguyên tắc được rút ra từ các quy luật khách quan, thường dùng để điều chỉnh các hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn nhằm thực hiện mục tiêu đã định sẵn

1.2 Cặp phạm trù “cái chung” - “cái riêng” và “cái đơn nhất”

“Cái riêng” là phạm trù được dùng để chỉ một sự vật, một hiện tượng,

một quá trình riêng lẻ nhất định

Ví dụ: 01 quả bưởi đang ở trong tủ lạnh là cái riêng A; 01 quả bưởi ở trên bàn là cái riêng B Cái riêng A khác với cái riêng B

“Cái chung” là phạm trù được dùng để chỉ những mặt, những thuộc tính

chung không những có một kết cấu vật chất nhất định, mà còn được lặp lại trong nhiều sự vật, hiện tượng hay quá trình riêng lẻ khác

Ví dụ: Giữa 02 quả bưởi A và B nêu trên có thuộc tính chung là đều có cùi dày, nhiều múi, mỗi múi có rất nhiều tép Cái chung này được lặp lại ở bất

kỳ quả bưởi nào khác (Quả quýt khá giống quả bưởi nhưng lại có cùi mỏng

và có khối lượng nhẹ hơn quả bưởi)

“Cái đơn nhất” là phạm trù được dùng để chỉ những nét, những mặt,

những thuộc tính… chỉ có ở một kết cấu vật chất nhất định và không được lặp lại ở bất cứ một kết cấu vật chất nào khác

Ví dụ: Đỉnh núi Everest cao nhất thế giới với độ cao 8.850 mét Độ cao 8.850 mét của Everest là cái đơn nhất vì không có một đỉnh núi nào khác có

độ cao này

1.3 Mối quan hệ biện chứng giữa “cái riêng” và “cái chung” và “cái đơn nhất”

1.3.1 “Cái chung” chỉ tồn tại trong “cái riêng”, thông qua “cái riêng”

“Cái chung” không tồn tại biệt lập, tách rời “cái riêng” mà chỉ tồn tại trong “cái riêng” Ví dụ: Cùi dày, nhiều múi, rất nhiều tép là cái chung giữa các quả bưởi

Rõ ràng, cùi, múi, tép ở đây (cái chung) chỉ và phải tồn tại trong một quả bưởi nhất định (cái riêng)

Trang 5

1.3.2 “Cái riêng” chỉ tồn tại trong mối liên hệ đưa đến “cái chung”

Điều này có nghĩa “cái riêng” tồn tại độc lập, nhưng sự độc lập này không có nghĩa là cô lập với những cái khác Thông qua hàng ngàn mối liên hệ, hàng ngàn

sự chuyển hóa, “cái riêng” của loại này có liên hệ với những “cái riêng” của loại khác

Bất cứ “cái riêng” nào cũng tồn tại trong một môi trường, hoàn cảnh nhất định, tương tác với môi trường, hoàn cảnh ấy, do đó đều tham gia vào các mối liên hệ qua lại hết sức đa dạng với các sự vật, hiện tượng khác xung quan mình Các mối liên hệ qua lại này cứ trải rộng dần, gặp gỡ rồi giao thoa với các mối liên hệ qua lại khác, kết quả là tạo nên một mạng lưới các mối liên hệ mới, trong đó có những mối liên hệ dẫn đến một hoặc một số “cái chung” nào đó

Bất cứ “cái riêng” nào cũng không tồn tại mãi mãi Mỗi “cái riêng” sau khi xuất hiện đều tồn tại trong một khoảng thời gian nhất định rồi biến thành một “cái riêng” khác “Cái riêng” khác này lại biến thành “cái riêng” khác thứ ba…v.v., cứ như vậy đến vô cùng tận Kết quả của sự biến hóa vô cùng tận này là tất cả “cái riêng” đều có liên hệ với nhau

Thậm chí, có những cái tưởng chừng như hết sức xa lạ, hoàn toàn không dính dáng gì đến nhau, nhưng qua hàng ngàn mối liên hệ, hàng ngàn sự chuyển hóa, ta vẫn thấy chúng liên quan nhau

1.3.3 “Cái chung” là một bộ phận của “cái riêng”, còn “cái riêng” không gia nhập hết vào “cái chung”

Do “cái chung” được rút ra từ “cái riêng”, nên rõ ràng nó là một bộ phận của “cái riêng” Mặt khác, bên cạnh những thuộc tính (cái chung) được lặp lại ở các sự vật khác, bất cứ “cái riêng” nào cũng còn chứa đựng những đặc điểm, thuộc tính mà chỉ “cái riêng” đó mới có Tức là, bất cứ “cái riêng” nào cũng chứa đựng những

“cái đơn nhất”

1.3.4 “Cái đơn nhất” có thể biến thành “cái chung” và ngược lại

Sự chuyển hóa “cái đơn nhất” biến thành “cái chung” và “cái chung” biến thành

“cái đơn nhất” sẽ xảy ra trong quá trình phát triển khách quan của sự vật, trong những điều kiện nhất định Sở dĩ như vậy là do trong hiện thực, cái mới không bao giờ xuất hiện đầy đủ ngay một lúc, mà lúc đầu xuất hiện dưới dạng “cái đơn

5

Trang 6

nhất”, cái cá biệt Nhưng theo quy luật, cái mới nhất định sẽ phát triển mạnh lên, ngày càng hoàn thiện, tiến tới hoàn toàn thay thế cái cũ và trở thành “cái chung” Ngược lại, “cái cũ” ngày càng mất dần đi Từ chỗ là “cái chung”, cái cũ biến dần thành “cái đơn nhất”

2 Vận dụng cặp phạm trù “cái chung” - “cái riêng” nhằm phân tích nhu cầu “bình thường hoá” của người dân trong đại dịch COVID-19 2.1 Một số khái niệm

2.1.1 COVID-19

COVID-19 (bệnh vi-rút Corona 2019) là một bệnh do vi-rút có tên SARS-CoV-2 gây ra và được phát hiện vào tháng 12 năm 2019 ở Vũ Hán, Trung Quốc Căn bệnh này rất dễ lây lan và đã nhanh chóng lan ra khắp thế giới.2

COVID-19 thường gây ra các triệu chứng hô hấp, có thể cảm thấy giống như cảm lạnh, cúm hoặc viêm phổi COVID-19 có thể tấn công không chỉ phổi và hệ hô hấp

2.1.2 Nhu cầu “bình thường hoá”

Nhu cầu “bình thường hoá” là nhu cầu tất yếu của con người, mong muốn được quay trở lại cuộc sống sinh hoạt bình thường Nhu cầu “bình thường hoá” thường

đa dạng với các khía cạnh chính như giải trí, thể dục thể thao, mua sắm, Trong thời kỳ phong tỏa bởi đại dịch COVID-19, nhu cầu “bình thường hoá” của con người xoay quanh việc được ra khỏi nhà thay vì cách ly tại nhà trong thời gian dài

2.2 Phân tích nhu cầu “bình thường hoá” dưới góc nhìn triết học 2.2.1 Nhu cầu là “cái riêng”, “cái đơn nhất”

Đối với từng cá nhân, nhu cầu “bình thường hoá” của họ trong thời kỳ dịch bệnh

là khác nhau Có người muốn ra khỏi nhà vì stress và sang chấn tâm lý trong suốt thời gian dài cách ly tại nhà COVID-19 dài đằng đẵng suốt 2 năm qua, mỗi ngày chúng ta đều thấy tràn ngập những con số đong đếm được như: Ca mắc, ca nặng, rồi tử vong, số người khỏi bệnh… Nhưng còn một thứ vô hình - những hậu quả gián tiếp của đại dịch thì không thể thống kê Đó là stress, là những sang chấn tâm lý nặng nề, kéo dài, gây ra nhiều rối loạn tâm thần

Một số cá nhân khác mang thiên hướng ngoại, không thể chịu được cảm giác

“quanh quẩn” trong nhà mà không được giao tiếp trực tiếp, đi dạo mát, “Tôi ra

2 Theo Trang thông tin Trung tâm kiểm soát bệnh tật - CDC

Trang 7

Recommandé pour toi

Best memo - Best memo of 2018

Practical-Statistics-for-Data-Scientists -50-Essential-Concepts-PDFDrive

Suite du document ci-dessous

62

90

Trang 8

ngoài vì cùng một lý do mà con người thời Pleistocen đã làm: không khí, thức ăn

và bệnh sốt hang động Nhưng tôi cũng không bắt đầu dạo quanh khu phố của mình để không gặp gỡ mọi người Tôi hiểu sự cần thiết và xa xỉ của việc làm việc tại nhà, nhưng tôi sợ hãi sự buồn tẻ Chỉ có rất nhiều nơi mới để thiết lập máy tính của bạn trước khi bạn cảm thấy đủ chán để bắt đầu nói chuyện với Roomba Tôi cần tìm con người Không chỉ những khuôn mặt trên màn hình.” - Belinda

Luscombe - Tổng biên tập thời báo Times cho hay.3

Phụ thuộc vào từng khía cạnh (giải trí, thể dục thể thao, mua sắm, ), tính cách

(hướng nội, hướng ngoại, ) hay tính chất công việc (thiên về làm việc văn phòng hay giao tiếp), mà mỗi người có những nhu cầu “bình thường hoá” riêng trong

thời kỳ đại dịch COVID-19 Đây chính là “cái riêng” trong cặp phạm trù triết học

“cái chung” - “cái riêng” Với một số nhu cầu mang tính “cá biệt” - chỉ một người

có, ví dụ như việc ra ngoài để được thăm bố mẹ gặp bệnh nan y cách gia đình 100 cây số, được gọi là “cái đơn nhất”

2.2.2 Nhu cầu là “cái chung”

Mặc dù nhu cầu “bình thường hoá” của mỗi cá nhân trong đại dịch COVID-19 là khác nhau và riêng biệt, song chúng đều có những điểm chung Nhu cầu của tất

cả mọi người đều mang mục đích chung là được ra ngoài, thoát khỏi cuộc sống tù túng trong thời gian cách ly tại nhà và được quay trở lại cuộc sống bình thường trước khi COVID-19 xảy đến Điểm chung của những nhu cầu này dưới góc nhìn triết học được gọi là “cái chung” - tất cả các nhu cầu đều có một mục đích khái quát chung duy nhất

2.3 Mối quan hệ biện chứng giữa “cái chung” và “cái riêng” trong nhu cầu “bình thường hoá”

2.3.1 “Nhu cầu chung” chỉ tồn tại trong “nhu cầu riêng”, thông qua “nhu cầu riêng”

Nhu cầu “bình thường hoá” của mỗi cá nhân đều có mục đích chung, có thể gọi là

“nhu cầu chung” và nó không tồn tại biệt lập, tách rời “nhu cầu riêng” mà chỉ tồn tại trong “nhu cầu riêng”

Trong nhu cầu “bình thường hoá”, nhu cầu được sinh hoạt trở lại bình thường chính là nhu cầu chung của mọi người, tất cả đều phải tồn tại trong nhu cầu riêng

3 The Pandemic Has Been Tough for Extroverts Here's How I Managed to Make Friends Anyway

(https://time.com/5956471/extrovert-pandemic/)

Trang 9

của từng người về việc muốn được ra ngoài để phục vụ mục đích riêng giải trí, mua sắm, thể dục thể thao,

2.3.2 “Nhu cầu riêng” chỉ tồn tại trong mối liên hệ đưa đến “nhu cầu chung”

Những “nhu cầu riêng” đều có tính độc lập, nhưng chúng không cô lập mà đều liên hệ với nhau Sự liên hệ ấy qua nhiều sự chuyển hóa và các mối liên hệ để dẫn đến “nhu cầu chung”

Mỗi người dân đều có những nhu cầu riêng trong đại dịch, người muốn đi ra ngoài để thoát khỏi cảnh tù túng, người muốn đi mua sắm tích trữ lương thực, người muốn được giải trí, Tất cả những nhu cầu đó đều liên hệ với nhau qua mong muốn được “bình thường hoá” cuộc sống và quay trở lại sinh hoạt như trước đây - mối liên hệ đó đã dẫn những “nhu cầu riêng” đến “nhu cầu chung”

2.3.3 “Nhu cầu chung” là một bộ phận của “nhu cầu riêng”, còn

“nhu cầu riêng” không gia nhập hết vào “nhu cầu chung”

Do “nhu cầu chung” được rút ra từ mối liên hệ của “nhu cầu riêng”, nên nó là một bộ phận của “nhu cầu riêng” Mặt khác, bên cạnh “nhu cầu chung” về việc được bình thường hoá cuộc sống, bất cứ “nhu cầu riêng” nào cũng còn chứa đựng những mục đích riêng và chủ ý mà chỉ “nhu cầu riêng” đó mới có Tức là, bất cứ

“nhu cầu riêng” nào cũng chứa đựng những điểm riêng biệt (cái đơn nhất) Có thể mọi người đều muốn quay lại cuộc sống, nhưng có người muốn quay lại để đi làm, một số người khác lại mong muốn được quay trở lại các hoạt động học tập, vui chơi, giải trí,

2.3.4 “Nhu cầu cá biệt” có thể biến thành “nhu cầu chung” và ngược lại

Sự chuyển hóa “cái đơn nhất” biến thành “cái chung” và “cái chung” biến thành

“cái đơn nhất” sẽ xảy ra trong quá trình phát triển khách quan của sự vật, trong những điều kiện nhất định.4

Những nhu cầu “bình thường hoá” không xuất hiện từ đầu mà chúng chỉ xảy ra trong thời kỳ đại dịch COVID-19 Những nhu cầu xoay quanh các mục đích cá nhân, hay nói cách khác là xuất hiện dưới dạng “cái đơn nhất” Những nhu cầu ấy theo xu thế của thời đại, trong bối cảnh đại dịch dần được đẩy lên cao và liên hệ

4 Giáo trình Triết học Mác - Lê-nin, Bộ Giáo dục và Đào tạo.

8

Trang 10

với các nhu cầu khác, trở thành “nhu cầu chung” của hầu hết người dân - đó là

“bình thường hoá”

2.4 Hệ quả của nhu cầu “bình thường hoá” và phương hướng giải quyết

2.4.1 Hệ quả

Được sống bình thường là nhu cầu và mong muốn của hầu hết người dân, song vì tình hình dịch bệnh căng thẳng nên việc ở nhà là vô cùng cần thiết Nhu cầu “bình thường hoá” của người dân là tất yếu nhưng nó cũng gây nên những hệ quả khó lường nếu nhu cầu đó không gắn liền với ý thức Nhiều trường hợp ở nhà lâu ngày thấy gò bó nên ra ngoài, tìm cách trốn các chốt kiểm dịch để tập thể dục, đi chơi, tụ tập bạn bè ăn nhậu Bên cạnh đó, nhiều cơ sở kinh doanh mặt hàng không thiết yếu cũng bị xử phạt do cố tình hoạt động trái quy định giãn cách xã hội theo Chỉ thị 16 của Thủ tướng Chính phủ 5

Điển hình là bệnh nhân COVID-19 số 2899 ở Hà Nam vi phạm cách ly tại nhà gây hậu quả nghiêm trọng trong xã hội, làm số ca nhiễm COVID-19 trong cộng đồng tăng mạnh và diễn biến phức tạp

Trong tình hình dịch bệnh căng thẳng, nếu không có ý thức bảo vệ bản thân và những người xung quanh mà chỉ chạy theo nhu cầu thì rất dễ gây nên những hậu quả vô cùng nghiêm trọng và ảnh hưởng tới sự phát triển của xã hội

2.4.2 Phương hướng giải quyết

Nhằm đảm bảo sức khỏe cho người dân, nhà Nước luôn đưa ra chính sách và chỉ thị kịp thời Sở Tư pháp Hà Nội ban hành Văn bản 1996/STP-PBGDPL về tuyên truyền một số quy định người dân cần tuân thủ trong thời gian thực hiện giãn cách xã hội và mức xử phạt vi phạm pháp luật trong phòng, chống dịch Covid-19 Theo Khoản 5 Điều 4; Điểm a Khoản 3 Điều 12 Nghị định 117/2020/NĐ-CP:

“Hành vi không thực hiện quyết định áp dụng biện pháp tạm đình chỉ hoạt động của cơ sở dịch vụ ăn uống công cộng có nguy cơ làm lây truyền bệnh dịch tại vùng có dịch” sẽ bị phạt tiền tối đa 20 triệu đồng với cá nhân, 40 triệu đồng với

tổ chức

Theo Khoản 5 Điều 4; Điểm c Khoản 3 Điều 12 Nghị định 117/2020/NĐ-CP:

“Hành vi không thực hiện quyết định áp dụng biện pháp hạn chế tập trung đông người hoặc tạm đình chỉ hoạt động kinh doanh, dịch vụ tại nơi công cộng để

5 “Xử phạt - câu chuyện về ý thức và nguy cơ!”, Báo điện tử Đảng Cộng Sản Việt Nam.

Ngày đăng: 29/05/2023, 09:36

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w