BỘ NGOẠI GIAO HỌC VIỆN NGOẠI GIAO BÀI LUẬN CUỐI KÌ BỘ MÔN TRIẾT HỌC MÁC LENIN ĐỀ TÀI Trình bày nội dung mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, từ đó phân tích[.]
Trang 1BỘ NGOẠI GIAO HỌC VIỆN NGOẠI GIAO -
-BÀI LUẬN CUỐI KÌ
BỘ MÔN: TRIẾT HỌC MÁC-LENIN
ĐỀ TÀI Trình bày nội dung mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, từ đó phân tích việc phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là sự thể hiện quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ của lực lượng
sản xuất
Sinh viên thực hiện: Hà Thị Ánh Tuyết
Lớp: LQT48A1
Trang 2Mục lục
1 ĐẶT VẤN ĐỀ
2 NỘI DUNG
I Cơ sở lí luận
1 Khái niệm lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất
1.1 Khái niệm lực lượng sản xuất
1.2.Khái niệm quan hệ sản xuất
2 Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất
2.1 Tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất:
2.1.1 Tính chất
2.1.2 Trình độ
2.2 Quy luật về quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất:
II Phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là sự thể hiện quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất
3 KẾT LUẬN
4 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 3
ĐẶT VẤN ĐỀ Cùng với sự hình thành, phát triển lâu đời mà nền văn minh nhân loại ngày càng lớn mạnh, song song cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất Do vậy
mà việc nghiên cứu quy luật vận đồng này và những vấn đề xoay quanh phạm trù này là một vấn đề rất quan trọng Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là một quy luật phổ biến và có tác động mạnh mẽ đến cuộc sống của con người Quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất có mối quan
hệ thống nhất và chặt chẽ Đó là quan hệ tương tác giữa hai bộ phận cấu thành trong một chỉnh thể của phương thức sản xuất Trong đó, lực lượng sản xuất là nội dung vật chất còn quan hệ sản xuất là hình thái xã hội của sự tồn tại, phát triển của phương thức sản xuất Quy luật này là điều kiện tất yếu cho sự phát triển của kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Xuất phát từ ý nghĩa và nội dung trên,
em xin phép được lựa chọn đề tài: “Trình bày nội dung mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, từ đó phân tích việc phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là sự thể hiện quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất ” làm bài tiểu luận
NỘI DUNG
I Cơ sở lý luận
1 Khái niệm lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất
1.1 Khái niệm lực lượng sản xuất
Để tiến hành sản xuất thì con người phải dùng các yếu tố vật chất và kỹ thuật nhất định Tổng thể các nhân tố đó là lực lượng sản xuất Lực lượng sản xuất biểu
Trang 4hiện mối quan hệ giữa con người với tự nhiên Nghĩa là trong quá trình thực hiện sản xuất xã hội con người chinh phục tự nhiên bằng các sức mạnh hiện thực của mình sức mạnh đó được chủ nghĩa duy vật lịch sử khái quát trong khái niệm lực lượng sản xuất Trình độ lực lượng sản xuất biểu hiện trình độ chinh phục tự nhiên của con người Lực lượng sản xuất nói lên năng lực thực tế của con người trong quá trình sản xuất tạo nên của cải cho xã hội đảm bảo sự phát triển của con người
Lực lượng sản xuất bao gồm người lao động và kỹ năng lao động và tư liệu sản xuất Trong quá trình sản xuất công cụ lao động tác động vào đối tượng lao động để tạo ra của cải vật chất thì tư liệu lao động được hoàn thiện nhằm đạt được năng suất lao động cao Còn trong tư liệu lao động tức là tất cả các yếu tố vật chất
mà con người sử dụng để tác động vào đối tượng lao động thì công cụ lao động là yếu tố quan trọng nhất linh hoạt nhất Bởi vậy khi công cụ lao động đã đạt đến trình
độ tin học hoá được tự động hoá thì vai trò của nó lại càng quan trọng Trình độ phát triển công cụ lao động là thước đo trình độ chinh phục tự nhiên của con người
Có thể coi yếu tố quan trọng nhất trong lực lượng sản xuất chính là con người Trong thời đại ngày nay khoa học đã phát triển tới mức trở thành nguyên nhân trực tiếp của nhiều biến đổi to lớn trong sản xuất và đời sống nó đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, vừa là ngành sản xuất riêng vừa thâm nhập vào các yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất đem lại thay đổi về chất cho lực lượng sản xuất
Như vậy, khoa học và công nghệ hiện đại chính là đặc điểm thời đại của sản xuất nó hoàn toàn có thể coi là đặc trưng cho lực lượng sản xuất hiện đại
1.2 Khái niệm quan hệ sản xuất
Có thể thấy để tiến hành quá trình sản xuất, nhất định con người phải có mối quan hệ với nhau Tổng thể những mối quan hệ này gọi là quan hệ sản xuất Nói cách khác quan hệ sản xuất là quan hệ giữa người với người trong sản xuất
Trang 5Trong đời sống xã hội của mình con người dù muốn hay không cũng buộc phải duy trì những quan hệ nhất định với nhau để trao đổi hoạt động sản xuất cũng như kết quả lao động những quan hệ sản xuất này mang tính tất yếu Như vậy quan
hệ sản xuất do con người tạo ra song nó được hình thành một cách khách quan không phụ thuộc vào ý muốn của bất kỳ ai Việc phải thiết lập các mối quan hệ trong sản xuất tự nó đã là vấn đề có tính quy luật tất yếu, khách quan của sự vận động xã hội Quan hệ sản xuất là hình thức xã hội của lực lượng sản xuất và là cơ
sở của đời sống xã hội
Quan hệ sản xuất gồm 3 mặt:
Thứ nhất, quan hệ sở hữu về tư liêu sản xuất tức là quan hệ giữa người với tư liệu sản xuất Tính chất của quan hệ sản xuất trước hết được quy định bởi quan hệ
sở hữu đối với tư liệu sản xuất – Biểu hiện thành chế độ sở hữu trong hệ thống các quan hệ sản xuất thì quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất có vai trò quyết định đối với các quan hệ xã hội khác
Thứ hai, quan hệ tổ chức và quản lý kinh doanh sản xuất: Tức là quan hệ giưã người với người trong sản xuất và trong trao đổi vật chất của cải Trong hệ thống các quan hệ sản xuất các quan hệ về mặt tổ chức quản lý sản xuất là các quan
hệ có khả năng quyết định một cách quy mô tốc độ hiệu quả và xu hướng mỗi nền sản xuất cụ thể đi ngược lại các quan hệ quản lý và tổ chức có thể làm biến dạng quan hệ sở hữu ảnh hưởng tiêu cực đến kinh tế xã hội
Thứ ba, quan hệ phân phối sản xuất sản phẩm: tức là quan hệ chặt chẽ với nhau cùng mục tiêu chung là sử dụng hợp lý và có hiệu qủa tư liệu sản xuất để làm cho chúng không ngừng được tăng trưởng, thúc đẩy tái sản xuất mở rộng nâng cao phúc lợi cho người lao động Bên cạnh các quan hệ về mặt tổ chức quản lý, trong
hệ thống quan hệ sản xuất, các quan hệ về mặt phân phối sản phẩm lao động cũng
Trang 6là những nhân tố có ý nghĩa hết sức to lớn đối với sự vận động của toàn bộ nền kinh tế Quan hệ phân phối có thể thúc đẩy tốc độ và nhịp điệu của sản xuất nhưng ngược lại nó có khả năng kìm hãm sản xuất kìm hám sự phát triển của xã hội Mặt khác trong mỗi hình thái kinh tế xã hội nhất định quan hệ sản xuất thống trị bao giờ cũng giữ vai trò chi phối các quan hệ sản xuất khác, ít nhiều cải biến chúng để chẳng những chúng không đối lập mà phục vụ đắc lực cho sự tồn tại và phát triển của kinh tế xã hội mới
2 Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất
2.1 Tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất:
2.1.1 Tính chất:
Tính chất của lực lượng sản xuất là tính chất của tư liệu sản xuất và lao động Khi nền sản xuất được thực hiện với những công cụ ở trình độ phổ thông, lực lượng sản xuất chủ yếu mang tính chất cá nhân Khi trình độ sản xuất đạt tới trình độ cơ khí hoá, lực lượng sản xuất đòi hỏi phải được vận động cho sự hợp tác xã hội rộng rãi trên cơ sở chuyên môn hoá Tính chất tự cấp tự túc cô lập của nền sản xuất nhỏ lúc đó phải được thay thế bởi tính chất xã hội hoá
2.1.2 Trình độ
Trình độ của lực lượng sản xuất: Lực lượng sản xuất là yếu tố có tác dụng quyết định đối với sự phát triển của phương thức sản xuất: Trình độ của lực lượng sản xuất trong từng giai đoạn của lịch sử loài người thể hiện trình độ chinh phục tự nhiên của loài người trong giai đoạn đó Khái niệm trình độ của lực lượng sản xuất nói lên khả năng của con người thông qua việc sử dụng công cụ lao động thực hiện quá trình cải biến tự nhiên nhằm đảm bảo cho sự sinh tồn và phát triển của mình
Trang 7Trình độ lực lượng sản xuất thể hiện ở: Trình độ công cụ lao động, trình độ quản lý
xã hội trình độ ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, kinh nghiệm và kỹ năng của con người và trình độ phân công lao động Trên thực tế tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất không tách biệt nhau
2.2 Quy luật về quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất:
Quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất là hai mặt của phương thức sản xuất,
sự tác động lẫn nhau giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất biểu hiên mối quan hệ mang tính chất biện chứng Chính sự thống nhất và tác động giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất đã hình thành nên quy luật về sự phù hợp giữa quan
hệ sản xuất với tính chất và trìng độ phát triển của lực lượng sản xuất Do đó lực lượng sản xuất là nhân tố thường xuyên biến đổi và phát triển Ngược lại quan hệ sản xuất thường có tính ổn định trong một thời gian dài
Có thể thấy sự biến đội của lực lượng sản xuất có nhiều nguyên nhân:
- Bản thân người lao động thì những kỹ năng và kinh nghiệm không ngừng tích luỹ và tăng lên
- Bản thân tri thức khoa học trí thức công nghệ trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp
- Sự ổn định của quan hệ sản xuất là nhu cầu khách quan để có thể sản xuất được
Chính vì vậy mà sự phát triển của lực lượng sản xuất đến một giới hạn nhất định sẽ đặt ra nhu cầu xoá bỏ quan hệ sản xuất cũ và hiện có Việc xoá bỏ quan hệ sản xuất cũ thay nó bằng một quan hệ sản xuất mới cũng có nghĩa là diệt vong cả một phương thức sản xuất lỗi thời và sự ra đời của một phương thức sản xuất mới Những quan hệ sản xuất cũ và hiện có từ chỗ là hình thức kinh tế cần thiết để đảm bảo duy trì khai thác, phát triển của lực lượng sản xuất giờ đây trở thành những
Trang 8hình thức kìm hãm sự phát triển đó Đó cũng chính là nội dung quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển nhất định của lực lượng sản xuất Thực tiễn cho thấy rằng lực lượng sản xuất chỉ có thể phát triển khi có một quan hệ sản xuất hợp lý đồng bộ phù hợp với nó Quan hệ sản xuất lạc hậu hơn hoặc tiên tiến hơn một cách giả tạo cũng sẽ kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất Khi mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất đã bộc lộ gay gắt đòi hỏi phải giải quyết nhưng còn lực lượng sản xuất người không phát hiện được cũng như mâu thuẫn được phát hiện mà không giải quyết được hoặc giải quyết một cách sai lầm thì tác dụng kìm hãm của quan hệ sản xuất sẽ trở thành nhân tố phá hoại đối với lực lượng sản xuất
Chủ nghĩa duy vật lịch sử đã chứng minh vai trò quyết định của lực lượng sản xuất đối với quan hệ sản xuất song nó cũng chỉ rõ rằng quan hệ sản xuất bao giờ cũng thể hiện tính độc lập tương đối với lực lượng sản xuất Quan hệ sản xuất tác động trở lại lực lượng sản xuất, nó là yếu tố quyết định, là tiền đề cho lực lượng sản xuất phát triển khi nó phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Làm nhiệm vụ chỉ ra mục tiêu bước đi và tạo quy mô thích hợp cho lực lượng sản xuất hoạt động, cũng như đảm bảo lợi ích chính đáng cho người lao động phát huy tính tích cực sáng tạo cho con người là nhân tố quan trọng và quyết định trong lực lượng sản xuất
Như vậy, quan hệ sản xuất có thể tác động mạnh mẽ trở lại đối với lực lượng sản xuất vì nó quyết định mục đích sản xuất, quy định hệ thống quản lý sản xuất và quản lý xã hội quy định phân phối và phần của cải ít hay nhiều mà người lao động được hưởng Do đó nó tạo ra những điều kiện hoặc kích thích hoặc hạn chế sự phát triển của công cụ sản xuất áp dụng thành tựu khoa học và sản xuất hợp tác phân công lao động
Trang 9II Phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là
sự thể hiện quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất.1
Có thể thấy, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là sự thể hiện quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Và đó là quy luật cơ bản nhất chi phối sự vận động, phát triển của các phương thức sản xuất và các hình thái kinh tế – xã hội trong lịch sử Đảng
ta đã vận dụng đúng đắn, sáng tạo quy luật này phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta
Với mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung, nền kinh tế nước ta đã đạt nhiều thành tựu, đáp ứng yêu cầu của giai đoạn chiến tranh, bảo vệ nền độc lập dân tộc, thống nhất đất nước Tuy nhiên, sau khi thống nhất đất nước, cả nước đi lên CNXH, mô hình kinh tế này đã bộc lộ nhiều hạn chế Đảng Cộng sản Việt Nam đã vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn nước ta, quyết tâm từ bỏ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp để chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN
Ở Việt Nam, mặc dù đã có quan điểm manh nha về kinh tế thị trường từ Đại hội VI khi xác định xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, tuy nhiên đến Đại hội IX, thuật ngữ “phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN” mới chính thức được sử dụng trong Văn kiện của Đảng
Đến Đại hội X của Đảng (2006), 5 thành phần kinh tế gồm: kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân, kinh tế tư bản nhà nước và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được xác lập trong nền kinh tế nước ta Vị trí, vai trò của từng thành phần kinh tế trong nền kinh tế quốc dân đã được nhận thức rõ ràng và xác định cụ thể.2
1 https://tapchitaichinh.vn/nghien-cuu-trao-doi/van-dung-chu-nghia-mac-lenin-trong-phat-trien-nen-kinh-te-thi-truong-dinh-huong-xhcn-o-viet-nam-321923.html
Trang 10Đến Đại hội XI của Đảng (2011) đã phát triển và hoàn thiện thêm một bước đặc trưng kinh tế của CNXH, trong đó Đảng ta xác định:3 “Nền kinh tế với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, hình thức tổ chức kinh doanh và hình thức phân phối Các thành phần kinh tế hoạt động theo pháp luật đều là bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế, bình đẳng trước pháp luật, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo Kinh tế tập thể không ngừng được củng cố và phát triển Kinh tế nhà nước và kinh
tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân Kinh tế
tư nhân là một trong những động lực của nền kinh tế Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được khuyến khích phát triển Các hình thức sở hữu hỗn hợp và đan kết với nhau hình thành các tổ chức kinh tế đa dạng ngày càng phát triển”
Tại Đại hội XII của Đảng đã có những bổ sung đáng kể với sự hiện diện khá toàn diện và cụ thể các thành tố cấu thành nền kinh tế, thể hiện bước tiến trong nhận thức lý luận của Đảng về mô hình kinh tế Việt Nam, đó là: Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Việt Nam là nền kinh tế vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, đồng thời bảo đảm định hướng XHCN phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước Đó là nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế; có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền XHCN, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.4
Như vậy, nội dung quan điểm của Đảng ta về phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của nhà nước theo định hướng
xã hội chủ nghĩa Do lực lượng sản xuất của ta thấp kém, để sản xuất nhiều hàng hóa thỏa mãn nhu cầu xã hội, Đảng ta khẳng định, thực hiện nhất quán phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần Lực lượng sản xuất ở nước ta đang tồn tại