Theo nghĩa rộng: Dân tộc – quốc gia dân tộc Nation: dân tộc chỉ một cộng đồng người ổn định làm thành nhân dân một nước, có lãnh thổ riêng, nền kinh tế thống nhất, có ngôn ngữ chung và c
Trang 11
BỘ NGOẠI GIAO HỌC VIỆN NGOẠI GIAO KHOA CHÍNH TRỊ QUỐC TẾ VÀ NGOẠI GIAO
-* -
BÁO CÁO MÔN: CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC
ĐỀ TÀI: VẤN ĐỀ DÂN TỘC VÀ TÔN GIÁO TRONG THỜI KÌ QUÁ ĐỘ
LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI
Giảng viên: Đặng Thị Phương Duyên
Nhóm: 05 Lớp: CNXHKH.04
Hà Nội, tháng 4 năm 2023
Trang 22
MỤC LỤC
I Chủ nghĩa Mác - Lenin về vấn đề dân tộc 3
1 Khái niệm và đặc trưng của dân tộc 3
2 Hai xu hướng khách quan của sự phát triển quan hệ dân tộc 5
3 Cương lĩnh dân tộc của chủ nghĩa Marx-Lenin 6
4 Liên hệ cương lĩnh với chủ nghĩa dân tộc thế giới: 8
II Dân tộc và quan hệ dân tộc ở Việt Nam: 11
1 Đặc điểm dân tộc Việt Nam: 11
2 Tàn dư của chủ nghĩa thực dân ảnh hưởng tới vấn đề dân tộc hiện nay 12
3 Quan điểm và chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước Việt Nam 12
4 Chính sách tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc ở Việt Nam hiện nay 13
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 16
Trang 33
1 Khái niệm và đặc trưng của dân tộc
a Khái niệm dân tộc
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin) Dân tộc là quá trình phát triển lâu dài của xã hội loài người, trải qua các hình thức cộng động từ thấp đến cao, bao gồm: thị tộc, bộ lạc, bộ tộc, dân tộc Theo nghĩa rộng: Dân tộc – quốc gia dân tộc (Nation): dân tộc chỉ một cộng đồng người ổn định làm thành nhân dân một nước, có lãnh thổ riêng, nền kinh tế thống nhất, có ngôn ngữ chung và có ý thức về sự thống nhất của mình, gắn bó với nhau bởi quyền lợi chính trị, kinh tế, truyền thống văn hoá và truyền thống đấu tranh trong suốt quá trình lịch sử lâu dài dựng nước và giữ nước Theo nghĩa hẹp: Dân tộc (Ethnic): chỉ một cộng đồng tộc người được hình thành trong lịch sử, có mối liên hệ chặt chẽ và bền vững, có chung ý thức tự giác tộc người, ngôn ngữ và văn hóa Cộng đồng này xuất hiện sau bộ lạc, bộ tộc, kế thừa và phát triển cao hơn những nhân tố tộc người của các cộng đồng đó Với nghĩa này dân tộc
là môt bộ phận hay còn gọi là một thành phần của quốc gia
Ở phương Tây: dân tộc xuất hiện khi phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa được xác lập thay thế phương thức sản xuất phong kiến Ở phương Đông: dân tộc được hình thành trên cơ sở một nền văn hóa, một tâm lý dân tộc đã phát triển tương đối chín muồi và một cộng đồng kinh tế tuy đã đạt tới một mức độ nhất định, song nhìn chung còn kém phát triển và trạng thái phân tán
b Đặc trưng dân tộc:
Đặc trưng của dân tộc – theo nghĩa rộng: dân tộc - quốc gia
Một là, đặc trưng dân tộc mà trong đó, dân tộc được hiểu theo nghĩa rộng: dân tộc – quốc gia Đối với kiểu định nghĩa này, ta sẽ có 5 đặc trưng chính: (1) Có chung một vùng lãnh thổ ổn định; (2) Có chung một phương thức sinh hoạt kinh tế; (3) Có chung một ngôn ngữ làm công cụ giao tiếp; (4) Có chung một nền văn hoá và tâm lý; và (5) Có chung một nhà nước – nhà nước dân tộc
Đầu tiên, dân tộc – quốc gia có chung một vùng lãnh thổ ổn định Nếu không có lãnh thổ thì sẽ không có khái niệm quốc gia, đất nước Ví dụ, sự ra đời của khái niệm
“quốc gia Việt Nam – dân tộc Việt Nam” là dựa trên việc dân tộc Việt Nam có chung một vùng lãnh thổ ổn định, chính là mảnh đất hình chữ S Đối với mỗi quốc gia, dân tộc và mỗi một tộc người, mỗi một thành viên trong đó thì yếu tố lãnh thổ rất thiêng liêng
Trang 44
Đặc trưng thứ hai của dân tộc – quốc gia là có chung 1 phương thức sinh hoạt kinh
tế Đây là đặc trưng quan trọng nhất bởi kinh tế là cơ sở để gắn kết các thành viên trong dân tộc; tạo nên sự ổn định, thống nhất, bền vững của dân tộc Đối với trường hợp của Việt Nam, phương thức sinh hoạt kinh tế là nền kinh tế thị trường Có thể thấy rằng, phương thức sinh hoạt kinh tế này đã đẩy đời sống nhân dân được cải thiện, tạo nên sự ổn định của dân tộc Điều này được chứng minh qua sự cải thiện đời sống của hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều (thu nhập bình quân từ 2 triệu đồng trở xuống ở thành thị và từ 1,5 triệu đồng trở xuống ở nông thôn) Cụ thể, tỷ lệ
hộ nghèo giảm liên tục từ 18,1% (2012) xuống còn 4,4% (2021)
Đặc trưng thứ ba của dân tộc – quốc gia là có chung một ngôn ngữ làm công cụ giao tiếp Mỗi dân tộc có một ngôn ngữ riêng, biểu hiện ở ngôn ngữ nói, ngôn ngữ viết Ngôn ngữ được dùng để giao tiếp trên tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội.Thứ nhất, đối với các quốc gia dân tộc có biên giới gần như trùng khớp với đường "biên giới"
về mặt chủng tộc và chính trị thì sự di cư và nhập cư hiếm khi xảy ra, do đó, ít có sự giao thoa về ngôn ngữ và văn hoá Ví dụ, Iceland có ngôn ngữ mang tính chất rất riêng biệt vì ở đây không có các vùng giao thoa về văn hóa/dân tộc hay ngôn ngữ,
do Iceland cách quá xa các châu lục khác Thứ hai, đối với các quốc gia dân tộc có nhiều cộng đồng, nhiều tộc người thì họ sẽ có nhiều ngôn ngữ khác nhau nhưng bao giờ cũng có một ngôn ngữ chung thống nhất, gọi là quốc ngữ Ví dụ, Việt Nam có
54 dân tộc và có khoảng hơn 90 ngôn ngữ khác nhau nhưng ngôn ngữ chung thống nhất và chính thức là tiếng Việt
Thứ tư, dân tộc – quốc gia có chung 1 nền văn hoá và tâm lý Văn hoá dân tộc được biểu hiện qua tâm lý, tính cách, phong tục tập quán, lối sống,… tạo nên bản sắc riêng của từng dân tộc Ví dụ điển hình là văn hoá tip (bo tiền) của Mỹ
Đặc trưng cuối cùng của dân tộc – quốc gia là có chung 1 nhà nước – nhà nước dân tộc Đây cũng là yếu tố để phân biệt dân tộc – quốc gia với dân tộc – tộc người Đặc trưng này có nghĩa là các thành viên, cộng đồng tộc người trong một dân tộc đều phải chịu sự quản lý của một nhà nước độc lập
Đặc trưng của dân tộc – theo nghĩa hẹp: dân tộc – tộc người
Hai là, đặc trưng dân tộc mà trong đó, dân tộc được hiểu theo nghĩa hẹp: dân tộc – tộc người Đối với kiểu định nghĩa này, ta sẽ có 3 đặc trưng chính: (1) Cộng đồng
về ngôn ngữ; (2) Cộng đồng về văn hoá; và (3) Ý thức tự giác tộc người
Trang 5
5
Cộng đồng về ngôn ngữ là đặc trưng đầu tiên của dân tộc – tộc người Đây là tiêu chí cơ bản để phân biệt các tộc người khác nhau Ví dụ như người Khmer nói tiếng Khmer, người Kinh nói tiếng Kinh Bản thân mỗi dân tộc luôn có ý thức coi trọng
và giữ gìn ngôn ngữ của họ Trong thời kỳ hội nhập mà bản thân mỗi dân tộc không
có ý thức giữ gìn ngôn ngữ của mình mà sử dụng ngôn ngữ của dân tộc khác thì sẽ
bị “hoà tan” và đánh mất bản sắc của mình Việt Nam là quốc gia có 54 dân tộc với hơn 90 ngôn ngữ khác nhau Tuy nhiên, trên thực tế thì trong những năm gần đây, vấn đề mai một và tiêu vong đối với tiếng mẹ đẻ của các dân tộc thiểu số (DTTS), đặc biệt là với những dân tộc có số dân dưới một nghìn người (như Si La, Pu Péo, Brâu), đang ngày càng nhức nhối Số người nói được các ngôn ngữ DTTS thường thuộc lứa tuổi già và trung niên, còn lứa tuổi thanh niên biết tiếng "mẹ đẻ" ít hơn, thậm chí nhiều trẻ em không biết tiếng mẹ đẻ của mình
Đặc trưng thứ hai của dân tộc – tộc người là cộng đồng về văn hoá Văn hoá phản ánh qua truyền thống, phong tục tập quán, lối sống, tín ngưỡng, tôn giáo của tộc người đó Dấu tích văn hoá người Chăm bao gồm cả văn hoá vật thể và văn hoá phi vật thể Ví dụ, văn hoá vật thể của người Chăm có Lâm Ấp cổ thành tại Quảng Bình, tháp Bạc,… còn về văn hoá phi vật thể, người Chăm có các nghề thủ công (làm gốm, dệt vải,…); lễ hội Katê… Trong thời kỳ hội nhập thì yêu cầu đặt ra là dân tộc phải giữ được bản sắc truyền thống của mình
Đặc trưng cuối cùng là ý thức tự giác tộc người, nghĩa là dân tộc – tộc ngừoi luôn luôn ý thức được về cội nguồn của họ Họ luôn luôn có ý thức tự khẳng định sự tồn tại và phát triển của dân tộc mình thông qua khẳng định nguồn gốc của họ, bản sắc, truyền thống, lối sống, phong tục tập quán riêng của họ
2 Hai xu hướng khách quan của sự phát triển quan hệ dân tộc
a Cộng đồng dân cư muốn tách ra để hình thành cộng đồng dân tộc độc lập:
Xu hướng thứ nhất có nguồn gốc phát sinh từ sự thức tỉnh, trưởng thành về ý thức dân tộc, ý thức được về quyền sống của mình, gắn liền với giai đoạn đầu của chủ nghĩa tư bản mà quốc gia gồm có nhiều cộng đồng dân cư có nguồn gốc tộc người khác nhau Cộng đồng nào có sự thức tỉnh sẽ xuất hiện ý muốn xác lập một dân tộc độc lập riêng, vì chỉ ở đó họ mới có quyền tự quyết định đến vận mệnh của mình, có quyền lựa chọn chế độ chính trị và con đường phát triển, xác lập nên các quốc gia dân tộc độc lập Biểu hiện ở sự đấu tranh của các nước thuộc địa và phụ thuộc, chống lại sự xâm lược, bóc lột của các nước thực dân, đế quốc
Trang 6Recommandé pour toi
6
b Các cộng đồng dân tộc trong từng quốc gia, thậm chí các dân tộc ở nhiều quốc gia muốn liên hiệp lại với nhau
Xu hướng này nổi lên trong giai đoạn chủ nghĩa tư bản phát triển trở thành chủ nghĩa
đế quốc, đi bóc lột thuộc địa Đồng thời cũng do sự phát triển của lực lượng sản xuất, khoa học công nghệ và sự giao lưu văn hóa, kinh tế, làm cho nhu cầu xóa bỏ rào cản dân tộc, thúc đẩy dân tộc xích lại nhau xuất hiện
c Đánh giá
Ở phạm vi quốc gia xu hướng thứ nhất được thể hiện dưới sự nỗ lực của từng dân tộc để đưa dân tộc mình tới tự do, bình đẳng và phồn vinh Còn xu hướng thứ hai lại thể hiện ở việc xuất hiện những động lực thúc đẩy cộng đồng dân tộc ở từng quốc gia xích lại gần nhau hơn, hòa hợp trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội
Mặt khác, xu hướng thứ nhất ở phạm vi quốc tế lại thể hiện trong phong trào giải phóng dân tộc chống lại chủ nghĩa đế quốc, chính sách thực dân đô hộ dưới mọi hình thức; độc lập dân tộc được xem như là mục tiêu chính trị chủ yếu của mọi quốc gia trong thời đại này Độc lập tự chủ được xem như là xu hướng khách quan, chân lý của thời đại, mà nhờ có nó mới dẫn đến được sự phát triển của mỗi dân tộc Xu hướng thứ hai thể hiện ở xu thế dân tộc muốn xích lại gần nhau, hợp tác, hình thành liên minh dân tộc ở phạm vi khu vực hoặc toàn cầu, tạo điều kiện để phát triển dân tộc mình nhờ vào những thuận lợi từ phía ngoài
Hai xu hướng khách quan của sự phát triển dân tộc này tác động qua lại, hỗ trợ lẫn nhau, có sự thống nhất biện chứng Nếu vi phạm vào quan hệ biện chứng này sẽ dẫn đến những hậu quả tiêu cực, khôn lường
Thời điểm hiện nay, hai xu hướng này đang có những diễn tiến phức tạp trong từng phạm vi dù là ở từng quốc gia hay quốc tế, thậm chí bị lợi dụng vào mục đích chính trị nhằm thực hiện chiến lược “diễn tiến hòa bình”
3 Cương lĩnh dân tộc của chủ nghĩa Marx-Lenin
a Các dân tộc có quyền bình đẳng
Bình đẳng dân tộc là quyền của một dân tộc, không phân biệt đa số hay thiểu số, trình độ phát triển cao hay thấp, không phân biệt chủng tộc, màu da đều có quyền bình đẳng ngang nhau Đảm bảo quyền bình đẳng toàn diện giữa các dân tộc trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội Đây là cơ sở pháp lý chung để giải quyết các quan hệ dân tộc trên thế giới, trong khu vực hay trong một quốc gia dân tộc
Suite du document ci-dessous
Trang 7Advanced english for translation-pdf
Writing
119
4
Trang 87
Các dân tộc điều có nghĩa vụ và quyền lợi ngang nhau trên tất cả lĩnh vực của đời sống xã hội, không dân tộc nào được giữ đặc quyền, đặc lợi về kinh tế, chính trị, văn hóa Điều này đã được công pháp quốc tế và pháp luật các quốc gia ghi nhân Trong quan hệ xã hội cũng như quan hệ quốc tế, không một dân tộc nào có quyền đi áp bức, bóc lột các dân tộc khác Trong một quốc gia có nhiều dân tộc, quyền bình đẳng dân tộc phải thể hiện trên cơ sở pháp lý và quan trọng hơn, nó phải thể hiện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội
Con đường thực hiện: Trước hết phải thủ tiêu tình trạng áp bức giai cấp trên cơ sở
đó xóa bỏ tình trạng áp bức dân tộc Đồng thời, phải từng bước khắc phục sự chênh lệch về trình độ phát triển trên các lĩnh vực giữa các dân tộc Kết hợp sự phát triển
tự thân của mỗi dân tộc với sự giúp đỡ có hiệu quả của các dân tộc khác để mỗi dân tộc phát triển vững chắc Đây là một nguyên tắc quan trọng hàng đầu trong quan hệ giao lưu, hợp tác giữa các dân tộc
b Các dân tộc có quyền tự quyết:
Quyền dân tộc tự quyết là quyền cơ bản của mỗi dân tộc trong việc tự quyết định vận mệnh của dân tộc mình, quyền tự lựa chọn chế độ chính trị và con đường phát triển của dân tộc mình Quyền tự quyết dân tộc bao gồm quyền tách ra thành lập một quốc gia độc lập, đồng thời có quyền tự nguyện liên hiệp với dân tộc khác trên cơ
sở bình đẳng Tuy nhiên, việc thực hiện quyền dân tộc tự quyết phải xuất phát từ thực tiễn - cụ thể và phải đứng vững trên lập trường của giai cấp công nhân, đảm bảo sự thống nhất giữa lợi ích dân tộc và lợi ích của giai cấp công nhân Quyền tự quyết dân tộc không đồng nhất với “quyền” của các dân tộc thiểu số trong một quốc gia đa tộc người, nhất là việc phân lập thành quốc gia độc lập
Trên thực tế, tôn trọng quyền dân tộc tự quyết đã trở thành nguyên tắc pháp lý quốc
tế, được ghi nhận trong Hiến chương Liên Hiệp Quốc, cụ thể nguyên tắc quyền dân tộc tự quyết được thể hiện trong Hiến chương với tư cách là một trong những mục đích hoạt động của tổ chức này tại điều 55 với nội dung: “phát triển mối quan hệ hữu nghị giữa các dân tộc trên cơ sở tôn trọng quyền bình đẳng và tự quyết của các dân tộc” (điều 55) Điều này có nghĩa không một quốc gia, dân tộc nào có quyền được xâm phạm vào quyền tự quyết của quốc gia, dân tộc khác
c Liên hiệp công nhân tất cả các dân tộc:
Liên hiệp công nhân tất cả các dân tộc là tư tưởng cơ bản trong “Cương lĩnh dân tộc” của V.I.Lênin Đó là một liên minh quốc tế, đại diện cho sự thống nhất và đoàn kết của giai cấp công nhân của tất cả các dân tộc trong công cuộc giải phóng giai cấp và
Trang 98
giải phóng dân tộc Điều này đã phản ánh mối quan hệ gắn bó chặt chẽ giữa chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa quốc tế chân chính Họ có cùng địa vị kinh tế - xã hội,
có sự thống nhất về tư tưởng, về lợi ích giai cấp, về mục tiêu và sứ mệnh lịch sử: xóa bỏ chế độ tư bản, chế độ bóc lột, giải phóng giai cấp, dân tộc, xây dựng xã hội cộng sản chủ nghĩa - một xã hội không còn áp bức, bóc lột, nghèo nàn, lạc hậu Bên cạnh đó, họ cũng như thống nhất về tổ chức và hành động
Liên hiệp công nhân các dân tộc có vai trò quyết định đến việc quy định đường lối, phương pháp xem xét, thực hiện quyền bình đẳng dân tộc và quyền dân tộc tự quyết dựa trên lập trường của giai cấp công nhân Hơn nữa, đây chính là cơ sở vững vàng
để các tầng lớp nhân dân lao động đoàn kết lại với nhau trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc vì độc lập và tiến bộ xã hội Liên hiệp này chính là nguồn sức mạnh cho giai cấp công nhân và các dân tộc bị áp bức chiến thắng kẻ thù của mình Bởi vậy có thể nói, đây là nội dung quan trọng, đóng vai trò liên kết các nội dung của Cương lĩnh dân tộc thành một chỉnh thể
Vận dụng nội dung này của chủ nghĩa Mác Lênin, ngày 9 tháng 7 năm 1925, Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức được thành lập tại Quảng Châu, Trung Quốc với sự tham gia của Nguyễn Ái Quốc cùng một số nhà yêu nước khác với nội dung nhằm
tố cáo tội ác của đế quốc thực dân đồng thời kêu gọi các dân tộc vùng dậy làm cách mạng và lật đổ đế quốc thực dân, giành lại tự do “Toàn thể các dân tộc bị áp bức, toàn thể thợ thuyền trên trái đất đang bị cướp công, hãy đoàn kết lại với chúng tôi làm cuộc cách mạng tối thượng” Sự ra đời của Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức 1
đã nhận được sự quan tâm nhanh chóng của nhân dân Nhờ nhiều hoạt động có ảnh hưởng tích cực, ảnh hưởng của Hội đã vượt quá phạm vi khu vực để tiến tới các khu vực khác trên thế giới
Như vậy, cương lĩnh dân tộc của Lênin là ánh sáng dẫn lối cho các dân tộc bị áp bức trên thế giới, thúc đẩy họ đứng lên đấu tranh tự giải phóng mình khỏi áp bức dân tộc,
là cơ sở lý luận quan trọng để thực hiện chính sách trong công cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội Với Việt Nam, cương lĩnh dân tộc cũng là cơ sở lý luận để Đảng và Nhà nước có đường lối, chính sách phù hợp trong các vấn đề dân tộc
4 Liên hệ cương lĩnh với chủ nghĩa dân tộc thế giới:
Chủ nghĩa dân tộc chân chính là một phong trào chính trị tại các quốc gia phát triển
và đang phát triển, trong đó nhấn mạnh vai trò của dân tộc và tôn trọng văn hóa,
1 Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 2, Nhà xuất bản chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011
Trang 109
truyền thống và giá trị của các cộng đồng dân tộc Chủ nghĩa dân tộc (nationalism)
là một thứ tình cảm, một loại hình tư tưởng, một phong trào thực tiễn hay một hiện tượng văn hóa liên quan đến sự sinh tồn, phát triển và quyền lợi của dân tộc, được tạo ra trên cơ sở tình yêu, lòng trung thành và sự quan tâm sâu sắc của các thành viên đối với lợi ích dân tộc mình
Biểu hiện cho mối quan hệ giữa chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa quốc tế được thể hiện qua hai dạng thức của chủ nghĩa dân tộc, đó là chủ nghĩa dân tộc chân chính và chủ nghĩa dân tộc cực đoann
a Một là, vấn đề ý thức hệ giai cấp được đặt xuống hàng thứ yếu, nổi lên là
ý thức dân tộc chi phối trong đời sống xã hội hiện đại
Trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh trước đây, vấn đề ý thức hệ giai cấp luôn được đặt lên hàng đầu trong giải quyết các vấn đề của nội khối cũng như trong quan hệ giữa hai hệ thống Trên thực tế, việc giải quyết hài hòa mối quan hệ này trở thành yếu tố hết sức quan trọng gắn kết các quốc gia dân tộc, cùng tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau vì một lý tưởng chung, đó là bảo đảm chủ quyền dân tộc và xây dựng thành công CNXH ở mỗi nước cũng như trên phạm vi toàn thế giới
Từ khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, vấn đề ý thức hệ như được xóa nhòa, không còn
là hàng rào ngăn cách các quốc gia - dân tộc Trong Chiến lược an ninh quốc gia năm 2017, Mỹ đã từng tuyên bố: “Đó là một chiến lược của chủ nghĩa hiện thực có nguyên tắc được định hướng bởi kết quả chứ không phải ý thức hệ” Trong bối cảnh mới, hầu hết các quốc gia đều chủ động hợp tác, phát triển, mở rộng quan hệ đối ngoại trên cơ sở mục tiêu hàng đầu là lợi ích quốc gia - dân tộc
Tuy nhiên, cần phải nhận thức rõ rằng, ẩn sâu bên trong những biểu hiện mới này, vấn đề ý thức hệ giai cấp vẫn hiện hữu và đang được che lấp bởi lợi ích dân tộc Có thể nhận thấy, trên thực tế, Mỹ và các nước tư bản vẫn đang tìm kiếm những lợi ích của mình khi thực hiện lợi ích quốc gia - dân tộc và với bản chất không thay đổi, trong nhiều trường hợp, chủ nghĩa tư bản vẫn can thiệp, gây ra những tổn hại nghiêm trọng cho các nước nghèo và cả những nước XHCN còn lại Sự can thiệp, chống phá liên tục với nhiều hình thức vừa tinh vi, vừa trắng trợn của chính quyền Mỹ và các nước phương Tây đối với các nhà nước không cùng ý thức hệ vẫn tiếp tục diễn ra
b Hai là, chủ nghĩa dân tộc có tầm ảnh hưởng lớn trong mối quan hệ quốc
tế
Từ năm 1991 đến nay, nhiều vấn đề quốc tế, quan hệ quốc tế bị chi phối bởi vấn đề dân tộc, chủ nghĩa dân tộc Hiện nay, việc đề cao lợi ích dân tộc đến mức cực đoan,