1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

I tiểu luận sẽ tập trung làm rõ những nội dung cơ bản trong học thuyết nhân trị của khổng tử một cách có hệ thống đồng thời cũng sẽ phân tích, đánh giá, chỉ ra những giá trị, hạn chế

24 19 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tiểu luận về Học thuyết Nhân trị của Khổng Tử
Trường học Trường Đại Học
Chuyên ngành Triết học, Chính trị học
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 2,69 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy, việcnghiên cứu quan điểm nhân trị của Khổng Tử không chỉ giúp chúng ta có cái nhìn toàndiện và sâu sắc về quan điểm đó mà còn có ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng, tạo ramột

Trang 1

MỤC LỤC

A MỞ ĐẦU 2

B NỘI DUNG 3

I Khái quát về Khổng Tử và Học thuyết Nhân trị: 3

1 Nho giáo và Khổng Tử: 3

2 Học thuyết Nhân trị: 3

II Học thuyết nhân trị: 5

1 Nhân - cốt lõi trong tư tưởng chính trị của Khổng Tử: 5

2 Lễ: 10

3 Chính danh: 13

4 Ưu, nhược điểm của Học thuyết: 16

C ẢNH HƯỞNG CỦA HỌC THUYẾT NHÂN TRỊ 20

I Trong xã hội đương thời: 20

II Trong xã hội hiện đại: 21

D KẾT LUẬN 23

TÀI LIỆU THAM KHẢO 23

Trang 2

Những năm gần đây, không ít giá trị đạo đức đã bị xói mòn, suy giảm nghiêm trọng Chủnghĩa cá nhân ích kỷ, lối sống thực dụng chạy theo đồng tiền, tệ nạn xã hội, tệ thamnhũng, buôn lậu, có chiều hướng phát triển Sự suy giảm giá trị đạo đức xã hội thực sựtrở thành một trong những vấn đề nổi cộm, đáng lo ngại trong đời sống Vì vậy, việcnghiên cứu quan điểm nhân trị của Khổng Tử không chỉ giúp chúng ta có cái nhìn toàndiện và sâu sắc về quan điểm đó mà còn có ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng, tạo ramột cộng đồng xã hội có tôn ti trật tự, hoà mục từ trong gia đình đến nhà nước.

Bài tiểu luận sẽ tập trung làm rõ những nội dung cơ bản trong học thuyết nhân trị củaKhổng Tử một cách có hệ thống Đồng thời cũng sẽ phân tích, đánh giá, chỉ ra những giátrị, hạn chế và ý nghĩa lịch sử của học thuyết cũng như ảnh hưởng của tư tưởng đạo đứcvới lịch sử nhân loại nói chung

Trang 3

Khổng Tử họ Khổng tên Khâu, hiệu Trọng Ni, người nước Lỗ thời Xuân Thu Ôngsinh ra trong điều kiện xã hội Trung Quốc rơi vào loạn lạc triền miên, giai cấp thống trị cũ

đã đánh mất vai trò của mình đối với lịch sử Khổng Tử được vua nước Lỗ dùng làm quanTrung đồ tể Sau do những âm mưu chính trị ông phải phải từ chức bỏ xứ mà đi, chu du từnước này sang nước khác với mong muốn tìm được một ông vua tài đức có thể thực hiệnđược chính sách cai trị của mình Nhưng đến đâu ông cũng không thành công, cuối cùngphải trở về Lỗ khi tuổi đã già.1

2 Học thuyết Nhân trị:

a Hoàn cảnh ra đời:

Xã hội Trung Quốc giai đoạn này rơi vào loạn lạc do nhà Chu dần suy nhược vàmất hết thực quyền Đó là thời kỳ quá độ chuyển từ chế độ chiếm hữu nô lệ sang chế độphong kiến, mệnh lệnh thiên tử nhà Chu không còn được tuân thủ, trật tự thể chế xã hội bịđảo lộn; những giá trị tư tưởng, đạo đức của xã hội cũ bị băng hoại, những giá trị tư tưởng,đạo đức mới còn đang trên con đường xác lập; nạn chư hầu chiếm ngôi Thiên tử, đại phu

1 Nguyễn Đăng Dung, Lịch sử các học thuyết chính trị (Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, 2020)

Trang 4

lấn quyền chư hầu, tôi giết vua, con giết cha, em hại anh, vợ lìa chồng,… thường xuyênxảy ra Các nước chư hầu đua nhau gây chiến, thôn tính lẫn nhau hòng làm bá thiên hạ.

Do chiến tranh giữa các nước liên tục xảy ra trên quy mô lớn, tính chất tàn khốc của nó đãlàm cho đời sống nhân dân ngày càng cùng cực, lòng dân lo sợ, bất an trước thời cuộc 2

Một nhu cầu bức thiết là phải có một học thuyết chính trị phản ánh được xu thế của thờicuộc, ổn định xã hội Đáp ứng nhu cầu này là phong trào "Bách gia tranh minh, bách hoa

tề phóng" Hàng trăm nhà tư tưởng đưa ra học thuyết của mình nhằm cắt nghĩa, tìm ranguyên nhân xã hội loạn và cách chữa trị Trong đó, nổi bật là vấn đề làm thế nào để cóthể ổn định trật tự xã hội và giáo hóa đạo đức con người, đưa xã hội từ “loạn” trở thành

“trị”, con người từ “vô đạo” trở thành “có đạo”, “bất nhân” trở thành “nhân nghĩa” Thựctrạng đó đã làm xuất hiện các xu thế như: (1) Các nhà tư tưởng chủ trương pháp trị ra sứcủng hộ các thế lực địa chủ mới lên; (2) Các nhà tư tưởng chủ trương đức trị thì muốnníu giữ chế độ lễ trị của nhà Chu; (3) Các nhà tư tưởng chủ trương vô vi vì bất mãn vớithực tại nên họ quay lưng với thế sự Khổng Tử được sinh ra trong cảnh cơ hàn nhưngthuộc dòng dõi quyền quý ở nước Lỗ, một đất nước nhỏ bé nhưng có bề dày văn hóa dướithời nhà Chu Như vậy ông là người đại diện tiêu biểu cho xu hướng thứ hai và ông đãđưa ra quan điểm về con người dựa trên cơ sở bản tính con người vốn thiện để lý giải về

xã hội3 Triết lý chính trị của Nho gia nói chung và Khổng Tử nói riêng đều dựa trên nềntảng chữ “nhân" Học thuyết nhân trị ra đời và xuất phát từ điều kiện của xã hội TrungQuốc lúc bấy giờ

b Nội dung chính:

Nhân trị là học thuyết chủ trương việc trị quốc căn bản phải dựa vào đức nhân củangười cầm quyền mà không phải dựa vào pháp luật như phái Pháp gia chủ trương để caitrị xã hội Khổng Tử không tách rời đạo đức và chính trị Ông cho rằng phải cai trị dânbằng đạo nhân chứ không phải bằng bạo lực Với đường lối này ông hy vọng xã hội

2 Phạm Thi Dinh, “Tư tưởng đạo đức của Khổng Tử - đặc điểm và ý nghĩa lịch sử”, Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh

3 Võ Văn Dũng, “Quan điểm về con người trong triết học của Khổng Tử”, Viện Hàn lâm và Khoa học Xã hội Việt Nam

Trang 5

phong kiến lúc bấy giờ sẽ trở lại yên bình như thời vua Nghiêu, vua Thuấn và cứ như thế

xã hội này sẽ tồn tại vĩnh viễn Theo ông: "Nếu nhà cầm quyền chuyên dùng pháp chế,cấm lệnh mà dẫn dắt dân chúng, chuyên dùng hình phạt mà trị dân, thì dân sợ mà chẳngphạm pháp đó thôi, chứ họ chẳng biết hổ ngươi Vậy muốn dẫn dắt dân chúng, nhà cầmquyền phải dùng đức hạnh, muốn trị dân nhà cầm quyền phải dùng lễ tiết, thì chẳngnhững dân biết hổ ngươi, họ còn cảm hoá để trở nên tốt lành"

Theo ông, dùng đức mà cai trị thì mọi người sẽ phục tùng theo như sao Bắc đẩu ởmột nơi mà muôn vì sao khác phải chầu theo Ông cho rằng, người cai trị muốn cho mọingười giữ đạo thì mình phải làm gương trước Khi Quý Khương Tử, đại phu nước Lỗ hỏiKhổng Tử về việc chính, tức là cai trị, ông nói: "Chữ chính (cai trị) do nơi chữ chính(ngay thẳng) mà ra Cai trị là săn sóc cho dân trở nên ngay thẳng, chính đính Lần thứ hai,khi Quý Khương Tử lo rầu vì nước Lỗ có nhiều kẻ trộm, bèn đến hỏi Khổng Tử về cáchlàm cho dứt nạn ăn trộm thì ông đã nói: ở trên nhà cầm quyền dùng đức thanh liêm thì ởdưới dân chúng sẽ cảm hoá mà trở nên trong sạch Nay ông là nhà cầm quyền bá tánh, nếuông chẳng có lòng tham dục, dầu có thưởng họ, họ cũng không đi ăn trộm Khổng Tử đềcao yếu tố con người - nhà cầm quyền hơn là vai trò của pháp luật trong việc quản trịquốc gia Trong một nhà nước lấy con người làm căn bản thì nhà cầm quyền phải tudưỡng đạo nhân, phải là người có đạo đức cao quý Một nhà cầm quyền có đạo đức đượcgọi là người quân tử

II Học thuyết nhân trị:

1 Nhân - cốt lõi trong tư tưởng chính trị của Khổng Tử:

a Khái niệm:

Như đã nói, đạo Nhân là xuất phát điểm tư tưởng của Khổng Tử Phạm trù nàyđược ông đề cập nhiều lần trong Luận ngữ Tuy nhiên, ông không nói rõ về khái niệm hayđịnh cho nó một nội dung cụ thể mà thay vào đó tùy từng đối tượng, từng hoàn cảnh mà

“Nhân” được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau Nhân là một học thuyết nhân văn sâu sắc:

Trang 6

nhân vừa là người, vừa là thương yêu con người, vừa phải sống cho ra người Đó là đạolàm người mà cốt lõi là vừa yêu thương, vừa phải giúp đỡ lẫn nhau để tạo dựng một cuộcsống hoà bình, hạnh phúc Đó là tư tưởng cốt yếu của Khổng Tử về đạo đức nhân sinh vớihành vi và mục tiêu là nhằm xây dựng con người có đức nhân, giáo hoá đức nhân cho conngười nhằm khắc phục những mặt xấu trong đời sống xã hội.

b Nội dung:

Xét về mặt ngôn ngữ, chữ “nhân” gồm có chữ “nhân" đứng và chữ “nhị" Nhân cónghĩa là hai người, là quan hệ giữa con người với con người Nhân chỉ tồn tại trong xã hộiloài người Nếu chỉ có 1 con người sống chung với bầy sói tức không có xã hội loài ngườithì không có nhân Như vậy, “nhân” là thuộc tính của xã hội loài người, là cái đức chungcủa mọi người đều có như nhau: “Chẳng ai không có nhân, nhân quan hệ với người nhưnước với lửa" Khổng Tử đã cho rằng, bản tính của con người là thiện và nó gần giốngnhau ở tất cả mọi người Ông nói: "Tính tương cận giã; tập tương viễn giã"4 Nghĩa là,con người khi mới sinh ra đều có cái tính trời phú cho là gần giống nhau, nhưng do quátrình tiếp xúc, học hành mà làm cho họ có sự khác nhau, có kẻ trí, người ngu; phẩm chấtcủa con người là chất phác, chân thực và đó là điều kiện thuận lợi để trau dồi đức nhân vàtất cả các đức khác cũng từ đức nhân mà ra Bản tính của con người là thiện nhưng vì conngười quen thói đời, mê vật dục nên mới thấy điều nhân xa mình Vì vậy, khi con người

đã có nhân thì phải luôn giữ lấy điều nhân, đừng bao giờ xa rời nó, dù chỉ trong mộtkhoảnh khắc thời gian5 Ý tứ này của chữ “nhân" thể hiện rõ ở lời phát biểu của KhôngTử: “ Khắc kỷ phục lễ vi nhân" Kỷ là những cái vật chất ở giữa mình: con mắt, cái tai, lỗtai, cái thân Khắc kỷ tức là khắc chế những dục vọng vốn là di sản động vật tính trongcon người Khắc chế được kỷ thì sẽ khôi phục được lễ Cho nên bảo cái gì không hợp lễthì không nhìn, không nghe, không nói, không làm Khi đã khắc kỷ, phục lễ thì con người

sẽ làm được “nhân", tức là hoàn thiện những giá trị tinh thần riêng có của con người 6

4 Khổng Tử Luận ngữ (Đoàn Trung Còn dịch), Trí đức tòng thơ xuất bản, Sài Gòn, 1950, tr.269.

5 Tạp chí Triết học, số 1 (164), tháng 1 - 2005

6 Nguyễn Đăng Dung, Lịch sử các học thuyết chính trị (Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, 2020)

Trang 7

Trọng Cung – một học trò khác của Khổng Tử hỏi về “Nhân”, Khổng Tử cho rằng, nhữngcái gì mà mình không muốn thì đừng đem thi hành cho người khác - đó là đức hạnh củangười nhân (Luận ngữ,Nhan Uyên, 2) Còn khi Phàn Trì hỏi về “Nhân”, Khổng Tử giảnggiải rằng, “khi ở nhà thì giữ diện mạo cho khiêm cung; khi làm việc thì thi hành một cáchkính cẩn; khi giao thiệp với người thì giữ dạ trung thành Dẫu có đi đến các nước rợ Di,Địch cũng chẳng bỏ ba cái đó, như vậy là người có đức nhân” (Luận ngữ,Tử Lộ, 19).Như vậy, nhân cũng chính là đạo làm người, là đức hoàn thiện của con người, đức nhân làcái bền vững như núi sông 7

Nhận thức rằng bản tính của con người là nhân - là những giá trị tinh thần của conngười, chủ thuyết của Khổng Tử là một chủ thuyết nhân sinh hướng đến việc tìm kiếmnhững giải pháp để con người sống với tư cách là con người, hoàn thiện con người Vớiquan niệm bản tính con người là những giá trị tinh thần riêng có ở loài người, Khổng Tửchủ trương hoàn thiện đời sống tinh thần của con người Ông xác lập nên một hệ chuẩnđạo đức với tính chất như là những con đường đi đến đạo nhân Thiết lập trên nền tảngcủa chữ “nhân", học thuyết của Khổng Tử là hệ thống tri thức về những chuẩn mực đạođức để hoàn thiện đời sống tinh thần của con người

Khổng Tử cho rằng, đức nhân còn là thương người - “nhân giả ái nhân" (nhân làyêu người) Yêu người trước tiên là yêu con người nói chung, quý trọng loài người, lấyngười làm căn bản, là trung tâm Khổng Tử quan niệm trong vũ trụ con người là quý nhất.Nhân là dĩ nhân vi bản, lấy con người làm gốc Con người ở đây là con người nói chung,không phải chỉ con người cụ thể Nhiều người nhầm hiểu ông chỉ chủ trương yêu tầng lớptrên của xã hội, tức tầng lớp quý tộc - tầng lớp xuất thân của Khổng Tử Nếu chỉ như vậythì học thuyết của ông không thể có sức sống lâu dài và tầm ảnh hưởng to lớn như vậy,

“Nhân" là yêu người nói chung, yêu đồng loại của mình Yêu mình mà không yêu ngườikhác thì là ích kỷ, không phải là nhân.8

7 Tạp chí Triết học số 11 (174) tháng 11 - 2005

8 Nguyễn Đăng Dung, Lịch sử các học thuyết chính trị (Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, 2020)

Trang 8

Vậy làm sao biểu hiện được lòng thương người thì ông nói "kỷ sử bất dục vật thi ưnhân" (điều gì mình không muốn chớ làm cho người khác) Nhân là phải rộng lượng vớingười Người nhân là người mình muốn lập thân thì cũng muốn giúp người lập thân, mìnhmuốn thành đạt thì cũng muốn giúp người thành đạt: “kỷ dục lập nhi lập nhân, kỷ dục đạtnhi đạt nhân" Ông cũng bổ sung rằng: “Hiếu để dã giả, kỳ vi nhân chi bản dã dư" (đức,hiếu, để là gốc của lòng nhân vậy) Một người nếu như ngay bố mẹ, anh chị em mà cũngkhông yêu thương thì đương nhiên sẽ không thể thực sự yêu thương người khác, lo lắngđược cho người khác, đó là cơ sở của lòng nhân Người có lòng nhân phải dũng cảm, biết

hy sinh lợi ích của bản thân vì người khác mà không đòi hỏi bất cứ điều gì Khổng Tử nói:

“Nhân giả an nhân" (người có lòng nhân biết làm yên lòng người), đây là nền tảng tưtưởng để những sĩ phu tiến bộ sau này đưa ra danh ngôn “tiên thiên hạ chi nhi ưu, hậuthiên hạ nhi lạc chi lạc" (trước lo nỗi lo của thiên hạ, vui sau niềm vui của thiên hạ)

c Quân tử:

Con người có đức nhân là mẫu người lý tưởng của Khổng Tử và được gọi là ngườiquân tử Đối lập với người quân tử là kẻ tiểu nhân - người không có đức nhân Phân loạicon người theo tiêu chuẩn đạo đức thành quân tử và tiểu nhân là cách phân loại đặc trưngnhất, được đề cập đến nhiều nhất trongLuận ngữ Người ta thường nói, đạo Nho là đạocủa người quân tử Bởi vì, Nho giáo bàn rất nhiều về người quân tử, coi đó là mẫu người

lý tưởng, toàn thiện, toàn mỹ nhất Mọi sự cố gắng học tập, tu dưỡng đạo đức đều nhằmđạt đến danh hiệu cao quý ấy Đó cũng chính là mục đích mà nền giáo dục Nho giáohướng tới

Khổng Tử cho rằng đạo nhân là cái trời phú cho con người nhưng chỉ có ở ngườiquân tử, còn kẻ tiểu nhân không có Điều này đã trở thành mâu thuẫn trong lý luận củaông Để tránh mâu thuẫn ấy, ông cho rằng đạo nhân tuy là cái trời phú nhưng phải có sựbồi đắp bằng cách tu dưỡng bản thân nghiêm khắc, nếu không cũng có thể mất đi Phươngpháp tu dưỡng là: cách vật, trí tri, thành ý, chính tâm Mục đích của tu thân xét đến cùng

là để tề gia, trị quốc, bình thiên hạ

Trang 9

Quân tử về mặt ngữ nguyên có thể hiểu là “con vua" Quân tử là những người giúpviệc cho vua trong việc quản lý đất nước Như vậy, trước Khổng Tử, chữ “quân tử" đãđược sử dụng phổ biến nhưng thuần tuý chỉ địa vị trong nhà nước, tức là chỉ giới quý tộc.

Và ngược lại, tiểu nhân là người dân thường, không có địa vị xã hội Khổng Tử là người

đã đưa vào chữ “quân tử" nội dung mới là chỉ phẩm chất của người cầm quyền9 Khi đónghĩa của từ được dùng rộng ra và theo những tiêu chuẩn đạo đức là chính, quân tử đượccoi là người có đức hạnh cao quý còn tiểu nhân là người có chí khí hèn hạ, thấp kém

Theo nghĩa đó, người quân tử dẫu bần cùng, khổ sở thì vẫn là người có chí khí quân tử

Kẻ tiểu nhân tuy có quyền cao, chức trọng, cũng vẫn là kẻ tiểu nhân Khổng Tử nói rằng:

"Ăn cơm thô, uống nước suông, co cánh tay mà gối đầu, niềm vui cũng có ở trong đó.Còn bất nghĩa mà được giàu sang thì đối với ta chỉ như phù vân" (Phan sơ tự, ẩm thủy,khúc quăng nhi chẩm chi, lạc diệc tại kỳ trung hỹ Bất nghĩa nhi phú tha quý, ư ngã nhưphù vân)10

Như vậy, theo Khổng Tử , người quân tử phải là người có đủ những tiêu chuẩn vềtài và đức để trị quốc Bọn quý tộc dù là người đang nắm quyền hành trong nhà nước màkhông có những tiêu chuẩn về tài đức thì cũng không phải là quân tử, muốn là người quân

tử họ phải sửa mình theo những tiêu chuẩn nhất định Người bình dân nếu có những tiêuchuẩn về tài đức thì cũng được gọi là người quân tử Đặt trong bối cảnh xã hội TrungQuốc lúc bấy giờ khi giai cấp quý tộc đã suy, không trị được nước, họ dâm loạn, bất nhânnên bị dân bỏ Khổng Tử khuyên họ sửa mình để xứng đáng với địa vị, để dân tin cậy trởlại, có vậy quyền hành mới được vững, chế độ phong kiến mới không sụp đổ

Nhà nước nhân bản lấy sự tu dưỡng đạo đức của nhà cầm quyền là điều kiện tiênquyết đối với hiệu quả của việc ổn định xã hội Việc chính trị cốt ở chính tâm của ngườitrị dân Đạo đức của nhà cầm quyền sẽ ảnh hưởng và cảm hoá dân chúng, dân chúng sẽlàm những điều thiện, mà xã hội được thịnh trị Khổng Tử ví đức của người cầm quyền

9 Nguyễn Đăng Dung, Lịch sử các học thuyết chính trị (Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, 2020)

10 Viện Nghiên cứu Hán Nôm “ Ngữ văn Hán Nôm,” t.1 (Tứ thư, bản dịch Luận ngữ, Thuật nhi) Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội,

2004, tr.344.

Trang 10

như gió, đức của người dân như cỏ, gió thổi thì cỏ rạp xuống “Quân tử chi đức phong,tiểu nhân chi đức thảo Thảo thược chi phong tất yểu" Cho nên, việc chính trị không khónếu biết giữ thân mình cho đoan chính, nếu không biết giữ thân mình cho đoan chính thìkhông thể sửa người khác cho đoan chính Nhà cầm quyền mà chính đáng thì không ralệnh dân cũng theo, mình không chính đáng tuy ra lệnh dân cũng không theo.

d Đánh giá:

Xã hội là một cộng đồng của những con người, giữa họ có nhiều mối quan hệ.Nếu mỗi người chỉ biết xuất phát từ lợi ích của mình để đối xử với người khác, nếu chỉnghĩ đến lợi ích của mình mà không thấy được quyền lợi của người khác thì xã hội sẽ cóbiết bao thảm kịch xảy ra Một khi mỗi con người đều biết quan tâm, nhường nhịn và hỗtrợ người khác thì không những họ thấy cuộc sống của bản thân yên ấm, hạnh phúc, mà

cả cộng đồng của họ cũng có sự gắn bó, bền vững và có nhiều điều kiện để khắc phụcnhững tai nạn do khách quan đưa lại Điều này không những đúng với xã hội ngày xưa,

mà còn đúng với cả xã hội ngày nay Có thể nói, phạm trù “Nhân” của Khổng Tử đã rađời trong thời đại phong kiến, mang sắc thái của xã hội phong kiến, có những điều khôngcòn phù hợp với ngày nay, nhưng việc tìm hiểu và rút ra được “hạt nhân hợp lý” của nóvẫn là việc chúng ta nên làm, cần làm

2 Lễ:

Người nhân phải có lễ Nhân và lễ không tách rời nhau, phụ thuộc vào nhau, có cái

nọ phải có cái kia Người có nhân không thể không theo về với lễ và người đã theo đúng

lễ là người có nhân Người quân tử phải có nhân, phải tu được chữ nhân để khôi phục lễ

"Khắc kỷ, phục lễ" Trong mối quan hệ giữa nhân và lễ thì nhân là nội dung, là gốc, còn

lễ là hình thức, là ngọn

a Khái niệm:

Lễ trong quan niệm chính trị của Khổng Tử thực chất là một loại khế ước của xãhội quy định bổn phận của mọi tầng lớp, đẳng cấp trong xã hội do Chu Công đặt ra vàKhổng Tử gia giảm Theo ông xã hội phải có trật tự trên dưới và con người không được

Trang 11

vượt qua trật tự đó Trong tư tưởng của ông, lễ có nhiều nội dung Lễ là cách thức, thủ tụccúng lễ để thực hiện mối quan hệ giữa con người và trời đất, tổ tiên Lễ là cách thức giaotiếp giữa con người với con người như ăn mặc, cử chỉ, nói năng, cư xử Lễ là quy địnhbổn phận và trách nhiệm của mỗi người phù hợp với địa vị, đẳng cấp xã hội của mình.Đối với Khổng Tử, lễ nhiều khi được xem như là luật lệ Ông nói: chớ xem điều trái lễ,chớ nghe điều trái lễ, chớ nói điều trái lễ, chớ làm điều trái lễ Lễ được coi là giới hạn ứng

xử của con người, nếu muốn cộng đồng thừa nhận thì không được vượt qua mà phải tuântheo Bên cạnh đó, lễ không chỉ là thước đo đánh giá giá trị đạo đức của con người mà lễcòn có tính khuyên răn, ràng buộc con người Việc thực hành lễ thường xuyên, hàng ngày,trở thành thói quan đạo đức của cá nhân sẽ góp phần giúp xã hội trật tự, ổn định

b Nội dung:

Lễ với ý nghĩa đầu tiên là Lễ bái là việc mang tính chất tôn giáo nhưng nó khôngchỉ là những nghi thức có tính hình thức Với Khổng Tử, khi tế lễ phải kính cẩn nghiêmtúc Ông nói: “Cư thượng bất khoan, vi lễ bất kính, lâm tang bất ai, ngô hà dĩ quan tritạng” nghĩa là ở bậc trên mà không khoan nhượng, làm lễ mà không nghiêm túc sẽ gặpviệc tang mà không bi thương, hạng người đó còn gì cho ta xem xét nữa Ngoài ra, Khổng

Tử còn quan tâm tới cả nghi thức, nghĩa vụ, bổn phận của mỗi con người khi tế lễ Điều

đó nghĩa là khi tế lễ phải đúng danh phận của mình, đúng những nghi thức, quy định xãhội đã đặt ra thì không được vi phạm nếu vi phạm thì sẽ là người thất lễ, tiếm lễ, tiếmquyền Khổng Tử không chỉ quy định địa vị cho mỗi con người khi tế lễ mà còn quy định

cả cách ăn mặc khi tế lễ Cách ăn mặc trong lúc tang chế, ở chỗ triều đường hay khi đitrận mạc phải theo lễ để cho xứng với đạo nhân

Lễ còn là chuẩn mực đạo đức xã hội Mục đích cơ bản của Khổng Tử là xây dựng

Lễ, xây dựng mẫu người có đạo đức nhân nghĩa mong muốn có một xã hội bình yên theoquan niệm của giai cấp phong kiến đương thời Trước hết những quan hệ đạo đức đó đượcthể hiện trong gia đình tế bào của xã hội mà trước hết là mối quan hệ với cha mẹ, bởi vìcha mẹ là người đầu tiên của các mối quan hệ xã hội Lễ còn quy định cả cách ứng xử của

Trang 12

những người có chức, có quyền trong xã hội như trong quan hệ vua tôi Lễ giáo khuyênngười ta trong quan hệ với bạn bè phải chân thành thân mật “Cửu nhi kính chi” Trên cơ

sở những chuẩn mực đạo đức ấy mà con người điều chỉnh hành vi xử thế của mình trongquan hệ cgo phù hợp

Khổng Tử đã quy tất cả các quan hệ xã hội thành năm mối quan hệ cơ bản (Ngũluân) sau: vua - tôi, cha - con, chồng - vợ, anh - em, bạn - bè.Con cái phải có hiếu với cha

mẹ, bề tôi phải trung với vua, chồng vợ có nghĩa với nhau, anh em phải trên kính dướinhường, bạn bè phải giữ được lòng tin Những quy tắc này là bất di bất dịch mà ai cũngphải tuân theo Lễ là sợi dây buộc chặt con người với chế độ phong kiến tập quyền.Khổng Tử yêu cầu, từ vua cho đến dân phải rèn luyện và thực hiện theo lễ

Đối với quan hệ vua tôi, Khổng Tử chống việc duy trì ngôi vua theo huyết thống

và chủ trương “thượng hiền” không phân biệt đẳng cấp xuất thân của người ấy Trongviệc chính trị, vua phải biết “trọng dụng người hiền đức, tài cán và rộng lượng với những

kẻ cộng sự…” (“Luận ngữ”, Tử Lộ, 2), “vua phải tự mình làm thiện, làm phải trước thiên

hạ để nêu gương và phải chịu khó lo liệu giúp đỡ dân” (“Luận ngữ”, Tử Lộ, 1) Ông cònnói, nhà cầm quyền cần phải thực hiện ba điều: “Bảo đảm đủ lương thực cho dân được no

ấm, phải xây dựng được lực lượng binh lực hùng mạnh để đủ bảo vệ dân, phải tạo lòng tincậy của dân đối với mình Nếu bất đắc dĩ phải bỏ bớt những điều kiện trên thì trước hếthãy bỏ binh lực, sau đó đến bỏ lương thực, nhưng không thể bỏ lòng tin của dân đối vớivua, nếu không, chính quyền xã tắc sẽ sụp đổ” (“Luận ngữ”, Nhan Uyên, 7) Nếu “việcchính trị, vua cai trị nước nhà mà biết đem cái đức mình bỏ hóa ra, thì mọi người đềuphục theo Ngược lại dân và bề tôi đối với vua phải như đối với cha mẹ mình, phải tỏlòng “trung” của mình đối với vua

Về đạo cha con, Khổng Tử cho rằng con đối với cha phải lấy chữ “hiếu” làm đầu

và cha đối với con phải lấy lòng “từ ái” làm trọng Trong đạo hiếu của con với cha mẹ, dùrất nhiều mặt, nhưng cốt lõi phải ở “tâm thành kính” “Đời nay hễ thấy ai nuôi được cha

mẹ thì người ta khen là có hiếu Nhưng loài thú vật như chó ngựa người ta cũng nuôi

Ngày đăng: 29/05/2023, 09:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w