Vậy chúng ta đã thực sự hiểu hết về lịch sử cũng như thành tựu của đất nước này, vì thế trong học phần lịch sử văn minh thế giới hôm nay, nhóm 4 xin trình bày nội dung mang tên Lịch sử Ấ
Trang 1HỌC VIỆN NGOẠI GIAO KHOA TRUYỀN THÔNG & VĂN HÓA ĐỐI NGOẠI
-TIỂU LUẬN CUỐI KỲ MÔN TRUYỀN THÔNG QUỐC TẾ
“Tác động của hiệu ứng CNN lên
Quan hệ Quốc tế”
Giáo viên hướng dẫn : PGS.TS Dương Văn Quảng Sinh viên thực hiện : Phạm Tài Nam
Mã số sinh viên : QHQT48C1-1044
Lớp : TTQT (3)
Hà Nội – 2021
Trang 2MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
I ĐIẠ LÍ VÀ DÂN CƯ 2
1 Vị trí địa lí : 2
2 Địa hình : 2
2.1 Rặng Himalaya 3
2.2 Đồng bằng Ấn - Hằng và bán đảo Decan 3
3 Khí hậu: 4
4 Dân cư: 4
II XÃ HỘI ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI 5
1 Thời kỳ văn minh lưu vực sông Ấn (từ đầu thiên kỷ III đến giữa thiên kỷ II TCN): 5
2 Thời kỳ Vêđa (từ giữa thiên kỷ II đến giữa thiên kỷ I TCN) 5
3 Ấn Độ từ thế kỷ XII TCN đến thế kỷ VI TCN 6
4 Vương triều Môrya (321 – 187 TCN) 6
III NHỮNG THÀNH TỰU VĂN HOÁ TIÊU BIỂU 6
1 Tư tưởng triết lí và tư tưởng tôn giáo ở Ấn Độ cổ đại: 6
1.1 Đạo Bà Lamôn: 7
1.2 Đạo Phật: 7
1.3 Hinđu giáo – Ấn Độ giáo: 7
2 Chữ viết và ngôn ngữ: 8
3 Nghệ thuật: 8
4 Khoa học tự nhiên: 9
5 Các trào lưu triết học ở Ấn Độ: 9
NGUỒN THAM KHẢO 10
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Ấn Độ là một đất nước có lịch sử từ lâu đời Thế giới nhìn nhận Ấn Độ như là một trong những nền văn hóa phát triển rực rỡ nhất của văn minh nhân loại Trong lịch
sử, Ấn Độ đã phát triển nền văn hóa của họ đến mức rực rỡ hàng ngàn năm trước công nguyên Ngày nay những di sản ấy vẫn còn Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, người Ấn
Độ đã và đang đóng góp rất nhiều vào kho tàng văn hóa nhân loại Không chỉ là thơ
ca, nghệ thuật, tư tưởng triết học, những công trình kiến trúc độc đáo mà nổi bật nhất
là bao thế hệ con người tài hoa đang duy trì văn hóa của họ và đóng góp ngày càng nhiều cho nhân loại Vậy chúng ta đã thực sự hiểu hết về lịch sử cũng như thành tựu của đất nước này, vì thế trong học phần lịch sử văn minh thế giới hôm nay, nhóm 4 xin trình bày nội dung mang tên Lịch sử Ấn Độ cổ đại
Trang 4I ĐIẠ LÍ VÀ DÂN CƯ
1 Vị trí địa lí :
Bất cứ một nhà văn hóa, hay một du khách nào khi đến Ấn Độ cũng có thể dễ dàng nhận thấy ngay được cái vị trí địa lí độc đáo của nó: chắn ngang ở phía Bắc dãy Himalaya nhìn xuống cả thế giới, quanh năm tuyết phủ trắng xóa Nhìn sâu về phía Nam là một đại dương mênh mông Trong khi mở cánh cửa ra hai bên Đông Tây, vừa như thách thức, vừa như mời chào xứ sở của những nền văn minh chứa đầy sức mạnh
và khả năng lan tỏa
Với diện tích hơn triệu km2, đứng thứ bảy trên thế giới, có hình dáng của một tam giác với đỉnh đặt ngược kéo dài từ 8o6 đến 37o6 vĩ độ Bắc và trải rộng từ 68o7 đến 97o2 kinh độ Đông Chiều dài cực đại của lãnh thổ Ấn Độ là 3.220 km, chiều rộng
là 2.980 km Ấn Độ là một bán đảo rộng lớn hình tam giác ở Nam á,phía Tây và Đông của Ấn Độ đều giáp biển, từ Đông Bắc đến Tây Bắc có núi chắn ngang, trong đó có dãy Himalaya nổi tiếng ngăn Ấn Độ với Trung Quốc ở phía Bắc, phía Tây Bắc giáp với các nước Tây Á Ấn Độ chia làm hai miền Nam, Bắc lấy dãy núi Vinđya làm ranh giới Miền Bắc Ấn Độ có hai con sông lớn là sông Ấn (Indus) và sông Hằng (Gange) Sông Ấn chia làm 5 nhánh, nên đồng bằng lưu vực sông Ấn được gọi là vùng Pungiáp (vùng Năm sông) Tên nước Ấn Độ là gọi theo tên con sông này Sông Hằng ở phía Đông được coi là một dòng sông thiêng
Từ xưa nhân dân Ấn Độ thường đến khúc sông ở thành phố Varanadi (Bênarét)
để cử hành lễ tắm mang tính chất tôn giáo Cả hai dòng sông này đã bồi đắp thành hai đồng bằng màu mỡ ở miền Bắc Ấn Độ, vì vậy nơi đây đã trở thành cái nôi của nền văn minh của đất nước này
Những đặc điểm nổi bật trên về mặt địa lý đã khiến cho Ấn Độ có một điều kiện tự nhiên thiên phú để xây dựng được nét văn minh đặc trưng bản địa của riêng mình Đây là một trong những điều kiện hết sức quan trọng không thể không kể đến khi tìm hiểu nghiên cứu về Ấn Độ Tuy nhiên nếu chỉ có như vậy sẽ chưa thấy hết được về mặt tự nhiên của Ấn Độ mà phải kể đến về mặt địa hình
2 Địa hình :
Trên đại thể, Ấn Độ có thể được chia làm 3 miền tự nhiên khác biệt, đúng hơn,
đó là ba phức hợp địa hình khổng lồ: rặng Himalya (phía Băc), đồng bằng Ấn - Hằng
và bán đảo Decan (phía Nam)
Trang 52.1 Rặng Himalaya
Miền Bắc Ấn Độ bắt đầu từ các dãy núi phía Bắc qua đồng bằng Ấn- Hằng đến dãy Vinđya Cực Bắc là dãy Himalaya đồ sộ dài 2600km theo hình vòng cung lồi, gồm những đỉnh núi cao với trên 40 ngọn núi cao từ 7000 - 8000 m, quay năm tuyết phủ đầy, vì thế nơi đây được mệnh danh là nóc nhà của thế giới Dãy Himalaya giống như một bức tường thành khổng lồ án ngữ tự nhiên về phía Bắc để bảo vệ Ấn Độ khỏi ảnh hưởng của khí hậu khắc nghiệt lục địa
Là một dãy núi cổ xưa nên không chỉ có những thảm động - thực vật phong phú
và đa dạng, rặng Himalaya còn giữ một vai trò rất quan trọng trong đời sống văn hóa của người dân Ấn Độ Trong trí tưởng tượng của người Ấn Độ cổ đại, rặng Himalaya
là thứ “trụ trời” - từng là nơi trú ngụ của nhiều vị thần linh trong thần phả Ấn Độ Các đạo sĩ khổ hạnh vẫn lấy rặng Himalaya với phong cảnh hùng vĩ và vắng lặng làm nơi tọa thiền, tu hành khổ luyện để mong ngày đắc đạo Từ đó mới có được những chân kinh quý giá của các thiền phái Theo Mokasha trong Ấn Độ giáo từng viết: “Trong đời sống tâm linh Ấn Độ, Himalaya được coi là nơi linh thiêng,là nơi cư ngụ của các
vị thần Hindu giáo, nơi con người suy tư về bí mật nhân sinh của vũ trụ, đồng thời cũng là nơi nhiều tu sĩ tìm đến thực hiện khát vọng giải thoát.” Như vậy có thể thấy rằng, Himalaya không chỉ là một phần tạo nên cảnh trí tự nhiên của Ấn Độ mà nó cũng ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống văn hóa, tâm linh của con người Ấn Độ qua những chặng đường lịch sử
2.2 Đồng bằng Ấn - Hằng và bán đảo Decan
Đi về phía Nam của rặng Himalaya, chúng ta sẽ bắt gặp một trong những đồng bằng rộng lớn nhất thế giới - đó là đồng bằng Ấn Hằng Nó được tạo bởi châu thổ của hai dòng sông lớn từ ngàn đời xưa: sông Ấn ở phía Tây và sông Hằng ở phía Đông Sông Ấn là một dòng sông từng mang tên đất nước Ấn Độ cổ đại, được nhiều lần nhắc đến trọng kịch Vêđa Chính ở châu thổ của dòng sông này, cách đây hơn 40 thế kỷ đã hình thành những khu vực văn hóa đầu tiên của Ấn độ, đó là nền văn hóa Sông Ấn với các di chỉ khảo cổ nổi tiếng Harappa và Mohenjo Daro
Ở phía đông, nằm gần như đối xứng với sông Ấn là sông Hằng, con sông được coi là linh thiêng thần thánh, vị thần bảo hộ cho cuộc sống và con người Ấn Độ trong hình ảnh của nữ thần Ganga Nguyễn Văn Ánh từng viết: “Đối với người Ấn Độ, sông
Trang 6Hằng là sông Mẹ và là dòng sông linh thiêng Họ có niềm tin sâu sắc rằng, người nào đến được sông Hằng, uống nước sông Hằng, tắm trong làn nước sông Hằng thì sẽ gột rửa được mọi tội lỗi và được hạnh phúc trong kiếp sau.”
Đi sâu hơn về phía nam là khu vực Đê- can, nơi có cao nguyên Đê-can với đất đai khô cằn, hai dãy núi Đông- gát và Tây- gát cùng một số con sông nhỏ và đông bằng hẹp Điều kiện ở vùng Đê-can khó khăn hơn so với đồng bằng Ấn- Hằng vì vậy diễn tiến lịch sử cũng chậm chạp hơn, những xáo trộn và biến động chính trị cũng diễn
ra ít hơn Ngày nay nơi đây vẫn lưu giữ những phong tục cổ xưa và những quan niệm tương đối bảo thủ
3 Khí hậu:
Phía Bắc là khí hậu ôn đới, phía Nam là khí hậu xích đạo, phía Tây và phía Đông lại chịu ảnh hưởng của khí hậu dương Khí hậu Ấn Độ vẫn có nét chung nổi bật
là gió mùa- nhân tố mang đến cho Ấn Độ một lượng mưa lớn nhưng lượng mưa cũng phân bố không đều Vùng Đông bắc Ấn có lượng mưa lớn quanh năm do có dãy Hymalaya án ngữ, vùng Tây bắc lại mưa ít nên cư dân phải xây nhiều công trình thủy lợi phục vụ trồng trọt
Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên
Ấn Độ là một mảnh đất rộng lớn, có các điều kiện tự nhiên vô cùng đa dạng, phong phú Chính sự đa dạng về mặt tự nhiên tạo nên sự đa dạng, khác biệt mạnh mẽ
về tôn giáo, ngôn ngữ và văn hóa Mỗi vùng miền ở mảnh đất Ấn Độ lại đem trong mình một nét độc đáo, khác biệt riêng Tuy nhiên chính sự khác biệt này là nguồn cơn cho những xung đột chính trị kéo dài hàng thế kỷ Khung địa lý của Ấn Độ, tuy tương đối bằng phẳng nhưng lại quá đa dạng quá phức tạp để có một sự cai trị tập trung và vững mạnh, xuyên suốt chiều dài lịch sử của mình, có rất nhiều thế lực cai trị hay dân tộc ngoại lai xâm lược Ấn Độ nhưng gần như chưa bao giờ cai trị và kiểm soát hoàn toàn Ấn Độ
4 Dân cư:
Các nhà nghiên cứu cho rằng cư dân bản địa lâu đời nhất ở Ấn Độ là người Đraviđa, có màu da ngăm đen hiện đang sống ở cao nguyên Đê-can và vùng cực Nam
Ấn Độ Thiên niên kỷ II TCN, người Arya thuộc chủng tộc Ơ-rô-pơ-rít vốn cư trú tại Trung Á cư xuống phía Nam, xâm nhập và chiếm lãnh thổ bắc Ấn đẩy người Đraviđa
Trang 7xuống phía nam Từ thiên niên kỷ I TCN, các tộc người Hung Nô, A Rập, Mông Cổ xâm nhập Ấn Độ từ phía bắc và phía Tây Các tộc người ở Ấn Độ sống xen kẽ, vừa hòa hợp vừa biệt lập do cách biệt địa lý, xã hội, chủng tộc…
II XÃ HỘI ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI
1 Thời kỳ văn minh lưu vực sông Ấn (từ đầu thiên kỷ III đến giữa thiên kỷ II TCN):
Vào thời kỳ này, xã hội Ấn Độ đã phát triển rất phồn vinh với nền kinh tế phát triển ở mức cao so với những nơi khác cùng thời Tuy nhiên, vào khoảng thiên niên kỷ
II TCN, nền văn minh này đã dần tàn lụi mà hiện nay vẫn chưa thể tìm được rõ nguyên nhân Phần lớn giới khoa học cho rằng đó là do sự thay đổi của các điều kiện tự nhiên như sự đổi dòng của sông Ấn hoặc là sự lan rộng của sa mạc Từ khoảng đầu thiên kỷ III TCN, nhà nước Ấn Độ đã ra đời, nhưng cả giai đoạn từ đó cho đến khoảng giữa thiên kỷ II TCN, trước đây chưa được biết đến Mãi đến năm 1920 và 1921, nhờ việc phát hiện ra hai thành phố Harappa và Môhenjô Đarô cũng rất nhiều hiện vật bị chôn vùi dưới đất ở vùng lưu vực sông Ấn, người ta mới biết được thời kỳ lịch sử này Những hiện vật khảo cổ học chỉ giúp người ta biết được tình hình phát triển của các ngành kinh tế và văn hóa, qua đó có thể suy ra đây là thời kỳ đã có nhà nước, chứ chưa biết được lịch sử cụ thể, vì vậy người ta gọi thời kỳ này là thời kỳ văn hóa Harappa hoặc thời kỳ văn minh lưu vực sông Ấn
2 Thời kỳ Vêđa (từ giữa thiên kỷ II đến giữa thiên kỷ I TCN)
Đây là thời kỳ văn minh Ấn Độ gắn với con sông Hằng và được phản ánh trong bộ kinh Veda Vêđa vốn là những tác phẩm văn học, gồm có 4 tập là: Rich Vêđa, Xama Vêđa, Atácva Vêđa và Yagiva Vêđa, trong đó Rich Vêđa được sáng tác vào khoảng giữa thiên kỷ II đến cuối thiên kỷ II TCN, còn 3 tập Vêđa khác thì được sáng tác vào khoảng đầu thiên kỷ I TCN.Chủ nhân của thời kỳ Vêđa là người Arya (nghĩa là
“Người cao quý”) mới di cư từ Trung á vào Ấn Độ Địa bàn sinh sống của họ trong thời kỳ này chủ yếu là vùng lưu vực sông Hằng Trong giai đoạn đầu của thời Vêđa, người Arya đang sống trong giai đoạn tan rã của xã hội nguyên thủy đến khoảng cuối thiên kỷ II TCN, họ mới tiến vào xã hội có nhà nước Chính trong thời kỳ này, ở Ấn
Độ đã xuất hiện hai vấn đề có ảnh hưởng rất quan trọng và lâu dài trong xã hội nước này, đó là chế độ đẳng cấp (varna) và đạo Bàlamôn Vào khoảng những năm 600 TCN
Trang 8trên lãnh thổ Ấn Độ tồn tại nhiều quốc gia nhỏ, giữa chúng thường xuyên xảy ra những cuộc chiến tranh xâm lược, thâu tóm lẫn nhau Đến thời kỳ này, còn lại 4 quốc gia lớn là Kashi, Koshala, Magadha và Vrijis, trong đó Magadha là quốc gia mạnh nhất
3 Ấn Độ từ thế kỷ XII TCN đến thế kỷ VI TCN
Các quốc gia ở miền Bắc Ấn Độ và sự xâm lược của Alêchxăngđrơ Makêđônia Bắt đầu từ thế kỷ VI TCN, Ấn Độ mới có sử sách ghi chép về tình hình chính trị của đất nước mình Lúc bấy giờ ở miền Bắc Ấn Độ có 16 nước, trong đó mạnh nhất là nước Magađa hạ lưu sông Hằng Trong số các nước như ở Tây Bắc Ấn Độ, chỉ có nước Po là tương đối lớn Năm 327 TCN, sau khi tiêu diệt Ba Tư, quân đội Makêđônia do Alêchxăngđrơ chỉ huy đã tấn công Ấn Độ Quân đội của nước họ đã chiến đấu rất dũng cảm nhưng cuối cùng bị thất bại Alêchxăngđrơ định tiến sang phía Đông tấn công nước Magađa nhưng quân sĩ đã quá mệt mỏi sau một cuộc trường trinh nhiều năm nên phải rút lui, chỉ để lại một lực lượng chiếm đóng ở hai cứ điểm đã chiếm được
4 Vương triều Môrya (321 – 187 TCN)
Ngay sau khi Alêchxăngđrơ rút lui, ở Ấn Độ đã dấy lên phong trào đấu tranh giải phóng chống lại sự chiếm đóng của quân Makêđônia Thủ lĩnh của phong trào này
là Sanđragupta, biệt hiệu là Môrya (chim công) Quân Makêđônia bị đuổi khỏi Ấn Độ, Sanđragupta làm chủ được cả vùng Pungiáp Tiếp đó, ông tiến quân về phía Đông giành được ngôi vua ở Magađa; lập nên một triều đại mới gọi là vương triều Môrya, triều đại huy hoàng nhất trong lịch sử Ấn Độ cổ đại Đến thời Axôca (273-236 TCN), vương triều Môrya đạt đến giai đoạn cường thịnh nhất Đạo Phật ra đời từ khoảng thế
kỷ V TCN, đến thời kỳ này được phát triển nhanh chóng và trở thành quốc giáo Sau khi Axôca chết, vương triều Môrya suy sụp nhanh chóng, nước Magađa thống nhất dần dần tan rã, đến năm 28 TCN thì diệt vong
III NHỮNG THÀNH TỰU VĂN HOÁ TIÊU BIỂU
1 Tư tưởng triết lí và tư tưởng tôn giáo ở Ấn Độ cổ đại:
Tác giả Nguyễn Văn Ánh đã viết: “Tôn giáo đóng vai trò quan trọng trong đời
sống của người Ấn Độ Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, Ấn Độ là sứ sở của tôn giáo Nơi đây không chỉ hình thành nhiều tôn giáo, mà hơn thế nữa, tôn giáo đã chi phối sâu sắc đời sống tinh thần, chính trị, xã hội, kinh tế và văn hoá của người Ấn Độ.”
Trang 91.1 Đạo Bà Lamôn:
“Đạo Bàlamôn không có người sáng lập, không có giáo chủ”(Vũ Dương Ninh,
Lịch sử văn minh thế giới) Tôn giáo này có những lễ nghi hà khắc: Nhân tế, Mã tế,
tục Sa ti Vũ Dương Ninh đã viết: “Giáo lý quan trong nhất của đạo Balamôn là
thuyết luân hồi mà sau này nhiều tôn giáo khác chịu ảnh hưởng.” Đối tượng thờ cúng
của tôn giáo này là đa thần trong đó quan trọng nhất là Thần sáng tạo, Thần hủy diệt
và Thần bảo vệ Trong cuốn “Lịch sử văn minh thế giới”, Nguyễn Văn Ánh: “ Giáo lý
của đạo Bàlamôn đề cao vị thần Brama(Phạm Thiên), coi Brama là thực thể tối cao của thế giới […]” Tác giả Vũ Dương Ninh đã nhận xét: “Về mặt xã hội, đạo Balamôn là công cụ để bảo vệ chế độ đẳng cấp.” Do sự bảo vệ đặc quyền, đặc lợi cho
các đẳng cấp Bà Lamôn, bảo vệ sự không bình đẳng trong xã hội vì vậy mặc dù Bà Lamôn lúc đầu được truyền bá rộng rãi trong cư dân Ấn Độ nhưng đã buộc phải nhường chỗ cho tôn giáo khác
1.2 Đạo Phật:
Đạo phật ra đời từ thế kỉ VI TCN Nội dung học thuyết của Đạo Phật là lí giải
về nỗi khổ đau và giải thoát nổi khổ đau chỉ chủ yếu là sự cứu vớt Dựa theo cuốn
“Lịch sử văn minh thế giới” của tác giả Vũ Dương Ninh, đạo Phật đề ra “Tứ Diệu Đế”,
“Bát chánh”, và “Ngũ giới” Cũng trong cuốn sách cùng tên, tác giả Nguyễn Văn Ánh
đã viết: “Trong thế giới quan, đạo Phật đề ra thuyết Thập nhị nhân duyên Thuyết này
cho rằng, trong vũ trụ, sự vật sinh ra do nhân duyên hoà hợp, sự vật diệt vong là do nhân duyên tan rã, do đó sự vật không có thực thể mà chỉ có một cách giả tạm, hư giả.” Ngoài ra đạo Phật còn đề ra thuyết Vô thường và Vô ngã Đến thời Gúpta, thế kỉ
V SCN, đạo Phật không giữ được vị trí như các thời kì trước mà dần dần nhường chỗ cho Ấn Độ giáo - Đạo Hindu
1.3 Hinđu giáo – Ấn Độ giáo:
Hinđu giáo hay còn gọi là Ấn Độ giáo đã bắt đầu phát triển từ 500 TCN Theo Nguyễn Văn Ánh, Hindu giáo là thành quả của sự phục hưng của đạo Bàlamôn Tác
giả có viết: “Về tín ngưỡng, là một tôn giáo không có người sáng lập và không có kinh
điển thông nhất nên tín ngưỡng của đạo Hindu bao gồm một phần những tín ngưỡng
cơ bản của đạo Bàlamôn còn được bảo lưu[…]” Đạo Hinđu vừa phản ánh đúng thực
tại xã hội lại vừa có những điểm có lợi cho giai cấp thống trị nên nó bắt rễ sâu vào đời
Trang 10sống xã hội Ấn độ Ấn Độ giáo thờ ba vị thần thượng đẳng: Brama (sáng tạo), Vishnu (bảo tồn) và Shiva (hủy diệt) Ngoài ra còn thờ các thần lớn, nhỏ khác nhau đều là hóa thân của Vishnu và Shiva Ấn Độ giáo ngày càng phát triển và lớn mạnh, trở thành quốc giáo của Ấn Độ (chiếm 80% dân số)
Ngoài những tôn giáo lớn trên đây Ấn Độ còn có hàng trăm tôn giáo, tín ngưỡng khác nhau, nhưng các tôn giáo tuy có những điểm khác biệt thì ngàn đời nay vẫn chung sống hòa bình với nhau, làm nên đời sống tâm linh vô cùng phong phú ở Ấn Độ
2 Chữ viết và ngôn ngữ:
Ngôn ngữ Ấn Độ rất phức tạp, nhưng đó là những đóng góp đặc sắc của cư dân nền văn minh sông Ấn là tạo ra chữ viết khắc trên 3.000 con dấu Loại chữ viết này là chữ ghi âm và ghi vần, viết từ phải sang trái, có 62 dấu sau còn 22 Ấn Độ còn có chữ
Brami Tác giả Vũ Dương Ninh có viết: “Trên cơ sở chữ Brami, thế kỉ V ở Ấn Độ lại
xuất hiện chữ Sanscrit, đây là cơ sơ của nhiều loại chữ viết ở Ấn Độ và Đông Nam Á sau này.” Cùng với Sankrit, cư dân Ấn Độ còn dùng tiếng Pali, mà cơ sở của nó là
khẩu ngữ vùng Magada để viết kinh Do sự phát triển của khẩu ngữ này mà tiếng Pali trở thành một loại từ ngữ như tiếng Phạn Hiện nay, ở các nước Phật giáo phái Tiểu thừa thịnh hành như Srilanca, Myanmar, Thái Lan, tiếng Pali vẫn được sử dụng như một loại ngôn ngữ mà giới sư sãi dùng để tụng kinh
3 Nghệ thuật:
Tác giả Vũ Dương Ninh nhận xét: “Ấn Độ là nơi có nền nghệ thuật tạo hình
phát triển rực rỡ, ảnh hưởng tới nhiều nước Đông Nam Á Nghệ thuật Ấn Độ cổ đại hầu hết đều phục vụ một tôn giáo nhất định, do yêu cầu của tôn giáo đó mà thể hiện.”
Nghệ thuật Ấn Độ chia ra ba dòng nghệ thuật: Hinđu giáo, Phật giáo, Hồi giáo Có rất nhiều chùa tháp Phật giáo, nhưng đáng kể đầu tiên là dãy chùa hang Ajanta ở miền trung Ấn Độ Các công trình kiến trúc Hindu giáo được xây dựng nhiều nơi trên đất
Ấn Độ và được xây dựng nhiều vào khoảng thế kỉ VII - XI Tiêu biểu cho các công trình Hindu giáo là cụm đền tháp Khajuraho ở Trung Ấn Những công trình kiến trúc Hồi giáo nổi bật ở Ấn Độ là tháp Mina, được xây dựng vào khoảng thế kỉ XIII và lăng Taj Mahal được xây dựng vào khoảng thế kỉ XVII