Nhóm lựa chọn nghiên cứu ba quốc gia này bởi lẽ Mỹ trong Chiến tranh lạnh đang là “anh cả” của cực tư bản chủ nghĩa, có sức mạnh khống chế kinh tế và chính trị đối với các nước Tây Âu..
Trang 1HỌC VI N NGO Ệ ẠI GIAO KHOA CHÍNH TR Ị QUỐ C T Ế & NGO I GIAO Ạ
NGÀNH CHÂU Á THÁI BÌNH DƯƠNG
-
-
TIỂ U LU N CUỐI KỲ MÔN L CH S QUAN H Ậ Ị Ử Ệ QUỐ C T Ế
ĐỀ BÀI: QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH EC C – ỘNG ĐỒNG CHÂU ÂU
Giáo viên hướng dẫn: GS.TS Nguyễn Thái Yên Hương Nhóm th c hiự ện: Nhóm 32
Sinh viên th c hi n: ự ệ
Hoàng Qu ế An
Đoàn Hải Bình
Hoàng Ki u Oanh ề
Hà Minh Phương
Mã SV
CATBD49-A4-0003 CATBD49-A4-0020 CATBD49-A4-0112 CATBD49-A4-0115
Lớp: Trung Quốc học (49A4)
HÀ NỘI - 2022
Trang 2MỤC LỤC
PHẦN B: N I DUNG NGHIÊN C U Ộ Ứ
1 Nguyên nhân thành lập
1.1 Sự thay đổi cơ cấu lực lượng giữa các nước
phương Tây
1.2 Mong muốn chống lại sự khống chế của Mỹ
1.3 Muốn đối phó với sự phát triển kinh tế, chính
trị của các nước xã hội chủ nghĩa
3 - 5
2 Quá trình hình thành
2.1 Cộng đồng than-thép châu Âu
2.2 C ộng đồng kinh t châu Âuế
2.3 C ộng đồng năng lượng nguyên t ử
5 – 8
II Động thái c a M - Anh ủ ỹ – Pháp trước sự ra đời
1 Cách tiế p c n c a Mỹ i v i Cậ ủ đố ớ ộng đồng châu Âu
1.1 M ỹ lợi d ng ti m l c kinh t ụ ề ự ế để ả c n tr Th ở ị
trường chung phát tri n ể
1.2 M ỹ lợi d ng mâu thu n trong n i b châu Âuụ ẫ ộ ộ
8 - 9
2 Cách tiế p c n của Anh đối với Cộng đồng châu ậ
Âu
2.1 Khi nước Anh còn “hờ ững” với “Thị h trường
chung”
2.2 Nước Anh khi đối diện vớ i lo ngại b cô lập ị
khỏi th ịtrường châu Âu
9 - 11
3 Động thái c a Pháp trong Củ ộng đồng châu Âu
3.1 Những n l ỗ ực để giữ lấy vai trò ch ủ đạo trong
chính trị
3.1.1 Trực tiếp đối đầu v i M ớ ỹ
3.1.2 Khởi đầu và thúc đẩy ti n trình liên kế ết
châu Âu
3.2 Cuộ c đ u tranh trên th ịtrường kinh t ấ ế
12 - 13
Trang 3PHẦN C: PH L C Ụ Ụ
PHẦN A: LỜ I M ĐẦU Ở Sau chiến tranh thế giới thứ II, kế hoạch Mác san không phải chỉ sinh
-ra với mục đích giúp đỡ cho các nước Tây Âu phục hồi kinh tế mà còn tạo điều kiện cho các giới cầm quyền Mỹ tăng cường sức ảnh hưởng chính trị và kinh tế của các nước tư bản nhận viện trợ, làm cho Tây Âu bị lệ thuộc vào
Mỹ, chịu sự khống chế về chính trị của Mỹ
Nhưng đến những thập niên 60 và 90 thì thực lực kinh tế Tây Âu đặc biệt là Pháp ngày càng càng phát triển mạnh mẽ và nuôi tham vọng trở lại vai trò độc lập trên sân khấu quốc tế và bước ra khỏi sự khống chế của Mỹ cũng như đối phó với sự phát triển của xã hội chủ nghĩa Từ thập niên 60, tư tưởng hợp tác chiến lược giữa một số nước Tây Âu của tổng thống Pháp Đờ Gôn - dần dần hình thành Từ đó mà EC European Community được ra đời.-
Để nghiên c u v vứ ề ấn đề hình thành EC, nhóm nghiên cứu đã quyết
định tri n khai tìm hi u theo hai luể ể ận điểm l n ớ
Thứ nhất là lý gi i ba nguyên nhân chính dả ẫn đến sự ra đờ ủi c a Cộng đồng châu Âu và trình bày quá trình EC ra đời t ba t ừ ổ chức ti n thân là: ề Cộng đồng than thép châu Âu, Cộng đồng năng lượng nguyên tử châu Âu và Cộng -đồng kinh tế châu Âu
Thứ hai là nghiên cứu đến các chính sách kinh tế, đường lối đối ngoại
và quan điểm của ba nước Mỹ, Anh và Pháp trước sự ra đời của một tổ chức kinh tế mới này Nhóm lựa chọn nghiên cứu ba quốc gia này bởi lẽ Mỹ trong Chiến tranh lạnh đang là “anh cả” của cực tư bản chủ nghĩa, có sức mạnh khống chế kinh tế và chính trị đối với các nước Tây Âu Nước Anh là một nước Tây Âu ban đầu bị gạt ra ngoài khỏi công tác hội nhập kinh tế và nghe theo sự khống chế của Mỹ nhằm giảm sức ảnh hưởng của Thị trường chung Còn nhắc đến sự ra đời của EC không thể không nhắc đến động thái của nước Pháp bởi lẽ đó là nơi khởi xướng ra ý tưởng hợp tác chiến lược giữa một số nước Tây Âu để vùng lên, thoát ra khỏi bàn tay nước Mỹ
Trang 4PHẦN B: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
I Sự hình thành EC
1 Nguyên nhân thành lập
Kế hoạch Mác san đã giúp cho các nước Tây Âu phục hồi kinh tế mà -còn tạo điều kiện cho các giới cầm quyền Mỹ tăng cường sức ảnh hưởng chính trị và kinh tế của tư bản độc quyền Mỹ tại các nước nhận viện trợ, làm cho Tây Âu bị lệ thuộc vào Mỹ, chịu sự khống chế về chính trị của Mỹ Thực lực kinh tế Tây Âu ngày càng được tăng cường, có mong muốn trở lại vai trò độc lập trên sân khấu quốc tế và bước ra khỏi sự khống chế của Mỹ cũng như đối phó với sự phát triển của xã hội chủ nghĩa Từ thập niên 60, tư tưởng hợp tác chiến lược giữa một số nước Tây Âu của tổng thống Pháp Đờ Gôn dần dần - hình thành Từ đó mà EC European Community được ra đời.-
1.1 Sự thay đổi cơ cấu lực lượng giữa các nước phương Tây
Khi chiến tranh thế giới II kết thúc, những thiệt hại mà cuộc chiến để lại là vô cùng nặng nề, chủ nghĩa đế quốc suy yếu trầm trọng, không chỉ các nước bại trận phải gánh chịu những hậu quả nghiêm trọng như Đức, Italia, Nhật Bản mà các nước thắng trận cũng bị tổn thất nặng nề: Pháp bị kiệt quệ, Anh bị tàn phá nghiêm trọng, Nhưng đối với Mỹ, sau cuộc chiến này đã trở nên giàu có lên rất nhiều, trở thành chủ nợ của thế giới nhờ việc bán vũ khí cho các nước tham chiến và không phải hứng chịu hậu quả mà cuộc chiến tranh này mang lại
Với những ưu thế về kinh tế và quân sự hơn hẳn các nước khác, Mỹ đã nuôi ý định trở thành bá chủ thế giới, buộc các nước tư bản phải tuân theo mệnh lệnh của mình Đế quốc này đã lợi dụng những khó khăn của các nước đồng minh để tạo sự khống chế với những nước ấy và mở rộng ảnh hưởng ở các nước thuộc địa
Tuy nhiên sau khi nền kinh tế của các nước Tây Âu phục hồi thì ngày càng phát triển Nhờ áp dụng những phát minh mới của khoa học kỹ thuật, các nước phương Tây đã đưa nền kinh tế phát triển nhanh hơn bất cứ giai đoạn nào
Từ cuối những năm 50 tuy Mỹ vẫn là nước mạnh nhất về kinh tế, tài chính, quân sự giữa các nước tư bản chủ nghĩa nhưng Mỹ đã không còn chiếm
ưu thế tuyệt đối nữa Từ 1956 1964, tốc độ tăng trưởng hàng năm của Mỹ là -3,6%, trong khi đó toàn thế giới tư bản là 5,25%, trong đó Tây Đức là 7,3%, Pháp 6,2%, Italia 8,25, Nhật Bản 15,8% Cùng với nhiều biến động khác đã khiến bối cảnh so sánh lực lượng kinh tế trong hệ thống tư bản chủ nghĩa thay đổi theo chiều hướng bất lợi cho Mỹ
Trang 51.2 Mong muốn chống lại sự khống chế của Mỹ
Vào cuối thập niên 40, đầu thập niên 50, chiến tranh lạnh giữa hai phe đối đầu là tự bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa đang leo thang, tại Châu Âu,
Mỹ đã thành lập nên Tổ chức hiệp ước Bắc đại Tây Dương (1949) và thiết lập ảnh hưởng của mình đối với các nước phương Tây thông qua kế hoạch Marshall, kế hoạch này đã giúp cho các nước Tây Âu phục hồi kinh tế sau chiến tranh thế giới II nhưng nó cũng làm cho các nước Tây Âu bị lệ thuộc và chịu sự khống chế về chính trị của Mỹ, điều này đã khiến cho uy tín cũng như vai trò của các nước Tây Âu bị giảm sút Và cũng sau thế chiến II đã hình thành một trật tự thế giới mới, trật tự hai cực Mỹ Liên Xô, vì vậy đã đặt các - nước Tây Âu xuống vị trí cường quốc hạng hai
Đến cuối những năm 50, tại Tây Âu kinh tế phục hồi và phát triển nhanh hơn Mỹ, từ đó đã tạo tiền đề để cạnh tranh trở lại với Mỹ Người khởi xướng việc tập hợp các nước châu Âu để đấu tranh lại với Mỹ, giành lại địa
vị và vai trò của họ đã bị Mỹ tước đoạt từ sau chiến tranh là tổng thống Pháp Charles de Gaulle, từ lâu ông đã muốn thực hiện chính sách đối ngoại độc lập nhằm giảm bớt đi sự ảnh hưởng của Mỹ và mong muốn Pháp có vị trí quan trọng ở châu Âu, rộng hơn là trên thế giới Để có thể đạt được mục tiêu, ông phải giải quyết tình trạng nghi kỵ, thiếu lòng tin, xoa dịu tình cảm của nhân dân Pháp và Đức, đồng thời tiến tới xây dựng mối quan hệ mới dựa trên cơ
sở hợp tác và liên minh với Tây Đức
Vào cuối những năm 60, khi Mỹ bị suy yếu và rơi vào tình thế vô cùng khó khăn trong chiến tranh xâm lược tại Việt Nam đã tạo thêm cơ hội để các nước Tây Âu đấu tranh chống lại sự khống chế của Mỹ
1.3 Muốn đối phó với sự phát triển kinh tế, chính trị của các nước
xã hội chủ nghĩa
Sau khi thế chiến II chấm dứt, hệ thống hai cực Ianta hình thành, Chiến tranh lạnh nổ ra, Châu Âu bị chia cắt bởi Bức tường Berlin, điều đó đã khiến bức tường ấy trở thành ranh giới giữa hai hệ tư tưởng đối lập nhau: Tư bản chủ nghĩa và Xã hội chủ nghĩa Khi Đông Âu được thành lập và chủ nghĩa cộng sản có khuynh hướng mở rộng thì ảnh hưởng của Liên Xô ngày càng được lan rộng Tình hình Tây Âu lúc này còn tồn tại nhiều vấn đề bất ổn Những nhà lãnh đạo châu Âu sợ rằng cuộc xung đột giữa các quốc gia ở châu
Âu có sự thù địch lâu đời như Pháp và Đức có thể sẽ lặp lại và làm suy yếu nền kinh tế của châu Âu Họ không thể đối chọi với các nước XHCN khi nội
bộ còn có nhiều mâu thuẫn
Vì vậy để giải quyết những vấn đề ấy họ cần phải thống nhất và phát triển hòa bình thay vì chĩa súng vào nhau để có thể phát triển kinh tế, ổn định
Trang 6chính trị, đối phó với sự phát triển vững mạnh về kinh tế, chính trị của các nước xã hội chủ nghĩa
Như vậy, xuất phát từ nền văn minh chung, trình độ phát triển không quá cách biệt nhau, cùng chịu những tổn thất nặng nề mà cuộc chiến thế giới
II đem lại, muốn giải quyết những mâu thuẫn căng thẳng của Pháp và Đức để tránh có thể xảy ra một cuộc chiến tranh trong tương lai, ổn định chính trị và phát triển kinh tế, muốn hạn chế những ảnh hưởng to lớn của Mỹ đối với những nước này, vì vậy đã dẫn đến sự liên kết và hội nhập giữa các nước Tây
Âu
2 Quá trình hình thành EC
Cộng đồng châu Âu được hình thành từ sự sáp nhập của ba Cộng đồng, bao gồm: Cộng đồng than thép châu Âu, Cộng đồng năng lượng nguyên tử -châu Âu và Cộng đồng kinh tế -châu Âu
Để nâng cao hơn nữa hiệu quả liên kết giữa sáu nước thành viên trong
3 cộng đồng nêu trên và tránh sự trùng lặp giữa các chức năng và hoạt động của các thể chế trong ba cộng đồng, vào ngày 8/4/1965 tại Brussels, sáu nước
đã ký hiệp ước thống nhất các thể chế hành pháp, có chung một Hội đồng Bộ trưởng, một Nghị viện đại diện và một Tòa án Công lý Hiệp ước này có hiệu lực từ năm 1967 Từ đó, người ta thường gọi các cộng đồng này dưới một tên chung là Cộng đồng châu Âu (European Community - EC)
2.1 Cộng đồng than-thép châu Âu
Người đầu tiên đưa ra sáng kiến mới khởi đầu cho quá trình liên kết châu Âu là ngoại trưởng Pháp Robert Schuman Trong tuyên bố của chính phủ công bố vào ngày 9/5/1950, Schuman đã đề cập đến việc thống nhất Châu
Âu từ lĩnh vực đầu tiên đó là lĩnh vực kinh tế Ông ấy đã đề nghị để cho một
cơ quan quyền lực chung trong một tổ chức mở cửa cho các nước châu Âu khác tham gia vào việc sản xuất than và thép của Pháp và Đức Đây là một ý tưởng bao hàm cả sự hòa giải những mâu thuẫn lâu đời giữa Pháp và Đức đồng thời làm khung cho sự thống nhất của châu Âu trong tương lai Chọn than và thép làm điểm khởi đầu để liên kết với nhau không phải là một sự vô
cớ, mà bởi vì tại Đức và Pháp thì than, sắt chính là thế mạnh riêng biệt, nó thường tập trung ở vùng tam giác biên giới, vì vậy thường xảy ra những bất đồng Ngoài ra than và sắt chính là những thành phần quan trọng và không thể thiếu trong chế tạo vũ khí Nếu như đặt than, sắt dưới sự quản lý chung nhằm chế tạo thép, điều đó không chỉ vừa có thể làm giảm những mâu thuẫn
và giúp làm dịu lại trong mối quan hệ giữa Pháp và Đức, đồng thời còn thuận lợi cho việc khôi phục và xây dựng kinh tế, tạo ra lợi ích kinh tế vừa cụ thể
và vừa có sự thiết thực
Trang 7Recommandé pour toi
Jjguidebook-mental - Xdjejb
The Geneva Conference of 1954
Lịch sử quan hệ quốc tế cận hiện đại 100% (1)
IRAC handout - IRAC
Suite du document ci-dessous
12
98
2
Trang 8Những cuộc hội đàm thảo luận về kế hoạch Schuman từ tháng 6/1950 kéo dài đến tháng 4/1951 Và đến ngày 18/4/1951 hội đàm kết thúc thông qua việc ký kết hiệp ước Paris xây dựng “Cộng đồng than thép châu Âu” - (European Coal and Steal Community - ECSC) bao gồm sáu nước tham gia: Pháp, Cộng hòa liên bang Đức, Italia, Bỉ, Hà Lan và Luxembourg, ECSC đi vào hoạt động từ tháng 3/1952, hiệp ước có hiệu lực trong vòng 50 năm Cộng đồng than thép châu Âu không chỉ là một khu vực tự do thương mại mà còn - đặt nền tảng cho một thị trường chung châu Âu với một số mặt hàng chủ đạo trong sản xuất công nghiệp như than và thép, điều này nhằm tạo ra khả năng
mở rộng, hiện đại hóa sản xuất, môi trường làm việc và chất lượng cuộc sống của người lao động trong lĩnh vực này cũng được cải thiện Tổ chức này tạo
ra thị trường chung về than và thép trên cơ sở các nước thành viên phối hợp hoạt động với nhau trong cả lĩnh vực trao đổi và lĩnh vực sản xuất
Cộng đồng than thép châu Âu là một tổ chức có tính chất siêu quốc - gia, nghĩa là các quốc gia thành viên trong một tổ chức quốc tế hoặc liên minh quốc tế có sức mạnh và ảnh hưởng vượt ra ngoài phạm vi trong nước Để giám sát ECSC, một số cơ quan siêu quốc gia đã được thành lập, bao gồm: một cơ quan điều hành, một hội đồng bộ trưởng, một hội đồng tư vấn và một tòa án công lý để có thể giải quyết tranh chấp Cơ quan tối cao là các cơ quan giúp việc cho Cộng đồng Đối với hội đồng bộ trưởng và đại hội được hình thành thông qua con đường tiến cử đại biểu trong thành phần Quốc hội của các nước tham gia và cũng như thông qua bầu cử trực tiếp.Trong nội bộ đại hội, các đại biểu được cơ cấu theo nguyên tắc đảng phái như: Đảng xã hội dân chủ, Dân -chủ- Thiên Chúa giáo,…đại diện cho các quốc gia của ECSC Hội đồng bộ trưởng gồm các bộ trưởng ngoại giao hoặc bộ trưởng kinh tế của các nước tương ứng
Tuy nhiên, không một quyết định quan trọng và then chốt nào có thể được thông qua nếu không có ý kiến của Pháp và Cộng hòa liên bang Đức Các văn bản thành lập ECSC đã tuyên bố tổ chức này là chủ thể của luật quốc
tế và trong lịch sử đây là trường hợp đầu tiên hình thành một liên hiệp hội nhập thực sự
2.2 Cộng đồng Kinh tế châu Âu
Thành công về mặt tư tưởng của Cộng đồng than thép đã thúc đẩy các -nhà “hội nhập” đi đến một ý tưởng mới, đó là hội nhập về quân sự chính trị -thông qua hai dự án đầy tham vọng là hình thành Cộng đồng phòng thủ châu
Âu ( European Defence Community - EDC) (1952) và Cộng đồng chính trị châu Âu (1953), nhưng những dự án ấy đều có kết quả là thất bại Mặc dù hiệp ước EDC đã được bộ trưởng ngoại giao Pháp, Cộng hòa liên bang Đức,
Trang 9Italia và các nước Benelux ký kết đúng thời hạn quy định vào ngày 27/5/1952, tuy nhiên khi phê chuẩn lại vấp phải sự phản đối của Pháp vì mối lo sợ việc nước Đức tái vũ trang
Sau sự thất bại của các dự án đã đề ra, các nhà lãnh đạo châu Âu đại lục quyết định sẽ tiếp tục mối quan hệ tương hỗ siêu quốc gia trong lĩnh vực kinh tế, ý tưởng hội nhập dựa trên những thành tựu của ECSC tiếp tục được đưa ra trong cuộc gặp của sáu nước Cộng đồng than–thép tại Messin (Italia) trong ngày 1 và ngày 2/6/1955 Vấn đề quan trọng của hội nghị là quyết định thành lập ủy ban chuyên trách có nhiệm vụ nghiên cứu khái niệm hội nhập Tây Âu về chính trị kinh tế với việc nhấn mạnh sự hợp tác trong phát triển - thị trường chung châu Âu và mục tiêu hàng đầu trong hội nghị là xây dựng một “thị trường chung”
Khi kinh tế của các nước Tây Âu trên đà tăng trưởng, đã có thời kỳ phát triển nhanh hơn cả Mỹ, sản xuất công nghiệp ở Tây Âu vào năm 1955 đã tăng 40% so với năm 1950 ( Cộng hòa liên bang Đức tăng 81%, Italia tăng 56%, Pháp tăng 36%) trong khi đó Mỹ chỉ tăng 24% Chính sự phát triển đó
đã thúc đẩy các nước Tây Âu vượt qua những bất đồng trong nội bộ, tăng cường hợp tác nhằm củng cố vị thế chính trị và kinh tế của mình
Ngày 25/3/1957, hai hiệp ước Roma đã được sáu nước thành viên của ECSC ( Pháp, Cộng hòa liên bang Đức, Italia và các quốc gia Benelux) ký kết
và hai hiệp ước này có hiệu lực vô thời hạn, thành lập nên Cộng đồng kinh tế châu Âu (European Economic Community – EEC) và Cộng đồng năng lượng nguyên tử châu Âu (Euratom)
Đối với hiệp ước thành lập Cộng đồng kinh tế châu Âu, cộng đồng này
sẽ đi vào hoạt động từ tháng 1/1958, nhằm hợp tác trong lĩnh vực kinh tế, khoa học và kỹ thuật, thiết lập một thị trường chung và có những chính sách kinh tế chung để thúc đẩy sự tăng trưởng và phát triển kinh tế một cách hài hòa trong Cộng đồng Ngoài ra EEC còn có nhiệm vụ thúc đẩy quan hệ gắn
bó giữa các nước thành viên, tăng cường sự ổn định và nâng cao mức sống Trong hiệp ước này, nhiều điều khoản khác cũng đã cụ thể hóa mục tiêu trên
để có những định hướng cho việc hoạch định các chính sách trong vòng 12 năm hoàn thành việc tạo ra một thị trường chung, bao gồm: biến Cộng đồng trở thành một khu vực thương mại tự do; thiết lập hệ thống Thuế quan chung, nghĩa là khi hàng hóa thâm nhập vào Cộng đồng đều được tiến hành theo khung pháp lý chung; nghiêm cấm việc thực hiện các chính sách không đúng quy định và loại trừ cạnh tranh không lành mạnh giữa các nước thành viên trong Cộng đồng; đưa ra những biện pháp thúc đẩy luân chuyển tự do hàng hóa, sức lao động, nguồn vốn và các dịch vụ giữa họ, đồng thời có những chính sách chung trong nông nghiệp
Trang 102.3 Cộng đồng Năng lượng nguyên tử
Hiệp ước về năng lượng nguyên tử (Euratom) đánh dấu sự hội nhập của các nước Tây Âu trong lĩnh vực sử dụng năng lượng hạt nhân vì mục đích hòa bình Hiệp ước này đưa ra các chính sách về lĩnh vực năng lượng nguyên
tử như thúc đẩy nghiên cứu, đưa ra các nội dung về thông tin, sức khỏe, an toàn hạt nhân, cung cấp và điều tiết các thị trường hạt nhân chung
Thông qua hiệp ước này, các nước châu Âu coi đây chính là một công
cụ quan trọng và triển vọng để giải quyết các vấn đề về năng lượng của các nước Tây Âu Nhờ đó Tây Âu mới có thể giải quyết tình trạng khủng hoảng năng lượng một cách trầm trọng và kéo dài mà trước tiên là Pháp và các quốc gia nhỏ phải chịu đựng
II Động thái của Mỹ - Anh – Pháp trước sự ra đời của EC
1 Cách tiếp cận của Mỹ với Cộng đồng Châu Âu
Trong giai đoạn này, Mỹ đã mất đi vị trí độc tôn vê kinh tế lại thêm việc nền kinh tế Tây Âu đang phát triển nhanh chóng với sự hình thành khối kinh tế ở châu Âu đe doạ vai trò lãnh đạo của đất nước này Để bảo vệ lợi ích của mình, Mỹ đã áp dụng các chính sách kinh tế cũng như lợi dụng mâu thuẫn nội bộ của châu Âu để kìm hãm sự phát triển của Cộng đồng Châu
Âu
1.1 Mỹ lợi dụng tiềm lực kinh tế để cản trở Thị trường chung phát triển
Năm 1957, khi sáu nước dự kiến xây dựng một nhà máy để tự cung cấp chất U-ra-ni-um được làm dầu thì Mỹ liền hạ giá nguyên vật liệu xưa nay vẫn cung cấp cho các nước châu Âu, khiến các nước này phải từ bỏ ý định đó Hiệp ước về năng lượng nguyên tử ( Euratom) hoạt động không mấy hiệu quả chính là do sự cạnh tranh của Mỹ
Mỹ đã lợi dụng ưu thế giá rẻ của sản phẩm nông nghiệp, tìm cách cải thiện sức mạnh cạnh tranh của sản phẩm công nghiệp để giữ thị phần ở châu
Âu, đồng thời tìm cách thoả hiệp với Thị trường chung thông qua thương lượng trực tiếp việc giảm thuế quan với tổ chức này
Tháng 3 năm 1962, Mỹ và Thị trường chung đã ký kết Hiệp định cùng giảm 20% thuế quan cho một loạt mặt hàng Ngày 4 tháng 5 năm 1964, chính phủ Mỹ lại đề xướng triệu tập Hội nghị gồm các nước Thị trường chung và một số nước khác bàn về vấn đề cùng giảm thuế hàng hoá Hội nghị do Tổng thống Mỹ Ken-nơ-đy khởi xướng và có ý nghĩa rất quan trọng trong thương mại quốc tế Mỹ đề nghị giảm 35% thuế quan nói chung cho các hàng công nghiệp, một số mặt hàng giảm tới 50%; còn đối với hàng nông nghiệp, phía Mỹ đề nghị Thị trường chung giảm thuế nhập khẩu cho