1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Học phần kinh tế vĩ mô tiểu luận đề tài gdp các nước đang phát triển

28 0 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề GDP Các Nước Đang Phát Triển
Người hướng dẫn PTS. Lâm Thanh Hà, Nguyễn Thị Minh Hiền
Trường học Học viện Ngoại giao
Chuyên ngành Kinh tế vĩ mô
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 3,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Danh mục các chữ viết tắtEVFTA Hiệp định thương mại tự do Liên minh châu Âu-Việt Nam FTA Hiệp định thương mại tự do GNI Thu nhập quốc dân HDI Chỉ số phát triển con người IMF Qũy tiền tệ

Trang 1

Học viện Ngoại giao

KHOA KINH TẾ QUỐC TẾ

SVTH: Nhóm 2

Lớp: KDQT49 - Lớp 3

Hà Nội - 2022

Trang 2

Danh sách các thành viên

ST

Trang 3

Danh mục các chữ viết tắt

EVFTA Hiệp định thương mại tự do Liên minh châu Âu-Việt Nam FTA Hiệp định thương mại tự do

GNI Thu nhập quốc dân

HDI Chỉ số phát triển con người

IMF Qũy tiền tệ quốc tế

RCEP Hiệp định đối tác Kinh tế Toàn diện khu vực

PCI Quy mô sản lượng quốc gia tính bình quân trên đầu người

WTO Tổ chức thương mại thế giới

WIPO Tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế giới

WEF Diễn đàn kinh tế Thế giới

Trang 4

Mở đầu Sau chiến tranh thế giới thứ 2, với việc giải phóng thuộc địa, một nhân tố mới đã xuất

hiện trên sân khấu chính trị quốc tế: "Thế giới thứ 3" "Thế giới thứ 3" được gọi để phân biệt

với "Thế giới thứ 1" là các nước có nền kinh tế phát triển - đi theo con đường Tư bản chủ

nghĩa; và "Thế giới thứ 2" là những nước có nền kinh tế tương đối phát triển đi theo con

đường Xã hội chủ nghĩa Do đó, dưới góc độ kinh tế, bắt đầu từ những năm 60, các nước thuộc thế giới thứ 3 còn được gọi là các nước đang phát triển với nền nông nghiệp lạc hậu, hoặc các nước công nông nghiệp đang từ sản xuất nhỏ tiến lên con đường công nghiệp hóa Khi nền kinh tế thế giới có những bước chuyển đổi theo hướng toàn cầu hóa thì khoảng cách chênh lệch giàu nghèo giữa các nước phát triển và các nước đang phát triển ngày càng nhiều Trong khi đó con người ngày càng đòi hỏi phải có cuộc sống tốt đẹp hơn Vì vậy vấn đề phát triển kinh tế ở các nước đang phát triển đang trở nên rất cấp bách Việc nghiên cứu tìm ra nguyên nhân và hậu quả của tình trạng kém phát triển để tìm cách khắc phục, tìm ra giải pháp, hướng đi đúng đắn cho nền kinh tế nhằm đưa nước thoát khỏi nghèo đói và cùng hòa nhập với nền kinh tế thế giới Để biết được điều này chúng ta cần nghiên cứu về GDP, những đặc điểm chung của các nước đang phát triển, nguyên nhân và tác động của nó đối với quá trình phát triển kinh tế.

Trang 5

M c l c ụ ụ

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN 6

I GDP 6

1.1 Khái niệm GDP 6

1.2 Công thức 7

1.3 Các thành phần trong GDP 8

1.4 Ý nghĩa 8

1.5 Thu nhập bình quân đầu người 9

1.6 Ngang giá sức mua 9

1.7 Tốc độ tăng trưởng kinh tế 9

1.8 Một số khó khăn trong tính GDP 10

1.9 GDP danh nghĩa và GDP thực tế 10

II Khái niệm các nước đang phát triển 10

2.1 Định nghĩa theo các tổ chức kinh tế và xã hội 10

2.2 Đặc điểm các quốc gia đang phát triển 11

CHƯƠNG II: THỰC TIỄN (Phân tích GDP các quốc gia tiêu biểu điển hình của nhóm nước đang phát triển) 12

I Trung Quốc 12

1.1 Tổng quan GDP Trung Quốc 12

1.2 Cơ cấu GDP 12

1.3 Sự biến động trong tỷ lệ tăng trưởng GDP của Trung Quốc 13

II Việt Nam 17

2.1 Tổng quan về GDP Việt Nam 17

2.2.Cơ cấu GDP Việt Nam 17

2.3 Phân tích sự biến động của GDP qua các thời kỳ 18

CHƯƠNG III: HỒI KẾT 21

I Đánh giá về GDP của 2 quốc gia 21

1.1 Trung Quốc 21

1.2 Việt Nam 22

II Dự đoán 24

III Giải pháp 27

Trang 6

2.1.Giải pháp ngắn hạn 27 2.2 Giải pháp dài hạn 28

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN

I GDP

1.1 Khái niệm GDP

 Có nhiều chỉ tiêu đo lường tổng kết quả mà nền kinh tế tạo ra nhưng chỉ tiêu tổng sản phẩm trong nước (GDP) được coi là thước đo thành tựu kinh tế, là chỉ tiêu tốt nhất để phản ánh tình hình hoạt động của nền kinh tế

 GDP (Gross Domestic Product) hay Tổng sản phẩm quốc nội, là chỉ tiêu thị trường của tất cả hàng hoá dịch vụ cuối cùng được sản xuất trong phạm vi một nước, trong một thời kì nhất định GDP là một trong những chỉ số cơ bản để đánh giá sự phát triển của một vùng lãnh thổ nào đó Chỉ tiêu GDP

là kết quả của hàng triệu hoạt động kinh tế xảy ra bên trong lãnh thổ của một đất nước Những hoạt động này có thể là do công ty, doanh nghiệp của công dân nước ngoài sản xuất trong vùng lãnh thổ

đó, nhưng khôn bao gồm kết quả hoạt động của công dân nước sở tại tiến hành ở nước ngoài

1.2 Công thức

(1) Theo phương pháp chi tiêu (tổng chi tiêu)

Phương pháp tính này là phương pháp chính xác nhất GDP của một quốc gia sẽ được tính bằng tổng tất

cả số tiền các hộ gia đình trong quốc gia đó sử dụng để mua sắm hàng hóa và dịch vụ Áp dụng công thức:

GDP = C + G + I + NX

Chú thích:

 C - Chi tiêu của hộ gia đình bao gồm các khoản chi tiêu cho sản phẩm và dịch vụ của hộ gia đình đó

 G - Chi tiêu của chính phủ bao gồm tổng chi tiêu cho y tế, giáo dục, an ninh, giao thông,

 I - Tổng đầu tư là sự tiêu dùng của các nhà đầu tư như các khoản chi tiêu về trang thiết bị, nhà xưởng,

 NX - Cán cân thương mại, là sự xuất khẩu ròng của nền kinh tế Được tính theo công thức NX = X (xuất khẩu/ export) - M (nhập khẩu/ import)

Phương trình trên là một đồng nhất thức - một phương trình luôn đúng do cách định nghĩa các biến số trong phương trình, Trong trường hợp của chúng ta, mỗi USD chi tiêu nằm trong GDP đều thuộc một trong bốn thành tố của GDP

(2) Theo phương pháp chi phí (theo thu nhập)

Nếu tính GDP theo phương pháp này thì sẽ tính bằng tổng tiền lương, tiền lãi, lợi nhuận và cả tiền thuê sinh ra trong nền kinh tế của nội địa

GDP = W + I + Pr + R + Ti +De

Chú thích:

 W - Wage: Tiền lương

 I - Interest: Tiền lãi

 Pr - Profit: Lợi nhuận

 R - Rent: Tiền thuê

Trang 7

 Ti - Indirect tax: Thuế gián thu hay hiểu là loại thuế không trực tiếp đánh vào thu nhập và tài sản của người nộp thuế mà đánh vào một cách gián tiếp thông qua giá cả hàng hóa hoặc dịch vụ.

 De - Depreciation: Phần khấu hao (hao mòn) tài sản cố định

1.3 Các thành phầần trong GDP

Xuất khẩu ròng (Net Export):

 TIÊU DÙNG - consumption (C) bao gồm những khoản chi cho tiêu dùng cá nhân của các hộ gia đình về hàng hóa và dịch vụ (xây nhà và mua nhà không được tính vào TIÊU DÙNG mà được tính vào ĐẦU TƯ TƯ NHÂN)

 ĐẦU TƯ - investment (I) là tổng đầu tư ở trong nước của tư nhân Nó bao gồm các khoản chi tiêu của doanh nghiệp về trang thiết bị và nhà xưởng hay sự xây dựng, mua nhà mới của hộ gia đình (lưu ý hàng hóa tồn kho khi được đưa vào kho mà chưa đem đi bán thì vẫn được tính vào GDP)

 CHI TIÊU CHÍNH PHỦ - government purchases (G) bao gồm các khoản chi tiêu của chính phủ cho các cấp chính quyền từ TW đến địa phương như chi cho quốc phòng, luật pháp, đường sá, cầu cống, giáodục, y tế, Chi tiêu chính phủ không bao gồm các khoản CHUYỂN GIAO THU NHẬP như các khoản trợ cấp cho người tàn tật, người nghèo,

 XUẤT KHẨU RÒNG - net exports (NX)= Giá trị xuất khẩu (X)- Giá trị nhập khẩu(M)

1.4 Ý nghĩa

 Chỉ tiêu GDP là thước đo tốt về quy mô và thành tựu kinh tế của một đất nước Ngân hàng thế giới (WB) hay quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) cũng như các nhà kinh tế khác nhau sử dụng các chỉ tiêu này để so sánh các quy mô sản xuất của các nước khác nhau trên thế giới

 GDP thường được sử dụng để phân tích những biến đổi về sản lượng của một đất nước trong các khoảng thời gian khác nhau Trường hợp này, người ta tính tốc độ tăng trưởng của GDP

Trang 8

 Chỉ tiêu GDP còn được sử dụng để phân tích và phản ánh sự thay đổi mức sống của dân cư Nếu chỉ

số suy giảm sẽ tác động tiêu cực đến nền kinh tế, lạm phát, thất nghiệp, đồng tiền mất giá, Điều này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình sản xuất kinh doanh cũng như đời sống của người dân

 Bên cạnh đó, GDP bình quân đầu người sẽ cho biết mức thu nhập tương đối cũng như chất lượng sống của người dân ở mỗi quốc gia

1.5 Thu nh p bình quần đầầu ng ậ ườ i

 GDP bình quân đầu người tiếng Anh là GDP Per Capita

 GDP bình quân đầu người, hay còn gọi là tổng sản phẩm quốc nội bình quân đầu người, là một số liệu GDP của mỗi quốc gia trên cơ sở mỗi cá nhân Nó được tính bằng cách chia GDP của một quốc gia cho số lượng dân số

 GDP bình quân đầu người là một thước đo phổ quát trên toàn cầu để đo lường mức độ giàu có của các quốc gia Trên toàn thế giới, nó được sử dụng bởi các nhà kinh tế cùng với GDP để phân tích mức độ giàu có của một quốc gia và tăng trưởng kinh tế của nó

 GDP bình quân đầu người có thể tính theo giá hiện hành, tính theo nội tệ hoặc ngoại tệ (tính bằng Đồng Việt Nam (VND), Đô la Mỹ (USD)); cũng có thể tính theo giá so sánh để tính tốc độ tăng (Theo Nghị định 97/2016/NĐ-CP)

 GDP bình quân đầu người của Việt Nam năm 2021 là khoảng 3.743 USD Đến năm 2025, GDP bình quân đầu người dự kiến đạt 4.700 - 5.000 USD

1.6 Ngang giá s c mua ứ

1.6.1 Quy luật 1 giá (David Hume 1711-1776)

 Nếu không tính chi phí vận chuyển, hàng rào thương mại, các rủi ro và thị trường Mở, thì các hàng hoá giống hệt nhau sẽ có giá tương đối là như nhau ở mọi nơi khi quy về một đồng tiền chung]

 Ví dụ: Iphone 13 (Việt Nam) = 19.000.000

1.6.2 Quy luật ngang giá sức mua

 Sức mua đối nội: số lượng hàng hoá mua được bằng một đơn vị nội tệ ở trong nước Nó thay đổi theo thời gian và phụ thuộc vào lạm phát nội tệ

 Sức mua đối ngoại: số lượng hàng hoá mua được ở nước ngoài khi chuyển đổi một đơn vị nội tệ ra ngoại tệ Nó cũng thay đổi theo thời gian và phụ thuộc vào tỷ giá và lạm phát nước ngoài

=> Ngang giá sức mua là tỷ lệ trao đổi giữa hai đồng tiền, theo tỷ lệ này thì số lượng hàng hoá khi mua được là như nhau ở trong nước và nước ngoài khi chuyển đổi một đơn vị nội tệ ra ngoại tệ và ngược

 Nếu không tính chi phí vận chuyển, hàng rào thương mại, các rủi ro và thị trường mở và hàng hoá là giống nhau giữa các nước thì tỷ giá giao dịch trên thị trường ngoại hối phản ánh tương quan sức muagiữa đồng tiền Hay nói cách khác, sức mua là cơ sở để hình thành nên tỷ giá giao dịch trên thị trường ngoại hối

1.7 Tốốc đ tăng tr ộ ưở ng kinh tếố

Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng của tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hoặc tổng sản lượng quốc dân

(GNP) hoặc quy mô sản lượng quốc gia tính bình quân trên đầu người (PCI) trong một thời gian nhất định

Trang 9

Nguồn: Điểm sáng tình hình kinh tế - xã hội quý II và 6 tháng đầu năm 2022 - Tổng cục Thống kê Việt Nam

1.8 M t sốố khó khăn trong tính GDP ộ

 Hiện tượng trốn thuế của các doanh nghiệp

 Nhiều cơ sở sản xuất nhỏ không có hệ thống sổ sách theo dõi

 Việc ước tính phần sản phẩm tự cung tự cấp

 Năng lực thống kê còn thấp: phương tiện, phương pháp, nhân lực,…

1.9 GDP danh nghĩa và GDP th c tếố ự

 Dữ liệu GDP thô, trước khi lạm phát được gọi là GDP danh nghĩa, là giá trị tiền tệ tổng hợp của sản lượng kinh tế được tạo ra trong một năm tài chính cụ thể, trong biên giới quốc gia,đại diện cho GDP theo giá hiện hành trên thị trường, tức là giá thị trường hiện tại

 Tổng sản phẩm quốc nội thực tế đề cập đến thước đo GDP được điều chỉnh theo mức giá chung, trong một năm tài chính cụ thể, đại diện cho giá trị kinh tế của hàng hóa và dịch vụ được sản xuất, sau khi xem xét lạm phát hoặc giảm phát

Trang 10

II Khái ni m các n ệ ướ c đang phát tri n ể

2.1 Đ nh nghĩa theo các t ch c kinh tếố và xã h i ị ổ ứ ộ

2.1.1 Theo định nghĩa của UN

Liên hợp quốc có nhiều tiêu chí để phân loại các quốc gia theo các mức phát triển khác nhau, trong đó chủ yếu dựa vào chỉ số phát triển con người HDI Các nước có chỉ số HDI thấp hơn 0,79 được coi là các nước đang phát triển

2.1.2 Theo định nghĩa của WB

 Trước năm 2016, WB phân loại hai nhóm là các nền kinh tế phát triển và nền kinh tế đang phát triển theo các tiêu chí về thu nhập, trình độ phát triển kinh tế Theo đó, WB xác định 144 nền kinh tế là thuộc nhóm đang phát triển Đây cũng chính là danh sách mà Việt Nam sử dụng để miễn trừ áp dụng biện pháp tự vệ trong các vụ việc trước đây

 Tuy nhiên, sau năm 2016, WB không phân loại thành hai nhóm nước như trên nữa mà chia thành bốnnhóm nước dựa vào thu nhập quốc dân đầu người: thu nhập thấp, thu nhập trung bình thấp, thu nhập trung bình cao và thu nhập cao Trong đó, các nước thuộc nhóm thu nhập trung bình được coi là các nước đang phát triển ( middle low: 996 USD đến 3.895 USD; middle high: 3.896 USD đến 12.055 USD)

2.1.3 Theo định nghĩa của IMF

Có 3 tiêu chí chính được IMF sử dụng để phân loại quốc gia:

a mức thu nhập bình quân đầu người

b đa dạng hóa xuất khẩu

c mức độ hội nhập vào hệ thống tài chính toàn cầu

=> Tóm lại, các nước đang phát triển là những nước có mức sống, thu nhập, sự phát triển kinh tế và công nghiệp lân cận ở mức trung bình Từ đây xác định được có 152 nước đang phát triển trên thế giới (Theo thứ

tự từ A-Z, bắt đầu với Afghanistan, kết thúc với Zimbabwe)

Trang 11

2.2 Đặc điểm các quốc gia đang phát triển

 Tỷ lệ thất nghiệp và nghèo đói, tỷ lệ tử vong ở trẻ nhỏ còn cao

 Tỷ lệ mù chữ cao, cơ sở giáo dục, giao thông, thông tin liên lạc và y tế không tốt

 Nợ chính phủ không bền vững

 Điều kiện sống ở mức trung bình

 Nền kinh tế phụ thuộc chủ yếu vào ngành dịch vụ

 Chênh lệch mức sống và mức lương cao giữa các vùng

 Tận dụng nguồn lực chưa hiệu quả

 Sự phát triển phụ thuộc nhiều từ đầu tư từ các nước phát triển

CHƯƠNG II: THỰC TIỄN

Ở mục này chúng tôi lựa chọn phân tích GDP của Trung Quốc và Việt Nam - hai nước cùng thuộc nhóm các nền kinh tế đang phát triển Về Trung Quốc, đây là nền kinh tế lớn thứ 2 thế giới sau Mỹ Cụ thể, vào năm 2022, GDP của Trung Quốc là 14,72 tỷ USD, xếp ngay sau Hoa Kỳ có GDP là 20,89 tỷ USD Tuy nhiên, do chưa đáp ứng được các tiêu chuẩn được đặt ra bởi các tổ chức quốc tế nên Trung Quốc vẫn được coi là một nước đang phát triển Cùng với Trung Quốc, Việt Nam được đem ra đánh giá vì đây là quốc gia điển hình cho một nền kinh tế đang phát triển, khi phân tích có thể đưa ra đánh giá chung cho phần còn lại của nhóm nền kinh tế này

I Trung Quốc

1.1 Tổng quan GDP Trung Quốc

Trung Quốc là nền kinh tế lớn thứ hai thế giới tính theo GDP danh nghĩa, và nền kinh tế lớn nhất thế giới tính theo PPP kể từ năm 2014, đây là chỉ tiêu mà theo một số người là thước đo chính xác hơn về quy

mô thực sự của nền kinh tế Trung Quốc đã vươn lên trở thành nền kinh tế lớn thứ hai theo GDP danh nghĩa kể từ năm 2010 nhờ tận dụng tốt tỷ giá hối đoái biến động trên thị trường Thậm chí có một dự báo chính thức nói rằng Trung Quốc sẽ trở thành nền kinh tế lớn nhất thế giới tính theo GDP danh nghĩa vào năm 2028

1.2 Cơ cấu GDP:

Biểu đồ phân bổ GDP giữa các ngành kinh tế ở Trung Quốc (2011-2021)

Trang 12

1.3 Sự biến động trong tỷ lệ tăng trưởng GDP của Trung Quốc

Biểu đồ thể hiện tốc độ tăng trưởng GDP của Trung Quốc 1961-2022

Nguồn: https://www.macrotrends.net/countries/CHN/china/gdp-growth-rate

 GDP của Trung Quốc thời kì 1960 chứng kiến một sự chuyển mình lớn mạnh, tăng từ -30% cho đến gần 20% vào những năm 1965 Sau đó, trong thời kì cải cách, từ 1978 đến 2018, nếu không tính đến những sự tăng, giảm dưới 1%, nền kinh tế Trung Quốc đã trải qua 6 lần biến động lớn nhỏ Những sựdao động này có thể chia ra làm 5 giai đoạn tăng và 6 giai đoạn giảm

 5 giai đoạn tăng: từ 5.1% (1981) đến 15.2% (1984), từ 8.9% đến 11.7% (1986-1987), từ 3.9% (1990)đến 14.2% (1992), từ 7.7% (1999) đến 14.2% (2007) và từ 9.4% đến 10.6% giai đoạn 2009 đến 2010

 5 giai đoạn giảm bao gồm: 11.7% đến 5.1% (1978 – 1981), từ 15.2% (1984) đến 8.9% (1986), từ 11.7% (1987) đến 3.9% (1990), từ 14.2% đến 7.7% (1992 – 1999), từ 14.2% (2007) đến 9.4% (2009) Và từ 10.6% vào năm 2010 đến 6.6% năm 2018

 Khi mới thực hiện cải cách và mở cửa vào năm 1978, Trung Quốc là một trong những quốc gia nghèo trên thế giới Bốn mươi năm sau, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Trung Quốc tăng 33,5 lần, ước khoảng 12.300 tỷ USD, chiếm 15% GDP toàn cầu, trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới,sau Mỹ Giai đoạn 1978 - 2017, tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hằng năm đạt 9,5%, cao hơn nhiều so với mức tăng trưởng trung bình hằng năm của nền kinh tế thế giới là 2,9% (1) Theo Ngân hàng Thế giới (WB), giai đoạn 2012 - 2016, hằng năm, kinh tế Trung Quốc đóng góp 34% vào tăng trưởng kinh tế toàn cầu (2)

 GDP của Trung Quốc giảm từ 3.71% còn 2.24% từ 2019 đến 2020, sau đó là một quá trình tăng từ 5.87% đến 8.11% vào năm 2021

 Đến giai đoạn 2021-2022, GDP Trung Quốc quý 2/2021 tăng trưởng 7.9% so với cùng kỳ, Cục Thống kê Quốc gia (NBS) cho biết trong ngày 15/07, con số này thấp hơn ước tính tăng trưởng 8.1%của các chuyên gia kinh tế tham gia cuộc thăm dò của Reuters GDP quý 2/2021 tăng 1.3% so với quý trước đó Tuy vậy, mức tăng hàng quý này vẫn còn thấp hơn mức 2.6% của quý 4/2020.Trong quý 1/2021, GDP Trung Quốc tăng trưởng 18.3% so với cùng kỳ - giai đoạn dịch bệnh hoành hành tại Trung Quốc

 Doanh số bán lẻ tháng 6/2021 tăng 12.1% so với cùng kỳ, cao hơn so với dự báo tăng 11% từ kết quảthăm dò của Reuters.Tăng trưởng doanh số bán lẻ bị tụt lại phía sau so với nền kinh tế chung và ở mức dưới kỳ vọng trong 2 tháng đầu của quý 2/2021 Sản lượng công nghiệp tăng 8.3%, cao hơn dự báo 7.8% của Reuters

Trang 13

 Dựa trên dữ liệu chính thức, kim ngạch xuất khẩu của Trung Quốc tăng 19.9% so với cùng kỳ, cao hơn mức 18.1% của tháng 5/2021 Ngoài ra, con số này cũng cao hơn dự báo tăng 15.1% của các chuyên gia kinh tế tham gia cuộc thăm dò của Bloomberg Tăng trưởng về nhập khẩu giảm tốc xuốngmức 26.1% trong tháng 6/2021, thấp hơn nhiều so với mức 39.5% của tháng trước.

 Cục Hải quan Trung Quốc công bố dữ liệu 6 tháng đầu năm cho thấy kim ngạch xuất khẩu bằng Nhân dân tệ tăng 28.1% so với cùng kỳ, trong khi nhập khẩu tăng 25.9%

Theo tờ Guardian, theo thời gian gần đây, dự báo trước đây cho rằng quý 3 của Trung Quốc sẽ tăng

trưởng khoảng 3,2 - 3,3% Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) cũng từng dự đoán nền kinh tế Trung Quốc sẽ tăng trưởng 3,2% trong năm 2022.Tuy nhiên số liệu của Cục Thống kê quốc gia công bố vừa qua ghi nhận thực tế GDP từ tháng 7 tới tháng 9 của Trung Quốc tăng 3,9% so với cùng kỳ năm ngoái

 Đây vẫn là mức tăng trưởng thấp nhất của Trung Quốc trong gần bốn thập kỷ qua, tuy nhiên số liệu trên phản ánh sự phục hồi tích cực của nền kinh tế lớn thứ hai thế giới trong bối cảnh đại dịch COVID-19 Những ảnh hưởng từ đại dịch đã khiến quý 2 ghi nhận mức tăng trưởng chỉ 0,4%

 Theo Tân Hoa xã, tính trong ba quý đầu tiên của năm nay, GDP Trung Quốc đã tăng 3% so với cùng

kỳ năm ngoái, nhanh hơn 0,5 điểm phần trăm so với nửa đầu năm nay Ca ngợi số liệu tăng trưởng, theo tờ China Daily, trái ngược với tình hình đầy biến động ở các nền kinh tế lớn, việc tăng trưởng 3,9% trong quý 3 cho thấy nền kinh tế Trung Quốc có khả năng điều chỉnh nhanh chóng sau một sự trục trặc tạm thời, đồng thời chống lại tác động lan tỏa của một cuộc khủng hoảng địa chính trị quốc tế

* Nguyên nhân của sự biến động GDP 1

Bắt đầu từ sự kiện cải cách kinh tế của Trung Quốc trong vòng 40, nền kinh tế của đất nước này đã chứngkiến 4 sự kiện low peak - đỉnh thấp đáng chú ý: 1981, 1990, 1999 và 2018

 Sự kiện đỉnh thấp đầu tiên xuất hiện vào năm 1981 với tốc độ tăng trưởng kinh tế là 5,1% mà nguyênnhân chủ yếu là do những sai lầm nghiêm trọng trong chiến lược phát triển kinh tế “Cách mạng Văn hóa” đã phá hoại nghiêm trọng và cản trở sự phát triển kinh tế của Trung Quốc Năm 1976, tốc độ tăng trưởng kinh tế thậm chí còn thấp hơn 1,6% so với năm 1975, khiến hàng trăm triệu người không

có đủ cơm ăn, áo mặc Sau sự sụp đổ của “Gang of Four” - hay còn được gọi là “Tứ nhân bang” và

sự kết thúc của “Cách mạng văn hóa” tháng 10 năm 1976, sự thôi thúc của người dân với mong muốn phát triển kinh tế và nâng cao mức sống, đã xảy ra một trào lưu “tất vì chủ nghĩa xã hội."

- Chính phủ hy vọng sẽ tạo ra một “Bước nhảy vọt” khác (được gọi là “Bước nhảy vọt của việc học hỏi từ nước ngoài”) thông qua việc mở rộng xây dựng cơ bản và giới thiệu các công nghệ và thiết bị tiên tiến của nước ngoài Các biện pháp chính để thực hiện “Bước nhảy vọt” bao gồm tăng mạnh đầu

tư, xây dựng quy mô lớn các dự án quy mô vừa và lớn và đưa vào sử dụng một số lượng lớn công nghệ và thiết bị tiên tiến của nước ngoài Tuy nhiên, những biện pháp này đã làm cho mặt trận xây dựng cơ bản kéo dài quá mức, quy mô đầu tư quá lớn nên vượt quá sức của cả nước Hơn nữa, nhữngbiện pháp này còn làm trầm trọng thêm tình trạng mất cân bằng của nền kinh tế quốc gia, vốn đã khá nghiêm trọng, làm cho cơ cấu công nghiệp bất thường “công nghiệp nặng quá nặng, công nghiệp nhẹquá nhẹ và nông nghiệp lạc hậu” càng trở nên nổi bật Tỷ lệ tích lũy của ngành công nghiệp nặng đạt hơn 30% trong nhiều năm liên tục, với 36,5% vào năm 1978, điều này đã làm giảm tiêu dùng và dẫn đến sự tồn tại của các doanh nghiệp hoạt động dưới khả năng sản xuất và sự thiếu hụt nghiêm trọng

về năng lượng và giao thông vận tải, cũng như suy thoái kinh tế trong ba năm từ 11,7% năm 1978 xuống còn 5,1% năm 1981

 Đỉnh thấp thứ hai xuất hiện vào năm 1990 với tốc độ tăng trưởng kinh tế là 3,9% Nguyên do chính của đỉnh thấp này tồn tại ở nhiều mặt, bao gồm sự kéo dài của mô hình phát triển tốc độ cao truyền thống, sự phát triển chậm chạp của hệ thống kinh tế mới, nền kinh tế phát triển quá nóng, những thay

1 Xinhua Jian & Jiang Yu, The fluctuations of China’s economic growth since the reform and opening up and the rational countermeasures, https://www.emerald.com/insight/content/doi/10.1108/CPE-10-2019-0017/full/html, truy cập

Trang 14

đổi mạnh mẽ ở Đông Âu, "Cuộc biến động ngày 4 tháng 6", cũng nư sự trì trệ của sự kiện cải cách Sau một thời gian thực hiện toàn diện công cuộc đổi mới, nền kinh tế tăng trưởng nhanh, do chiến lược phát triển truyền thống theo đuổi số lượng bắt kịp chưa thay đổi cơ bản nên xu hướng theo đuổi thành công trước mắt và lòng tham về tốc độ và số lượng trong phát triển vẫn còn tồn tại Cuộc cải cách vẫn đang được tiến hành - hệ thống cũ vẫn chưa được thay đổi về cơ bản; hệ thốngmới chưa được thiết lập Và rất nhiều mâu thuẫn, xích mích và sơ hở đã xảy ra trong “hệ thống đường đôi” với sự tồn tại chung của các viện cũ và mới

- Trong giai đoạn này, lạm phát đầu tư, tiêu dùng và tín dụng gia tăng nghiêm trọng, dẫn đến mở rộng tiền tệ, giá cả tăng cao, nền kinh tế phát triển quá nóng, phân phối quá mức thu nhập quốc dân, suy thoái môi trường kinh tế và rối loạn kinh tế Năm 1988, chỉ số giá chung tăng 18,5% so với năm

1987, đạt mức cao nhất kể từ khi thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Tình trạng mua bánhoảng loạn trên toàn quốc do giá cả tăng mạnh, cùng với sự chênh lệch giá quá lớn do “hệ thống đường đôi” gây ra đã dẫn đến sự phổ biến của các thỏa thuận quyền lực vì tiền, sự gia tăng của trục lợi chính thức và tư nhân và lây lan tham nhũng Cải cách phân cấp quyền lực và chuyển giao lợi nhuận khó đi sâu, những khiếm khuyết của chế độ khoán doanh nghiệp ngày càng bộc lộ, thói kinh doanh khống nghiêm trọng, hiện tượng ban thưởng, vật chất bừa bãi vẫn tiếp diễn mặc dù đã bị nghiêm cấm nhiều lần , và có một sự phân phối xã hội không công bằng mới về chênh lệch thu nhập Giá cả tăng cao, tham nhũng nghiêm trọng và phân phối không công bằng đã trở thành ba vấn

đề xã hội nghiêm trọng nhất thu hút sự chú ý rộng rãi của công chúng và gây bất mãn mạnh mẽ trongnhân dân Một số người thậm chí còn cho rằng chính sách cải cách và mở cửa có vấn đề

- Trước tình hình nghiêm trọng đó, chính phủ Trung Quốc bắt đầu tập trung công tác kinh tế của mình vào việc điều tiết và quản lý nền kinh tế, và nó chủ yếu thực hiện các biện pháp hành chính để cải thiện môi trường kinh tế và khắc phục các rối loạn kinh tế Ngoại trừ những tiến bộ đạt được trong cải cách giá, hầu hết các cải cách trong các lĩnh vực khác đều bị đình trệ hoặc thậm chí đi lùi Việc thắt chặt tín dụng và tiền tệ, giảm đầu tư và tiêu dùng đã khiến tốc độ tăng trưởng kinh tế giảm mạnh Hơn nữa, tác động của những thay đổi mạnh mẽ ở Đông Âu vào cuối những năm 1980

và đầu những năm 1990, và “Biến động ngày 4 tháng 6” năm 1989 cũng làm trầm trọng thêm tình trạng trì trệ cải cách và suy thoái kinh tế Tốc độ tăng trưởng kinh tế giảm từ 15,2% năm 1984 xuốngcòn 3,9% năm 1990, đây là một “hạ cánh khó khăn” điển hình Việc thắt chặt tín dụng và tiền tệ, giảm đầu tư và tiêu dùng đã khiến tốc độ tăng trưởng kinh tế giảm mạnh

- Hơn nữa, tác động của những thay đổi mạnh mẽ ở Đông Âu vào cuối những năm 1980 và đầu những năm 1990, và “Biến động ngày 4 tháng 6” năm 1989 cũng làm trầm trọng thêm tình trạng trì trệ cải cách và suy thoái kinh tế Tốc độ tăng trưởng kinh tế giảm từ 15,2% năm 1984 xuống còn 3,9% năm 1990, đây là một “hạ cánh khó khăn” điển hình Việc thắt chặt tín dụng và tiền tệ, giảm đầu tư và tiêu dùng đã khiến tốc độ tăng trưởng kinh tế giảm mạnh Hơn nữa, tác động của những thay đổi mạnh mẽ ở Đông Âu vào cuối những năm 1980 và đầu những năm 1990, và “Biến động ngày 4 tháng 6” năm 1989 cũng làm trầm trọng thêm tình trạng trì trệ cải cách và suy thoái kinh

tế Tốc độ tăng trưởng kinh tế giảm từ 15,2% năm 1984 xuống còn 3,9% năm 1990, đây là một “hạ cánh khó khăn” điển hình

 Đỉnh thấp thứ ba xuất hiện vào năm 1999 với tốc độ tăng trưởng kinh tế là 7,7%, phần lớn là do sự tái phát của nền kinh tế quá nóng và tác động của cuộc khủng hoảng tài chính châu Á Năm 1992, bàiphát biểu của Đặng Tiểu Bình trong chuyến thị sát miền nam Trung Quốc đã mang lại một sự thúc đẩy cải cách và phát triển khác ở Trung Quốc Do chưa hình thành hệ thống kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa và chưa thay đổi cơ bản phương thức phát triển truyền thống, tăng trưởng kinh tế Trung Quốc chủ yếu dựa vào đầu tư và xuất khẩu Kết quả là nền kinh tế một lần nữa phát triển quá nóng

và phải hạ nhiệt

- Ngày 2/7/1997, cuộc khủng hoảng tài chính châu Á bùng nổ ở Thái Lan và sau đó quét qua các nước Đông Nam Á và Đông Á Trung Quốc đã hoàn thành các nghĩa vụ và trách nhiệm quốc tế của mình và kiên quyết giữ cho đồng Nhân dân tệ (CNY) của Trung Quốc không bị mất giá mặc dù đồngtiền của các nước xung quanh đều mất giá đáng kể, dẫn đến giảm đầu tư nước ngoài, giảm mạnh xuất

Ngày đăng: 29/05/2023, 09:35

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w