1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đặc trƣng của làng xã việt nam truyền thống và sự thay đổi trong những đặc trƣng của làng xã trƣớc yêu cầu xây dựng nông thôn mới

32 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đặc Trưng Của Làng Xã Việt Nam Truyền Thống Và Sự Thay Đổi Trong Những Đặc Trưng Của Làng Xã Trước Yêu Cầu Xây Dựng Nông Thôn Mới
Tác giả Nguyễn Phúc Thắng
Người hướng dẫn Trần Thị Hồng Thúy, Đào Ngọc Tuấn
Trường học Học viện Ngoại Giao Truyền Thông Và Văn Hoá Đối Ngoại
Chuyên ngành Văn hóa Việt Nam và Hội Nhập Quốc Tế
Thể loại tiểu luận
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 3,2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

HỌC VIỆN NGOẠI GIAO KHOA TRUYỀN THÔNG VÀ VĂN HOÁ ĐỐI NGOẠI TIỂU LUẬN MÔN HỌC: VĂN HOÁ VIỆT NAM VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ Học kỳ 1, Năm học 2022-2023 ĐỀ TÀI: “ĐẶC TRƯNG CỦA LÀNG XÃ VIỆT NAM T

Trang 1

HỌC VIỆN NGOẠI GIAO KHOA TRUYỀN THÔNG VÀ VĂN HOÁ ĐỐI NGOẠI

TIỂU LUẬN MÔN HỌC: VĂN HOÁ VIỆT NAM VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ

Học kỳ 1, Năm học 2022-2023

ĐỀ TÀI: “ĐẶC TRƯNG CỦA LÀNG XÃ VIỆT NAM TRUYỀN THỐNG VÀ SỰ THAY ĐỔI TRONG NHỮNG ĐẶC TRƯNG CỦA LÀNG XÃ TRƯỚC YÊU CẦU XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở

VIỆT NAM HIỆN NAY”

Giảng viên: Trần Thị Hồng Thúy Đào Ngọc Tuấn- Người thực hiện: Nguyễn Phúc Thắng

Hà Nội, tháng 12/2022

Trang 2

MỤC LỤC

A MỞ ĐẦU 1

B N I DUNG 1

I CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1

1 Khái ni ệm v làng xã 1

2 Khái ni ệm v nông thôn và xây d ng Nông thôn m i ề ự ớ 2

II ĐẶC TRƢNG CỦA LÀNG XÃ VI T NAM TRUY N THỆ Ề ỐNG 2

1 L ch s c a làng xã Vi t Nam ị ử ủ ệ 2

2 Các đặc trưng của làng xã Vi t Nam truy n thệ ề ống 3

2.1 Tính c ộng đồng trong văn hoá làng xã 3

2.1.1 M t tích cực c a tính cộng đồng 3

2.1.2 M t tiêu cực c a tính cộng đồng 4

2.2 Tính t ự quản trong văn hoá làng xã 4

2.2.1 M t tích cực c a tính t ự quả 5 n 2.2.2 M t tiêu cực c a tính t ự quả 5 n 3 S ự thay đổ ự phát các đặc trưng của làng xã 6 i t 3.1 S ự thay đổ ựi t phát c a tính cộng đồng 6

3.1.1 M t tích cặ ực c a sủ ự thay đổi tự phát c a tính cộng đồng 6

3.1.2 M t tiêu cặ ực c a sủ ự thay đổi tự phát c a tính cộng đồng 7

3.2 S ự thay đổ ựi t phát c a tính t ự quả 7 n 3.2.1 M t tích cặ ực c a sủ ự thay đổi tự phát c a tính t ự quả 7 n 3.2.2 M t tiêu cặ ực c a sủ ự thay đổi tự phát c a tính t ự quả 8 n III MÔ HÌNH “NÔNG THÔN MỚI" Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 8

1 T ng quát v ề chương trình “Nông thôn mới” 8

1.1 Gi i thi u chung v ớ ệ ề chương trình “Nông thôn mới” 8

1.2 Các tiêu chí c ủa chương trình “Nông thôn mới” 9

2 Mô hình “Nông thôn mới" trong b i c ố ảnh văn hoá làng xã hiện nay 9

2.1 “Nông thôn mới” góp phần phát huy tiềm năng của các đặc trưng c ủa làng xã 9

2.1.1 “Nông thôn mới” giúp khôi phục và phát huy bản sắc văn hóa địa phương 10

2.1.2 “Nông thôn mới” giúp nâng cao tinh thần độc lập, tự chủ, tự cường, trách nhi m trong xây d ng và b o v T ệ ự ả ệ ổ quốc 10

2.2 “Nông thôn mới” góp phần h ạn chế mặt tiêu cực của các đặc trưng c ủa làng xã 11

Trang 3

2.2.1 " Nông thôn m i" giúp phát huy vai trò ch ủ thể ủa người dân 11 c 2.2.2 "Nông thôn mới" được phát tri n có kế hoạch dướ ự ỗ trợ, định i s h hướng của chính quyền địa phương và nhà nước 12

IV ĐÁNH GIÁ VÀ GIẢI PHÁP THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH

“NÔNG THÔN MỚI" 12

C K T LUẬN 14 DANH MỤ C TÀI LI U THAM KH O 15 Ệ Ả

PHỤ Ụ L C 16

Trang 4

A MỞ ĐẦU

Đứng trước sự phát triển không ngừng của xã hội, xu thế toàn cầu hoá cùng với xu thế công nghiệp hoá hiện đại hoá đang tác động mạnh mẽ đến sự thay - đổi về kinh tế văn hoá xã hội ở nhiều địa phương, đặc biệt ở các vùng nông - - thôn Thực tế cho thấy, nhiều khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao mọc lên nhanh chóng nhằm phục vụ cho nhu cầu thiết yếu của xã hội và sự phát triển của nền kinh tế, nhất là thương mại Chính sự phát triển nhanh chóng này

đã để lại nhiều hệ lụy đối với việc bảo tồn, lưu giữ các giá trị văn hoá cổ truyền, các đặc trưng của làng xã Việt Nam truyền thống Nghiên cứu về các đặc trưng của làng xã truyền thống, chúng ta mới nhận thức đầy đủ về xã hội và văn hoá Việt Nam trong lịch sử cũng như tìm được những biện pháp đúng đắn để cân bằng giữa xây dựng nông thôn mới hiện tại và phát triển kinh tế Nhận thức được ý nghĩa lý luận và thực tiễn của việc nghiên cứu làng xã đối với sự phát triển của xã hội, em quyết định chọn đề tài “Đặc trưng của làng xã Việt Nam truyền thống và sự thay đổi trong những đặc trưng của làng xã trước yêu cầu xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam hiện nay.”

GS TS Ngô Đức Thịnh đã đưa ra định nghĩa về làng xã trên cơ sở nhấn mạnh nguồn gốc lịch sử: Xét về nguồn cội, làng thời phong kiến tồn tại cho tới nay là sự phát triển mở rộng của một gia đình, gia tộc Ngoài ra, khái niệm “làng xã” còn thường được dùng để chỉ một cộng đồng cư dân gắn bó, hoặc có gốc rễ, hay có mối liên hệ về mặt đời sống kinh tế, văn hóa với hoạt động chủ yếu là hoạt động nông nghiệp Tác giả Hữu Ngọc lại cho rằng: Làng là đơn vị cư trú cơ bản của nông thôn người Việt

Tóm lại, làng xã là một thành tố quan trọng nhất, đặc trưng nhất, độc đáo nhất trong tổng thể văn hoá Việt Nam Nó đặc trưng cho văn hoá Việt Nam ở trên mọi phương diện Văn hoá sản xuất, văn hoá tổ chức cộng đồng, văn hoá

Trang 5

ứng xử, văn hoá nếp sống và cả văn hoá tinh thần Nói đến các đặc trưng Việt thì cũng chính là đặc trưng của làng xã truyền thống

2 Khái niệm về nông thôn và xây dựng Nông thôn mới

Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành các thành phố, thị xã, thị trấn Đây là khu vực kém phát triển, chưa có nhiều điều kiện khai thác và tận dụng nguồn lực kinh tế, xã hội, văn hoá và môi trường; người dân sống chủ yếu bằng nghề nông, cung cấp lương thực, thực phẩm, nguyên liệu cho công nghiệp, người dân chưa có nhiều cơ hội, tiềm năng tiếp cận để nâng cao tay nghề, tri thức, phục vụ cho sự phát triển kinh tế đất nước trong giai đoạn mới

Xây dựng Nông thôn mới là một cuộc cách mạng, một cuộc vận động lớn hướng đến mục tiêu xây dựng thôn, xã, gia đình sạch đẹp và văn minh; phát triển các ngành kinh tế (nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ) một cách toàn diện; đảm bảo nếp sống văn hoá và an ninh nông thôn; nâng cao thu nhập, đời sống vật chất và tinh thần của người dân

II ĐẶC TRƢNG CỦA LÀNG XÃ VIỆT NAM TRUYỀN THỐNG

1 Lịch sử của làng xã Việt Nam

Làng xã Việt Nam có một quá trình lịch sử lâu dài với các cột mốc quan trọng trong phát triển kinh tế và đời sống xã hội

Quá trình hình thành làng Việt bắt đầu từ thời kỳ văn hoá Phùng Nguyên cách ngày nay khoảng 4000 năm Vào thời điểm này, mỗi làng bao gồm một số gia đình sống trong một khu vực địa lý nhất định, vừa duy trì quan hệ hàng xóm láng giềng, vừa duy trì quan hệ huyết thống Đây là thời kỳ làm ổn định và gây dựng nền móng cho làng xã Việt Nam sau này Đến thời kỳ Bắc thuộc, phong kiến Trung Quốc đã tìm mọi cách để nắm lấy và sử dụng làng Việt truyền thống như một công cụ phục vụ cho mưu đồ thống trị và đồng hoá của chúng Đến đầu thế kỷ X, cùng với sự hưng thịnh của chế độ phong kiến, các công

xã nông thôn dần bị phong kiến hoá và trở thành đơn vị hành chính cơ bản của chính quyền phong kiến với tên gọi chung là “xã”, cũng có khi gọi là “thôn" hay

“làng" Đến thời kỳ trước và sau khi đánh thắng quân Minh, các làng xã trong các nhà nước phong kiến giữ vị thế vô cùng quan trọng Sau vua Lê Thánh Tông, các triều đại vua sau này đều lấy cách tổ chức quản lý làng xã này làm khuôn mẫu Đến thời nhà Nguyễn, nhà nước không quản lý được làng xã một cách chặt chẽ Sau Cách mạng Tháng 8, các Uỷ ban nhân dân lâm thời ở cơ sở được thành lập dựa theo các đơn vị xã thôn của thời kỳ trước Cách mạng Tháng 4/1946, nhiều thôn làng cũ bắt đầu được sát nhập lại thành những xã tương đối lớn

Trang 6

2 Các đặc trƣng của làng xã Việt Nam truyền thống

Theo GS TS Trần Ngọc Thêm: Tính cộng đồng và tính tự trị chính là hai đặc trưng bao trùm nhất, quan trọng nhất của làng xã, chúng tồn tại song song như hai mặt của vấn đề GS Trần Quốc Vượng đã nói rằng làng Việt truyền thống ở Bắc Bộ được cấu trúc theo cơ cấu “nửa kín, nửa hở” Tạp chí Khoa học

Xã hội Việt Nam khi bàn về văn hóa làng vùng đồng bằng Bắc Bộ cũng đề cập đến đặc trưng về tính cộng đồng và tính tự quản Từ những nhận định đó, có thể kết luận rằng: Tính tự quản và tính cộng đồng là hai đặc trưng cơ bản của làng

xã truyền thống Việt Nam, bao trùm lên các đặc tính, đặc điểm khác

2 1 Tính cộng đồng trong văn hoá làng xã

Bản chất của tính cộng đồng chính là sự hoà mình của các cá nhân vào tập thể; đồng thời, tính cộng đồng được hình thành dựa trên hai mối quan hệ cơ bản: láng giềng và huyết thống [2]

2.1.1 Mặt tích cực của tính cộng đồng

Thứ nhất, giá trị quý báu nhất của làng xã chính là lòng nhân ái Đức tính cao đẹp này được tôi luyện trong đời sống của một dân tộc phải chịu đô hộ của ách thống trị Người dân luôn thương yêu mọi người trong làng, luôn thông cảm,

sẻ chia đồng thời bỏ qua cả lỗi lầm của những kẻ phản bội (“Đánh kẻ chạy đi

không ai đánh người chạy lại")

Thứ hai, tinh thần tập thể, ý thức trách nhiệm được hình thành bởi tính cộng đồng Trong văn hoá ứng xử, văn hoá cộng đồng, người Việt Nam luôn nghĩ đến tập thể và tránh những việc làm ảnh hưởng đến tập thể Người dân gắn mình với tập thể, hòa mình vào cuộc sống chung của tập thể, vì tập thể mà s n sàng hy sinh lợi ích cá nhân Cũng vì thế, người Việt Nam nói chung, dân làng nói riêng thường đề cao nghĩa vụ, trách nhiệm của bản thân với cộng đồng Thứ ba, tính cộng đồng hình thành nên nếp sống dân chủ bình đ ng Do đề cao tính cộng đồng nên trong xã hội Việt Nam truyền thống, có một sự đồng nhất, bình đ ng với nhau hay cũng chính là ngọn nguồn của nếp sống dân chủ Xét về địa bàn cư trú, do đặc tính của nền nông nghiệp cổ truyền, người sống cùng làng phải gắn kết chặt chẽ và có trách nhiệm làm tốt phần việc của mình, đảm bảo nhu cầu sản xuất, khả ứng ứng phó với tự nhiên cũng như năng suất lao động, tôn trọng lẫn nhau để mối quan hệ duy trì được lâu dài Về phe giáp, tính dân chủ được thể hiện qua việc tất cả mọi thành viên cùng lớp tuổi đều bình

đ ng như nhau và cứ đến một độ tuổi nhất định thì sẽ có địa vị tương ứng

Trang 7

Thứ tư, tính cộng đồng tạo nên lối sống hoà đồng, tinh thần đoàn kết Người dân trong làng luôn hoà vào cộng đồng, đặt lợi ích cộng đồng lên trên lợi ích cá nhân, cùng nhau đoàn kết, tương trợ lẫn nhau những lúc gặp khó khăn Họ sống cởi mở và hoà đồng như máu mủ ruột thịt, đối xử với nhau rất giàu tình nghĩa (“Tương thân tương ái”, “Thương người như thể thương thân”) Mọi vấn

đề nảy sinh đều được giải quyết bằng tình nghĩa họ hàng, bà con, láng giềng một cách mềm dẻo Nhờ lối sống này, sự vô cảm và ích kỷ đã được hạn chế

2.1.2 Mặt tiêu cực của tính cộng đồng

Trước tiên chính là sự thủ tiêu vai trò cá nhân Người Việt luôn hòa tan vào cộng đồng, vào các mối quan hệ xã hội nên cách ứng xử của mỗi người với thế giới bên ngoài đều do chính cộng đồng đó ảnh hưởng Tính cộng đồng trong làng xã truyền thống như bóp nghẹt mọi tiềm năng sáng tạo, mọi ý thức về cái tôi cá nhân của chủ thể Bên cạnh đó, khi bị ràng buộc bởi quan hệ cộng đồng, con người nhiều lúc buộc phải hi sinh nhu cầu, hạnh phúc cá nhân

Thứ hai, tính cộng đồng hình thành nên thói dựa dẫm, ỷ lại và tư tưởng cầu

an, sợ va chạm, sợ mất lòng nhau Sự đồng nhất của các cá nhân dẫn đến việc

người Việt Nam hay có thói dựa dẫm, ỷ lại lẫn nhau (“Cha chung không ai

khóc”) Dù cả làng gặp vấn đề chung hay khó khăn hoạn nạn, vẫn có người hành

xử theo tư duy “mặc kệ”, không nhận trách nhiệm về mình Hơn nữa, các thành viên trong làng xã cũng có tư tưởng cầu an và cả nể, làm gì cũng sợ mất lòng nhau nên thường đặt cái tình ở trên cái lý khiến cho vấn đề không được giải quyết một cách triệt để, tạo ra sự bất công và ấm ức

Thứ ba, tính cộng đồng sinh ra thói cào bằng, đố kị của người dân trong

cộng đồng làng xã Sự hòa nhập trong tập thể làm nảy sinh thói đố k , không muốn cho ai hơn mình, không chấp nhận sự vượt trội của người khác Trong các hoạt động tập thể, họ thà “xấu đều hơn tốt lỏi”, “khôn độc không bằng ngốc đàn” Khi ấy, có thể dẫn đến hậu quả lớn hơn: cái tốt nhưng là tốt riêng lẻ thì trở

thành xấu, ngược lại cái xấu nhưng là xấu tập thể thì lại trở nên bình thường

(“Toét mắt là tại hướng đình/ Cả làng cùng toét, riêng mình em đâu!”)

2.2 Tính tự quản trong văn hoá làng xã

Tính tự quản nhấn mạnh vào sự tách biệt Sự tách biệt này chính là sự tách biệt của tập thể này với tập thể khác Các mối quan hệ cơ bản của tính tự quản là mối quan hệ liên làng (làng này và làng khác) và siêu làng (làng và các thể chế lớn hơn như nhà nước, dân tộc)

Trang 8

Đặc trưng tiêu biểu nhất của tính tự quản ở làng xã Việt truyền thống là lũy tre làng Không tự nhiên mà tre tạo thành thành lũy, là một rào chắn ngăn chặn ảnh hưởng từ ngoài vào trong, thậm chí cắt đứt làng khỏi những mối quan hệ với bên ngoài Cộng đồng cư dân từ đó vừa sống khép kín, hướng nội, vừa hướng bản thân ra cộng đồng để hòa tan vào nó

2.2.1 Mặt tích cực của tính tự quản

Thứ nhất, tính tự quản củng cố quan hệ giữa làng xã với chính quyền trung ương Về nguyên tắc, các lãnh đạo cấp cao hay nhà nước không giao dịch trực tiếp với nhân dân Do vậy, nhà nước quản lý làng xã (trên thực tế là hầu như toàn bộ xã hội) phải thông qua đại diện của làng xã

Thứ hai, tính tự quản giúp cho người dân có tính cần cù, chịu khó, tiết kiệm

và nếp sống tự cấp tự túc Do nền kinh tế nước ta trước đây chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp (phụ thuộc chặt chẽ vào điều kiện tự nhiên) nên người Việt Nam có truyền thống cần cù, chịu thương chịu khó, “thức khuya dậy sớm”,

“một nắng hai sương” để “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời” Hơn nữa, mỗi làng tự chủ về mọi mặt, tự đáp ứng mọi nhu cầu cuộc sống của làng mình từ ăn (nhà nào cũng có vườn riêng, chuồng cho gia cầm) và ở (bụi tre, rặng xoan, ) Thứ ba, tính tự quản góp phần hình thành nên tinh thần tự lập cộng đồng Mỗi làng, mỗi tập thể hoạt động độc lập với làng và tập thể khác nên phải chủ động trong mọi việc, tự phát triển, tự lo liệu lấy mọi việc mà không cần phải dựa dẫm vào bất cứ nơi nào khác Từ đó, về lâu dài đã hình thành nên tinh thần tự lập cộng đồng trong đời sống làng xã Việt Nam

2.2.2 Mặt tiêu cực của tính tự quản

Thứ nhất, chính sự tự tách biệt đến cực đoan của tính tự quản mà dân làng Việt thường có óc tư hữu, ích kỉ Mỗi người chỉ lo vun vén cho cộng đồng của mình, phục vụ cho lợi ích của mình mà lờ đi, vô cảm trước những vấn đề của người khác hay sinh ra thói ích kỷ, keo kiệt mà không chịu san sẻ, giúp đ người khác (“Của mình thì giữ bo bo/ Của người thì để cho bò nó ăn”)

Thứ hai, tính tự quản sinh ra óc b phái, chủ nghĩa cục bộ địa phương (đặc trưng phái sinh của tính tự quản) Làng nào thì chỉ biết làng ấy, chỉ biết lo cho địa phương của mình (“Ta về ta tắm ao ta/ Dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn")

mà không hề để ý đến sự phát triển chung, gây ra sự chia rẽ và mất đoàn kết Chủ nghĩa cục bộ địa phương cũng từ đây mà sinh ra Ngày xưa, các quy định từ triều đình, nhà nước chỉ mang tính hình thức, bị bóp méo, uốn chỉnh sao cho phù

hợp với quan điểm của địa phương đó Đây chính là hiện tượng “Phép vua thua

lệ làng” thường được nhắc tới

Trang 9

Thứ ba, mặt tiêu cực của tính tự quản thể hiện qua óc gia trưởng, tôn ti Tính tôn ti tự thân nó không phải là xấu, nhưng khi nó gắn liền với óc gia trưởng, tạo nên tâm lí “quyền huynh thế phụ”, sự áp đặt ý muốn của mình lên người khác trong quan hệ xã hội, tạo nên tư tưởng thứ bậc vô lý thì nó trở thành một lực cản đáng sợ cho sự phát triển xã hội Sự bảo thủ, sùng bái kinh nghiệm

và coi thường lớp trẻ như: “Trứng mà đòi khôn hơn vịt” cũng là nguyên nhân lớn dẫn đến việc kìm hãm sự phát triển của xã hội

Thứ tư, tính tự quản còn để sinh ra lối tư duy bảo thủ, tâm lý không thích sự thay đổi Các làng sống khép kín, tách biệt, chỉ biết những việc của làng mình thì sẽ không thể đón nhận những cơ hội bên ngoài để phát triển Điều này cũng khiến con người không có tầm nhìn xa, không có tính chiến lược và bảo thủ trong việc tiếp nhận cái mới Thậm chí, tính chất khép kín của làng còn khiến người dân khó có thể nhận ra rằng xung quanh mình đang có những hạn chế nào

để khắc phục, những hủ tục xấu nào cần được bãi bỏ kịp thời Ngoài ra, người dân trong làng cũng có thể nảy sinh ra tâm lý rụt r , thích sự ổn định, an phận thủ thường, ngại thay đổi; từ đó ảnh hưởng đến con đường xây dựng một nông thôn hiện đại, văn minh và dân chủ

Thứ năm, tính tự quản và các quan hệ cộng đồng trong làng xã khiến cho con người chỉ tồn tại hợp pháp với tư cách là thành viên chính thức, vì lí do nào

đó có những người không đủ tư cách chính thức như dân ngoại tịch ngụ cư hoặc

bị xóa tên trong sổ làng thì không được lệ làng bảo đảm, bị sống ngoài lệ làng

3 Sự thay đổi tự phát các đặc trƣng của làng xã

3.1 Sự thay đổi tự phát của tính cộng đồng

3.1.1 Mặt tích cực của sự thay đổi tự phát của tính cộng đồng

Mặt thứ nhất, sự thay đổi không gian làng chính là biểu hiện rõ nhất của sự thay đổi tự phát của tính cộng đồng Ở làng xã xưa, do tính chất của nền nông nghiệp cổ truyền, người dân tập trung ở những khu vực có điều kiện tự nhiên thuận lợi, do đó, không gian làng tương đối khép kín Ngày nay, trong quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá, nước ta hướng đến phát triển nền nông nghiệp - hiện đại Không gian cư trú có sự thay đổi rõ rệt: từ gắn với những nơi có điều kiện tự nhiên thuận lợi sang gắn với những nơi có điều kiện kinh tế xã hội - thuận lợi (gần trục đường giao thông chính, gần với thị trường tiêu thụ), giúp cho việc sinh hoạt hàng ngày và quá trình sản xuất được hiện đại hoá, tạo một không gian mở, làm cho làng quê mang dáng dấp của đô thị

Trang 10

Mặt thứ hai, trước sự phát triển của nền kinh tế hiện đại, đời sống vật chất của người dân được đảm bảo, dẫn đến nhu cầu nâng cao đời sống tinh thần, kết quả chính là sự thay đổi về lễ hội Trên khắp đất nước ta, địa phương nào cũng

có lễ hội, diễn ra quanh năm, trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống của nhân dân Ngày nay, người dân chú trọng bảo tồn, gìn giữ các di tích, cũng .

như phục dựng các lễ tiết, lễ hội của làng quê đã bị mai một trước đó [3]Mặt thứ ba, chính là sự thay đổi trong lối sống, lối sinh hoạt của người dân Nếu ngày trước người dân sinh hoạt và sản xuất một cách tự do, thoải mái thì ngày nay, lối sống của dân làng cũng trở nên sôi động, khẩn trương hơn, có quy luật, kỷ luật hơn Họ tuân thủ giờ giấc cùng với tác phong nhanh nhẹn, năng động, hình thành tính tự chủ, ít phụ thuộc, ỷ lại vào tập thể như trước Nhìn chung, lối sống của nhiều làng quê hiện nay có sự pha trộn, đan xen giữa yếu tố truyền thống và hiện đại, giữa nông thôn và thành thị

3.1.2 Mặt tiêu cực của sự thay đổi tự phát của tính cộng đồng

Mặt thứ nhất trong những tiêu cực của tính cộng đồng chính là sự thay đổi

về quan hệ gia đình, họ hàng Đây là ví dụ tiêu biểu cho những đặc tính trong đời sống xã hội của cộng đồng làng xã Ngày trước, người dân thường sống theo cộng đồng, có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, thường trong một làng chủ yếu là những người có chung huyết thống; trong đời sống hàng ngày, họ làm việc, lao động cùng nhau, gắn bó chặt chẽ với nhau Ngày nay, sợi dây gắn kết giữa các thế hệ, thành viên trong gia đình nông thôn hiện nay đang có chiều hướng suy giảm Các mối quan hệ dần bị lu mờ bởi sự khác biệt về lao động, việc làm, thứ

tự ưu tiên trong đời sống cá nhân của họ

Mặt thứ hai, bên cạnh những thay đổi tích cực của lễ hội, tính cộng đồng ngày nay cũng sinh ra nhiều thay đổi tiêu cực Việc có quá nhiều lễ hội đã dẫn đến các lễ hội bị biến tướng Vì nhiều lý do chủ quan mà khi phục hồi, các lễ hội

đã mất đi ý nghĩa ban đầu của nó [4]

Mặt thứ ba, ngày nay, tính cộng đồng dẫn đến những thay đổi trong hoạt động tiếp cận thông tin và giải trí Bên cạnh các hoạt động văn hóa quần chúng,

hệ thống Internet, điện thoại di động hay các thiết bị công nghệ khác cũng được người dân sử dụng rất nhiều Điều này dẫn đến các hoạt động cộng đồng cũng bị thay đổi khá lớn

3.2 Sự thay đổi tự phát của tính tự quản

3.2.1 Mặt tích cực của sự thay đổi tự phát của tính tự quản

Mặt thứ nhất, trước bối cảnh hội nhập sâu rộng toàn cầu, tính tự quản đã có

sự thay đổi theo hướng tích cực về sự phát triển kinh tế, cụ thể là việc giải quyết

Trang 11

các vấn đề lao động việc làm gay gắt ở các làng xã và vùng nông thôn Thực tế - hiện nay ở nhiều địa phương, các công ty nước ngoài mọc lên ngày càng nhiều, làng xã đón nhận những cơ hội để phát triển đa dạng các ngành nghề, giải quyết được vấn đề việc làm cho người dân làng xã

Mặt thứ hai, giao lưu văn hóa, trao đổi thông tin trong nội bộ làng và giữa các làng với nhau được mở rộng nhưng không làm mất đi bản sắc văn hóa Bởi

vì, khi tham gia vào quá trình ấy, người dân sẽ không chỉ nhìn rõ hơn các giá trị văn hóa của làng mình mà còn những giá trị văn hóa của làng khác Đó chính là điều kiện tạo ra sự đa dạng, phong phú của bản sắc văn hóa làng xã trong môi trường xã hội hiện nay

Mặt thứ ba, sự biến đổi về “hương ước” giúp giảm đi những hủ tục lạc hậu

ở các làng xã hiện nay Nhiều hủ tục lạc hậu gây ảnh hưởng đến sự phát triển của làng xã và được các cán bộ địa phương, cơ quan chức năng có thẩm quyền can thiệp để xử lý và đưa ra những giải pháp phù hợp giúp bà con có cái nhìn đúng hơn [5]

3.2.2 Mặt tiêu cực của sự thay đổi tự phát của tính tự quản

Mặt thứ nhất, óc tư hữu ích kỷ của tính tự quản trước kia vẫn còn tồn tại, thậm chí phát triển theo hướng tiêu cực hơn Nếu như trước kia tính tự quản nhấn mạnh vào sự khác biệt nên người Việt Nam có óc tư hữu ích kỉ thì bây giờ thói xấu ấy bây giờ đi theo hướng tiêu cực hơn

Mặt thứ hai là óc b phái, địa phương cục bộ Trái với tư duy mở và cùng nhau hợp tác phát triển như hiện nay, nhiều đại phương vẫn còn kéo b phái để đem lại lợi ích cho riêng địa phương mình, làm xảy ra sự mất đoàn kết Cụ thể, ngày nay xảy ra hiện tượng chỉ thích giao tiếp với anh em, bà con vì cho rằng họ hàng vẫn tốt hơn người bên ngoài Thậm chí, đã có rất nhiều bài báo phản ánh

về hiện trạng này như báo Thanh niên, báo Quân đội Nhân dân,

Mặt thứ ba, óc tôn ti gia trưởng vẫn còn tồn tại Nó đã trở thành một lực cản đáng sợ cho sự phát triển của xã hội Đặc biệt, sự bảo thủ của một bộ phận người già, người lớn tuổi quá sùng bái kinh nghiệm, coi thường lớp trẻ

III MÔ HÌNH “NÔNG THÔN MỚI" Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

1 Tổng quát về chương trình “Nông thôn mới”

1.1 Giới thiệu chung về chương trình “Nông thôn mới”

“Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới” hay nói ngắn gọn là Chương trình “Xây dựng nông thôn mới” là một chương trình tổng thể về phát triển kinh tế xã hội, chính trị và an ninh quốc phòng do Chính phủ Việt -

Trang 12

Nam xây dựng và triển khai trên phạm vi nông thôn toàn quốc, căn cứ tinh thần của Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn (ngày 05 tháng 08 năm 2008) [6]

1.2 Các tiêu chí của chương trình “Nông thôn mới”

“Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới” đã trải qua hai giai đoạn 2010-2015 và 2016-2020, đang trong giai đoạn 2021 2025 Về cơ -bản, các yêu cầu hay tiêu chí đánh giá xã đạt tiêu chuẩn nông thôn mới vẫn giữ nguyên theo Quyết định số 491/QĐ TTg ngày 16 tháng 4 năm 2009-

Mới nhất, ngày 8 tháng 3 năm 2022, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 318/QĐ TTg Ban hành Bộ tiêu chí Quốc gia về xã nông thôn mới và Bộ -tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới nâng cao giai đoạn 2021-2025 [7]Theo đó, tại Phụ lục I Quyết định này là Bộ tiêu chí Quốc gia về xã nông thôn mới giai đoạn 2021 – 2025 gồm 5 nhóm yêu cầu với 19 tiêu chí:

tường rào để có cảnh quan đẹp, đảm bảo vệ sinh môi trường nông thôn Ba là,

huy động nguồn lực xây dựng cơ sở hạ tầng thiết yếu phục vụ sản xuất và đời sống Bốn là, phát triển sản xuất, có nhiều mô hình sản xuất đạt hiệu quả cao, nâng cao thu nhập trên đơn vị diện tích đất canh tác Năm là, từng bước nâng cao chất lượng giáo dục, y tế, văn hoá và đảm bảo an ninh nông thôn

2 Mô hình “Nông thôn mới" trong bối cảnh văn hoá làng xã hiện nay

2.1 “Nông thôn mới” góp phần phát huy tiềm năng của các đặc trưng của

làng xã

Sau nhiều năm thực hiện chương trình Nông thôn mới, diện mạo nhiều vùng nông thôn được thay đổi, nhiều yếu tố dần phát triển so với trước kia như

hạ tầng kinh tế xã hội, nét đẹp văn hoá, tình cảm láng giềng, Đặc biệt, những -

sự thay đổi này đã góp phần giúp phát huy những hệ quả tốt của tính cộng đồng

và tính tự quản, cụ thể hơn chính là góp phần gìn giữ những nét đẹp văn hoá,

Trang 13

bản sắc riêng cho mỗi làng, tăng cường sức mạnh toàn dân và trách nhiệm xây dựng đất nước trong cộng đồng làng xã

2.1.1 “Nông thôn mới” giúp khôi phục và phát huy bản sắc văn hóa địa phương

Với mục tiêu xây dựng nông thôn mới theo hướng “phát triển tỉ lệ thôn, bản, ấp có tỉ lệ văn hoá cao”, nhiều địa phương đề cao các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc, địa phương Gắn liền với sự tìm về và đề cao các giá trị văn hóa truyền thống là xu thế khôi phục và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc,

kh ng định bản sắc văn hóa địa phương Việc sưu tầm, lưu giữ, bảo quản và trùng tu, khai thác các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể ở địa phương ngày càng được chú trọng Đây là quá trình người dân gìn giữ, vun đắp mối quan hệ với cộng đồng, làng xã, kh ng định truyền thống, bản sắc và niềm tự hào về địa phương trong bối cảnh công nghiệp hoá hiện đại hoá và hội nhập quốc tế - Tinh thần yêu nước, truyền thống đoàn kết, tính cộng đồng được cụ thể hóa thông qua các hoạt động văn hóa cộng đồng, các hoạt động tôn vinh giá trị văn hóa truyền thống của quê hương, đất nước Các phong tục, tập quán cổ xưa được khôi phục như trang phục cổ truyền, nghi lễ truyền thống trong lễ hội, khao vọng, cúng tế, cưới hỏi, hội đoàn Hệ thống đình chùa, lăng tẩm, bia mộ, các di tích lịch sử, văn hóa được tôn tạo, tu bổ to đẹp, uy nghi hơn [8]

Đây chính là những biểu hiện tích cực của tính cộng đồng và tính tự quản trong bối cảnh xây dựng chương trình “Nông thôn mới" Các địa điểm như đình chùa, lăng tẩm, hay các lễ hội, phong tục, tập quán được lưu giữ và bảo tồn trong bối cảnh triển khai chương trình “Nông thôn mới" nhằm tạo điều kiện phát triển tính cộng đồng truyền thống (thông qua việc tạo điều kiện cho các hoạt động văn hoá cộng đồng) và tính tự quản (thông qua việc mỗi làng, mỗi xã tự nỗ lực khôi phục và phát huy bản sắc văn hoá địa phương, phát huy tinh thần tự lập cộng đồng vốn có)

2.1.2 “Nông thôn mới” giúp nâng cao tinh thần độc lập, tự chủ, tự cường, trách

nhiệm trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Chương trình xây dựng Nông thôn mới với những định hướng, mục tiêu, chính sách rõ ràng (như “Cán bộ, công chức xã đạt chuẩn", “Đảng bộ, chính quyền được xếp loại hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên" hay đẩy mạnh phát triển không gian văn hoá nhằm đảm bảo nhu cầu sinh hoạt, giải trí, kết nối của người dân) đã hình thành nên xu hướng gắn kết giữa văn hóa và chính trị, tạo định hướng đề cao tinh thần độc lập, tự chủ, tự cường, truyền thống đoàn kết, trách nhiệm trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Các giá trị

Trang 14

dân chủ, kỷ cương, minh bạch, trọng dân, vì dân, thực hành luật pháp được đề cao trong hệ thống chính trị, từ trong các tổ chức đảng, cơ quan nhà nước, các đoàn thể chính trị xã hội -

Các chuẩn mực về xây dựng văn hóa trong Đảng, trong cơ quan nhà nước, các đoàn thể chính trị xã hội tiếp tục được xây dựng, hoàn thiện và thực hành - Tinh thần nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức trong xây dựng văn hóa công vụ tiếp tục được tăng cường, tạo động lực nâng cao hiệu lực, hiệu quả của bộ máy nhà nước từ Trung ương đến cơ sở Các giá trị văn hóa được lan tỏa và thấm sâu vào đời sống chính trị, góp phần củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, khơi dậy khát vọng và niềm tin của nhân dân vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

2.2 “Nông thôn mới” góp phần hạn chế mặt tiêu cực của các đặc trưng của

làng xã

Chương trình Nông thôn mới đã góp phần hiện đại hóa nông thôn, phát triển nông thôn và văn hóa làng xã theo kế hoạch, dưới sự quản lý và điều hành của Nhà nước Điều này hạn chế được những hệ lụy xấu từ tính tự quản truyền thống của làng xã Chương trình cũng giúp phát huy sức mạnh toàn dân, tinh thần đoàn kết và vai trò làm chủ của người dân, đồng thời huy động sự tham gia của các tổ chức chính trị xã hội cùng chung sức xây dựng nông thôn mới -

2.2.1 " Nông thôn mới" giúp phát huy vai trò chủ thể của người dân

Xây dựng nông thôn mới là quá trình nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của mỗi người dân; vì thế, người dân giữ vai trò chủ thể, nòng cốt Vai trò làm chủ của người dân được phát huy theo phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân thụ hưởng”, họ được đóng góp công sức, tiền của để chỉnh trang nơi ở của gia đình mình, đầu tư cho sản xuất và góp phần xây dựng các công trình công cộng của thôn, xã

Vai trò chủ thể của người dân trong xây dựng Nông thôn mới được thể hiện như sau: Thứ nhất, tham gia đóng góp ý kiến cho việc xây dựng chương trình Nông thôn mới ở thôn, xã Thứ hai, tham gia và lựa chọn thứ tự của công việc sao cho thiết thực và phù hợp với khả năng, điều kiện của địa phương Thứ ba, quyết định mức độ đóng góp trong việc xây dựng các công trình công cộng của thôn, xã Thứ tư, Trực tiếp tổ chức thi công hoặc tham gia thi công xây dựng các công trình hạ tầng kinh tế xã hội của xã, thôn theo kế hoạch hàng năm - Thứ năm, cử đại diện để tham gia quản lý và giám sát các công trình xây dựng của địa phương Thứ sáu, tổ chức quản lý, vận hành và bảo dư ng các công trình sau

Trang 15

khi hoàn thành Cuối cùng, người dân đã tự nguyện hiến đất, công trình, hiện vật, ngày công, tiền của và tích cực ủng hộ xây dựng nông thôn mới

Nhìn chung, sự phát huy vai trò chủ thể của người dân đã góp phần hạn chế mặt tiêu cực của tính cộng đồng, cụ thể là sự thủ tiêu vai trò của cá nhân Chương trình xây dựng Nông thôn mới đã tạo điều kiện để nâng cao và phát huy năng lực của các cá nhân, vai trò và lợi ích của người dân được chú trọng hơn 2.2.2 "Nông thôn mới" được phát triển có kế hoạch dưới sự hỗ trợ, định hướng

của chính quyền địa phương và nhà nước

Nhà nước đóng vai trò định hướng, ban hành các tiêu chí, quy chuẩn, đặt ra các chính sách và cơ chế hỗ trợ chương trình xây dựng Nông thôn mới Cụ thể, chính phủ và các bộ ngành liên quan đã ban hành hệ thống văn bản quy định những quy chuẩn, chính sách cho việc xây dựng Nông thôn mới; tạo điều kiện pháp lý cho quá trình thực hiện bài bản, chủ động hơn Các hoạt động cụ thể do chính cộng đồng người dân ở thôn, xã bàn bạc dân chủ để quyết định và tổ chức thực hiện

Có thể thấy, sự định hướng, hỗ trợ của nhà nước và chính quyền địa phương góp phần hạn chế mặt tiêu cực của tính tự quản, cụ thể là óc b phái, địa phương

và lối tư duy hướng nội, bảo thủ, tâm lý không thích sự thay đổi Chương trình Nông thôn mới chú trọng đến mục tiêu phát triển chung của nông thôn toàn quốc,

từ đó giảm thiểu tình trạng địa phương nào chỉ biết lo cho địa phương ấy Bên cạnh đó, những chính sách liên quan đến xây dựng Nông thôn mới của nhà nước còn tạo cơ hội để các làng phát triển có tính chiến lược hơn, góp phần loại bỏ những hạn chế do tính khép kín, bảo thủ, ngại thay đổi gây ra [9]

Tóm lại, chương trình xây dựng Nông thôn mới đã huy động được sự tham gia của chính quyền địa phương, nhà nước và quan trọng nhất là sự đồng lòng, hưởng ứng của người dân, từ đó dẫn đến những thay đổi tích cực đối với làng xã Việt Nam

IV ĐÁNH GIÁ VÀ GIẢI PHÁP THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH “NÔNG

THÔN MỚI"

Chương trình Nông thôn mới đã đưa ra được một bộ tiêu chí chi tiết, rõ ràng và toàn diện trên mọi lĩnh vực, quan tâm đến các vấn đề chung của nông dân, nông nghiệp và nông thôn Nếu được triển khai thành công, chương trình sẽ đưa việc phát triển, cải tạo nông thôn vào quy củ, người dân và cộng đồng dân dân cư được giữ vai trò nòng cốt

Trang 16

Trên thực tế, quá trình thực hiện chương trình Nông thôn mới đã mang lại nhiều kết quả tích cực, tuy nhiên việc triển khai còn gặp nhiều khó khăn do các yêu cầu xây dựng nông thôn mới chưa quan tâm đến tính đặc thù, văn hóa vùng miền và truyền thống văn hóa ở từng làng, xã, ở từng tộc người khác nhau, ở các trình độ phát triển khác nhau, các nguồn lực, nhân tố khác nhau Do đó, việc đề

ra những giải pháp nhằm đảm bảo cho việc thực thi các chính sách của chương trình xây dựng Nông thôn mới là vô cùng cần thiết Dựa vào tình hình xây dựng chương trình nông thôn mới, ta có thể chia làm sáu giải pháp như sau:

Một là, tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho cán bộ và cư dân nông thôn, nâng cao chất lượng các phong trào thi đua xây dựng nông thôn mới, trong đó, chú trọng nâng cao vai trò chủ thể của người dân, thường xuyên cập nhật, phổ biến các mô hình tiên tiến về xây dựng nông thôn mới để nhân ra diện rộng

Hai là, tập trung chỉ đạo các địa phương tiếp tục rà soát mục tiêu của giai

đoạn 2021 2025 để hoàn thành và vượt mục tiêu của Thủ tướng Chính phủ đã giao trong giai đoạn này; chủ động bắt tay vào xây dựng chương trình theo hướng rõ mục tiêu, rõ việc, gắn sát với điều kiện thực tiễn

-Ba là, tiếp tục hoàn thiện khung khổ pháp luật, nghiên cứu, vận dụng, ban

hành các cơ chế chính sách hỗ trợ xây dựng nông thôn mới theo hướng tiếp tục sáp nhập các chương trình, dự án có cùng nội dung đầu tư, nội dung hỗ trợ trên địa bàn nông thôn Tiếp tục rà soát, cập nhật và ban hành bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới phù hợp với từng giai đoạn, từng nhóm địa phương

Bốn là, tăng cường thực hiện hiệu quả các giải pháp huy động nguồn lực thực hiện chương trình: Thống nhất cơ chế đầu tư, hỗ trợ từ ngân sách Trung ương cho các đơn vị cấp huyện; huy động tối đa nguồn lực của địa phương để tổ chức triển khai chương trình; huy động vốn đầu tư của doanh nghiệp đối với các công trình có khả năng thu hồi vốn trực tiếp, sử dụng có hiệu quả nguồn vốn tín dụng, tiếp tục huy động đóng góp của nhân dân theo nguyên tắc tự nguyện Năm là, tăng cường hội nhập quốc tế, tăng cường công tác thông tin, truyền thông cho các tổ chức quốc tế hiểu rõ về nội dung, mục tiêu chương trình; tổ chức các Hội nghị, Hội thảo quốc tế trong và ngoài nước để tuyên truyền, trao đổi kinh nghiệm về xây dựng nông thôn mới, đồng thời tranh thủ sự hỗ trợ nguồn lực của các nước và các tổ chức quốc tế

Sáu là, đẩy mạnh và nâng cao chất lượng công tác giám sát, đánh giá tình

hình thực hiện chương trình, trong đó chú trọng quản lý chặt chẽ việc sử dụng các nguồn lực Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát trong xây dựng nông thôn mới

Ngày đăng: 29/05/2023, 09:35

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w