Sijo được xuất hiện vào cuối thời kì Koryo tức là vào khoảng cuối thế kỷ 14, nó được xem là một thể loại văn học đặc trưng của Hàn Quốc, và ngày nay nó đã trở nên phổ biến. Một trong những lý do khiến cho Sijo trở nên phổ biến là vì nó được viết bằng tiếng Hàn. Những bài hát truyền miệng trong đời sống tôn giáo của người dân Hàn Quốc đều gắn liền với các triều đại lịch sử của Trung Quốc. Sijo thường được xuất hiện trong những cuộc hội mặt, dân làng thường được nghe thôn trưởng kể về cuộc đời của ông ta như những huyền thoại cũng như những chiến tích của ông ta trong thời chiến tranh cũng như hòa bình. Câu chuyện kể sẽ được xen kẽ với các bài hát tạo nên niềm hân hoan, tinh thần thoải mái. Chính những cuộc trò chuyện như thế này đã tạo nên tính thơ ca cho nền thi thơ của Hàn Quốc. Do không muốn ảnh hưởng của ngôn ngữ Trung Quốc cho nên trong thời kì cuối Koryo Sijo chủ yếu được truyền miệng.
Trang 1BÁO CÁO
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU TRUYỀN THỐNG THƠ CỦA HÀN QUỐC TẠI VIỆT NAM
1 Khái niệm Sijo:
Đây là phần khái quát đơn giản Sijo là gì? Có đặc trưng như thế nào và sẽ giúpchúng ta có cái nhìn tổng thể về Sijo
Sijo là một thể loại thơ truyền thống đặc trưng của Hàn Quốc, phát triển khôngngừng từ cuối thời kì Koryo cho đến nay Chính vì việc phát triển không ngừng củaSijo trong suốt năm trăm năm của vương triều Triều Tiên nên những bài Sijo đượcsáng tác ở thời Triều Tiên được gọi là Sijo cổ nhằm để phân biệt với những bài Sijođược sáng tác từ thời cận đại trở về sau
Về mặt hình thức toàn tác phẩm Sijo gồm có 3 dòng mỗi dòng có từ 14 đến 16
âm tiết Tổng số âm tiết trong một bài Sijo từ 44 đến 46 âm tiết Nội dung của Sijo:
Vào đầu thời kì Choseon, Sijo được viết bởi tầng lớp Yangban và nội dung chủyếu chịu nhiều ảnh hưởng của Nho giáo , nhưng đến thời kì hậu Choseon thì được viếtbởi tầng lớp bình dân nội dung chủ yếu là những tác phẩm về niềm vui và nỗi buồn củatầng lớp bình dân
2 Nguồn gốc và bối cảnh xuất hiện của Sijo:
Sijo được xuất hiện vào cuối thời kì Koryo tức là vào khoảng cuối thế kỷ 14, nóđược xem là một thể loại văn học đặc trưng của Hàn Quốc, và ngày nay nó đã trở nênphổ biến Một trong những lý do khiến cho Sijo trở nên phổ biến là vì nó được viếtbằng tiếng Hàn Những bài hát truyền miệng trong đời sống tôn giáo của người dânHàn Quốc đều gắn liền với các triều đại lịch sử của Trung Quốc Sijo thường được xuất
Trang 2hiện trong những cuộc hội mặt, dân làng thường được nghe thôn trưởng kể về cuộc đờicủa ông ta như những huyền thoại cũng như những chiến tích của ông ta trong thờichiến tranh cũng như hòa bình Câu chuyện kể sẽ được xen kẽ với các bài hát tạo nênniềm hân hoan, tinh thần thoải mái Chính những cuộc trò chuyện như thế này đã tạonên tính thơ ca cho nền thi thơ của Hàn Quốc Do không muốn ảnh hưởng của ngônngữ Trung Quốc cho nên trong thời kì cuối Koryo Sijo chủ yếu được truyền miệng.
( giữa thế kỉ 15 mới phát minh ra hangul).
Mãi cho đến những năm 20 của thập niên 90, hai từ sijo mới trở nên phổ biến, khi nó được sử dụng như “tiêu đề” cho những tuyển tập thơ của các nhà thơ Sijo được
viết dựa trên 2 đặc tính, thứ nhất là về “ thời gian ” và thứ hai là về “ lời bài hát ”
Trước những năm 20 của thập niên 90, cụm từ tan-ga ( những bài hát ngắn ) đã được
sử dụng để chỉ những bài thơ, và sijo đã được sử dụng trong những bài hát vào thời đó Nhưng thực tế cuối cùng cụm từ sijo bao hàm luôn cả hai ý nghĩa của thơ và nhạc Mặc
dù, gốc của sijo dành cho việc hát, thế nhưng tính âm nhạc trong sijo không phải là nhu cầu của những người thưởng thức âm nhạc Tiếng hát sijo là môn nghệ thuật xa xỉ chỉ
dành riêng cho tầng lớp quan lại trong xã hội, nhưng nó không có nghĩa là những tầng
lớp khác không thể quen thuộc với những ngôn từ hiện tại ( ví dụ như nhạc opera thì
dành cho tầng lớp cao, còn những bài hát đơn giản chỉ có ngữ điệu mà không có phốinhạc thì dành cho tầng lớp bình dân )
Bên cạnh đó, cũng đã có nhiều giả thiết về nguồn gốc của sijo Trong đó, có 3
giả thiết lớn:
Thứ nhất: có giả thiết cho rằng Sijo đã chịu ảnh hưởng từ thơ chữ Hán,
mọt thể loại văn học Trung Quốc, nhưng đã được du nhập vào Hàn Quốc
Và để chứng minh cho giả thiết này, người ta đã cố gắng chứng minh
Sijo giống với loại hình tuyệt cú của Trung Quốc Thế nhưng, thực tế có một số đáng kể thơ chữ Hán được đổi sang hình thức sijo.
Trang 3 Thứ hai: cũng có giả thiết cho rằng sijo bắt nguồn từ hyang-ga căn cứ vào
ý nghĩa của của lời “tam cú lục danh” giải thích cho hyang- ga tương thong với hình thức “tam chương lục cú” của sijo.
Thứ ba: cũng có ý kiến quan tâm đến tính đoản hình của sijo đã cho rằng hình thức sijo có 3 dòng được hình thành từ việc thêm một dòng lời bài
hát vào dân ca ngắn có hình thức hai dòng
Giả thiết cho rằng sijo bắt nguồn từ thơ chữ Hán không thể giải thích sự khác biệt giữa cấu trúc tam đoạn của sijo với cấn trúc tứ đoạn của thơ chữ Hán Còn thuyết cho rằng sijo bắt nguồn từ hyang-ga lại không thuyết phục ở chỗ cấu trúc của sijo không phù hợp với thực trạng của lời bài hát của hyang-ga có hình thức mười
dòng Còn đối với thuyết bắt nguồn từ dân ca lại có nhược điểm là không giải thíchđược quá trình thêm một dòng vào loại hình dân ca hai dòng và cũng không giải thíchđược sự khác biệt về giai tầng âm nhạc của hai thể loại này
Chính vì thế, vấn đề nguồn gốc của sijo đến nay vẫn chưa được giải quyết
có bốn nhịp, 1 nhịp có 3,4 hoặc 5 âm tiết (âm đơn) Trong khi đó, Sijo cũng có 3 dòng,mỗi dòng có cùng số nhịp như dân ca cổ, dòng cuối cùng bao gồm cả câu chuyển tiếp
và kết đoạn đặc tính của Sijo trong câu cuối là nâng bài thơ lên một mức xúc cảm caohơn
Trang 4Như vậy thể thơ Sijo được soạn với bố cục gồm ba dòng ,mỗi dòng 4 nhịp thơ, mỗinhịp bao gồm chủ yếu 3 hay 4 âm tiết Riêng nhịp 1 của câu 3 luôn có 3 âm tiết, cácnhịp sau có thể có tới 5 âm tiết Bài thơ Sijo có một bố cục tương tự như các thể thơTrung Quốc: khởi đầu, trình bày, chuyển tiếp và kết luận.
Dòng 1: khởi đầu, nêu ra vấn đề, tương ứng với “khai”
Dòng 2: trình bày, triển khai ý, tương ứng với “thừa”
Dòng 3: Nhịp 1 của dòng cuối tương ứng với chuyển tiếp “chuyển”, 3 nhịp còn lại
là kết luận “hợp”, một kết luận mạnh mẽ với sự ngạc nhiên (xoắn) ở, để giải quyết cáccăng thẳng hoặc câu hỏi được nêu ra ở những dòng khác và đó là một kết thúc đángnhớ Tiết nhịp đầu tiên gộp ý tưởng của cả bài thơ lại rồi sang tiết nhịp thứ hai, đẩy ýthơ lên thành cao trào, sau đó hạ dần cug bậc ở dòng thơ cuối này, ý tưởng của thơđược hoàn tất một cách chặt chẽ
THÂN NÀY NẾU CHẾT
(Seong Sang Mun)
이 이이 이이 이 가 이이이 이이 이이 이이이 이이이이 이이이이 이이이가 이이이 이이이이 이 이이이이 이이이.
DỊCH THƠ
- Một ngày ta ra đi
Thì thân này sao nhỉ ?
- Thành cây thông vĩ đại
Trên đỉnh núi Bông- rê
Khi thế gian tuyết đầy
Một mình ta đứng đấy !
Trang 5Ví dụ như đoạn thơ trên, dòng 1 gồm có 3 nhịp: “이 이이”- “이이 이 가 ”-“ 이이이”- “이
이 이이”, tương tự dòng 2 và dòng 3 đều có 4 nhịp, trong mỗi nhịp có 3 hoặc
4 âm tiết, riêng ở nhịp đầu tiên của dòng thứ ba bắt buộc là 3 âm tiết.Thường cuối dòng 3 có các âm như “이이” là những âm cảm thán của bài thơ.
Chúng ta có thể thấy rõ cấu trúc của bài thơ Sijo cũng tương tự với bố cục “khai,thừa, chuyển, hợp” của thơ Trung Quốc, chịu ảnh hưởng sâu sắc của thơ tứ tuyệt Thếnhưng khi giải thích hình thức của Sijo trên quan điểm phải có hai nhịp hợp lại mới tạothành lời có nghĩa, người ta gọi điều này là cú, nên cũng có thể giải thích rằng Sijo làhình thức “tam chương lục cú”
Một điều đáng chú ý và rất riêng ởthơ Sijo là ở dòng cuối cùng thường có các từcảm thán như: “a…, …ơi, thay…, hãy…, ư…!” hoặc dạng câu hỏi tu từ như: “…chăng, …sao”
Mỗi nhịp của Sijo, tất nhiên cũng bao gồm ngoại lệ 2 thay vì 3, 3 thay vì 4 âmtiết tổng số âm tiết của một nhịp đôi khi có thể thay đổi nhưng tổng số nhịp của mộtcâu luôn cố định, chỉ có một số rất ít trường hợp trong một câu có 3 thay vì 4 nhịp tuynhiên câu 3 nhịp ít hơn nhiều so với câu 4 nhịp Bằng bố cục và kết cấu thơ ngắn,người Hàn Quốc coi đó là biểu hiện cho mỹ học tập trung của họ
Đặc biệt khi bài Sijo được kết hợp cùng với nhạc thì câu thứ 3 có một ý nghĩa đặcbiệt quan trọng khi hát, nhịp thơ dài từ 3 đến 4 âm tiết phù hợp với chiều dài âm giọngcủa người Hàn Quốc
Cũng giống như thơ haiku của Nhật Bản, sijo có thể sử dụng lối chơi chữ, ám chỉ
và chơi từ tương tự tuy nhiên, Sijo có thể sử dụng phép ẩn dụ và ngôn ngữ tượng trưngkhác một cách cởi mở hơn
Núi Lam là tim tôi nước xanh là tình người Núi Lam nào biến đổi nước xanh thì cứ trôi
Trang 6Vẫn còn thương nhớ núi nên nước lại quy hồi (Nhật Chiêu dịch)
Hình tượng thiên nhiên không chỉ được sử dụng như là phép ẩn dụ cảm xúc củangười nói mà chính bản thân thiên nhiên còn được nhân cách hoá và ngụ ý để xây dựngnên nhiều tầng nghĩa, từ loại biểu tượng này nổi lên một cảm xúc nhất quán
Ở đây phép ẩn dụ còn pha tính triết lý và cả ngụ ý tôn giáo
Một tính năng quan trọng ở đầu dòng cuối cùng là sự biến đổi: là một bất ngờ về ý
nghĩa, âm thanh, giai điệu hay kỹ thuật khác Nó có thể được chủ quan và cá nhân, và
nó thường xuyên biến đổi sâu sắc, dí dỏm hoặc phương ngôn
Từ thế kỷ 18, có một khuynh hướng thay đổi thể thơ Sijo theo hình thức dài hơn,nhưng chỉ làm thay đổi chiều dài của một câu , chiều dài một bài thơ 3 câu vẫn khôngthay đổi Có hai hình thức: sijo dạng trung và sijo dạng dài (sijo cũ được gọi là sijongắn) Sijo trung có sáu nhịp trong một câu, còn Sijo dài thì có tám nhịp trong một câu.Mặc dù có vẻ đơn giản, loại thơ này vẫn đạt được những hiệu quả thẩm mỹ trọn
vẹn Có lẽ chính vì thế mà sijo được cả giới bình dân lẫn giai cấp yangban ưa thích.
Với một mức độ nhất định, sijo cũng có chút ảnh hưởng của thơ ca phương Tây,nhưng chỉ là ảnh hưởng về nội dung nhưng bố cục, cấu trúc câu thơ vẫn tuân theo mộtcấu trúc cổ điển, mang nét riêng biệt mà lịch sử để lại
Trong vườn hoa muôn màu, bướm trắng Bao giờ cũng bay từng đôi.
Bên bờ sông thùy dương im lặng Bao giờ cũng đứng từng đôi.
Trang 7Trên đời này trừ tôi ra, tất cả Bao giờ cũng sống từng đôi.
3.2 Phân loại
Sijo được phân loại theo dạng văn học, đặc điểm âm nhạc, kiểu vùng miền
a Sự phân loại văn học
@ Pyeong sijo ( 평평평 ): Loại Sijo ngắn, bao gồm ba dòng với khoảng 45 âm tiết,
được hình thành từ đầu triều đại nhà Yi, gắn liền với sự bắt đầu nhiệm sở của các
quan chức trong triều đình mới
@ Eot sijo ( 평 평평): thơ sijo dạng trung, có một trong ba dòng được mờ rộng thêm,
@ Saseol sijo ( 평평 평평): sijo dài, có 2 hoặc thậm chí là 3dòng đều mở rộng Sasoel
sijo là sự kế thừa của sijo ngắn về nội dung và bố cục Sasoel sijo được tổng hợp từcác dạng dân ca của các tầng lớp cấp thấp trong xã hội, gần gũi với thực tế và cuộcsống hơn, có một cảm xúc và bố cục rất tự do, tuy vẫn phải chấp nhận một sốnguyên tắc cố định của sijo ngắn
Eot sijo và sasoel xuất hiện muộn hơn, đánh dấu mối wan tâm của đông đảo
tầng lớp dưới của xã hội, lưu hành rộng rãi vào cuối thời Choson
b Phân loại theo sự phổ nhạc.
Sijo không chỉ là một thể thơ mà còn được phổ nhạc để hát, mà trước tiên làphục vụ cho tầng lớp nho sỹ Vào đầu thời kỳ Choson, cách hát Sijo bị hạn chế theocách hát xướng của ca khúc nhưng đến cuối thời Choson, hát xướng Sijo được lưuhành rộng rãi với lối hát xướng giản dị, nhẹ nhàng không có nhạc đệm vì thế, tầng lớpsáng tác và thưởng thức Sijo tăng lên nhanh chóng Sijo tuy xuất phát từ thể loại thơcủa tầng lớp nho sĩ nhưng đã phát triển và trở thành thể loại mà mọi tầng lớp đều có thểthưởng thức
Đầu tiên là “pyeong sijo” mượn thể thơ sijo ngắn như là nguyên văn (lời) của bản nhạc, và được hát ở quãng âm giữa Thứ hai là “jireum sijo” , cũng mượn thể thơ
Trang 8ngắn của sijo, bắt đầu bằng một quãng âm cao ở khúc nhạc đầu, chuyển thành một
quãng âm vừa ở khúc thứ hai “Saseol sijo” lấy thể thơ sijo kể chuyện dài làm nguyên
bản (lời bài hát) và có thể sử dụng đa dạng các loại quãng âm Cũng có nhiều sự biến
tấu từ ba loại này của sijo, ví dụ như “saseol jireum sijo” và “jireum sijo” cho phụ nữ
(jeojang jireum sijo)
c Sijo được phân loại theo kiểu vùng miền
Sijo phong cách soeul và Gyeonggi (gyeonggi sijo) từ vùng trung tâm và sijo phong cách địa phương (hyangjje sijo) từ những miền khác Phần sau có thể được chia
thành “wanjje sijo” từ tỉnh Jeolla, “yeongjje sijo” từ tỉnh Gyeongsang và “naepojjesijo” từ tỉnh Chungcheong Những bài Sijo từ vùng trung tâm có loại phát âm đượcphát triển khá sớm nên nó cũng có một chuỗi biến tấu rộng lớn trong khi đó, những bàisijo địa phương khác thì bao gồm hầu như là loại sijo kể chuyện và đều đặn
MỘT SỐ BÀI THƠ SIJÔ
Tình yêu tôi là dòng sông
như nước hoài trôi vô tận
Tình tôi bao la che phủ
Chín mươi dặm cõi hồng trần
Em ơi tình tôi trao em
sẽ chẳng bao giờ khô cạn
(Khuyết danh)
Tôi gom hết tình tôi
cuộn đầy vào bọc lớn
Trang 9Quàng lên lưng chú ngựa
căng sức trai tung hoành
Tuấn mã ơi chạy nhanh
đến người tôi yêu dấu
(Khuyết danh)
Có lẽ tôi bỏ cuộc thôi
bởi nhớ em mà chẳng thấy
Sự mềm yếu của tôi ơi
đớn đau làm tan tâm huyết
Người yêu tôi ơi có biết
nỗi niềm giăng kín trong tôi?
4 Vấn đề tư tưởng của thơ Sijo :
- Sijo (những điệu hát hiện hành) tiêu biểu cho thơ ca thời kỳ Joseon Thể thơ nàyđược hình thành vào cuối thời kỳ Goryeo, nhưng nó phát triển mạnh dưới hệ tư tưởngchủ đạo mới của thời Joseon thành bài ca Đạo tân Khổng
Trang 10- Đội ngũ sáng tác chủ yếu của thơ sijo là tầng lớp nho sĩ ở cung đình Những thi
sĩ này sáng tác phần lớn là theo thể thơ chữ Hán, nhưng do thơ này chỉ ngâm vịnh
mà không hát được cho nên họ đã thông qua sijo để thoả mãn nhu cầu ca hát của mình
- Vì thế, cuối thời Koryo và đặc biệt thời Choson, bên cạnh các thể thơ khác, sijo
là một thể loại mà các nho sĩ thường sáng tác và thưởng thức Đến cuối thời Choson, việc hát xướng được mở rộng, do đó thể loại sijo càng được lưu hành rộng rãi, tầng lớp sáng tác và thưởng thức tăng lên nhanh chóng và mở rộng ra các thành phần xã hộikhác Như vây, tuy xuất phát từ thơ ca của tầng lớp nho sĩ, nhưng trong quá trình pháttriển về sau này, sijo đã trở thành một thể loại thơ mang tính đặc sắc của dân tộc
Hàn Quốc được đông đảo người sáng tác và thưởng thức Thơ sijo đã thoát rakhỏi chốn cung đình chật hẹp gắn với tầng lớp quý tộc và đến với quần chúng nhân dân
đủ mọi tầng lớp trong xã hội
- Thơ sijo nhằm chuyển tải tư tưởng Nho giáo mà trọng tâm là lý học của tầng lớp nho sĩ Hàn Quốc đương thời, đặc biệt là thời đại Choson Tính nhạc và chất trữtình của sijo lúc bấy giờ được các triều đình phong kiến sử dụng như một phương tiện
để chuyển tải tư tưởng Đạo Khổng và các tư tưởng triết học khác Vì thế, trong thơ sijonổi bật là lòng trung thành và đạo đức Nho gia của bậc quân tử
- Các bài sijo đều mang tinh thần Nho giáo, nội dung chính của một bài sijothường là sự trình bày của giáo lý Khổng tử hơn là sự trình bày của cảm xúc cá nhân.Các tác phấm sijo đầu đàn của các thi sĩ tiền bối như Maeng Sa- seung, Lee Hyeon-bo,Lee Lee và Lee Hwang đều mang nặng tính Nho giáo Từ đó chúng ta có thể khẳngđịnh rằng, trong giai đoạn này, giáo lý Khổng tử là đối tượng chính, là nguồn cảmhứng chính của sijo Từ đây, có thể kết luận rằng thơ ca sijo qua các thời kỳ thăng trầmcủa lịch sử, đã lấy các tư tưởng và tình cảm của lịch sử làm chủ đề chính để tự hoànthiện và phát triển cho mình, để lưu truyền lại những án thơ trữ tình bất hủ, mãi mãi đivào lòng dân tộc hôm nay và cả mai sau
Theo dấu vết những tài liệu còn lưu truyền lại, vào giai đoạn sụp đổ của đế chế Koryo,thơ văn lại rất hưng thịnh ở triều đình nhà Lee Tất cả những hình thức thơ từ các khúc
Trang 11nhạc đồng quê đến các bài thơ ca ngợi lòng trung thành yêu nước, tất cả đều khác sovới sijo về những bố cục ngữ pháp, nhưng lại đều giống nhau ở một điểm: tư tưởngNho giáo Từ đây có một thực tế lịch sử là những bài sijo thường do các Nho sĩ có chứcsắc sáng tác nên, phục vụ trực tiếp cho tầng lớp trên Như vậy không thể biểu hiện hếttoàn bộ sắc thái các tình cảm trong xã hội Đó là một khuynh hướng sijo của tầng lớptrên phản ánh tư tưởng Nho giáo, tuy nhiên cũng có một số thi sĩ tự nhiên diễn tả cảmxúc của chính mình qua một số bài sijo không thể mang tư tưởng Nho giáo.
(http://blog.naver.com/PostView.nhn?blogId=wingjind&logNo=90103560652)
DỊCH NGHĨA
Thân thể này dù có chết và chết đến trăm lần
Dù xương trắng hóa thành cát bụi, dù linh hồn còn hay không
Vẫn chân thành hướng về người, người ở phương nao
( Thân xác chết đi sống lại rồi chết đi đến trăm lần)
Và xin một lòng hướng về người dẫu người có ở nơi nao Vì cấu trúc 이이 trong tiếngHàn được dùng để hỏi ý kiến người nghe về việc mình làm cho người nghe
DỊCH THƠ
Trang 12Thân này dù có chết
Chết, chết đến trăm lần
Dù xương dần hóa bụi
Dù linh hồn biến tan
số ít cảm xúc thiên nhiên Mặt khác cũng có một nhóm các thi sĩ đi ngược lại cớikhuynh hướng đương thời, để mô tả hình ảnh thực tế của tình cảm và nhân cách cuộcsống cũng như con người
Cơ sở ý niệm của sijo và Đạo trong những bài ca về sông Hồ:
Sijo do tầng lớp nho sĩ làm ra nên cơ sở mỹ học của Sijo là lý học Lý học là một phầnNho học, nghiên cứu cái lý của sự vật, tự nhiên, vũ trụ đang biến động theo nguyên lýcủa sự vật, tự nhiên, vũ trụ biến động theo nguyên lý mang tính khách quan Lý ở đây
là nguyên lý mang tính phổ biến của sự vận động trời đất vạn vật, nếu vận dụng vào xãhội thì đó là đạo lý mà mọi người phải tuân thêo hoặc là nguyên tắc luật lệ thực tiễn Vìvậy, Lý học được xây dựng với trung tâm là tu dưỡng tâm và tính, chúng ta thườngnghĩ Nho giáo là những qui phạm đạo đức nghiêm ngặt chính là vì lẽ đó Mỹ học taonhã và gọn gàng của Sijo rất thích hợp trong việc thể hiện thế giới quan và lối sống củatầng lớp nho sĩ đương thời
Trải qua nhiều biến động vào đầu thế kỉ XVI, vương triều choson đã xây dựngđược cơ sở ổn định về chính trị và văn hóa Nơi mà tầng lớp nho sĩ có thể hiểu được cái
Trang 13đạo của vũ trụ qua sự tu tâm dưỡng tính chính là tự nhiên sông hồ Bởi vì họ cho rằng
có thể thực thể của lý thống trị vũ trụ trong tính bất biến của tự nhiên Khuynh hướngnày có thể gọi là “sự phát hiện vẻ đẹp của thiên nhiên”
Đến thế kỷ XVI thiên nhiên được thể hiện trong sijô được cách ly với hiện thựcchính trị hỗn tạp và được tạo thành bởi nhận thức theo đuổi chân lý mang tính học vấncủa sự bất biến Tất nhiên là đằng sau cái lý của sự tách biệt hoàn toàn giữa tự nhiên vàhiện thực,nó đã phản ánh ý thức của phái Sĩ lâm đấu tranh với phái công huân và quyếtgiành lại vị thế của mình Trong cuộc đấu tranh chính trị với phái Công Huân, sau khithất bại nơi phái sĩ lâm trở về chỉ có thể là thiên nhiên sông hồ và ở đó, họ đã sống vớilòng tự hào về tu dưỡng học vấn và nghiên cứu chân lý của lý học
Dòng chảy của những bài ca về sông hồ sau đó cứ thế liên tục phát triển, nhưng đếnkhoảng cuối thế kỷ XVI, ý nghĩa nội tại của nó bị biến đổi đôi chút Bài Cao Sơn cửukhúc ca của Lý Nhĩ hoặc những bài của Thân Khâm viết về hứng thú nổi bật hơn làmang tính chất đạo học nghiêm túc Nói cách khác, mức độ nghiêm túc mang tính thẩm
mỹ ngày càng lớn hơn, nổi bật hơn so với sắc thái mang tính triết học
5 Các tác gia tiêu biểu:
Thơ Sijo được viết vào khoảng cuối thời Koryo (Cao Ly) và đầu thời Yi (Lý)thường là những tác phẩm ứng tác Chúng vừa mang nội dung hồi tưởng quá khứ lạivừa là văn chương tán tụng: mảng hồi tưởng quá khứ được viết bởi các cựu thần thờiCao Ly và mảng văn chương tán tụng ra đời do các chủ đề đáng ca ngợi của thời đạivua mới về sự vĩ đại của những công trình hoàng gia Những biến động chính trị còn lànguồn cảm hứng khiến các nhà thơ tiếc than về sự hỗn loạn, mất trật tự của xứ sở, đồngthời họ còn bộc lộ những cảm hứng chủ đạo và các phong cách đa dạng của mình Cókhi thì một vị tướng ca hát về những chiến thắng của quân đội ông đối với tộc ngườiJurchen (Nữ Chân) Trong số các nhà thơ quân đội có Yi Sun-Sin (Lý Thuấn Thuần:
1545 - 1598), một đô đốc nổi tiếng về những chiến công làm đổi ngược thế trận trong
Trang 14quá trình Nhật Bản xâm lược (1592 - 1598) đã để lại nhiều bài thơ Sijo đạt được giá trịvăn chương cao Cũng có khi vua và các triều thần cùng ca hát về lòng trung nghĩa.Cùng trong giai đoạn đó nhiều bài thơ châm biếm, đả kích chính trị, xã hội đã ra đời.Chúng không thẳng thừng, thô mộc mà trau chuốt và tao nhã rất đáng gọi là thơ.
Yi Sun-Sin
Vào thế kỷ thứ 16 từ thời đại của vua Chung Jong (Trung Tông), các nhà thơ
bác học bắt đầu tham gia vào các hoạt động trên văn đàn Có hai nhà tân Nho học nổitiếng là Yi Hwang (Lý Hoáng: 1501 - 1571) và Yi I (Lý Nhị: 1536 - 1584) đã sáng tác
ra một chùm thơ Sijo mà trong đó họ đã thể hiện được những cảm quan tinh tế củamình trước cái đẹp của thiên nhiên Điều mà họ khao khát là được sống tại một nơi ẩndật giữa những ngọn đồi xa cách cái thế giới xô bồ, ầm ĩ Tuy nhiên ở đây có đến hailoại nhà thơ bác học: một là những người đã từng thử chen chân vào thế giới quan chức
và đã nếm mùi thất vọng cay đắng, còn một là những quan chức già nua mong muốnđược trải qua những ngày tháng sau cùng của cuộc đời trong ẩn dật Động cơ có thểkhác nhau nhưng họ lại giống nhau ở chỗ cùng tìm kiếm một cuộc sống bình lặng giữaquang cảnh thiên nhiên Khi họ bắt gặp một ngọn đồi hay đến gần một cái hồ, họ dànhtrọn tâm trí của mình vào việc đọc sách hay làm bạn với hoa sớm, trăng đêm giữanhững con suối trong và ghềnh đá Vì thế những tác phẩm của họ vừa mang tính học
Trang 15thức vừa đầy giáo huấn, khắc sâu lời dạy của thánh nhân thời thượng cổ lại vừa mị cảm
và mơ mộng viễn vông khi hát về non xanh, nước biếc Những bài thơ bác học này đãtác động đến học giới không phải là ít Những bài thơ Sijo của các nhà thơ này cùngvới cách mà họ sử dụng thể thơ Sijo thay vì các vần luật cổ điển của thơ Trung Quốc
đã khuyến khích các nho sinh Tống Nho quan tâm một cách nghiêm túc đến loại hìnhnghệ thuật thơ ca này
Yếu tính về những truyền thống vẻ vang của thơ Sijo được giữ gìn và tiếp nốibởi Hwang Chin Y (Hoàng Chân Y: 1506 - 1544)
nhà thơ Triều Tiên vĩ đại nhất của mọi thời đại Nàng
là một Kisaeng (Kỹ sinh) danh tiếng của đất Song Do
(Tùng Đô) Tiếng tăm của nàng trong thơ ca và âm
nhạc lan toả khắp kinh thành Nàng là một bậc thầy
điêu luyện về cách khai triển những hình ảnh chọn
lọc trên một bình diện đầy kịch tích Những hình ảnh
trong thơ nàng luôn đơn sơ và gợi cảm được phản
ánh trực tiếp từ thiên nhiên nhưng chúng luôn được
chọn lựa trong cái nhìn tương quan và đa nghĩa Hình
tượng thiên nhiên không chỉ được sử dụng như là
phép ẩn dụ cảm xúc của người nói mà chính bản thân thiên nhiên còn được nhân cáchhoá và ngụ ý để xây dựng nên nhiều tầng nghĩa, từ loại biểu tượng này nổi lên một cảmxúc nhất quán
Núi Lam là tim tôi nước xanh là tình người Núi Lam nào biến đổi