1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận về Lịch sử hình thành và phát triển của triết học

20 53 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sự hình thành, phát triển tư tưởng triết học trong lịch sử
Trường học Đại học Công nghệ TP. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Triết học
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 88,29 KB
File đính kèm Tiểu luận.rar (84 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP HỒ CHÍ MINH KHOA LUẬT TIỂU LUẬN MÔN TRIẾT HỌC SỰ HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC TRONG LỊCH SỬ Họ tên học viên Lớp Nguyễn Lữ Lê Hưng 22SLK31 ĐIỂM TRUNG BÌNH CHUNG Bằng s.

Trang 1

ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP HỒ CHÍ MINH

KHOA LUẬT

TIỂU LUẬN

MÔN TRIẾT HỌC

SỰ HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN TƯ TƯỞNG

TRIẾT HỌC TRONG LỊCH SỬ

Họ tên học viên:

Lớp:

Nguyễn Lữ Lê Hưng 22SLK31

ĐIỂM TRUNG BÌNH CHUNG

TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2023

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

NỘI DUNG 2

1 Triết học ở Phương Đông 2

1.1 Triết học Ấn Độ cổ, trung đại 2

1.2 Triết học Trung Quốc cổ, trung đại 3

2 Triết học ở Phương Tây 6

2.1 Triết học Hy lạp cổ đại (từ TK VIII TCN đến III) 6

2.2 Triết học Tây Âu trung cổ 10

2.3 Triết học cổ điển Đức 13

3 Triết học Việt Nam 15

KẾT LUẬN 17

Trang 3

MỞ ĐẦU

Triết học là hệ thống tri thức lý luận chung nhất của con người về thế giới,

về vị trí, vai trò của con người trong thế giới ấy Triết học nghiên cứu về các câu hỏi chung và cơ bản về sự tồn tại, kiến thức, giá trị, lý trí, tâm trí và ngôn ngữ Những câu hỏi như vậy thường được đặt ra là vấn đề cần nghiên cứu hoặc giải quyết Phương pháp triết học bao gồm đặt câu hỏi, thảo luận phê bình, lập luận hợp lý và trình bày có hệ thống.

Để hiểu thêm về triết học ta cũng phải tìm hiểu thêm về lịch sử triết học nhằm mang lại cho những hiểu biết mang tính hệ thống về quá trình hình thành

và phát triển tư duy Triết học Qua đó, làm phong phú đời sống tinh thần và nâng cao năng lực sử dụng tư duy vào việc giải quyết các vấn đề do nhận thức khoa học và thực tiễn cuộc sống đặt ra.

Trang 4

NỘI DUNG

1 Triết học ở Phương Đông

1.1 Triết học Ấn Độ cổ, trung đại

Lịch sử hình thành và phát triển

Ấn Độ là bán đảo lớn ở nam Á, có điều kiện tự nhiên và khí hậu rất phức tạp, địa hình có nhiều núi (Hymalaya ở phía Bắc quanh năm tuyết phủ), nhiều sông (sông Hằng chảy về phía Đông, sông Ấn chảy về phía Tây) với những đồng bằng trù phú; có vùng khí hậu nóng ẩm, mưa nhiều, có vùng sa mạc khô cằn, nóng nực Tính khắc nghiệt của điều kiện tự nhiên và khí hậu là những thế lực đè nặng lên cuộc sống và ghi dấu ấn đậm nét lên tâm trí người Ấn Độ cổ, trung đại

Xã hội Ấn Độ cổ đại là xã hội mang tính chất công xã nông nghiệp với sự phân chia đẳng cấp hết sức nghiệt ngã Nền văn hoá Ấn Độ cổ, trung đại thường được chia thành ba giai đoạn chính

Giai đoạn từ thế kỷ XV - VIII TNC

Gia đoạn này được gọi là nền văn minh sông Ấn hay còn gọi là nền văn minh Vệđà (Véda)

- Đây là nền văn minh đồ đồng mang tính chất đô thị của một xã hội đã vượt qua trình độ nguyên thuỷ, đang tiến vào giai đoạn đầu của chế độ chiếm hữu nô lệ, trong

đó nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và thương nghiệp đã đạt tới một trình độ nhất định Kinh tế bao gồm nông nghiệp, thương nghiệp; nghề dệt bông len, đúc đồng, điêu khắc, gốm sứ tráng men, làm đồ nữ trang phát triển Thành phố được xây bằng gạch nung Xã hội đã phân chia giàu, nghèo; xuất hiện chữ viết; thờ Thần Shiva

- Đây là thời kỳ hình thành các quốc gia chiếm hữu nô lệ đầu tiên của người Arya

ở phía Bắc và cũng là thời kỳ rực rỡ nhất của nền văn minh Ấn Độ cổ đại Bộ lạc Arya tràn xuống châu thổ sông Hằng Hình thành nhiều tôn giáo có ảnh hưởng lớn đến cuộc sống của xã hội Ấn Độ cổ đại Xuất hiện chế độ đẳng cấp dựa trên sự phân biệt về chủng tộc, màu da, dòng dõi, nghề nghiệp, tôn giáo, quan hệ giao tiếp, tập tục hôn nhân v.v Tiêu biểu về mặt tư tưởng cho sự phân chia đẳng cấp xã hội là đạo Bàlamôn, quy định cơ cấu xã hội và có ảnh hưởng lớn đến hình thái tư tưởng Ấn Độ cổ đại Việc phân chia xã hội thành những đẳng cấp với những tính chất khắt khe, nghiệt ngã đã ảnh hưởng lớn đến đời sống của nông dân, thương nhân, thợ thủ công thành thị, ngăn cản sự phát triển của sản xuất xã hội; dẫn xã hội đến sự bất bình đẳng, tự do gây nên cuộc đấu tranh của các tôn giáo chống lại sự thống trị của Đạo Bàlamôn và Kinh Vệ đà

Giai đoạn từ thế kỷ VI TCN - VI

Trang 5

Ở giai đoạn từ thế kỷ VI TCN - VI là thời kỳ cổ điển, hay còn gọi là thời kỳ Bàlamôn - Phật giáo Đây là thời kỳ hình thành các trào lưu triết học tôn giáo lớn của

Ấn Độ, gồm hai trường phái lớn đối lập nhau Trường phái triết học chính thống (thừa nhận uy quyền tuyệt đối của kinh Véda) gồm 6 phái là Sámkhuya, Mimànsa, Vedànta, Yoga, Nyanya và Vaisésika Trường phái triết học không chính thống (không thừa nhận uy quyền của kinh Véda) gồm 3 trường phái là Jaina giáo, đạo Phật và Lokayàta

Sự phát triển của các tư tưởng triết học Ấn Độ cổ đại không chỉ gắn liền với việc giải quyết những vấn đề do đời sống xã hội đặt ra mà còn luôn gắn liền với những tiến

bộ của khoa học Ngay từ thời Vệđà khoa học tự nhiên bắt đầu xuất hiện như Thiên văn học (tạo ra lịch pháp, phỏng đoán trái Đất hình cầu và tự quay quanh trục của nó); cuối thế kỷ V TCN đã giải thích được hiện tượng nhật, nguyệt thực; phát minh ra chữ

số thập phân; tính được số p; biết được những định luật cơ bản về quan hệ giữa cạnh với đường huyền của tam giác vuông, giải được phương trình bậc 2, 3; y học phát triển (trong kinh Vệđà người ta thấy tên và cách sử dụng nhiều cây thuốc để chữa bệnh); nghệ thuật kiến trúc Ấn Độ để lại phong cách độc đáo, đặc biệt là lối xây dựng Chùa, tháp Phật vừa có ý nghĩa triết học, tôn giáo vừa biểu hiện ý chí, vương quyền

Giai đoạn từ thế kỷ VII - XVIII

Đây là thời kỳ sau cổ điển hay còn gọi là thời kỳ xâm nhập của Hồi giáo

- Từ thế kỷ VII, Đạo Hồi xâm nhập vào Ấn Độ, tạo nên cuộc cạnh tranh ảnh hưởng quyết liệt giữa đạo Phật, đạo Bàlamôn và đạo Hồi

- Đạo Phật suy yếu dần, còn đạo Bàlamôn chuyển thành đạo Hinđu vào thế kỷ XII

Đặc điểm cơ bản của Triết học Ấn Độ

Triết học Ấn Độ cổ, trung đại đã lý giải căn nguyên của vũ trụ; các học thuyết kế thừa tư tưởng của nhau, tạo nên những khái niệm, phạm trù triết học - tôn giáo cơ bản, mang tính truyền thống, chịu sự chi phối mạnh mẽ của kinh Vệđà và các tôn giáo lớn của Ấn Độ cổ, trung đại

Triết học Ấn Độ cổ, trung đại có nội dung tư tưởng và hình thức đa dạng, phản ánh đời sống xã hội Ấn Độ đương thời; hầu hết các trường phái triết học Ấn Độ cổ, trung đại đều tập trung lý giải bản chất đời sống tâm linh; tìm căn nguyên nỗi khổ của cuộc đời, chỉ ra cách thức, con đường để giải thoát khỏi những nỗi khổ đó Triết học

Ấn Độ cổ, trung đại được nhân dân Ấn Độ vận dụng và được truyền bá rộng rãi tới nhiều quốc gia trên thế giới

1.2 Triết học Trung Quốc cổ, trung đại

Lịch sử hình thành và phát triển

Trang 6

Triết học Trung Quốc cổ đại ra đời từ cuối thiên niên kỷ II đầu thiên niên kỷ I TNC khi xã hội đánh dấu sự tan rã của chế độ nô lệ và bắt đầu hình thành các quan hệ

xã hội phong kiến phức tạp Tính chất phức tạp đó của xã hội được phản ánh trong tính phức tạp của triết học Trung Quốc

Vào thời Tam đại (Hạ, Thương, Chu, từ thiên niên kỷ II - I TCN) nàu, những biểu tượng tôn giáo - triết học xuất hiện với những biểu tượng về Đế, Thượng Đế, Thiên mệnh, Quỷ thần v.v

Đầu thiên niên kỷ I xuất hiện thêm những biểu tượng về Âm dương - Ngũ hành Vào giai đoạn này cuộc đấu tranh giữa các quan điểm của các trường phái diễn ra xung quanh các biểu tượng đó và diễn ra quanh vấn đề khởi nguyên của thế giới; vấn đề con người và số phận con người; vấn đề đạo đức, tri thức v.v

Vào thời Đông Chu (Xuân Thu - Chiến Quốc, 770 - 221 TCN) tư tưởng triết học

có hệ thống được hình thành và là những mầm mống ban đầu của các loại thế giới quan và phương pháp luận của văn hoá Trung Quốc cổ, trung đại Đây là thời kỳ xuất hiện nhiều học thuyết chính trị - xã hội, triết học, có đến 6 trường phái triết học chủ yếu là Nho gia, Đạo gia, Mặc gia, Pháp gia, Danh gia và Âm Dương gia (Kinh học của Khổng tử; Huyền học của Lão tử; Âm Dương gia của Trâu Diễn và những người khác; Phật học rồi về sau là Lý học, Thực học v.v) và chúng không ngừng đấu tranh với nhau

Đặc điểm cơ bản của triết học Trung Quốc cổ, trung đại

- Nhấn mạnh sự hài hoà giữa tự nhiên với con người, với xã hội

- Nhấn mạnh vấn đề chính trị đạo đức

- Các quan điểm, tư tưởng triết học Trung Quốc cổ, trung đại thường dùng châm ngôn, ngụ ngôn, ẩn ngữ để diễn đạt tư tưởng của mình Cách diễn đạt đạt ý quên lời, ý

ở ngoài lời mở ra sự suy ngẫm Châm ngôn, ngụ ngôn, ẩn ngữ không thể khúc chiết, mạch lạc nhưng bù lại, sức mạnh và tính chất sâu xa của tư tưởng triết học ẩn náu trong đó là sự gợi ý thâm trầm, sâu rộng dường như vô biên của chúng

Các trường phái triết học tiêu biểu

Tiêu biểu trong các trường phái triết học ở Trung Quốc cổ, trung đại là Nho gia, Pháp gia, Đạo gia và Mặc gia

Tư tưởng triết học của Khổng Tử (551 – 479 TCN) nói riêng và trường phái Nho

gia nói chung thể hiện rõ nét trong “Lục kinh”: Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Dịch, Kinh

Lễ, Kinh Nhạc, Kinh Xuân thu (đến thời nhà Tần, Kinh Nhạc bị thất truyền chỉ còn

“Ngũ kinh”) và “Tứ thư”: Luận ngữ (cuốn sách ghi lại những lời nói của Khổng Tử với học trò và người đương thời, cùng những lời bàn luận của học trò Khổng Tử), Đại

Trang 7

học (do Tăng Sâm viết), Trung dung (do Tử Tư viết) và Mạnh Tử (do Mạnh Tử viết) Các bộ kinh sách đó đều trở thành kinh điển của nhà Nho Với việc hệ thống hoá những tri thức tư tưởng đời trước và trình bày quan điểm nhân, lễ và chính danh, Khổng Tử đã xây dựng nên học thuyết đạo đức – chính trị nổi tiếng là Nho giáo Sau khi Khổng Tử qua đời, tư tưởng triết học Nho giáo tiếp tục phát triển qua các thế hệ sau, tiêu biểu là Mạnh Tử (372 – 289 TCN), Tuân Tử (313 – 238 TCN), Đổng Trọng Thư (180 – 105 TCN), Trương Tải (1020 - 1077), Trình Hạo (1032 – 1085), Trình Di (1033 – 1108), Chu Hy (1130 - 1200)

Tư tưởng cơ bản của triết học Đạo gia: Đạo gia là trường phái triết h có nhiều

yếu tố duy vật và biện chứng sơ khai, phản ánh tư tưởng của tầng lớp trí thức và quý tộc nhỏ bị đại quý tộc và địa chủ chèn ép nên từ bỏ điều lợi, xuất thế, lánh đời, ẩn dật

để bảo toàn sinh mệnh Đạo gia có nhiều nhánh, mỗi nhánh có đặc thù riêng nhưng giống nhau ở chỗ: đều chán ghét xã hội đương thời và đời sống bon chen, xu nịnh, phê phán danh lợi, đề cao lợi ích cá nhân bằng cách quay trở về với thiên nhiên, thuận theo

tự nhiên

Tư tưởng của Đạo gia thể hiện tập trung ở phạm trù Đạo và Đức, phản ánh thế giới quan duy vật và biện chứng tự phát của trường phái này Đạo là bản thể, là cội nguồn sinh ra trời đất, vạn vật Đó là lượng vật chất vô cùng rộng lớn và vận động không ngừng mà sinh ra trời, đất, người và vạn vật Đạo là cái khởi nguyên – cái ban đầu, thống nhất nên gọi là “cái một” Đức là thế lực tiềm tàng của Đạo ở thế giới hiện hữu, phụ thuộc vào Đạo, Đức là tính chất của mọi sự vật, hiện tượng Vì vậy, Đạo gia phủ nhận quỷ thần, đề cao sự vận hành của quy luật, trật tự của tự nhiên

Tư tưởng biện chứng của Đạo gia thể hiện ở chỗ: vạn vật luôn biến đổi không ngừng theo quy luật phản phục âm - dương Với học thuyết “vô danh”, Đạo gia đã khẳng định: Con người có khả năng nhận thức Khả năng nhận thức đó đến đâu là phụ thuộc vào quá trình tổng hợp, tích luỹ những danh từ, khái niệm ấy tạo nên Hiểu Đạo

là mục tiêu của nhận thức Sau khi Lão Tử qua đời, tư tưởng triết học Đạo gia tiếp tục phát triển qua các đại biểu: Dương Chu (khoảng 440 – 360 TCN), Trang Tử (khoảng

369 – 286 TCN)

Tư tưởng cơ bản của triết học Mặc gia là tin tưởng tuyệt đối vào thiện ý của trời,

trời thương yêu con người và luôn mong muốn con người hạnh phúc Vì thế, Mặc Tử

và các học trò của ông đã xây dựng nên thuyết kiêm ái nổi tiếng Hạt nhân của thuyết kiêm ái là kiêm tương ái, giao tương lợi, tức là mọi người cùng yêu thương nhau, cùng làm lợi cho nhau, không phân biệt đẳng cấp, sang hèn, giàu nghèo, mọi người đều phải thương yêu, giúp đỡ lẫn nhau; giữ điều lành; tránh, bỏ điều ác, không làm hại nhau và cựu chém giết lẫn nhau Mặc gia coi trọng kinh nghiệm, đề cao vai trò của cảm giác,

Trang 8

khẳng định: muốn nhận thức đúng cần có ba biểu: cái bản (cơ sở), cái nguyên (nguồn gốc) và cái dụng (đem lại cái gì)

Tư tưởng cơ bản của triết học Pháp gia thể hiện khá rõ trong học thuyết pháp trị

với việc đề cao tinh thần duy vật, vô thần và phép biện chứng sơ khai Các nhà triết học Pháp gia chủ trương dùng pháp trị để thực hiện chính danh trên cơ sở phê phán gay gắt những hạn chế của thuyết đức trị Theo Pháp gia, dùng nhân nghĩa mà trị dân

là ảo tưởng, làm hại cho nước, làm cản trở tiến bộ xã hội, vì tính người là ác, sản vật

và của cải làm ra không nhiều, tính tham lam và vụ lợi của con người là không có giới hạn

Nội dung tư tưởng Pháp gia là tổng hợp ba phạm trù: Pháp, Thế, Thuật Đây là công cụ của đế vương Pháp phải rõ ràng minh bạch, thời cuộc thay đổi thì pháp luật cũng phải thay đổi cho phù hợp Muốn quyền lực nhà nước thi hành được pháp luật thì

đế vương phải có Thế, tức là nắm được quyền lực nhà nước và phương pháp, cách thức, thủ đoạn để thực hiện Pháp là dựa vào Thế Vua phải có Thuật của vua, tức là thuật cai trị và điều khiển bộ máy nhà nước Tư tưởng triết học chính trị của Pháp gia đánh dấu bước chuyển biến từ phân quyền sang tập quyền của các chế độ chính trị – xã hội ở Trung Quốc Học thuyết Pháp gia đã trở thành vũ khí tinh thần để nhà Tần thực hiện công cuộc thống nhất Trung Quốc, thiết lập chế độ phong wh kiến trung ương tập quyền của mình

2 Triết học ở Phương Tây

2.1 Triết học Hy lạp cổ đại (từ TK VIII TCN đến III)

Lịch sử hình thành và phát triển

- Triết học Hy Lạp ra đời khoảng thế kỷ VI TCN khi chế độ chiếm hữu nô lệ được xác lập trên cơ sở phát triển của kinh tế nông nghiệp, thủ công nghiệp và thương nghiệp Sự phát triển kinh tế thúc đẩy sự ra đời, phát triển của khoa học và triết học

- Nhà nước Hy Lạp xuất hiện dưới hình thức các quốc gia thị thành (thành bang);

xã hội phân chia thành hai giai cấp đối lập là chủ nô và nô lệ Cuộc đấu tranh giai cấp trong xã hội ảnh hưởng đến sự phát triển của các khuynh hướng triết học

Đặc điểm của triết học Hy Lạp cổ đại

- Triết học Hy Lạp cổ đại là ngon cờ lý luận của giai cấp chủ nô, ngay từ đầu đã mang tinh giai cấp sâu sắc Về thực chất, là thế giới quan,ý thức hệ của giai cấp chủ nô thống trị, là công cụ lý luận để duy trì và bảo vệ trật tự xã hội đương thời, phục vụ cho giai cấp chủ nô

- Triết học Hy Lạp cổ đại gắn chặt với khoa học tự nhiên, lấy giới tự nhiên làm đối tượng nghiên cứu Vì vậy, nó thuộc loại hình triết học tự nhiên, nhà triết học đồng

Trang 9

thời là nhà khoa học tự nhiên; muốn hiểu biết sâu sắc nền triết học này cần phải có tri thức khoa học tự nhiên vững chắc

- Thế giới quan bao trùm triết học Hy Lạp cổ đại là duy vật và vô thần Triết học duy tâm và cuộc đấu tranh của họ chống lại triết học duy vật thường diễn ra, song chủ nghĩa duy vật và thế giới quan vô thần luôn chiếm ưu thế; nó là vũ khí lý luận cần cho giai cấp chủ nô chống lại những thế lực chống đối, những điều mê tín, dị đoan và những điều vô lý trong thần thoại

- Phép biện chứng tự phát, ngây thơ ra đời và phát triển trong triết học Hy lạp cổ đại cùng với chủ nghĩa duy vật mộc mạc, chất phác và thành tựu của khoa học tự nhiên

là đặc điểm nổi bật của lịch sử triết học Hy Lạp cổ đại Ngay từ đầu, sự ra đời của triết học Hy Lạp đã gắn bó chặt chẽ với thực tiễn, xuất phát từ nhu cầu phát triển của nhận thức khoa học và kỹ thuật, gắn liền với quá trình ra đời và phát triển của chế độ chiếm hữu nô lệ ở Hy Lạp, chứa đựng mầm mống của hầu hết các thế giới quan sau này

- Thành tựu nổi bật của triết học Hy Lạp cổ đại thể hiện ở việc nó là “ mầm mống

và đang nảy nở hầu hết tất cả các loại thế giới quan sau này”, đáng kế nhất là sự ra đời của chủ nghĩa duy vật mộc mạc, chất phác và phép biện chứng tự phát, ngây thơ-những hình thức đầu tiên của chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng trong lịch sử triết học nhân loại Vì vậy, nó gắn chặt với tên tuổi và sự nghiệp của các nhà triết học: Talét (khoảng 624- 547 TCN), Đêmôcơrít (khoảng 460-370 TCN), Plantôn (427-347 TCN): Arixtốt (384- 322 TCN), Êpiquya (341- 270 TCN),…

Một số triết gia tiêu biểu của nền triết học Hy Lạp cổ đại

Hêraclit (520 – 460 TCN)

Hêraclit là nhà biện chứng nổi tiếng ở Hy Lạp cổ đại Khác với các nhà triết học phái Milê, Hêraclit cho rằng không phải là nước, apeirôn, không khí, mà chính lửa là nguồn gốc sinh ra tất thảy mọi sự vật

– Dưới con mắt của Hêraclit, mọi sự vật trong thế giới của chúng ta đều thay đổi,

vận động, phát triển không ngừng Luận điểm bất hủ của Hêraclit: “Chúng ta không

thể tắm hai lần trên cùng một dòng sông”.

– Hêraclit thừa nhận sự tồn tại và thống nhất của các mặt đối lập nhưng trong các mối quan hệ khác nhau Vũ trụ là một thể thống nhất, nhưng trong lòng nó luôn luôn diễn ra các cuộc đấu tranh giữa các sự vật, lực lượng đối lập nhau

Đêmôcrít (khoảng 460 – 370 TCN)

Đêmôcrít là đại biểu xuất sắc nhất của chủ nghĩa duy vật cổ đại Nổi bật trong triết học duy vật của Đêmôcrít là thuyết nguyên tử

Trang 10

– Nguyên tử là hạt vật chất không thể phân chia được nữa, hoàn toàn nhỏ bé và không thể cảm nhận được bằng trực quan Nguyên tử là vĩnh cửu, không thay đổi, trong lòng nó không có cái gì xảy ra nữa Nguyên tử có vô vàn hình dạng Nguyên tử

tự thân, không vận động, nhưng khi kết hợp với nhau thành vật thể thì làm cho vật thể

và thế giới vận động không ngừng

– Linh hồn, theo Đêmôcrít, cũng là một dạng vật chất, được cấu tạo từ các nguyên tử đặc biệt có hình cầu, linh động như ngọn lửa, có vận tốc lớn, luôn luôn động

và sinh ra nhiệt làm cho cơ thể hưng phấn và vận động Do đó, linh hồn có một chức năng quan trọng là đem lại cho cơ thể sự khởi đầu vận động Trao đổi chất với môi trường bên ngoài cũng là một chức năng của linh hồn và được thực hiện thông qua hiện tượng thở của con người Như vậy, linh hồn là không bất tử, nó chết cùng với thể xác

– Đêmôcrít phân nhận thức con người thành dạng nhận thức do các cơ quan cảm giác đem lại và nhận thức nhờ lý tính Nhận thức đem lại do cơ quan cảm giác là loại nhận thức mờ tối, chưa đem lại chân lý Còn nhận thức lý tính là nhận thức thông qua phán đoán và cho phép đạt chân lý, vì nó chỉ ra cái khởi nguyên của thế giới là nguyên

tử, tính đa dạng của thế giới là do sự sắp xếp khác nhau của các nguyên tử

– Đêmôcrít đã có những quan điểm tiến bộ về mặt đạo đức Theo ông, phẩm chất con người không phải ở lời nói mà ở việc làm Con người cần hành động có đạo đức Còn hạnh phúc của con người là ở khả năng trí tuệ, khả năng tinh thần nói chung, đỉnh cao của hạnh phúc là trở thành nhà thông thái, trở thành công dân của thế giới

Platôn (427 – 347 TCN)

Platôn là nhà triết học duy tâm khách quan

– Điểm nổi bật trong hệ thống triết học duy tâm của Platôn là học thuyết về ý niệm Trong học thuyết này, Platôn đưa ra quan niệm về hai thế giới: thế giới các sự vật cảm biết và thế giới ý niệm

Theo ông, thế giới các sự vật cảm biết là không chân thực, không đúng đắn, vì các sự vật không ngừng sinh ra và mất đi, luôn luôn thay đổi, vận động, trong chúng không có cái gì ổn định, bền vững, hoàn thiện Còn thế giới ý niệm là thế giới của những cái phi cảm tính, phi vật thể, là thế giới của đúng đắn, chân thực và các sự vật cảm biết chỉ là cái bóng của ý niệm

Nhận thức của con người, theo Platôn không phải là phản ánh các sự vật cảm biết của thế giới khách quan, mà là nhận thức về ý niệm

Thế giới ý niệm có trước thế giới các vật cảm biết, sinh ra thế giới cảm biết Ví dụ: cái cây, con ngựa, nước… là do ý niệm siêu tự nhiên về cái cây, con ngựa, nước… sinh ra

Ngày đăng: 28/05/2023, 22:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w