1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Năng lực cạnh tranh và mức độ ổn định của các ngân hàng thương mại việt nam trong bối cảnh tham gia hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên thái bình dương

257 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Năng lực cạnh tranh và mức độ ổn định của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong bối cảnh tham gia Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương
Tác giả Phạm Thủy Tú
Người hướng dẫn PGS.TS Đoàn Thanh Hà, TS. Đào Lê Kiều Oanh
Trường học Trường Đại học Ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Tài chính – Ngân hàng
Thể loại Luận án tiến sĩ
Năm xuất bản 2020
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 257
Dung lượng 5,79 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU (16)
    • 1.1. Sự cần thiết của nghiên cứu (16)
      • 1.1.1. Bối cảnh nghiên cứu (16)
      • 1.1.2. Tổng quan nghiên cứu (20)
      • 1.1.3. Khe hở nghiên cứu (21)
      • 1.1.4. Sự cần thiết nghiên cứu về năng lực cạnh tranh và ổn định ngân hàng trong bối cảnh hội nhập CPTPP (23)
    • 1.2. Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu (25)
      • 1.2.1. Mục tiêu nghiên cứu (25)
      • 1.2.2. Câu hỏi nghiên cứu (25)
    • 1.3. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu (26)
      • 1.3.1. Đối tượng nghiên cứu (26)
      • 1.3.2. Phạm vi nghiên cứu (26)
    • 1.4. Phương pháp nghiên cứu và dữ liệu nghiên cứu (27)
      • 1.4.1. Phương pháp nghiên cứu (27)
      • 1.4.2. Dữ liệu nghiên cứu (30)
    • 1.5. Đóng góp của luận án (30)
    • 1.6. Kết cấu của luận án (31)
  • CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC (34)
    • 2.1. Một số khái niệm liên quan đến nghiên cứu (34)
      • 2.1.1. Khái niệm hội nhập quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng (34)
      • 2.1.2. Khái niệm tự do hóa tài chính (35)
      • 2.1.3. Khái niệm cạnh tranh và năng lực cạnh tranh (36)
      • 2.1.4. Khái niệm ổn định ngân hàng (38)
    • 2.2. Cơ sở lý thuyết (39)
      • 2.2.1. Lý thuyết tự do hóa tài chính trong hội nhập quốc tế về ngân hàng (40)
      • 2.2.2. Lý thuyết liên quan đến năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại trong bối cảnh hội nhập (49)
      • 2.2.3. Lý thuyết về mức độ ổn định ngân hàng thương mại (55)
      • 2.2.4. Cơ sở lý thuyết về tác động của cạnh tranh đến ổn định ngân hàng (61)
      • 2.2.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh và ổn định ngân hàng (64)
      • 2.2.6. Phương pháp xác định điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức cho các ngân hàng thương mại Việt Nam trong bối cảnh hội nhập CPTPP (71)
    • 2.3. Các bằng chứng thực nghiệm có liên quan đến nghiên cứu (76)
      • 2.3.1. Các nghiên cứu về năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại (76)
      • 2.3.2. Các nghiên cứu về mức độ ổn định của ngân hàng thương mại (77)
      • 2.3.3. Các nghiên cứu về tác động của cạnh tranh đến ổn định ngân hàng thương mại . 63 2.3.4. Các nghiên cứu về hiệu ứng từ sự hiện diện của ngân hàng nước ngoài đến các ngân hàng thương mại nội địa (78)
      • 2.3.5. Các nghiên cứu về tác động của CPTPP đến ngành ngân hàng (84)
  • CHƯƠNG 3 DỮ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (32)
    • 3.1. Dữ liệu nghiên cứu (87)
    • 3.2. Phương pháp nghiên cứu (88)
      • 3.2.1. Phương pháp nghiên cứu định tính (88)
      • 3.2.2. Phương pháp nghiên cứu định lượng (89)
    • 3.3. Giả thuyết nghiên cứu (102)
  • CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN (32)
    • 4.1. Thực trạng hoạt động của ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2010 – 2018 (107)
      • 4.1.1. Vốn và tài sản (107)
      • 4.1.2. Hệ số an toàn vốn (CAR) (108)
      • 4.1.3. Huy động vốn và cho vay (109)
      • 4.1.4. Hiệu quả hoạt động kinh doanh (112)
      • 4.1.5. Vấn đề an toàn thanh khoản (114)
      • 4.1.6. Vấn đề nợ xấu (115)
      • 4.1.7. Một số yếu tố khác (117)
    • 4.2. Một số kết quả hoạt động ngân hàng trong khối CPTPP giai đoạn 2010 - 2018 (122)
      • 4.2.1. Năng lực tài chính (123)
      • 4.2.2. Các chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh lời (129)
      • 4.2.3. Mức độ phát triển và đóng góp của ngành ngân hàng đối với nền kinh tế (130)
      • 4.2.4. Mạng lưới hoạt động (136)
    • 4.3. Kết quả nghiên cứu thực nghiệm (139)
      • 4.3.1. Kết quả ước lượng mô hình hồi quy năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại Việt Nam (139)
      • 4.3.2. Kết quả ước lượng mô hình hồi quy mức độ ổn định của các ngân hàng thương mại Việt Nam (149)
      • 4.3.3. Kết quả ước lượng mô hình hồi quy tác động của cạnh tranh đến ổn định ngân hàng của các ngân hàng thương mại Việt Nam (158)
    • 4.4. Thảo luận kết quả nghiên cứu (161)
      • 4.4.1. Thảo luận kết quả nghiên cứu tổng quan (162)
      • 4.4.2. Thảo luận kết quả nghiên cứu thực nghiệm (163)
    • 4.5. Điểm mạnh, điểm yếu, triển vọng và thách thức đối với các ngân hàng thương mại Việt (168)
      • 4.5.1. Những điểm mạnh các ngân hàng thương mại Việt Nam trong khối CPTPP (170)
      • 4.5.2. Những yếu điểm của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong khối CPTPP . 165 4.5.3. Cơ hội gia tăng năng lực cạnh tranh và tăng cường ổn định cho các ngân hàng thương mại Việt Nam khi gia nhập CPTPP (180)
  • CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH (32)
    • 5.1. Kết quả nghiên cứu chính của luận án (200)
    • 5.2. Hàm ý chính sách nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh và tăng cường ổn định tài chính của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong bối cảnh hội nhập CPTPP (0)
      • 5.2.1. Nâng cao năng lực tài chính (0)
      • 5.2.2. Có chiến lược cạnh tranh hiệu quả tại các ngân hàng thương mại Việt Nam (0)
      • 5.2.3. Mở rộng đầu tư, phát triển dịch vụ ngân hàng đến khách hàng (0)
      • 5.2.4. Mở rộng thị trường ra ngoài nước (0)
      • 5.2.5. Kịp thời ứng phó với những biến động từ nền kinh tế vĩ mô trong khối CPTPP (0)
      • 5.2.6. Nâng cao năng lực quản lý điều hành và phát triển nguồn nhân lực (0)
      • 5.2.7. Xây dựng hành lang pháp lý theo chuẩn mực quốc tế (0)
    • 5.3. Những hạn chế và hướng phát triển (0)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (0)

Nội dung

Rất ít tài liệu và công trình nghiên cứu sâu về năng lực cạnh tranh và mức độ ổn định của NHTM VN trong bối cảnh hội nhập CPTPP, một hiệp định được đánh giá có phạm vi ảnh hưởng sâu, rộn

GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU

Sự cần thiết của nghiên cứu

Hội nhập kinh tế thế giới theo xu thế tự do hóa tài chính là hướng đi phù hợp cho nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam Để mở rộng quy mô và thị trường hợp tác thương mại quốc tế, Việt Nam đã ký kết 16 hiệp định thương mại tự do (FTA), trở thành một trong những nước có số lượng FTA nhiều nhất thế giới Các hiệp định này không chỉ giúp Việt Nam khai thác nguồn lực và cơ hội toàn cầu mà còn gia tăng khả năng thích ứng với biến động của thị trường quốc tế.

Hiệp định CPTPP (Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương) là một trong những hiệp định thương mại tự do lớn nhất, có ảnh hưởng sâu rộng đến quan hệ thương mại giữa các quốc gia thành viên Được ký kết tại Chile vào tháng 3 năm 2018, CPTPP bao gồm 11 thành viên với tổng dân số 500 triệu người và GDP vượt 10 nghìn tỷ USD, chiếm khoảng 13,5% GDP toàn cầu và 14% tổng thương mại thế giới Hiệp định này không chỉ có quy mô rộng lớn mà còn được đánh giá cao về tiềm năng phát triển kinh tế.

Các quan chức cấp cao tham gia đàm phán tin rằng việc xây dựng Bản mô tả các lĩnh vực đàm phán chính sẽ tạo động lực cần thiết để kết thúc đàm phán thành công CPTPP được coi là hiệp định thương mại mang tính bước ngoặt của thế kỷ 21, thiết lập tiêu chuẩn mới cho thương mại toàn cầu và giải quyết các vấn đề thuộc thế hệ mới, nhằm tăng cường năng lực cạnh tranh cho các nước thành viên trong nền kinh tế toàn cầu.

CPTPP sẽ loại bỏ 11.000 dòng thuế và có khả năng trở thành khuôn mẫu cho các hiệp định thương mại tương lai Hiệp định này thiết lập khung tổng thể cho thương mại thế hệ mới, tăng cường quan hệ thương mại và đầu tư, đồng thời tạo nền tảng cho Khu vực thương mại tự do tại Châu Á - Thái Bình Dương, hỗ trợ việc làm, tăng trưởng kinh tế và nâng cao mức sống.

Theo (Vụ Chính sách thương mại đa biên, 2018), các nội dung cam kết trong hiệp định CPTPP mang 5 đặc trưng chính như sau:

CPTPP hướng tới việc tiếp cận thị trường toàn diện bằng cách bãi bỏ thuế quan và các rào cản thương mại, từ đó tạo ra nhiều việc làm hơn Mục tiêu chính là thúc đẩy hàng hóa giữa các nước thành viên được tiếp cận lẫn nhau một cách dễ dàng, miễn thuế và xóa bỏ các hạn chế dịch vụ, mở ra cơ hội mới cho người lao động và doanh nghiệp, đồng thời mang lại lợi ích trực tiếp cho người tiêu dùng.

Hiệp định khu vực toàn diện CPTPP giúp các nước tham gia xây dựng biểu thuế thống nhất và quy tắc xuất xứ chung, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp Cách tiếp cận khu vực này thúc đẩy mạng lưới thương mại, nâng cao năng lực cạnh tranh và khuyến khích sử dụng sản phẩm đầu vào của CPTPP Điều này không chỉ phát triển sản xuất và chuỗi cung ứng giữa các thành viên mà còn hỗ trợ tạo việc làm, nâng cao mức sống, cải thiện phúc lợi xã hội và phát triển bền vững.

Các vấn đề thương mại xuyên suốt trong khung hiệp định CPTPP được hình thành dựa trên những thỏa thuận đã thực hiện trong APEC và các diễn đàn khác Hiệp định này bao gồm bốn vấn đề mới và mang tính xuyên suốt.

Cam kết trong CPTPP sẽ tạo ra một môi trường chính sách gắn kết, thúc đẩy thương mại hiệu quả giữa các nước thành viên.

Các cam kết trong CPTPP sẽ nâng cao năng lực cạnh tranh của từng nền kinh tế, thúc đẩy hội nhập kinh tế và tạo thêm việc làm thông qua phát triển sản xuất và chuỗi cung ứng khu vực.

Doanh nghiệp vừa và nhỏ sẽ được đảm bảo giải quyết những lo ngại liên quan đến việc hiểu và áp dụng các hiệp định thương mại, đồng thời được khuyến khích tham gia vào giao thương quốc tế.

Phát triển cần đẩy mạnh tự do hóa thị trường một cách toàn diện và mạnh mẽ, cải thiện tình hình thương mại và đầu tư Cần tăng cường kỷ cương và các cam kết, thiết lập cơ chế giúp các thành viên CPTPP thực thi hiệu quả và tận dụng tối đa lợi ích của Hiệp định Qua đó, góp phần tăng cường vai trò của các thể chế quan trọng trong quản lý và phát triển kinh tế, đồng thời thúc đẩy ưu tiên phát triển kinh tế của từng thành viên CPTPP.

Những vấn đề mới trong thương mại đang tích cực thúc đẩy thương mại và đầu tư vào các sản phẩm và dịch vụ sáng tạo, bao gồm nền kinh tế kỹ thuật số và công nghệ xanh, nhằm đảm bảo một môi trường kinh doanh lành mạnh trong khu vực CPTPP.

Hiệp định CPTPP có tính mở, cho phép cập nhật để giải quyết các vấn đề thương mại mới phát sinh và mở rộng cho các quốc gia khác trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương Mục tiêu cuối cùng là thu hút thêm thành viên mới, với các nhóm đàm phán đang làm việc với những nước quan tâm để giúp họ hiểu rõ các mục tiêu của CPTPP Tính mở này mang lại lợi ích cho các quốc gia tham gia, cho phép họ thiết lập FTA với nhiều đối tác thông qua đàm phán CPTPP Tuy nhiên, điều này cũng dẫn đến khó khăn trong việc đạt được sự nhất trí và kéo dài thời gian đàm phán.

Hoạt động ngân hàng là huyết mạch của nền kinh tế, và việc thực thi các cam kết trong CPTPP sẽ tác động trực tiếp đến lĩnh vực tài chính ngân hàng của các nước thành viên, đặc biệt là các ngân hàng thương mại Việt Nam Các cam kết trong CPTPP nhằm thúc đẩy sự phát triển của thị trường dịch vụ tài chính, bao gồm mở rộng cam kết về mở cửa thị trường và cơ chế minh bạch hóa, tạo cơ hội tiếp cận tốt hơn cho nhà đầu tư nước ngoài Ngoài ra, CPTPP áp dụng cơ chế bảo hộ đầu tư để đảm bảo lợi ích cho các nhà đầu tư và duy trì không gian chính sách cho các biện pháp quản lý thận trọng, nhằm xây dựng nền tài chính vĩ mô ổn định Đối với Việt Nam, các cam kết mở rộng so với WTO bao gồm việc mở cửa dịch vụ nhượng tái bảo hiểm qua biên giới, đối xử quốc gia cho nhà cung cấp dịch vụ chứng khoán nước ngoài, và tăng cường không gian chính sách thông qua các điều khoản mới.

“rút lui”, “gia nhập” và “rà soát lại” hiệp định

Mức độ tự do hóa tài chính trong CPTPP rất cao, cho phép các nước thành viên thực hiện biện pháp củng cố tính ổn định tài chính Việt Nam và các nước thành viên có thể áp dụng các ngoại lệ cần thiết để bảo vệ an ninh quốc gia và quyền lợi cá nhân, đồng thời duy trì chính sách tỷ giá và tiền tệ nhằm đảm bảo môi trường đầu tư ổn định Trong lĩnh vực dịch vụ tài chính, CPTPP tạo ra nhiều cơ hội tiếp cận thị trường và đầu tư qua biên giới, nhưng vẫn yêu cầu các nước thành viên có khả năng điều hành thị trường và thực hiện biện pháp khẩn cấp khi cần thiết.

Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu của luận án là đánh giá năng lực cạnh tranh và mức độ ổn định của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong bối cảnh tham gia CPTPP, nhằm đưa ra các gợi ý chính sách dựa trên kết quả nghiên cứu.

Mục tiêu cụ thể: Để thực hiện mục tiêu tổng quát nêu trên, luận án sẽ tiến hành nghiên cứu các mục tiêu cụ thể như sau:

- Xác định thực trạng hoạt động của các NHTM VN và so sánh với các nước thành viên còn lại trong CPTPP giai đoạn 2010 - 2018

Đo lường năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong bối cảnh tham gia CPTPP là rất quan trọng Các yếu tố tác động đến năng lực cạnh tranh này cần được phân tích kỹ lưỡng để hiểu rõ hơn về chiều hướng phát triển Việc đánh giá các yếu tố này sẽ giúp các NHTM Việt Nam nâng cao vị thế cạnh tranh trên thị trường quốc tế.

Đo lường mức độ ổn định và ảnh hưởng của các yếu tố đến sự ổn định của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong bối cảnh tham gia CPTPP là rất quan trọng Việc này giúp đánh giá khả năng thích ứng và phát triển bền vững của các NHTM trong môi trường cạnh tranh quốc tế.

- Đo lường chiều hướng tác động của năng lực cạnh tranh đến ổn định ngân hàng trong bối cảnh tham gia CPTPP

- Xác định điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức cho các NHTM VN trong bối cảnh tham gia CPTPP

- Hàm ý chính sách nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh và mức độ ổn định ngân hàng trong bối cảnh tham gia CPTPP

Câu hỏi nghiên cứu được xây dựng dựa trên các mục tiêu nghiên cứu cụ thể trên như sau:

Câu hỏi 1: Thực trạng kết quả hoạt động của các NHTM VN so với các nước thành viên trong CPTPP?

Đo lường năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong bối cảnh tham gia CPTPP là một nhiệm vụ quan trọng Các yếu tố tác động đến năng lực cạnh tranh bao gồm chính sách kinh tế, công nghệ, và chất lượng dịch vụ Việc phân tích chiều hướng tác động của những yếu tố này sẽ giúp các ngân hàng nâng cao vị thế cạnh tranh trên thị trường quốc tế.

Đo lường mức độ ổn định và chiều hướng tác động của các yếu tố đến sự ổn định của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong bối cảnh tham gia CPTPP là rất quan trọng Việc này giúp đánh giá khả năng chống chịu của các NHTM trước những biến động kinh tế và chính sách Đồng thời, nó cũng cung cấp thông tin cần thiết để các ngân hàng điều chỉnh chiến lược hoạt động, nhằm tối ưu hóa hiệu quả trong môi trường cạnh tranh quốc tế.

Câu số 4: Chiều hướng tác động của năng lực cạnh tranh đến mức độ ổn định của các

NHTM VN trong bối cảnh tham gia CPTPP?

Câu số 5: Xác định điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức cho các NHTM VN trong bối cảnh tham gia CPTPP?

Câu hỏi 6: Hàm ý chính sách nào giúp nâng cao năng lực cạnh tranh và mức độ ổn định cho các NHTM VN trong bối cảnh tham gia CPTPP?

Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

Năng lực cạnh tranh và mức độ ổn định của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong bối cảnh tham gia CPTPP

Nghiên cứu được thực hiện trên 31 ngân hàng thương mại Việt Nam, trong đó tính đến ngày 31/12/2018, theo thống kê của NHNN, tổng số ngân hàng thương mại 100% vốn Việt Nam là 35 ngân hàng, bao gồm 4 ngân hàng nhà nước và 31 ngân hàng cổ phần Tổng tài sản của 35 ngân hàng thương mại Việt Nam vào ngày 31/08/2018 đạt 9.418.330 tỷ đồng Tác giả sử dụng tổng tài sản của 31 ngân hàng thương mại Việt Nam vào thời điểm 31/12/2018 là 9.398.556,489 tỷ đồng, chiếm 99,78% tổng tài sản của các ngân hàng thương mại Việt Nam, đảm bảo tính đại diện cho các ngân hàng thương mại tại Việt Nam.

- Về mặt thời gian: nghiên cứu xác định trong giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2018

Trong giai đoạn này, các ngân hàng thương mại Việt Nam đã bắt đầu áp dụng Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, với nhiều quy định mới về tổ chức, quản trị và điều hành phù hợp với thông lệ quốc tế Điều này đã dẫn đến việc tái cấu trúc toàn diện hoạt động, bao gồm cả hệ thống quản trị ngân hàng Đặc biệt, Hiệp định CPTPP được ký kết vào tháng 3/2018 và chính thức có hiệu lực tại Việt Nam từ ngày 14/01/2019, đã ảnh hưởng đến một số chỉ tiêu nghiên cứu dựa trên dữ liệu cập nhật đến hết quý 3/2019.

Nội dung luận án tập trung vào việc đánh giá thực trạng hoạt động của các ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam và so sánh với hệ thống tài chính của các nước thành viên CPTPP Nghiên cứu sẽ đo lường năng lực cạnh tranh, mức độ ổn định và tác động của các yếu tố đến năng lực cạnh tranh và ổn định của NHTM Việt Nam trong bối cảnh CPTPP Từ đó, luận án xác định điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức cho các NHTM Việt Nam, nhằm đưa ra các hàm ý chính sách cho nhà quản trị để nâng cao năng lực cạnh tranh và ổn định, đồng thời phát triển chiến lược phù hợp để tận dụng cơ hội và ứng phó với thách thức trong tình hình mới.

Phương pháp nghiên cứu và dữ liệu nghiên cứu

Luận án sử dụng kết hợp 2 phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng

Luận án áp dụng các phương pháp liệt kê, phân tích, so sánh và tổng hợp lý thuyết cùng nghiên cứu trước đây để hình thành cơ sở lý thuyết về năng lực cạnh tranh và ổn định tài chính Mục tiêu là xác định các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh và mức độ ổn định của ngân hàng, từ đó xây dựng mô hình thực nghiệm phù hợp cho Việt Nam.

Luận án áp dụng phương pháp thống kê để phân tích và so sánh hoạt động của các nước trong CPTPP Dựa trên các nghiên cứu trước và lý thuyết liên quan, luận án sử dụng mô hình SWOT nhằm xác định điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức cho các NHTM Việt Nam khi tham gia CPTPP Mục tiêu là tăng cường tính vững chắc cho các đề xuất chính sách, từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh và ổn định ngân hàng trong bối cảnh gia nhập CPTPP.

1.4.1.2 Phương pháp định lượng Để thực hiện mục tiêu ước lượng năng lực cạnh tranh, mức độ ổn định của các NHTM

VN trong bối cảnh hội nhập CPTPP, luận án sử dụng:

Phương pháp đo lường bằng chỉ số Lerner sử dụng các chỉ số dựa trên tiêu chuẩn có sẵn để ước lượng năng lực cạnh tranh Phương pháp này giúp xác định mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến năng lực cạnh tranh và thảo luận về kết quả đo lường.

Phương pháp đo lường bằng chỉ số Zscore sử dụng các chỉ số dựa trên tiêu chuẩn có sẵn để ước lượng mức độ ổn định và tác động của các yếu tố đến sự ổn định Kết quả đo lường sẽ được thảo luận để làm rõ hơn về các yếu tố này.

Các phương pháp kinh tế lượng được thực hiện bằng phần mềm Stata 14.0, bao gồm nghiên cứu định lượng và xây dựng mô hình hồi quy Qua các kiểm định phù hợp, bài viết đo lường mức độ ảnh hưởng của các yếu tố tác động đến năng lực cạnh tranh và mức độ ổn định của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong bối cảnh hội nhập CPTPP.

1.4.1.3 Thiết kế khung nghiên cứu Để đạt được mục tiêu nghiên cứu xác định năng lực cạnh tranh và mức độ ổn định của các NHTM VN trong bối cảnh hội nhập CPTPP, tác giả tiến hành lược khảo lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm có liên quan đến đề tài Từ kết quả tổng quan nghiên cứu, tác giả đề xuất khung quy trình nghiên cứu được tóm tắt như sau:

Nguồn: Đề xuất của tác giả

THƯƠNG MẠI VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH THAM GIA HIỆP ĐỊNH ĐỐI

TÁC TOÀN DIỆN VÀ TIẾN BỘ XUYÊN THÁI BÌNH DƯƠNG

Các nghiên cứu trước và cơ sở lý thuyết về năng lực cạnh tranh, mức độ ổn định, các nội dung trong Hiệp định CPTPP về ngân hàng

Bối cảnh thực tiễn và dữ liệu 31 ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2010 - 2018

Chỉ số Lerner Chỉ số Zscore Đề xuất mô hình đo lường năng lực cạnh tranh Đề xuất mô hình đo lường mức độ ổn định

Thống kê, phân tích, tổng hợp trên bộ dữ liệu 11 nước CPTPP giai đoạn 2010 -

Thực trạng tại VN và so sánh với 10 nước CPTPP giai đoạn 2010 - 2018

Xác định năng lực cạnh tranh và mức độ ổn định của ngân hàng Việt Nam trong bối cảnh tham gia CPTPP là rất quan trọng Nghiên cứu này sẽ phân tích các yếu tố tác động đến năng lực cạnh tranh và sự ổn định của hệ thống ngân hàng, từ đó đưa ra những nhận định về chiều hướng phát triển trong tương lai Việc hiểu rõ các yếu tố này sẽ giúp ngân hàng Việt Nam nâng cao khả năng cạnh tranh và đảm bảo sự ổn định trong môi trường hội nhập quốc tế.

Nghiên cứu đã chỉ ra những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức mà các ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam phải đối mặt khi tham gia Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) Đề xuất các hàm ý chính sách nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh và phát triển bền vững cho các NHTM Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế.

Nghiên cứu này phân tích kết quả hoạt động của ngân hàng thương mại Việt Nam và 10 nước thành viên CPTPP, sử dụng dữ liệu thứ cấp từ năm 2010 đến 2018 Dữ liệu được thu thập từ báo cáo tài chính của các ngân hàng thương mại Việt Nam, báo cáo tài chính của Ngân hàng Nhà nước, cùng với thông tin từ World Economic Outlook (WEO) của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Tổng cục Thống kê Việt Nam và Ngân hàng Thế giới (World Bank - WB).

Dữ liệu nghiên cứu thực nghiệm về mô hình đo lường năng lực cạnh tranh và mức độ ổn định được thu thập từ nguồn dữ liệu thứ cấp của 31 ngân hàng thương mại Việt Nam, bao gồm thông tin từ cơ sở dữ liệu Bankscope, báo cáo thường niên, báo cáo tài chính hợp nhất có kiểm toán, tài liệu đại hội đồng cổ đông hàng năm và báo cáo tài chính của Ngân hàng Nhà nước.

Dữ liệu các yếu tố bên ngoài thuộc môi trường vĩ mô được thu thập từ bộ dữ liệu WEO của IMF, Tổng cục thống kê Việt Nam, WB

Dữ liệu có cấu trúc dạng bảng và không cân bằng.

Đóng góp của luận án

Mô hình luận án được xây dựng dựa trên lý thuyết về năng lực cạnh tranh và ổn định ngân hàng, sử dụng khung phân tích CAMELS và chỉ tiêu của IMF Nghiên cứu chọn lọc các nhân tố phù hợp với ngân hàng thương mại Việt Nam trong bối cảnh hội nhập Mô hình hồi quy được xây dựng để đo lường ảnh hưởng của các yếu tố đến năng lực cạnh tranh và ổn định của ngân hàng thương mại Việt Nam trong bối cảnh CPTPP, dựa trên chỉ số Lerner và Zscore Kết quả ước lượng hồi quy cung cấp cơ sở lý thuyết cho các kết luận, bổ sung tính vững cho các lập luận và bằng chứng thực nghiệm về năng lực cạnh tranh và ổn định của ngân hàng thương mại Việt Nam.

Về mặt thực tiễn: Nghiên cứu xác định thực trạng kết quả hoạt động của các NHTM

Bài viết so sánh hệ thống tài chính của Việt Nam với các nước thành viên CPTPP dựa trên các yếu tố vĩ mô và kết quả đo lường năng lực cạnh tranh (NLCT) cùng mức độ ổn định, nhằm xác định điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức cho các ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam trong bối cảnh hội nhập Nghiên cứu sử dụng dữ liệu từ giai đoạn 2010 – 2018, gần nhất với thời điểm CPTPP được ký kết tại Việt Nam, và đưa ra các hàm ý chính sách dựa trên kết quả nghiên cứu Đây là nguồn tham khảo hữu ích cho các nhà hoạch định chiến lược trong việc nâng cao NLCT và ổn định NHTM Việt Nam Nghiên cứu cũng chỉ ra ảnh hưởng của các ngân hàng nước ngoài đến năng lực cạnh tranh và ổn định tài chính của ngân hàng nội địa, giúp các nhà quản trị ngân hàng xây dựng chính sách phù hợp để nâng cao năng lực cạnh tranh, tăng cường ổn định ngân hàng, và dự đoán các tình huống để ứng phó với thách thức cũng như nắm bắt cơ hội từ các cam kết trong CPTPP.

Kết cấu của luận án

Chương 1: Giới thiệu tổng quan về nghiên cứu

Chương 1 trình bày tổng quan về vấn đề nghiên cứu chính của luận án, bao gồm: tính cần thiết của vấn đề nghiên cứu, tổng quan các nghiên cứu trước, khe hở nghiên cứu, mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, đóng góp của của luận án, kết cấu của luận án

Chương 2: Cơ sở lý luận và bằng chứng thực nghiệm liên quan

Chương 2 trình bày toàn bộ cơ sở lý thuyết về các vấn đề liên quan đến nghiên cứu: tự do hóa tài chính, năng lực cạnh tranh và ổn định ngân hàng Luận án cũng lược khảo các nghiên cứu thực nghiệm về ảnh hưởng của các yếu tố đến năng lực cạnh tranh, mức độ ổn định ngân hàng, tác động của cạnh tranh đến ổn định ngân hàng

Chương 3: Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu

Chương 3 của bài viết trình bày dữ liệu và phương pháp nghiên cứu nhằm đo lường tác động của các yếu tố đến năng lực cạnh tranh (NLCT) và mức độ ổn định của các ngân hàng thương mại (NHTM) tại Việt Nam, dựa trên mục tiêu nghiên cứu ở chương 1 và cơ sở lý thuyết được trình bày ở chương 2.

Các bước trong nghiên cứu bao gồm xây dựng mô hình, mô tả các biến độc lập và biến phụ thuộc, cũng như thu thập và xử lý dữ liệu thứ cấp từ các ngân hàng thương mại Việt Nam Cuối cùng, luận án thực hiện ước lượng và kiểm định cần thiết cho các hệ số hồi quy trong các mô hình đã xây dựng.

Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Dựa trên các thao tác hồi quy và kiểm định hệ số hồi quy của biến độc lập đã thực hiện ở chương 3, chương 4 sẽ trình bày kết quả hồi quy cùng với các kiểm định chi tiết của các mô hình Mục tiêu là đo lường tác động của các yếu tố đến năng lực cạnh tranh (NLCT) và mức độ ổn định của các ngân hàng thương mại (NHTM).

Nghiên cứu này tập trung vào việc phân tích dấu hiệu của các hệ số hồi quy và giải thích kết quả để trả lời các câu hỏi nghiên cứu đã được xác định từ mục tiêu ban đầu Qua đó, nghiên cứu xác định những cơ hội và thách thức mà các ngân hàng thương mại Việt Nam (NHTM VN) phải đối mặt trong bối cảnh gia nhập CPTPP.

Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách

Chương 5 của luận án trình bày các gợi ý chính sách nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh và ổn định của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong bối cảnh hội nhập CPTPP Những đề xuất này hướng đến việc hỗ trợ các nhà hoạch định chính sách và quản trị ngân hàng trong việc xây dựng chiến lược phát triển bền vững và ổn định cho hệ thống ngân hàng Việt Nam trong tương lai.

Trong chương này, tác giả giới thiệu tổng quan về nghiên cứu của luận án, giúp người đọc hình dung về đề tài Chương 1 nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu năng lực cạnh tranh và mức độ ổn định của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong bối cảnh tham gia hiệp định CPTPP Tiếp theo, tác giả trình bày quá trình nghiên cứu và chỉ ra các khe hở trong nghiên cứu về năng lực cạnh tranh và mức độ ổn định của ngân hàng tại Việt Nam, cho thấy rằng vấn đề này còn chưa được khai thác nhiều Luận án cũng nêu rõ sự cần thiết thực hiện đề tài nghiên cứu cho các ngân hàng thương mại Việt Nam Mục tiêu nghiên cứu của luận án là đo lường năng lực cạnh tranh và mức độ ổn định của các ngân hàng trong bối cảnh hội nhập CPTPP, từ đó đưa ra các gợi ý chính sách cho cơ quan quản lý nhà nước dựa trên kết quả thực nghiệm.

Nghiên cứu tập trung vào năng lực cạnh tranh và mức độ ổn định của 31 ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn 2010 – 2018 Chương 1 trình bày các phương pháp nghiên cứu, bao gồm phương pháp định tính như liệt kê, mô tả, phân tích, so sánh và tổng hợp để làm rõ cơ sở lý thuyết, cùng với việc xây dựng mô hình thực nghiệm Ngoài ra, nghiên cứu cũng áp dụng các phương pháp định lượng và các kiểm định để thực hiện các mô hình thực nghiệm.

Chương 1 của luận án trình bày dữ liệu nghiên cứu từ 31 ngân hàng thương mại Việt Nam, bao gồm tổng tài sản và số lượng ngân hàng nước ngoài hoạt động tại Việt Nam, cùng với các chỉ số vĩ mô như tốc độ tăng trưởng GDP và tỷ lệ lạm phát Ngoài ra, chương này cũng nêu rõ những đóng góp mới của luận án về cả hai khía cạnh học thuật và thực tiễn Cuối cùng, chương 1 giới thiệu bố cục của luận án.

5 chương và nội dung khái quát của từng chương.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC

Một số khái niệm liên quan đến nghiên cứu

2.1.1 Khái niệm hội nhập quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng Để tìm hiểu khái niệm “Hội nhập quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng” cần tìm hiểu các khái niệm sau: “Toàn cầu hóa kinh tế”, “Khu vực hóa kinh tế”, “Hội nhập kinh tế quốc tế”,

“Hội nhập quốc tế trong lĩnh vực tài chính - tiền tệ” để từ đó đưa ra khái niệm về “Hội nhập quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng”

Theo tài liệu nghiên cứu và tổng hợp từ (Trung tâm Bồi dưỡng đại biểu dân cử):

Toàn cầu hóa kinh tế là quá trình gia tăng sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia trong mọi khía cạnh của đời sống xã hội Ngược lại, khu vực hóa kinh tế là hiện tượng hợp tác kinh tế giữa các quốc gia trong những nhóm khu vực, thể hiện qua các tổ chức hoặc định chế với mức độ liên kết kinh tế khác nhau.

Hội nhập kinh tế được hiểu là quá trình kết nối nền kinh tế thị trường của các quốc gia với kinh tế khu vực và thế giới thông qua các nỗ lực tự do hóa và mở cửa ở các cấp độ đơn phương, song phương và đa phương Khái niệm này thường được các nhà nghiên cứu sử dụng, như đã được nêu bởi Balassa Bela và Richard D Irwin Inc vào năm 1961.

Hội nhập quốc tế là sự tham gia chủ động vào quá trình toàn cầu hóa và khu vực hóa, thể hiện qua các nỗ lực chính sách của các quốc gia để gia nhập các tổ chức kinh tế khu vực và toàn cầu Điều này đồng nghĩa với việc tham gia vào cuộc cạnh tranh kinh tế trong và ngoài nước, khi mà nền kinh tế của mỗi quốc gia ngày càng gắn kết với các nền kinh tế khác Qua đó, nền kinh tế thế giới phát triển theo hướng hình thành một thị trường chung thống nhất, giảm thiểu các rào cản đối với giao lưu và hợp tác quốc tế, đồng thời làm gia tăng sự cạnh tranh.

Hội nhập quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng là quá trình kết nối hoạt động ngân hàng của mỗi quốc gia với hệ thống ngân hàng toàn cầu, thông qua việc mở cửa và tự do hóa hoạt động ngân hàng trong nước, phù hợp với luật pháp quốc tế Hoạt động ngân hàng cần tuân thủ quy luật thị trường và các nguyên tắc kinh doanh quốc tế, không bị cản trở bởi các biện pháp quản lý hành chính Trong khi đó, hội nhập quốc tế trong lĩnh vực tài chính - tiền tệ là quá trình mở cửa cho sự tham gia của các yếu tố bên ngoài, như công nghệ, vốn đầu tư, tín dụng và lao động chuyên môn cao, nhằm thực hiện tự do hóa tài chính và xóa bỏ các ràng buộc trong phân bổ nguồn lực tài chính.

2.1.2 Khái niệm tự do hóa tài chính

Trong bối cảnh hiện nay, tự do hóa tài chính đang trở thành xu thế lớn của kinh tế học hiện đại, thể hiện qua nhiều khía cạnh thực tiễn Sự phát triển kinh tế của các quốc gia phụ thuộc vào chính sách và cơ cấu tài chính của họ Tự do hóa tài chính không chỉ là một xu hướng mà còn là yếu tố quan trọng trong sự phát triển kinh tế toàn cầu.

Theo Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), "tự do hóa tài chính" là quá trình giảm thiểu và cuối cùng là loại bỏ sự kiểm soát của Nhà nước đối với hoạt động của hệ thống tài chính quốc gia, nhằm tạo điều kiện cho hệ thống này hoạt động tự do và hiệu quả hơn theo quy luật thị trường.

Theo Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, tự do hóa tài chính là quá trình giảm thiểu và cuối cùng hủy bỏ sự kiểm soát của Nhà nước đối với hệ thống tài chính quốc gia, nhằm tạo ra một hệ thống hoạt động tự do và hiệu quả hơn theo quy luật thị trường Các nội dung chính của tự do hóa tài chính bao gồm tự do hóa lãi suất, tự do hóa hoạt động cho vay của các ngân hàng thương mại, tự do hóa hoạt động ngoại hối, và tự do hóa hoạt động của các tổ chức tài chính trên thị trường tài chính.

Tự do hóa tài chính là quá trình chuyển giao vai trò điều tiết tài chính từ Chính phủ sang thị trường, nhằm tối ưu hóa sự phối hợp giữa Nhà nước và thị trường trong việc đạt được các mục tiêu kinh tế – xã hội Kết quả của tự do hóa tài chính thường được đo lường qua tỷ lệ giữa tiền mở rộng (bao gồm tiền mặt và tiền gửi trong hệ thống ngân hàng thương mại) so với thu nhập quốc dân.

Tự do hóa tài chính là quá trình xóa bỏ các hạn chế trong phân bổ nguồn lực tín dụng, cho phép các tổ chức tài chính tự do xác định lãi suất tiền gửi và cho vay Điều này bao gồm việc loại bỏ mức trần lãi suất và các ràng buộc trong việc sử dụng nguồn vốn huy động Hơn nữa, tự do hóa tài chính mở rộng cạnh tranh trong các hoạt động tài chính trung gian, chấm dứt sự phân biệt pháp lý giữa các loại hình hoạt động khác nhau.

2.1.3 Khái niệm cạnh tranh và năng lực cạnh tranh

Cạnh tranh là sự tranh đua giữa các cá nhân và tổ chức kinh tế nhằm đạt được các mục tiêu như thị phần, lợi nhuận và thương hiệu Trong nền kinh tế thị trường, ngân hàng đóng vai trò đặc biệt khi "mua" và "bán" lợi ích tài chính không có hình thức vật chất Do đó, khái niệm cạnh tranh cũng áp dụng cho các ngân hàng thương mại.

Cạnh tranh tư bản chủ nghĩa, theo K Marx (1977), là sự ganh đua giữa các nhà tư bản để giành lợi thế trong sản xuất và tiêu dùng nhằm thu lợi nhuận siêu ngạch Marx nhấn mạnh rằng quy luật cạnh tranh cơ bản là điều chỉnh tỷ suất lợi nhuận bình quân giữa các ngành Michael E Porter (1980) định nghĩa cạnh tranh là việc giành lấy thị phần và tìm kiếm lợi nhuận cao hơn mức trung bình Quá trình này dẫn đến sự bình quân hóa lợi nhuận trong ngành và có thể làm giảm giá cả Theo Porter (1996), cạnh tranh ở cấp độ doanh nghiệp là cuộc đấu tranh giữa các đối thủ về khách hàng và nguồn lực, với mục tiêu gia tăng giá trị và tạo ra sự độc đáo cho sản phẩm Trong cuốn "Competitive Advantage" (1998), ông khẳng định rằng cạnh tranh quyết định thành công hay thất bại của công ty, giúp nâng cao hiệu quả qua đổi mới và gắn kết văn hóa P.A Samuelson và W.D Nordhaus (1985) cũng định nghĩa cạnh tranh là sự kình địch giữa các doanh nghiệp nhằm giành khách hàng hoặc thị trường.

Theo Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF), năng lực cạnh tranh (NLCT) là khả năng mà doanh nghiệp duy trì vị trí lâu dài trên thị trường cạnh tranh, đảm bảo tỷ lệ lợi nhuận tối thiểu bằng tỷ lệ yêu cầu tài trợ cho các mục tiêu của doanh nghiệp, đồng thời đạt được các mục tiêu đã đề ra NLCT được chia thành ba cấp độ.

NLCT quốc gia phản ánh khả năng của nền kinh tế trong việc đạt được sự tăng trưởng bền vững, thu hút đầu tư, duy trì ổn định kinh tế và xã hội, đồng thời nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân.

NLCT của doanh nghiệp là khả năng duy trì và mở rộng thị phần cũng như thu lợi nhuận trong môi trường cạnh tranh cả trong và ngoài nước Nó được thể hiện qua hiệu quả kinh doanh, lợi nhuận và thị phần mà doanh nghiệp đạt được.

+ NLCT của sản phẩm và dịch vụ: đo bằng thị phần của sản phẩm dịch vụ trên thị trường

Cơ sở lý thuyết

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, hiệp định thương mại CPTPP được xem là một hiệp định mở và toàn diện, ảnh hưởng đến mọi lĩnh vực của nền kinh tế Cam kết trong lĩnh vực tài chính ngân hàng cho thấy mức độ tự do hóa tài chính cao, mặc dù các nước thành viên có quyền thực hiện biện pháp bảo đảm ổn định tài chính Việc thực thi CPTPP dẫn đến sự cạnh tranh giữa các quốc gia và ngành nghề, ảnh hưởng trực tiếp đến sự ổn định tài chính của từng thành viên Do đó, luận án dựa trên các học thuyết kinh tế về hội nhập quốc tế, tự do hóa tài chính, lý thuyết cạnh tranh và lý thuyết ổn định trong ngân hàng.

Nền tảng lý thuyết của nghiên cứu này được xây dựng dựa trên các quan điểm kinh tế của nhiều nhà kinh tế học nổi tiếng như John Maynard Keynes, Shaw, McKinnon, Adam Smith, Carl Menger, Eugen von Bohm-Bawerk và Friedrich von Wieser, cùng với việc tổng hợp từ các kết quả nghiên cứu trước đó.

2.2.1 Lý thuyết tự do hóa tài chính trong hội nhập quốc tế về ngân hàng

Trong bối cảnh hội nhập CPTPP, nghiên cứu về tự do hóa tài chính trong ngành ngân hàng đóng vai trò quan trọng Việc này giúp các nhà quản trị ngân hàng xác định chiến lược và định hướng đúng đắn, từ đó nhận diện cơ hội và rủi ro tiềm ẩn trong quá trình hội nhập quốc tế.

2.2.1.1 Các quan điểm về tự do hóa tài chính

Trong bối cảnh toàn cầu hóa, tự do hóa tài chính trở thành xu thế tất yếu, đặc biệt đối với các nước đang phát triển Xu hướng này đã giúp nhiều quốc gia thu hút vốn đầu tư lớn và tiếp nhận công nghệ hiện đại, từ đó mở rộng sản xuất và thúc đẩy xuất khẩu Tuy nhiên, sự gia tăng dòng vốn và sự cạnh tranh từ các tổ chức tài chính cũng đặt ra thách thức cho các cơ quan quản lý trong việc duy trì ổn định tài chính Điều này yêu cầu các quốc gia phải điều chỉnh chiến lược, không chỉ dừng lại ở tái cơ cấu mà còn cần có biện pháp phát triển sản xuất hiệu quả hơn trong bối cảnh kiểm soát tài chính chặt chẽ Hiện nay, tồn tại hai quan điểm đối lập về tự do hóa tài chính.

Quan điểm thứ nhất cho rằng hệ thống tài chính chỉ đóng vai trò nhỏ trong sự phát triển kinh tế thực, chủ yếu cung cấp cơ hội cho khu vực tư nhân tạo ra hoặc mất tiền Điều này cho thấy Chính phủ có thể không cần ưu tiên phát triển hệ thống tài chính, thậm chí có thể gây bất lợi cho tăng trưởng và phân phối thu nhập Theo Kitchen (1986), sau khi nghiên cứu Nigeria, ông nhấn mạnh rằng hệ thống tài chính nên phát triển sau khi kinh tế đã phát triển, và sự độc lập chính trị cùng với việc thiết lập Ngân hàng Trung ương không phải là nền tảng cho sự phát triển Sự thịnh vượng của thị trường xuất khẩu, dòng vốn nước ngoài, chính sách ngân sách và các sự kiện chính trị mới là những yếu tố quyết định chính cho sự phát triển, trong đó hệ thống tài chính đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy các ảnh hưởng này.

Quan điểm tự do mới cho rằng hệ thống tài chính phát triển có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế, đóng vai trò quan trọng trong việc kích thích nền kinh tế Thiếu một hệ thống tài chính phát triển sẽ hạn chế tăng trưởng, vì vậy, các chính sách của Chính phủ cần tập trung vào việc khuyến khích sự phát triển của hệ thống tài chính.

Lý thuyết Keynes về đầu tư, tiết kiệm và tăng trưởng cho rằng tăng trưởng kinh tế cao thường đi kèm với lạm phát do đầu tư mà không nhất thiết phải tiết kiệm Chính phủ có thể tác động đến tỷ lệ tăng trưởng thông qua chính sách tài chính gây lạm phát, buộc người dân phải tiết kiệm để bù đắp cho sự thiếu hụt giữa đầu tư và tiết kiệm Hệ thống tài chính đóng vai trò thụ động trong việc huy động tiết kiệm và phân bổ nguồn lực, với hai loại cá nhân: loại có thu nhập từ tiền lương và loại có thu nhập từ lợi nhuận Chính sách lạm phát cao và lãi suất thực giảm sẽ khuyến khích loại thứ hai tiết kiệm để đầu tư, trong khi loại thứ nhất sẽ tiêu dùng nhiều hơn do thu nhập thực giảm Tuy nhiên, chính sách tăng trưởng dựa trên lạm phát bị chỉ trích vì có thể dẫn đến những hiểm họa như áp lực lên cán cân thanh toán và sự phân bổ nguồn lực không hiệu quả, cũng như làm giảm sức hấp dẫn của đầu tư vào máy móc thiết bị so với đầu tư đầu cơ.

Lý thuyết của Shaw và McKinnon về hệ thống tài chính bị kìm hãm trái ngược với quan điểm của Keynes về vai trò thụ động của hệ thống tài chính trong tăng trưởng kinh tế Các lý thuyết này cho rằng hệ thống tài chính là công cụ phân bổ nguồn lực tài chính hiệu quả thông qua chia sẻ rủi ro và chuyển giao có thời hạn McKinnon, trong tác phẩm “Tiền tệ và vốn trong phát triển kinh tế” năm 1973, nhấn mạnh rằng chính phủ không nên can thiệp vào hệ thống tài chính mà để nó hoạt động theo cơ chế thị trường tự do, từ đó đảm bảo hiệu quả phân bổ nguồn lực Ông cho rằng lãi suất cao thúc đẩy tiết kiệm và đầu tư, nhưng can thiệp của chính phủ thường dẫn đến lãi suất thực thấp, làm giảm hiệu quả đầu tư và tăng trưởng kinh tế McKinnon khuyến nghị các nước đang phát triển nên thực hiện tự do hóa tài chính để thúc đẩy tăng trưởng, cho rằng hệ thống tài chính cần phát triển trước để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế Lý thuyết này đã được chấp nhận tại nhiều quốc gia đang phát triển, dẫn đến cải cách tài chính từ những năm 1970 đến 1989.

Trường phái Tân cổ điển phản ánh quan điểm trái ngược với lý thuyết của McKinnon về tự do hóa tài chính, nhấn mạnh rằng sự can thiệp của Chính phủ vào hệ thống tài chính có tác động tích cực, cải thiện hiệu quả phân phối vốn Stiglitz chỉ ra rằng lãi suất thấp nâng cao chất lượng cho vay, trong khi việc kìm hãm tài chính khuyến khích các công ty tăng vốn do chi phí vốn giảm Hơn nữa, kìm hãm tài chính có thể kết hợp với các thay đổi cơ cấu khác, như điều chỉnh xuất khẩu, để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Cuối cùng, chương trình chỉ định tín dụng khuyến khích cho vay vào các lĩnh vực công nghệ cao.

Xu hướng tự do hóa tài chính đang gia tăng, nhằm giảm thiểu sự can thiệp của nhà nước vào nền kinh tế Ở một số quốc gia đang phát triển, tự do hóa tài chính còn là nỗ lực nhằm thoát khỏi "sự áp chế tài chính", một chính sách trước đây nhằm tài trợ cho thâm hụt ngân sách và trợ cấp cho các khu vực ưu tiên Sự chuyển đổi từ áp chế tài chính sang tự do hóa tài chính được thúc đẩy mạnh mẽ bởi các nghiên cứu có ảnh hưởng của McKinnon (1973) và Shaw.

Theo McKinnon và Shaw (1973) cho rằng, việc áp chế tài chính thông qua lãi suất thực thấp và thường âm đã làm giảm tiết kiệm tài chính tư nhân, từ đó hạn chế nguồn lực cho tích lũy vốn Từ góc độ này, tự do hóa tài chính có thể giúp các quốc gia đang phát triển kích thích tiết kiệm trong nước, tăng trưởng kinh tế và giảm sự phụ thuộc vào vốn nước ngoài.

Nghiên cứu của McKinnon và Shaw (2004) đã khơi dậy một dòng nghiên cứu mạnh mẽ về cách phát triển tài chính có thể thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thông qua việc tăng năng suất Nhiều công trình thực nghiệm đã chỉ ra rằng các chỉ số đo lường sự phát triển tài chính có mối tương quan tích cực với tốc độ tăng trưởng GDP hiện tại và tương lai Điều này cho thấy rằng tự do hóa tài chính, thông qua việc tăng cường phát triển tài chính, có khả năng nâng cao tỷ lệ tăng trưởng dài hạn của nền kinh tế (Robert G King và Ross Levine, 1993).

Quan điểm tích cực về tự do hóa tài chính đã bị lung lay bởi tình trạng mỏng manh về tài chính gia tăng ở cả quốc gia phát triển và đang phát triển trong những năm 80 và 90 Khu vực ngân hàng toàn cầu đã trải qua nhiều chấn động nghiêm trọng, dẫn đến các cuộc khủng hoảng hệ thống, như được nêu trong nghiên cứu của Gerard Caprio và Daniela Klingebiel (1996) Những kinh nghiệm này nhấn mạnh sự cần thiết phải cân nhắc giữa lợi ích của tự do hóa tài chính và chi phí của tình trạng mỏng manh gia tăng Một số ý kiến trong các cuộc tranh luận chính sách đã ủng hộ việc duy trì một mức độ kiểm soát tài chính nhất định thay vì vội vã tự do hóa tại các quốc gia đang phát triển (Wassim Shahin, Elias El-Achkar, 2016).

2.2.1.2 Các nội dung cơ bản về hội nhập quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng

Dựa trên lý thuyết kinh tế về hội nhập quốc tế và xu hướng tự do hóa tài chính, nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước đã được thực hiện để xác định các yếu tố đo lường mức độ hội nhập tài chính quốc tế.

Nghiên cứu về hội nhập và cạnh tranh trong ngành ngân hàng đã được thực hiện bởi Saab và Vacher (2007), cùng với nhiều nghiên cứu khác tại Việt Nam như của Trần Thị Thu Hương (2018) và tài liệu từ Trung tâm Bồi dưỡng đại biểu dân cử Các nghiên cứu này chủ yếu tập trung vào việc đánh giá mức độ hội nhập tài chính, xác định các yếu tố và nội dung chính để đo lường mức độ hội nhập quốc tế trong lĩnh vực tài chính và ngân hàng Nội dung cơ bản về hội nhập quốc tế trong ngành ngân hàng có thể được tóm lược như sau:

DỮ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Ngày đăng: 28/05/2023, 17:23

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1: Tóm tắt các biến trong mô hình hồi quy và tương quan kỳ vọng - Năng lực cạnh tranh và mức độ ổn định của các ngân hàng thương mại việt nam trong bối cảnh tham gia hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên thái bình dương
Bảng 3.1 Tóm tắt các biến trong mô hình hồi quy và tương quan kỳ vọng (Trang 95)
Bảng 4.1: Thống kê một số chỉ tiêu cơ bản - Năng lực cạnh tranh và mức độ ổn định của các ngân hàng thương mại việt nam trong bối cảnh tham gia hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên thái bình dương
Bảng 4.1 Thống kê một số chỉ tiêu cơ bản (Trang 107)
Bảng 4.4: Tỷ lệ tín dụng tiêu dùng so với GDP giữa các quốc gia CPTPP - Năng lực cạnh tranh và mức độ ổn định của các ngân hàng thương mại việt nam trong bối cảnh tham gia hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên thái bình dương
Bảng 4.4 Tỷ lệ tín dụng tiêu dùng so với GDP giữa các quốc gia CPTPP (Trang 125)
Bảng 4.5: Tỷ lệ vốn trên tài sản của hệ thống ngân hàng trong nhóm CPTPP - Năng lực cạnh tranh và mức độ ổn định của các ngân hàng thương mại việt nam trong bối cảnh tham gia hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên thái bình dương
Bảng 4.5 Tỷ lệ vốn trên tài sản của hệ thống ngân hàng trong nhóm CPTPP (Trang 127)
Bảng 4.6: Quy mô hệ thống ngân hàng và tỷ lệ CAR của nhóm CPTPP năm 2018 - Năng lực cạnh tranh và mức độ ổn định của các ngân hàng thương mại việt nam trong bối cảnh tham gia hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên thái bình dương
Bảng 4.6 Quy mô hệ thống ngân hàng và tỷ lệ CAR của nhóm CPTPP năm 2018 (Trang 128)
Bảng 4.8: Tỷ lệ tín dụng tiêu dùng so với GDP giữa các quốc gia CPTPP - Năng lực cạnh tranh và mức độ ổn định của các ngân hàng thương mại việt nam trong bối cảnh tham gia hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên thái bình dương
Bảng 4.8 Tỷ lệ tín dụng tiêu dùng so với GDP giữa các quốc gia CPTPP (Trang 132)
Bảng 4.10: Mật độ máy ATM phân bố trong các nước CPTPP - Năng lực cạnh tranh và mức độ ổn định của các ngân hàng thương mại việt nam trong bối cảnh tham gia hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên thái bình dương
Bảng 4.10 Mật độ máy ATM phân bố trong các nước CPTPP (Trang 134)
Bảng 4.9: Mật độ chi nhánh ngân hàng thương mại phân bố trong CPTPP - Năng lực cạnh tranh và mức độ ổn định của các ngân hàng thương mại việt nam trong bối cảnh tham gia hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên thái bình dương
Bảng 4.9 Mật độ chi nhánh ngân hàng thương mại phân bố trong CPTPP (Trang 134)
Bảng 4.14: Tóm tắt kết quả hồi quy cho mô hình đo lường năng lực cạnh tranh - Năng lực cạnh tranh và mức độ ổn định của các ngân hàng thương mại việt nam trong bối cảnh tham gia hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên thái bình dương
Bảng 4.14 Tóm tắt kết quả hồi quy cho mô hình đo lường năng lực cạnh tranh (Trang 142)
Bảng 4.16: Tương quan giữa các biến trong mô hình ước lượng Zscore - Năng lực cạnh tranh và mức độ ổn định của các ngân hàng thương mại việt nam trong bối cảnh tham gia hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên thái bình dương
Bảng 4.16 Tương quan giữa các biến trong mô hình ước lượng Zscore (Trang 150)
Bảng 4.17: Kết quả hồi quy mô hình ước lượng mức độ ổn định của 31 NHTM VN - Năng lực cạnh tranh và mức độ ổn định của các ngân hàng thương mại việt nam trong bối cảnh tham gia hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên thái bình dương
Bảng 4.17 Kết quả hồi quy mô hình ước lượng mức độ ổn định của 31 NHTM VN (Trang 153)
Bảng 4.20. Tóm tắt kết quả hồi quy tác động của cạnh tranh lên ổn định ngân hàng - Năng lực cạnh tranh và mức độ ổn định của các ngân hàng thương mại việt nam trong bối cảnh tham gia hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên thái bình dương
Bảng 4.20. Tóm tắt kết quả hồi quy tác động của cạnh tranh lên ổn định ngân hàng (Trang 159)
Bảng 4.22: Tóm tắt kết quả hồi quy mô hình ZscoreMH2 - Năng lực cạnh tranh và mức độ ổn định của các ngân hàng thương mại việt nam trong bối cảnh tham gia hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên thái bình dương
Bảng 4.22 Tóm tắt kết quả hồi quy mô hình ZscoreMH2 (Trang 165)
Bảng 4.25: Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ khối CPTPP giai đoạn 2010 - 2018 - Năng lực cạnh tranh và mức độ ổn định của các ngân hàng thương mại việt nam trong bối cảnh tham gia hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên thái bình dương
Bảng 4.25 Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ khối CPTPP giai đoạn 2010 - 2018 (Trang 180)
Bảng 4.30: Tỷ lệ cấp tín dụng hệ thống ngân hàng khối CPTPP giai đoạn 2017 – 2018 - Năng lực cạnh tranh và mức độ ổn định của các ngân hàng thương mại việt nam trong bối cảnh tham gia hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên thái bình dương
Bảng 4.30 Tỷ lệ cấp tín dụng hệ thống ngân hàng khối CPTPP giai đoạn 2017 – 2018 (Trang 193)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w