GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM HỌC VIỆN PHẬT GIÁO VIỆT NAM TẠI TP HCM ĐỀ THU HOẠCH GIỮA CUỐI KỲ MÔN PHẬT GIÁO VÀ TRỊ LIỆU ĐỀ TÀI TRỊ LIỆU QUA GÓC NHÌN TỪ KINH PHÁP HOA PHẨM PHÁP SƯ Giảng viên phụ trách N[.]
Trang 1ĐỀ THU HOẠCH GIỮA CUỐI KỲ MÔN: PHẬT GIÁO VÀ TRỊ LIỆU
ĐỀ TÀI
TRỊ LIỆU QUA GÓC NHÌN TỪ KINH PHÁP HOA PHẨM
PHÁP SƯ
Giảng viên phụ trách: NS.TS.TN Hương Nhũ &
TS Lương Thị Thu Hường
Sinh viên thực hiện:
Pháp danh:
Mã sinh viên:
Lớp: ĐTTX Khóa VI Chuyên ngành: Triết Học Phật Giáo
Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2023
Trang 2PHẦN MỞ ĐẦU
Mấy năm trở lại đây, số lượng các bạn trẻ và những người trí thức đến với Phật giáo ngày càng nhiều.Họ tìm đến đạo Phật với nhiều mục đích khác nhau; nhưng hầu hết có mẫu số chung là thấy được nền minh triết của đạo Phật mang tính giá trị tâm linh thực tiễn đối với cuộc sống Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn nhiều người gán cho Phật giáo là tôn giáo chủ trương theo học thuyết khổ đau Theo quan niệm của họ, Phật giáo là tôn giáo chỉ dành riêng cho những người già cả, những kẻ chán đời và là tôn giáo chỉ phục vụ cho tín ngưỡng cầu an, cầu siêu Có lẽ câu nói mang tính cách phiến diện “Đời là bể khổ” là câu nói quen thuộc khi người ta nhắc đến Phật giáo.Nếu chúng ta biết sống thiểu dục tri túc, không chấp ngã và dục vọng vị kỷ hay những phiền não chi phối ngự trị trong tâm thì cuộc đời an lạc, hạnh phúc.Thật ra, Phật giáo là tôn giáo của thực tiễn, nhìn sự vật hiện tượng mang tính chất khách quan Phật giáo không ru bạn ngủ vào một thiên đường ngụy tạo và không làm bạn sợ hãi và tội lỗi do tưởng tượng Phật giáo chỉ cho ta một cách khách quan ta là ai và thế giới xung quanh ta là gì, và chỉ cho chúng ta con đường để đi đến sự tự do đích thực, và hạnh phúc tối thượng Kinh Pháp Hoa là một trong những bộ kinh lớn của hệ thống Kinh tạng Đại thừa Phật giáo, được các học giả phương Tây cho là một trong hai mươi Thánh thư phương Đông Kinh Pháp Hoa xuất hiện vào khoảng cuối thế kỷ thứ II,Bố cục của kinh Pháp Hoa được trình bày theo hình thức chương, hồi Toàn kinh có 7 quyển và 28 Phẩm Chúng ta cũng thấy rằng kinh Pháp Hoa tuyên thuyết thông điệp chính: Cái chủ đích quan trọng nhất của chư Phật hướng dẫn chúng sanh đi vào con đường Phật thừa, tức là con đường Khai, Thị, Ngộ, Nhập cái tri kiến của Phật Tri kiến Phật là cái thấy biết thông suốt thực tướng của vạn pháp thực tướng ấy theo pháp hoa là
10 như thị.Mười như thị là 10 phương diện tiêu biểu của các pháp ,biểu hiện ấy điều do
nhân duyên sinh chúng là vô tự tánh.Để làm được việc ấy việc tìm hiểu về TRỊ LIỆU QUA GÓC NHÌN TỪ KINH PHÁP HOA PHẨM PHÁP SƯ là việc hết sức quan
trọng.Với bố cục bài nghiên cứu gồm ba phần:Phần mở đầu,nội dung và kết luận,cộng với kiến thức còn hạn chế học viên đi sâu vào phần tích nguyên nhân khổ đau từ đó tập trung đưa ra phương pháp trị liệu qua phẩm pháp sư công đức
PHẦN NỘI DUNG
1.Nguyên nhân khổ đau:
Cái nguyên nhân chính là dục tức là lòng ham muốn không có giới hạn như biển sâu không đáy Con người khổ vì ham muốn sống đời không chết nên cố luyện trường sanh bất tử, ham muốn chiếm đoạt, ham muốn khoái lạc về vật chất lẫn tinh thần, ham muốn tình cảm, nói tóm lại con người ham muốn đủ thứ hết dù phải rơi vào vòng tội lỗi Tham, sân, si, mạn, nghi và ác kiến là những nguyên nhân dẫn đến khổ đau của kiếp người.Có hai loại muốn mà ai cũng có thể bị nó chi phối là tham muốn và mong muốn Tham muốn
là sao? Là nhất quyết muốn cho bằng được, nếu không được thì bất mãn, tức tối, khó chịu; phiền muộn, giận dỗi phát sinh và tìm cách chiếm đoạt Do đó, tham muốn càng nhiều thì càng phát sinh các thứ phiền não vì tham muốn mà không được như ý, nếu được thì tham càng thêm tham, nếu tham không được thì sinh ra giận hờn, khó chịu rồi tìm cách trả thù Như chúng ta đã biết, ít ai trong cuộc đời này sống không tham muốn Có sự sống là có tham muốn, nhưng tham muốn nhiều hay ít là tùy theo sở thích của mỗi người
mà thôi Tham có nghĩa là tham lam, ích kỷ, nhỏ mọn, làm cái gì cũng muốn đem về cho riêng mình, dù có của dư thà để mục nát chứ không dám đem ra giúp đỡ một ai Mong muốn có nghĩa là mong cầu, ước mơ, nếu có cũng được, không có cũng không sao Tham
Trang 3muốn và mong muốn khác nhau ở chỗ đó, một đàng muốn cho bằng được, nếu không được thì nổi giận, oán hờn, tìm cách trả đũa và quyết tâm chiếm đoạt cho mình nên bất chấp luân thường đạo lý, có khi cũng phải giết người để thỏa mãn lòng tham muốn Trong cuộc sống này chúng ta có quyền ước mơ, mong muốn chớ đừng nên tham muốn quá đáng mà làm khổ đau cho nhau Khi tham muốn được rồi lại muốn nhiều thêm nữa, muốn mà không được thì sinh ra sân hận tìm cách trả thù Con người khi thiếu thốn quá cho rằng đó là khổ, bởi thiếu thốn nên ta mong muốn có được đầy đủ, nhưng mong muốn
mà không được như ý là khổ, được rồi lại mất càng khổ hơn, mọi đau khổ ở đời đều do nguyên nhân chính là dục Thân xác chúng ta luôn luôn có những nhu cầu cần được thoả mãn như: ăn no, mặc ấm, ngủ nghỉ thoải mái, vui chơi giải trí nhà cao cửa rộng là những điều kiện mà ta cho là hạnh phúc, rồi đến các nhu cầu sinh hoạt khác như hưởng thụ khoái lạc, danh vọng, chức tước và quyền lực.Vì cuộc sống này như vậy nên chúng ta không thể làm khác được, còn sự sống là còn có tham muốn, nhưng ta phải tham muốn thế nào cho phải lẽ Ở đây Phật vì lòng từ bi chỉ cho ta biết thân-tâm này không thật ngã
để mọi người bớt luyến ái, chấp trước mà làm khổ cho nhau Thật ra, đã làm người khó
có ai muốn ít biết đủ, chỉ một bề mong cầu được nhiều mà không bao giờ nhàm chán Tham muốn càng nhiều thì tội lỗi càng phát sinh, càng gây ân oán, hận thù cho nhau không có ngày thôi dứt.Do vô minh mà sinh ra vọng động Do có vọng động mà sinh ra vọng thức Do có vọng thức mà sinh ra phân biệt có đủ thứ ta, người, chúng sinh Do có
sự phân biệt ta người, mà sinh ra xúc chạm Do có sự xúc chạm mà sinh ra cảm thọ Do
có cảm thọ mà sinh ra tham ái, luyến tiếc, và từ đó bám víu, dính mắc vào sự hiện hữu
của nó, nên sống chết, khổ não, ưu sầu, buồn lo đủ thứ Một khi con người sân hận, cộng
với giận hờn mà không đủ khả năng hóa giải, thì lâu ngày trở thành thù ghét, do đó lúc nào cũng muốn tìm cách trả thù hay rửa hận Giận là lời nói tắt của từ nóng giận, hờn là
từ nói tắt của chữ hờn mát, gọp chung lại là giận hờn.Sân hận có nghĩa là giận hờn Khi chúng ta giận hờn ai đó mà cứ ghìm mãi trong lòng thì lâu ngày trở nên thù hằn, ghét bỏ,
âm ỉ tìm cách trả thù thích đáng, khi có cơ hội là ra tay liền Giận hờn là một thói quen xấu có tính cách hại người, hại vật, dù nặng hay nhẹ thì chắc chắn cũng làm tổn hại đến những người xung quanh Không phải ai khi đã thức tỉnh chỉ một lúc là các tập khí, thói quen xấu dứt trừ được hết Kết quả còn tùy theo sự huân tập tật xấu nhiều hay ít của mỗi người
2.Các phương pháp thực hành theo phẩm pháp sư :
2.1 Vào nhà Như Lai
Chúng sanh ở trong tam giới là một cái nhà do nghiệp mình tạo ra, đó là những nghiệp hữu lậu, tham sân si phiền não Bây giờ người muốn nói kinh Pháp Hoa thì đừng ở trong nhà đó, mà phải lấy tâm từ bi làm nhà Từ là cho niềm vui, bi là cứu nạn khổ Cho vui khi thấy chúng sanh yên lành, cứu khổ khi thấy chúng sanh đau khổ Như ba mẹ thấy con vui khỏe mạnh thì cho thêm áo, giầy làm cho nó vui hơn, hay hoan hỶ với nó, đó là lòng từ.Nhưng khi nó đau ốm thì săn sóc, cho thuốc men, cơm cháo là bi Đức Phật cũng vậy, đối với chúng sanh đã có nghiệp quả tốt, Ngài dùng Từ để giáo hóa, vì cái tốt trong tam giới chưa phải giải thoát, nên Ngài đem những thiện pháp xuất thế khiến cho họ tiến tu,
đó là lòng Từ Nhưng đối với những chúng sanh bị nghiệp chướng đau khổ trói buộc, thì Phật dùng những pháp môn dạy chúng ta tu để trừ nghiệp chướng, để hết đau khổ, đó là
Bi Nhưng thực hiện lòng từ bi đó không phải một ngày, hai ngày mà thành được Kinh
đã chia ra ba cấp bực từ bi là :
1 Chúng sanh duyên từ
2 Pháp giới duyên từ, hay đồng thể đại bi
3 Vô duyên từ hay Vô duyên đại từ
Trang 4Chúng sanh duyên từ: Là lòng từ bi còn tướng đối đãi, có duyên mới phát khởi, ví dụ có thấy chúng sanh đau khổ mới phát lòng thương, khi cảnh khổ qua rồi thì tâm từ bi cũng lặn mất Lòng từ bi có sinh diệt đối đãi ấy, gọi là chúng sanh duyên từ.Pháp giới duyên từ: Là Phật, Bồ-tát thấy rằng tất cả chúng sanh sinh tồn đều có tương quan mật thiết với nhau Ví dụ: Một người đi buôn, một người làm ruộng, một thầy giáo, một học sinh, một người nội trợ Những người này nếu nhìn một cách phiến diện, chúng ta thấy họ không tương quan gì với nhau, vì mỗi người làm một công việc Nhưng sự thật thì tất cả những người ấy đều có tương quan sinh tồn, giúp đỡ lẫn nhau.Hiểu được như vậy, thì không còn cái tánh bất chấp quyền lợi chung mà bảo vệ quyền lợi riêng rẽ Cái biết của chúng ta hiện tại, chẳng hạn như biết làm toán, là nhờ những người trong quá khứ hoặc đã qua đời, hoặc đã đi chỗ khác Đức Phật tuy đã diệt độ mà giáo lý của Ngài vẫn còn tác dụng giúp chúng sanh giác ngộ, vẫn là một duyên lành, một làn gió mát cho những ai thực hành theo Như vậy, giữa Phật và chúng sanh, giữa những người trong một quốc gia hay rộng hơn, nhân loại trên thế giới, suy cho cùng đều có tương quan với nhau, gọi là trùng trùng duyên khởi, hay pháp giới, tức là cái nguyên lý nương nhau mà thành tựu.Căn cứ trên lý
"Pháp giới trùng trùng duyên khởi" đó mà phát lòng từ bi thì gọi là pháp giới duyên từ, hay đồng thể đại bi Lý trùng trùng duyên khởi này luôn luôn hiện hữu nơi sự vật, chúng không bao giờ gián đoạn, hay có hạn lượng, nên từ bi căn cứ trên đó cũng không có sinh diệt, hạn lượng, không phân biệt mình người, thân, sơ, loài người hay loài vật Hoặc mình
có Phật tánh, các người khác, chúng sanh khác cũng đều có Phật tánh.Mình và người khác, chúng sanh khác tuy cách biệt sang hèn nhưng Phật tánh thì vốn đồng nhất thể Cũng như cánh tay mặt, cánh tay trái, tuy khác nhau nhưng đồng một thân thể Vậy khi cánh tay trái bị thương, tay phải xức thuốc là dựa trên tính đồng nhất thân thể đó mà làm, chứ không phải phân biệt bỉ thử Đồng thể đại bi cũng vậy.Cao hơn tất cả là Vô duyên từ:
Là lòng từ bi hoàn toàn không dựa vào một lý lẽ nào để phát khởi, không chờ đợi đối tượng, vô điều kiện Như mặt trời chiếu sáng, không tính toán lựa chọn chỗ này thì chiếu xuống, chỗ kia không chiếu xuống Hai đức từ bi sau này bao la như vũ trụ của chư Bồ-tát và Phật, còn Phật tử chúng ta thì chỉ thực hành chúng sanh duyên từ, nhưng đấy cũng
là những mục tiêu mà chúng ta mong mỏi hướng đến, để sau này cũng sẽ có được pháp giới duyên từ và vô duyên từ như chư Phật và Bồ-tát Để phát triển và hành trì miên mật tâm từ, hành giả cần dung hòa giữa từ bi và trí tuệ Cần hiểu theo trí tuệ rồi mới thương bằng lòng từ Hành giả cũng cần hiểu rõ bản thân về khả năng và năng lực chính mình, đồng thời đi đôi với điều này, người tu tập cũng cần am tường điểm yếu của mình Đôi khi vì quá thương người theo cảm tính, dần dần hành giả đẩy người được giúp đỡ luôn dựa dẫm, không tự mình vươn lên và ngày càng nhiều những người chuyên sống dựa vào người khác, trong khi mình vẫn có khả năng.Con đường tu tập tâm từ luôn phải song hành cùng tinh thần phụng sự, độ tha nếu không hành giả trở thành người nhu nhược, yếu đuối lấy từ bi che chắn khi đối diện chướng duyên Tùy từng người tu mà có những cấp
từ bi khác nhau Tâm chưa đủ rộng lớn, bao dung thì không nên ngượng ép, điều này không đem đến lợi ích mà ngược lại tạo nên áp lực nặng nề lên chính mình Vì vậy, mỗi hành giả cần luyện tập từng giờ, từng phút, từng ý niệm đến mỗi câu nói hành động đều toát lên từ bi, trí tuệ Dù biết từ bi luôn có sẵn trong tâm mỗi người, nhất là những ai đã hướng đến con đường Thánh vị nhưng khi bắt đầu hành trì, áp dụng trong cuộc sống đòi hỏi nhiều thử thách Chúng ta trên cuộc này đều có biệt nghiệp riêng, người hành trì và những người được hướng đến đều bị chi phối ít nhiều, để khiến họ thay đổi hành động của họ là điều không hề đơn giản khi họ chưa thực muốn đổi Tâm từ bi của người hành trì có thể đạt đến mức độ nào đó nhưng không thể sánh như Đức Phật, người đã đạt cảnh giới cao tột Khi không nhận định điều này, chúng ta dễ nhầm lẫn và dẫn đến rơi vào ảo
Trang 5tưởng Để đạt được như Đức Phật cần nhiều yếu tố Điển hình, khi đã có tâm từ nhưng điều quan trọng không thể thiếu đó chính là năng lực duy trì năng lượng từ bi đó không ngằn mé, không điều kiện vụ lợi, vượt không gian, thời gian, không thoái thất tâm ban đầu, điều này không hề đơn giản Điều cần nhận rõ rằng chính bản thân chúng ta vẫn còn nhiều chướng ngại, niệm chấp thân ta, người thân thuộc, người ghét ta, người ta không thương vẫn luôn hiện hữu trong ý niệm khởi lên Khi rải tâm từ luôn đòi hỏi phải giữ tâm
Bồ đề, hai điều này phải luôn song hành, nếu không sự viêc trở nên vô nghĩa.Điều kiện không thể thiếu khi hành tâm từ đó là tâm bi, tâm hỷ và tâm xả tức là sự kết hợp Tứ vô lượng tâm Sự kết hợp này mới đem đến kết quả tốt đẹp trong các trường hợp trong cuộc sống khi rải tâm từ Đức Thế Tôn dạy: “Với phương tiện nào chúng ta thỉnh thoảng đạt được và an trú hỷ do viễn ly sanh” [1] Tâm tùy hỷ, vô cầu, vui với thành công người khác, hoan hỷ chơn chánh, không phải vì tài vật, đau khổ người khác hay tự cao về chiến thắng của mình Niềm hoan hỷ sâu lắng, tận đáy lòng với thành tựu từ tu tập tâm từ cộng với niệm xả không còn vướng mắc Khi còn những niệm chúng sanh trong tâm, thật khó thoát khỏi tam độc (tham, sân, si) chi phối khiến tâm ta không chỉ bị kẹt vào các niệm triền cái như nghi, mạn, kiêu mạn mà còn vướng chấp vào phước thiện đạt được do công phu, tu tập, kết quả đạt được do rải tâm từ “Hoan hỷ chỉ có đến/ Với người tâm sầu muộn/ Sầu muộn chỉ có đến/ Với người tâm hoan hỷ…” [2] Hành giả sống với niệm xả, không ôm ấp những hoan hỷ hay sầu muộn, cũng không hoài tưởng quá khứ, mơ tưởng tương lai Chính tâm xả góp phần thành tựu tâm từ, chánh niệm, tỉnh giác, hiện tại lạc trú
Tứ vô lượng tâm từ, bi, hỷ, xả là những tố chất căn bản tạo nên phẩm hạnh người tu Phật Rải tâm từ cũng là phương pháp tu tập, pháp môn hành trì của người con Phật, đặc biệt là hàng xuất gia Đức Phật giảng dạy:“Vị ấy an trú, biến mãn một phương với tâm câu hữu với từ, cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư Như vậy, cùng khắp thế giới, trên dưới bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới,
vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với từ, quảng đại, vô biên, không hận, không sân” [3] Sau khi giảng về phương pháp tu tâm từ, Đức Phật cũng giảng tương tự như vậy với tâm bi, tâm hỷ, tâm xả Nhờ bốn tâm này kết hợp với nhau, sự tu tập dễ dàng thăng tiến,
Bồ đề tâm ngày càng quảng đại, rộng lớn, muội lược tham, sân, si.Tu tập tâm từ đối với người thân, người ta kính mến, sau đó hành giả thực tập rải tâm này hướng đến những nguời khác, đến chúng sinh, muôn loài Dựa vào công phu chuyên nhất, huân tập trong từng sát na qua thân, khẩu, ý, từ đó mở rộng từ tâm, yêu thương, không sân hận để chuyển hóa hữu tình có duyên với chúng ta Năng lực có được nhờ tâm từ rộng lớn có thể chuyển hóa chính người tu tập và cả chúng hữu tình được hướng đến, điều này hoàn toàn tương ứng với thuyết nhân quả nghiệp báo trong Phật giáo Những nghiệp bất thiện mà chúng ta đã gây ra hay nghiệp bất thiện do mỗi chúng hữu tình đã gây tạo sẽ muội lược dần vì nghiệp báo vốn không phải là định mệnh Do đó, công đức, phước báu nhờ ban rải tâm từ, mở rộng yêu thương, niệm lành có thể chuyển các nghiệp đã tạo theo hướng tốt hơn Tâm từ luôn có mặt hiện hữu đối với chư Phật, Bồ-tát và từ bi cũng chính là nguồn cội của các pháp lành cần tu tập đối với tất cả đệ tử Phật dù là xuất gia hay tại gia Giữ tâm luôn an vui, không cho khởi lên những niệm sân, hành giả rải tâm từ đến người khác ngay cả người ác ý với mình Khi chính ta có từ bi mới ban rải đến người khác và như vậy họ mới cảm nhân được và chuyển hóa
2.2.Mặc y Như Lai
Muốn thoát khỏi cảnh sân si, tật đố, cần phải nhu hòa nhẫn nhục mới bình tĩnh để đối phó, chứ mình nóng nảy đáp lại thì không khác gì đổ dầu thêm vào lửa Nhưng nhẫn nhục của đức Phật là nhẫn nhục trong trí tuệ sáng suốt, nhẫn để giáo hóa, như khi Ngài hỏi lại
kẻ đã mắng nhiếc mình Đức nhẫn này rất cần để vượt mọi khó khăn Nhẫn nhục là một
Trang 6hạnh lành, một thái độ khiêm cung, và còn là một lối sống đẹp, dể thương Theo kinh Di giáo, Đức Phật dạy: “Này các đệ tử, nếu có ai xúc phạm, thương tổn thân thể các vị, các
vị nên kiềm chế tâm mình, đừng để lửa sân hận thiêu đốt Lại phải giữ lời ăn, tiếng nói, đừng buông lời ác độc để trả đũa ai Tâm sân hận trỗi dậy sẽ làm băng hoại đạo nghiệp, cháy hết công đức tu tập Đức tánh của kham nhẫn thì giữ giới và khổ hạnh cũng không thể sánh bằng Thực hành đức nhẫn mới xứng danh là bậc Thượng nhân có sức mạnh Người nào chưa có thể chịu đựng sự nhục mạ một cách hoan hỷ, như uống cam lộ, thì chưa thể xứng danh là người vào đạo có trí Sự sân hận sẽ thiêu hủy tất cả pháp lành, nó nguy hiểm hơn lửa dữ Các vị phải canh phòng cẩn mật, đừng cho sân hận xâm nhập Trong các loại giặc cướp công đức thì sân hận là nguy hiểm bậc nhất Người thế gian sống thọ hưởng dục lạc, thiếu phương pháp chế ngự, nếu có sân hận còn có thể tha thứ được Người xuất gia hành đạo loại bỏ mọi thú vui của đời mà không loại bỏ được sân hận thì thật đáng trách, cũng giống như bầu trời quang đãng mà có sấm sét nổi lên là điều không thích hợp”[4].Nhẫn có ba thứ
Nại oán hại nhẫn: Nhẫn trước lời sỉ nhục thù hằn, chuyên gây khó khổ của loài người khác đối với mình
Kham thọ khổ nhẫn: Nhẫn đối với những vật vô tình đem lại thọ khổ cho chúng ta như nóng, lạnh, đói, khát Nếu người hành đạo nửa chừng bỏ tu vì không chịu nổi những chướng duyên này, ấy là vì không kham nhẫn
Vô sanh pháp nhẫn: Cái nhẫn cao nhất Vì biết các pháp vốn vô sanh Đã vô sanh thì lời mắng nhiếc sỉ nhục của người ta nói với mình cũng vô sanh Ví dụ câu nói: "Anh
là đồ ngu", mỗi đơn từ không phải lời mắng, chỉ vì chúng ta đem tâm phân biệt so đo ráp
nó lại, chấp cái vô sanh làm sanh, nên mới khó chịu Nếu biết rõ thực tính của nó là vô sanh, thì nó không thành một lời mắng, lấy đâu mà giận mà khổ Mọi sự khác cũng vậy, đều vô sanh Tin được điều đó thì không thấy có điều nhục đế mà nhẫn gọi là vô sanh pháp nhẫn.Trong kinh Pháp cú, Ðức Phật dạy:
Chư Phật thường giảng dạy;
Nhẫn, khổ hạnh tối thượng, Niết-bàn, quả tối thượng;
Xuất gia không phá người;
Sa-môn không hại người Pháp môn kham nhẫn có thể được mô tả như một kỹ thuật tuyệt vời nhất, nhằm đương đầu với mọi hoàn cảnh gồm cả ba phạm trù trên Có rất nhiều tình huống trong cuộc đời này không thể giải quyết bằng một cách nào khác ngoại trừ kham nhẫn và tha thứ, bằng
sự nhẫn nại chịu đựng Những ai thường thiếu kiên nhẫn, không chịu đựng nổi những lời nói thô lỗ ác độc, những mất mát đau thương… những người ấy cũng khó kềm giữ được mình trước những thành công, sung túc và danh dự trong cuộc đời.Do đó, ta cần phải học cách kham nhẫn Nhờ thế, ta mới có thể sống một cuộc sống quân bình, có tiết độ và điềm đạm Kham nhẫn như một hình thức biểu lộ của sự tác ý chơn chánh, thực sự là một
vũ khí mạnh mẽ có thể được vận dụng một cách sắc bén để đương đầu với mọi thách thức
2.3 Ngồi Toà Như Lai
Ngồi là an trú, tòa Như Lai là nhất thiết pháp không, "không" đây có nghĩa là vô tự tánh của các pháp Tất cả các pháp đều vô tự tánh, vì vô tự tánh nên bất khả đắc chứ không phải hoàn toàn là trống không Đức Phật an trú trong chân không đó nên gọi là ngồi tòa Như Lai Kinh Kim Cương nói: "có bao nhiêu chúng sanh Ta đều độ cho nhập vô dư Niết-bàn, diệt độ vô số vô biên chúng như vậy mà thật không thấy có chúng sanh nào được độ" Trọn đời Ngài độ sinh mà không thấy có chúng sinh nào được độ, nên sự
Trang 7thuyết pháp độ sinh mới viên mãn Vì nếu cứ trên mặt giả tướng mà nhìn, thì thấy chúng sanh nhiều vô cùng vô tận, biết đời nào độ cho hết? Nhưng đức Phật ở trong vô tự tánh, trong vô sanh của các pháp mà nhìn, nên không còn thấy tướng chúng sanh, lấy đâu có nhiều có ít? Cho nên Ngài nói pháp cho một người nghe thì cũng như nói cho nhiều người, vì Ngài đem tâm giác ngộ tâm bình đẳng mà nói pháp Đứng trên tâm niệm bình đẳng đó, thì dù chỉ có một người nghe, Ngài cũng không phiền muộn.Có nhiều người theo, Ngài cũng không hớn hở Chúng sanh nghe mà hoan hỷ phấn khởi, Ngài cũng không lấy đó làm mừng Nghe mà uể oải nhác nhớm Ngài cũng không bực bội Nghe mà dửng dưng Ngài cũng không chấp trước Thái độ bình đẳng giải thoát đó của đức Phật đối với ba hạng người nghe pháp như thế, gọi là ba niệm đại bi Nhờ Ngài đã ngộ nhất thiết pháp không, an trú trong đại bi tâm niệm đó, nên Ngài mới có thể nói pháp độ sanh suốt
45 năm, nếu không, việc giáo hóa độ sanh sẽ bị những người biếng nhác giải đãi, người không ưa, làm cho Ngài chán nản Phật dạy: "Người có trí tuệ tự tại sáng suốt, tránh khỏi hầm hố tội lỗi; trí tuệ chân thật là chiếc thuyền kiên cố, đưa chúng sinh khỏi biển khổ sông mê, là liều thuốc chữa được muôn ngàn bệnh tật, là chiếc búa sắt đập tan rừng phiền não, là lưỡi dao bén cắt đứt lưới vô minh"Khi nói đến trí tuệ, nhiều người tưởng lầm trí tuệ theo nghĩa trong đạo Phật cũng như sự thông minh hiểu biết của thế gian, và chỉ khác chăng là trí tuệ của Phật rộng rãi sáng suốt hơn Thật ra, sự thông minh hiểu biết của thế gian và trí tuệ của Phật có nhiều điểm sai khác rất đặc biệt và thù thắng Do sự sai khác
đó, giáo lý kinh điển Phật giáo phân biệt hai thứ trí tuệ: Trí tuệ thế gian và trí tuệ trong đạo Phật
1- Trí tuệ thế gian: là cái biết của thế gian, cái biết còn nhiều sai lầm, sơ sót khiến cho người ta cứ trôi lăn mãi trong ba cõi sáu đường.Trí tuệ thế gian có thể chia làm hai thứ: a) Có thứ thông minh láu lỉnh, thấy rộng biết nhiều, nhưng bất thiện; nó chỉ biết phụng sự cho dục vọng, ích kỷ, thỏa mãn bản ngã hẹp hòi, làm tay sai cho cái ác Cái biết này thật
là nguy hiểm hơn cả cái ngu si nữa, vì nó làm cho con người mất hết cả lương tri, ác hơn cầm thú Cho nên Đức Phật bảo rằng cái thông minh này là một cái nạn lớn trong tám nạn
b) Có thứ thông minh mẫn tiệp, hiểu biết đâu là thiện nên làm, đâu là ác nên tránh, biết làm những điều lợi ích cho mọi người và xã hội Tuy thế cái biết này cũng không giúp cho con người thoát ra ngoài vòng khổ não, luân hồi Vì thế cho nên gọi là trí tuệ thế gian
2- Trí tuệ trong đạo Phật cũng có hai thứ:
a) Hữu lậu trí: cái trí chưa có năng lực đoạn các phiền não hữu lậu Nghĩa là trong lúc ở địa vị phàm phu tu nhân, tuy dùng trí tuệ quán sát thân bất tịnh, thọ là khổ, tâm vô thường pháp vô ngã, nhưng rồi lúc nào cũng thấy là tịnh, là vui, là thường là thật ngã, còn bị phiền não hữu lậu lấn áp, không thể phá trừ được
b) Vô lậu trí: cũng gọi là Bát-nhã-trí; Trí này đã phá trừ các phiền não hữu lậu, đạt đến chỗ rốt ráo thanh tịnh, nhưng chỉ khi đặng thánh quả mới có; Trí này có hai phần:
+ Về phương diện "thể" tức là căn bản trí, cũng gọi là thật trí, vô phân biệt trí, như lý trí, chân trí v.v Kinh nói: "Như Lai dùng căn bản trí (vô phân biệt trí) duyên chân như, tâm
và cảnh không hai, không có năng sở", hay nói: "Dùng thật trí thấy rõ thật tướng của các pháp"
+ Về phương diện "dụng", tức là hậu đắc trí Sau khi đặng căn bản trí rồi mới có trí này, cũng gọi là quyền trí, sai biệt trí Kinh nói: "Đức Như Lai dùng quyền trí, thấu rõ các pháp sai biệt, giáo hóa chúng sinh"
Theo các Tổ thầy dạy, người ta sống trong đời như đi trong đêm tối, như chèo thuyền giữa biển mênh mông, không biết đâu là bờ bến Trí tuệ thế gian là ngọn đèn soi sáng
Trang 8khoảng đường ta đi, là địa bàn chỉ phương hướng cho ta đến Người hơn vạn vật, làm chủ được muôn loài là nhờ trí tuệ, nền văn minh tiến bộ về vật chất của nhân loại như ngày nay cũng nhờ trí tuệ.Nhưng dù văn minh đến đâu thì loài người cũng không vượt thoát được cảnh giới Ta-bà này, cũng vẫn còn đau khổ, vẫn còn chịu sự chi phối của bệnh tật, già yếu, chết chóc, sầu thương Muốn thoát khỏi cảnh khổ thế gian, phải nhờ trí-tuệ của Phật Theo các Tổ thầy dạy, trí-tuệ của Phật có nhiều công năng, diệu dụng khác với thế gian trí Dựa theo tính cách của công năng, diệu dụng ấy Duy thức học chia trí tuệ ra làm bốn loại, có bốn tên khác nhau: Khi ở địa vị phàm phu, còn trong mê muội, thì mỗi người
có 8 thức và 51 món tâm sở, đến khi chứng đặng Thánh vị thì tâm thức và 51 món tâm sở
ấy đều chuyển ra thành trí Thức thứ 8 là A-lại-gia, có công năng gìn giữ thân mạng, chủng-tử và thế giới Khi đạt đến địa vị vô lậu thì thức này biến thành "đại viên cảnh trí": Trí sáng suốt như bức gương lớn và tròn đầy, chỉ thị cho thể tánh chân như Để tránh sự lầm lẫn giữa trí thức thế gian và Trí tuệ của người tu đạo, trong cuốn sách nhỏ có tựa đề:
"Trí thức và Trí tuệ" của HT-Thiền sư Thích Thanh Từ (Nxb Tổng hợp Tp.HCM-ấn hành 2011) người viết bài này thấy Thiền sư phân tích về vấn đề nêu trên rất sâu sắc và hợp lẽ (bởi đây là hai khái niệm rất dễ nhầm lẫn) nên trong phần kết của bài viết này, xin dẫn đôi nét nhận xét của tác giả đề cập về nội dung trên trong cuốn sách để chúng ta cùng suy ngẫm: "Người đời thường gọi người trí thức là học giả hay nhà bác học Các danh xưng này được người đời quý trọng Với người tu trong đạo Phật, không chú trọng trí thức mà chú trọng trí tuệ; không nói học giả mà nói hành giả, không nói nhà bác học mà nói người được trí tuệ Vô lậu Bởi vì trí thức là do ý thức nhanh nhẹn khéo léo, so sánh phân biệt, đối chiếu rành rõ, khiến người nghe dễ nhận dễ hiểu Đó gọi là người trí thức Còn học giả là lượm lặt những hiểu biết của người khác, những cái hay, cái lạ góp nhặt
về chứa đựng rồi cho đó là kiến thức của mình Kế nữa là những nhà bác học nghiền ngẫm, tìm kiếm rộng rãi trong các ngành triết học, khoa học nghiên cứu phát minh những sáng tạo mới Như vậy, những nhà trí thức, học giả và bác học là nhắm thẳng vào
ý thức sinh diệt, tìm tòi lượm lặt bên ngoài, chứa nhóm lại thành kiến thức của mình, rồi
sử dụng trở lại kiến thức ấy Tất cả những sử dụng đó đều nhắm vào điều kiện vật chất, lo cho thân này, cảnh này Đó là lo trên phương diện sinh diệt (vô thường) được rồi lại mất."Ngược lại, người học Phật lấy Trí tuệ làm gốc Trí tuệ trong đạo Phật chia ra hai phần như đã nói ở phần trên: Một là trí tuệ hữu lậu, hai là trí tuệ vô lậu Trí tuệ hữu lậu là (văn, tư, tu); trí tuệ vô lậu là (giới, định, tuệ) Giới là phương tiện ban đầu để câu thúc, đừng cho tâm chúng ta phóng túng Từ Giới sanh Định, từ Định sanh Tuệ, trí tuệ đó không do học mà có, mà do chúng ta ứng dụng tu "Vì đức Phật thấy nơi mọi chúng ta sẵn có Tánh giác, chúng ta không cần kiếm ở bên ngoài mà "phản quan tự kỷ" tức nhìn lại mình cho tâm được an định Tâm an định thì ý thức lăng xăng lắng xuống, bấy giờ tánh giác sẽ hiện tròn đủ, không tìm kiếm ở đâu xa Từ định này sẽ hiện ra trí tuệ chân thật của chính mình Như vậy, trí tuệ chân thật cũng chính là tánh giác của chúng ta[5]
PHẦN KẾT LUẬN
Nguyên nhân của khổ là do ái dục (taṇhā) Ái có nghĩa là yêu hay ưa thích, dục là ham muốn Đức Phật ví sự nguy hiểm của ái dục như: khúc xương và con chó đói, miếng thịt trong đám diều hâu, tù nhân và hố than hừng, dục như tài sản vay mượn, như người cầm đuốc đi ngược gió, như con rắn độc, dục như giấc mộng… Ái dục không thể tự nhiên phát sinh Chúng ta không thể tự nhiên thích ai hay yêu mà chưa bao giờ gặp hay tiếp xúc với người đó Do sự tiếp xúc mà tham ái phát sinh Nói chung, do tham ái mà chấp thủ, bám víu vào đối tượng của tham ái Sự khát khao về dục lạc sẽ dẫn đến khổ đau, bởi vì
Trang 9lòng khát ái ấy không bao giờ thỏa mãn.Nguyên nhân sâu xa và căn bản hơn chính là vô minh Vì vô minh cho nên không nhận ra bản chất của sự vật hiện tượng đều là vô thường, biến đổi, chuyển biến, không nhận diện được tất cả mọi thứ đều nương vào nhau
mà sanh khởi, không có cái chủ thể, cái tồn tại độc lập trong chúng Vì vô minh nên nghĩ tưởng sai lầm chấp ta, của ta, tự ngã của ta, vì nghĩ tưởng sai lầm nên giận hờn vu vơ, ích
kỷ, bực bội, khó chịu hay gọi là phiền não Vì phiền não nên tạo ra những hành động bất thiện Tạo nghiệp bất thiện thì kết quả khổ đau.Phương pháp diệt khổ của đạo Phật có rất nhiều nhưng tựu trung có thể nói là Bát Chánh đạo hay tóm tắt vào ba nhóm chính yếu sau đây:
a Nhóm thứ nhất thuộc về đạo đức
- Ngôn từ đúng đắn: Nghĩa là không nói những lời đưa đến đau khổ, chia rẽ, hung bạo, căm thù Nói những lời đưa đến sự chuyển hóa khổ đau, thương yêu, từ tâm, chân thật, lợi ích
- Hành động đúng đắn: Không có hành vi giết hại, lừa gạt, trộm cắp, tà dâm Thực tập nuôi dưỡng lòng từ bi đối với người mình thương và chính ngay cả người làm mình khổ đau mệt mỏi, mở rộng vòng tay để dấn thân phụng sự giúp đời
- Phương tiện sinh sống đúng đắn: Nghề nghiệp chân chính, không sống bằng những nghề phi pháp, độc ác, gian xảo
b Nhóm thứ hai thuộc về thiền định
- Nỗ lực đúng đắn: Nghĩa là ngăn chặn những điều ác chưa sanh và đã sanh, cố gắng nuôi dưỡng và phát huy những tâm thức lành mạnh, tốt đẹp vốn đã sanh và chưa sanh
- Nhớ nghĩ đúng đắn: Đừng tìm về quá khứ khổ đau hay hướng tâm tới những tương lai hão huyền, nhớ các pháp bất thiện, đừng cho các đối tượng bất chính dẫn mình đi phiêu bạt An trú vào tâm ý thiện lành ngay giây phút hiện tại
- Tập trung tư tưởng đúng đắn: Nghĩa là đừng để tâm thức chúng ta bị phóng dật, rối loạn, tập trung vào thiền định để làm an tịnh tâm thức một cách đúng đắn, có hiệu quả phát triển tuệ giác
c Nhóm thứ ba thuộc về trí tuệ
- Thấy và hiểu đúng đắn: Nhận thức đúng về đạo đức của cuộc sống, cái nào thiện và bất thiện Hiều đúng về sự vật là vô thường, vô ngã, duyên sanh Nhận thức rõ bản chất của khổ, nguyên nhân, sự diệt khổ và con đường đưa đến hết khổ
- Suy nghĩ đúng đắn: Tâm hướng về sự buông bỏ, yêu thương giúp đỡ mọi người, bất bạo động, nhẫn nhục, tâm giải thoát
Nói tóm lại, cuộc đời này không phải là bể khổ, mà cũng không phải vui sướng Khổ hay không là do tâm mình; nếu như tâm mình đầy tham lam, sân hận, si mê, chấp thủ, nhận thức sai lầm thì khổ là điều hiển nhiên Và ngược lại, nếu chúng ta biết sống thiểu dục tri túc, không chấp ngã và dục vọng vị kỷ hay những phiền não chi phối ngự trị trong tâm thì cuộc đời an lạc, hạnh phúc Cụ thể hơn, chúng ta ứng dụng và thực hành Bát Chánh đạo
để diệt trừ vô minh ái dục là phương pháp hữu hiệu nhất.Cần khẳng định rằng, Phật giáo không phải là tôn giáo của bi quan hay lạc quan mà là tôn giáo của sự thực tiễn, vì Phật giáo mang một cách nhìn về cuộc đời và thế gian một cách thực tế Đức Thế Tôn xuất hiện giữa cuộc đời “Như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối ”.4 Đức Phật không những tìm ra nguyên nhân căn bệnh của chúng sinh mà còn để lại một nền minh triết đồ sộ, kho tàng dược liệu để chữa trị bệnh khổ đau cho chúng sinh Học Phật là phát huy tuệ giác, có thái độ sáng suốt, tích cực, từ bi, dám đối diện với sự thật để giải quyết tận gốc những khổ đau cũng cuộc đời, chứ không sống trong giả vờ đối đãi hay lạc quan để tự lừa dối mình
Trang 10Chú thích
[1] HT Thích Minh Châu (dịch), Kinh Tăng Chi Bộ II, chương 5, VNCPHVN ấn hành,
1996, tr.644
[2] HT Thích Minh Châu (dịch), Kinh Tương Ưng Bộ I, chương 2, VNCPHVN ấn hành,
1993, tr.124
[3] HT Thích Minh Châu (dịch), Kinh Trung Bộ I, Kinh Ví Dụ Tấm Vải, Nxb Tôn giáo,
2018, tr.63
[4] Nhẫn nhục có ích gì? https://giacngo.vn/tuvantamlinh/ tuvan/2020/02/07/375098/ [5] Trí thức và Trí tuệ - Hoà thượng Thích Thanh Từ - (Nxb Tổng hợp Tp.HCM-2011)
Hết