TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG XÃ HỘI (CSII) KHOA CÔNG TÁC XÃ HỘI BÀI TIỂU LUẬN MÔN TÂM LÝ HỌC LAO ĐỘNG Chủ đề THỰC TRẠNG VỀ XÂY DỰNG CHẾ ĐỘ LAO ĐỘNG VÀ NGHỈ NGƠI HỢP LÝ CHO CÔNG NHÂN TẠI XÍ NGHIỆP TRONG ĐẠI[.]
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG - XÃ HỘI (CSII)
KHOA CÔNG TÁC XÃ HỘI
BÀI TIỂU LUẬN MÔN TÂM LÝ HỌC LAO ĐỘNG
Chủ đề THỰC TRẠNG VỀ XÂY DỰNG CHẾ ĐỘ LAO ĐỘNG VÀ NGHỈ NGƠI HỢP LÝ CHO CÔNG NHÂN TẠI XÍ NGHIỆP
TRONG ĐẠI DỊCH COVID 19
Họ tên sinh viên: TĂNG THỊ TUYẾT DUYÊN Lớp: Đ19NL3
Giảng viên hướng dẫn: NGUYỄN THỊ THOA
TP HCM, tháng 10 năm 2021
Trang 2Điểm số Điểm chữ Chữ ký CBCT 1 Chữ ký CBCT 2
Thang điểm:
- Hình thức trình bày (tối đa 1.5 điểm):………
- Mở đầu; kết luận (tối đa 1.5 điểm): ………
- Nội dung (tối đa 7.0 điểm)………
Tổng điểm:………
Trang 3Mục lục
I Mở đầu 1
II Nội dung 2
1 Khái quát về xây dựng chế độ lao động và nghỉ ngơi hợp lý cho công nhân tại xí nghiệp 2
2 Thực trạng một số khó khăn chung của người lao động trong đại dịch Covid 19 5
3 Thực trạng xây dựng chế độ lao động và nghỉ ngơi hợp lý cho công nhân tại xí nghiệp trong đại dịch Covid 19 7
4 Đề xuất các giải pháp về xây dựng chế độ lao động và thời giờ nghỉ ngơi hợp lý cho công nhân tại xí nghiệp trong đại dịch Covid 19 10 III Kết luận 14 Tài liệu tham khảo
Trang 4I Mở đầu
Covid-19 là một đại dịch toàn cầu, đang là vấn đề được quan tâm hàng đầu, có tác động sâu rộng đến đầu ra của thị trường lao động Không chỉ gây lo ngại cấp bách về sức khỏe của người lao động, gia đình Đại dịch này còn là một cuộc khủng hoảng lớn đối với thị trường kinh tế và lao động, làm ảnh hưởng đến nguồn cung trong sản xuất hàng hóa, dịch vụ, tác động đến nhu cầu tiêu dùng và đầu tư Sự gián đoạn trong sản xuất, ban đầu ở châu Á, giờ đã lan sang các chuỗi cung ứng trên toàn thế giới Tất cả các doanh nghiệp, bất kể quy mô đang đối mặt với những thách thức nghiêm trọng
Làn sóng dịch Covid-19 lần thứ 4 bùng phát từ cuối tháng 4/2021 đến nay vẫn đang
có những diễn biến khó lường Dịch bệnh đã làm ngưng trệ xuất khẩu, gián đoạn chuỗi cung ứng toàn cầu, ảnh hưởng nghiêm trọng đến doanh nghiệp và những người lao động trong các nhóm ngành nghề hiện nay, đặc biệt là công nhân trong các xí nghiệp, họ phải chịu cảnh thất nghiệp kéo dài vài tháng liên tiếp, điều này đã làm ảnh hưởng rất nhiều đến kinh tế và đời sống của họ Từ thực tế có rất nhiều doanh nghiệp đã vi phạm và thực hiện không đúng về quy định thời giờ nghỉ ngơi và làm việc cho người lao động, gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng như đình công người lao động, bóc lột sức lao động, các sự cố lao động,…Để không bị tổn hại đến kinh tế cũng như tạo điều kiện cho những người công nhân có việc làm thì đã có một số công ty, doanh nghiệp vẫn mở cửa đón nhận nhân công, nhưng vì là làm việc trong mùa đại dịch nên họ phải đảm bảo cho công nhân được hưởng chế độ lao động và nghỉ ngơi hợp lý, vì việc quy định một chế độ làm việc hợp lý, thời giờ nghỉ ngơi thích hợp sẽ có ý nghĩa rất quan trọng đối với chất lượng lao động Nhận thấy được tầm quan trọng của vấn đề này, tôi đã quyết định chọn đề tài “ Thực trạng về việc xây dựng chế độ lao động và nghỉ ngơi hợp lý cho công nhân tại xí nghiệp trong đại dịch Covid 19” để làm đề nghiên cứu, kết thúc học phần này
Trang 5II Nội dung
1 Khái quát về xây dựng chế độ lao động và nghỉ ngơi hợp lý cho công nhân tại xí nghiệp.
Chế độ lao động được hiểu là sự phân phối công việc trong quá trình lao động Nó bao gồm ba tiêu chí chủ yếu: Cường độ lao động, thời gian lao động, sự mệt mỏi Lao động là hoạt động quan trọng nhất của con người, nó không chỉ tạo ra của cải vật chất nuôi sống con người, cải tạo xã hội mà nó còn mang lại những giá trị tinh thần góp phần làm phong phú thêm cho đời sống người dân Sức lao động là khả năng lao động còn lao động là sự tiêu dùng sức lao động trong quá trình làm việc Tuy nhiên, để các sản phẩm của lao động có năng suất chất lượng và hiệu quả cao không phải là chuyện dễ dàng Sức lao động của con người không phải là vô tận mà nó sẽ cạn kiện nếu không được kịp thời phục hồi
Thời giờ nghỉ ngơi là độ dài thời gian mà người lao động được tự do sử dụng ngoài nghĩa vụ lao động thực hiện trong thời giờ làm việc Thời giờ làm việc hàng ngày được rút ngắn từ một đến hai giờ đối với những người làm các công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm Thời gian làm việc là thời gian mà người công nhân làm việc đó phải
có trách nhiệm làm việc cho công ty của họ và thời gian trong giai đọan mà người công nhân làm việc đang ở tại nơi mà mình đang thi hành công việc đó, về việc chuẩn bị làm việc theo mệnh lệnh của chủ công ty Theo quy định của pháp luật hiện hành ở Việt Nam, thời giờ nghỉ ngơi của người lao động bao gồm: nghỉ giữa ca (ít nhất nửa giờ, ca đêm ít nhất 45 phút), nghỉ chuyển ca (ít nhất 12 giờ), nghỉ hàng tuần (ít nhất một ngày – 24 giờ liên tục), nghỉ ngày lễ, nghỉ hàng năm; nghỉ về việc riêng Ngoài ra, các bên có thể thoả thuận nghỉ không hưởng lương Tuỳ từng trường hợp, người lao động có thể được hưởng một số quyền lợi trong thời gian nghỉ ngơi theo quy định của pháp luật, như: được hưởng tiền lương, được tính là thời gian làm việc để giải quyết các chế độ khác…
Cơ sở kinh tế-xã hội : Điều kiện kinh tế-xã hội, trong đó năng suất lao động và nhu cầu của con người là nhân tố quan trọng, quyết định nhất đến việc quy định thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi cụ thể của người lao động Với khối lượng công việc và nhân
Trang 6công nhất định, thời gian hoàn thành công việc nhiều hay ít phụ thuộc chủ yếu vào năng suất lao động Nếu năng suất lao động thấp, người ta sẽ mất nhiều thời gian lao động hơn
và ngược lại, nếu năng suất lao động cao đương nhiên thời gian lao động sẽ ít đi, nhu cầu nghỉ ngoi nhiều hơn Trước đây, do trình độ khoa học-kĩ thuật còn yếu, năng suất lao động thấp nên thời giờ làm việc của người lao động còn kéo dài (14 – 16 giờ/ngày) Ngày nay, cùng với sự phát triển vượt bậc của khoa học-kĩ thuật, lao động chân tay đã được thay thế dần bởi phương tiện, máy móc hiện đại, giúp tăng năng suất lao động, đời sống người dân dần được cải thiện, dẫn đến nhu cầu giảm giờ làm, tăng thời giờ nghỉ ngơi Điều này đã được đánh dấu bằng việc quy định thời giờ làm việc tối đa không quá 8 giờ/ngày hoặc 40 giở/tuần ở hầu hết các quốc gia, thậm chí một số quốc gia còn quy định thời gian làm việc ít hơn, để tạo điều kiện cho người lao động nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động xã hội khác Việc quy định thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi cụ thể ở các quốc gia khác nhau đều chủ yếu dựa trên cơ sở điều kiện phát triển của kinh tế với yếu tố quan trọng là năng suất lao động ở từng giai đoạn
Cơ sở pháp lý : Từ việc nhận thức làm việc và nghỉ ngơi là quyền cơ bản của người lao động trong quan hệ lao động, pháp luật quốc tế cũng như các quốc gia đều ghi nhận quyền này trong các văn bản pháp lí có giá trị cao Giống như hầu hết các quốc gia khác, Việt Nam cũng ghi nhận quyền làm việc và nghỉ ngơi trong văn bản có giá trị pháp lí cao nhất – Hiến pháp ở các giai đoạn và rất nhiều các văn bản luật khác Trong lĩnh vực lao động, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi là một chương độc lập trong Bộ luật lao động năm 2019 (Chương VII) với những quy định chung Đây là cơ sở pháp lí quan trọng để các đơn vị sử dụng lao động cụ thể hoá chế độ thời giờ làm việc, nghỉ ngơi phù hợp với điều kiện riêng của đơn vị mình
Quy luật chung khi xây dựng chế độ lao động và nghỉ ngơi cho công nhân: Không
có một qui tắc chung để xác định số lần giải lao và sự phân bố chúng trong một ca lao động sản xuất Điều đó phụ thuộc vào những điều kiện cụ thể của lao động, loại lao động
cụ thể Tuy nhiên cũng có những quy luật chung cần lưu ý khi xây dựng chế độ lao động
và nghỉ ngơi Các nhà Tâm lý học lao động đã nêu lên những quy luật chung cần tính đến khi xây dựng chế lao động và nghỉ ngơi cho người lao động
Trang 7+ Lần giải lao đầu tiên mang tính chất dự phòng, giải lao sau khi đã làm việc được 1 giờ
30 phút đến 2 giờ Lần giải lao này có tác dụng hạ thấp sự mệt mỏi không lớn đã được tích lũy trong 1 giờ 30 phút đến 2 giờ làm việc
+ Thời gian các giờ giải lao phần lớn phụ thuộc vào mức độ của gánh nặng thể lực và tâm
lý Thí dụ: với công việc mà gánh nặng thể lực lớn, đòi hỏi sự chú ý, các động tác chính xác thì mỗi lần giải lao là từ 10 đến 15 phút
+ Quy luật nhỏ giọt có tác dụng phục hồi nâng cao sức làm việc( Nhiều lần nghỉ giải lao ngắn tốt hơn là ít lần nghỉ giải lao dài )
+ Sự quyết định thời gian nghỉ ngơi trong ngày làm việc được thực hiện sau khi đã nghiên cứu sức làm việc của người lao động ở một bộ phận lao động sản xuất cụ thể
Tổ chức lao động trong bất kỳ tập thể nào cũng phải quy định rõ ràng thời gian làm việc và nghỉ ngơi Trong nền kình tế hiện đại có đặc trưng là trình độ phân công và hợp tác lao động phát triển ở mức cao, sử dụng các công nghệ phức tạp, vì vậy càng đòi hỏi phải xây dựng chế độ làm việc và nghỉ ngơi hợp lý Vì rằng, chế độ làm việc và nghỉ ngơi
có ảnh hưởng đến tính đồng bộ của dây chuyền sản xuất - kinh doanh, ảnh hưởng đến tính liên tục của quá trình sản xuất - kinh doanh Mặt khác, chế độ làm việc và nghỉ ngơi là một phương tiện để khắc phục sự mệt mỏi, là một biện pháp để tăng năng suất lao động
và bảo vệ sức khỏe người lao động Nhiệm vụ của xây dựng chế độ làm việc và nghỉ ngơi hợp lý là tối ưu hóa đường cong khả năng làm việc, tức là giảm bớt thời gian tăng và giảm khả năng làm việc, kéo dài tương ứng thời kỳ khả năng làm việc đạt ở mức độ cao và ổn định Xây dựng chế lao động và nghỉ ngơi hợp lý dựa trên các thành tựu của khoa học và thực tế sản xuất - kinh doanh là một vấn đề quan trọng của hoàn thiện tổ chức lao động trong doanh nghiệp, cơ quan Nếu không chú ý đến vấn đề này thì không những nó làm giảm sút các chỉ tiêu kinh tế như : Năng suất lao động, chất lượng sản phẩm, thời gian có ích, mà còn dẫn đến các hiện tượng tăng bệnh tật, tai nạn lao động, tăng biến động lao động và ảnh hưởng đến thái dộ lao động của người lao động, cụ thể là những người công nhân Vì thế, việc quy định một thời giờ làm việc hợp lý, thời giờ nghỉ ngơi thích hợp sẽ
có ý nghĩa rất quan trọng đối với chất lượng lao động Công nhân ở các xí nghiệp khi
Trang 8tham gia làm việc cần có những quy định cụ thể về thời giờ làm việc Và đương nhiên là phải có những thời gian được nghỉ ngơi Thời giờ nghỉ ngơi là một minh chứng cho lợi ích của người lao động, bên cạnh đó thời gian nghỉ ngơi này cũng mang lại nhiều lợi ích
“ngầm” cho doanh nghiệp
2 Thực trạng một số khó khăn chung của người lao động trong đại dịch Covid 19
Đại dịch đã ảnh hưởng lớn đến đời sống hàng ngày của người lao động và hộ gia đình Tuy nhiên, những tác động đó không dễ đo lường vì chúng biến thiên theo thời gian, phụ thuộc vào quy mô của đại dịch và mức độ nghiêm ngặt của các hạn chế đi lại Nhiều người dân phải trải qua tình trạng khó khăn về kinh tế và mức độ khó khăn đang tăng lên
do tình hình kinh tế trong nước đang xấu đi Điểm đáng chú ý, ngay sau khi đợt dịch bùng phát hồi tháng 4, đã ảnh hưởng tức thời đến người lao động Theo số liệu Tổng cục Thống
kê, trong quý II năm 2021, khoảng 12,8 triệu người từ 15 tuổi trở lên đã bị ảnh hưởng tiêu cực, bao gồm mất việc làm, tạm nghỉ, làm việc luân phiên, giảm giờ làm, hoặc giảm thu nhập Quy mô lực lượng lao động giảm 0,7% trong khi có thêm 1,6% người lao động thất nghiệp hoặc thiếu việc làm trong quý II năm 2021 so với quý II năm 2019 Tỷ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm tăng thêm lần lượt 0,2 điểm phần trăm và 1,3 điểm phần trăm trong quý II năm 2021 so với quý II năm 2019 Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam, thị trường lao động có khả năng chống chịu tương đối vững trong năm đầu của đại dịch, nhưng xu hướng gần đây bắt đầu phản ánh tác động trực tiếp của đợt bùng phát dịch thứ 4 đến người lao động khi mà trong 9 tháng năm 2021 cả nước có tới hơn 1,3 triệu người lao động thất nghiệp, 1,3 triệu lao động đã phải về quê do không có việc làm và cuộc sống khó khăn
Theo Tổ công tác đặc biệt phòng, chống dịch COVID-19 của Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội tại các tỉnh phía Nam, đợt dịch COVID-19 lần thứ 4 diễn biến phức tạp, kéo dài đã ảnh hưởng lớn đến thị trường lao động và người lao động tự do tại 19 tỉnh, thành phố phía Nam Dịch bệnh COVID-19 cũng khiến hơn 79.000 doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường, tăng hơn 25% so với cùng kỳ năm 2020 Có thể thấy tại các địa phương thuộc Vùng trọng điểm kinh tế phía Nam đang bị tác động rất lớn của dịch bệnh tới người lao động đang làm việc trong các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất
Trang 9Ảnh hưởng nặng nề nhất về thiệt hại kinh tế cũng như đời sống của người dân đó là
TP Hồ Chí Minh đã có hơn 381.000 người lao động ở các quận, huyện, TP Thủ Đức và khoảng 244.000 người làm việc tại các khu chế xuất, khu công nghiệp của Thành phố này
đã bị mất việc, ngừng việc Tại tỉnh Bình Dương, hơn 1.800 doanh nghiệp trong khu công nghiệp, 65 doanh nghiệp trong cụm công nghiệp và khoảng 2.000 doanh nghiệp bên ngoài khu công nghiệp đang duy trì hoạt động sản xuất theo phương thức "3 tại chỗ" và "1 cung đường 2 điểm đến" Theo kết quả khảo sát từ Trung tâm Dịch vụ việc làm tỉnh Bình Dương, cho đến đầu quý 2/2021, thị trường lao động tại tỉnh này vẫn trong tình trạng thiếu lao động Các doanh nghiệp đã triển khai nhiều biện pháp, hình thức tuyển lao động
để đáp ứng nhu cầu sản xuất Bình Dương có 50.000 doanh nghiệp với hơn 1,2 triệu lao động đến từ hầu hết các tỉnh, thành phố trong cả nước Trong khi đó, tại tỉnh Đồng Nai, hơn 1.100 doanh nghiệp trong khu công nghiệp với hơn 136.700 người lao động và 118 doanh nghiệp ngoài khu công nghiệp với hơn 12.000 người lao động đang duy trì việc làm theo quy định chung về phòng, chống dịch bệnh Tuy nhiên, diễn biến phức tạp của đợt dịch COVID-19 lần thứ 4 đã khiến việc tuyển dụng của các doanh nghiệp càng gặp khó khăn, đồng thời gây tình trạng thất nghiệp dài ngày cho những lao động bị nghỉ việc hoặc về quê tránh dịch khi áp dụng các biện pháp phòng, chống dịch bệnh trên toàn tỉnh Đồng Nai
TP Cần Thơ còn khoảng 20/170 doanh nghiệp đang hoạt động trong khu công nghiệp với 2.300 lao động và có 52/920 doanh nghiệp ngoài khu công nghiệp đang hoạt động với gần 2.400 người lao động đang duy trì việc làm theo phương thức “3 tại chỗ” và
“1 cung đường 2 điểm đến”, hơn 60.000 người lao động phải tạm ngừng việc Ông Nguyễn Phương Lam, Giám đốc Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam- Chi nhánh tại Cần Thơ cho biết, sự bùng phát của dịch COVID-19 lần thứ 4 trong tháng 6, 7
và 8/2021 đã khiến gần 10.000 doanh nghiệp tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long rút khỏi thị trường Một số ngành sản xuất thu hút nhiều lao động đã bị ảnh hưởng nặng nề
do dịch bệnh, cụ thể như ngành sản xuất gỗ, dệt may, giày da…, Nhiều doanh nghiệp nhận được đơn hàng đến tháng 3, tháng 4 năm sau, nhưng qua khảo sát hơn 200 doanh nghiệp sản xuất gỗ khu vực phía Nam, hiện chỉ còn khoảng 30% lao động duy trì sản xuất, 70% còn lại đang nghỉ việc và di chuyển về các địa phương Tình thế này đang khiến các
Trang 10doanh nghiệp gặp khó với các kế hoạch sản xuất; ảnh hưởng đến các đối tác, bởi không có nguồn hàng cung cấp
Từ đầu năm đến nay, với tình trạng sản xuất cầm chừng, lượng người lao động phổ thông rời các khu chế xuất, công nghiệp… ngày một nhiều, sẽ tạo ra tình trạng thiếu hụt nguồn nhân lực khi các doanh nghiệp được trở lại hoạt động sản xuất Các chủ doanh nghiệp nhận định, nếu không giữ được người lao động thì khi khống chế được dịch bệnh, doanh nghiệp không có công nhân lành nghề để sản xuất Nhằm hỗ trợ người lao động vượt qua khó khăn trong mùa dịch COVID-19, chính quyền các cấp cùng các cấp công đoàn, ngành Lao động-Thương binh và Xã hội tại các địa phương đang nỗ lực triển khai nhiều giải pháp hỗ trợ học nghề, tìm kiếm thị trường lao động Để hỗ trợ người lao động, các địa phương khu vực phía Nam ngoài việc triển khai các chính sách của Trung ương, từng địa phương còn có thêm các chương trình hỗ trợ thiết thực, góp phần giảm khó khăn, duy trì việc làm gắn với đảm bảo an toàn phòng dịch, nỗ lực giữ nguồn cung lao động, tạo thuận lợi cho nhu cầu tuyển dụng của các doanh nghiệp sau khi dịch được kiểm soát
3 Thực trạng xây dựng chế độ lao động và nghỉ ngơi hợp lý cho công nhân tại xí nghiệp trong đại dịch Covid 19
Dịch viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của vi rút Corona (COVID-19) bùng phát và lan rộng khắp toàn cầu đã ảnh hưởng nặng nề đến kinh tế thế giới Đặc biệt, đại dịch COVID-19 xuất hiện tại Việt Nam từ tháng 1 năm 2020 đã ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình lao động việc làm trong các ngành và tại tất cả các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương Trong đó, ảnh hưởng rõ rệt nhất vào quý II năm 2020 khi tình hình dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, nhiều ca lây nhiễm trong cộng đồng xuất hiện và việc áp dụng các quy định về giãn cách xã hội được thực hiện triệt để trong tháng 4 năm 2020 Nhiều khu công nghiệp, nhà máy, xí nghiệp phải tạm ngưng hoạt động cùng với việc thiết lập các biện pháp cách ly xã hội đã khiến cho đời sống công nhân gặp nhiều khó khăn Diễn biến phức tạp của đại dịch COVID-19 đã và đang tác động, ảnh hưởng lớn đến sản xuất, kinh doanh và đời sống nhân dân, Chính phủ quyết nghị thực hiện 12 chính sách hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động gặp khó khăn do đại dịch COVID-19 Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 68/NQ-CP về một số chính sách hỗ trợ người lao