Thời gian qua, hệ thống chính trị huyện X, tỉnh Y không ngừng đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động, quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện có hiệu quả pháp luật về quyền khiếu nại, tố cáo phù hợp với đặc điểm, tình hình của địa phương. Qua đó, góp phần nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và Nhân dân về vị trí, vai trò, tầm quan trọng công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo. Các cấp uỷ, chính quyền nâng cao vai trò, trách nhiệm trong triển khai, quán triệt và tổ chức thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về quyền khiếu nại, tố cáo. Ý thức, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên trong công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo, đặc biệt là người đứng đầu cơ quan, đơn vị được nâng lên, kết quả giải quyết đơn thư của người dân đạt tỷ lệ cao, góp phần ổn định tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn, tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy kinh tế, xã hội của Huyện tiếp tục phát triển. Tuy nhiên, việc thực hiện pháp luật về quyền khiếu nại, tố cáo trên địa bàn huyện Cao Lãnh vẫn tồn tại một số hạn chế nhất định. Vì vậy, cần có một số định hướng để người dân có thể thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo theo Hiến pháp quy định, đồng thời nâng cao chất lượng, hiệu quả giải quyết khiếu nại, tố cáo của các cơ quan chức năng trên địa bàn Huyện trong thời gian tới. Để nắm được những nội dung căn bản về quyền khiếu nại, tố cáo, cũng như thực tiễn tại huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp, tôi chọn chủ đề “Thực trạng thực hiện pháp luật về quyền khiếu nại, tố cáo tại huyện X, tỉnh Yhiện nay” để nghiên cứu, viết thu hoạch kết thúc môn Lý luận và pháp luật về quyền con người.
Trang 1Tra ng
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 2
1 Những vấn đề lý luận liên quan 2
1.1 Một số khái niệm liên quan 2
1.2 Quyền con người trong học thuyết Mác – Lênin 5
1.3 Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về quyền con người 6
1.4 Quan điểm của Đảng, Nhà nước Việt Nam về quyền khiếu nại, tố cáo 11
2 Thực trạng thực hiện pháp luật về quyền khiếu nại, tố cáo tại huyện X, tỉnh Yhiện nay 12
2.1 Đặc điểm, tình hình huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp 12
2.2 Kết quả, hạn chế thực hiện pháp luật về quyền khiếu nại, tố cáo tại huyện X, tỉnh Ynăm 2021 13
3 Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về quyền khiếu nại, tố cáo trên địa bàn huyện X, tỉnh Yhiện nay 18
KẾT LUẬN 21
Trang 2MỞ ĐẦU
Thời gian qua, hệ thống chính trị huyện X, tỉnh Y không ngừng đổimới, nâng cao chất lượng hoạt động, quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo triển khaithực hiện có hiệu quả pháp luật về quyền khiếu nại, tố cáo phù hợp với đặcđiểm, tình hình của địa phương Qua đó, góp phần nâng cao nhận thức củacán bộ, đảng viên và Nhân dân về vị trí, vai trò, tầm quan trọng công tácgiải quyết khiếu nại, tố cáo
Các cấp uỷ, chính quyền nâng cao vai trò, trách nhiệm trong triển khai,quán triệt và tổ chức thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật củaNhà nước về quyền khiếu nại, tố cáo Ý thức, trách nhiệm của cán bộ, đảngviên trong công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo, đặc biệt là người đứng đầu cơquan, đơn vị được nâng lên, kết quả giải quyết đơn thư của người dân đạt tỷ lệcao, góp phần ổn định tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trênđịa bàn, tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy kinh tế, xã hội của Huyện tiếp tụcphát triển
Tuy nhiên, việc thực hiện pháp luật về quyền khiếu nại, tố cáo trên địabàn huyện Cao Lãnh vẫn tồn tại một số hạn chế nhất định Vì vậy, cần có một
số định hướng để người dân có thể thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo theoHiến pháp quy định, đồng thời nâng cao chất lượng, hiệu quả giải quyết khiếunại, tố cáo của các cơ quan chức năng trên địa bàn Huyện trong thời gian tới
Để nắm được những nội dung căn bản về quyền khiếu nại, tố cáo,cũng như thực tiễn tại huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp, tôi chọn chủ đề
“Thực trạng thực hiện pháp luật về quyền khiếu nại, tố cáo tại huyện X, tỉnh Yhiện nay” để nghiên cứu, viết thu hoạch kết thúc môn Lý luận và
pháp luật về quyền con người
Trang 3NỘI DUNG
1 Những vấn đề lý luận liên quan
1.1 Một số khái niệm liên quan
- Khái niệm quyền con người: Quyền con người (Human rights) là
những giá trị thiêng liêng, cao quý kết tinh từ nhiều nền văn hóa, văn minhcủa các dân tộc trên thế giới Trải qua quá trình đấu tranh của loài ngườinhằm cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội, cùng với sự phát triển của xã hội, tưtưởng về tự do, về bình đẳng, ý thức về quyền con người, quyền làm người đãtrở thành động lực to lớn trong các cuộc đấu tranh chống áp bức, bóc lột vàbất công xã hội Tuy nhiên, quyền con người là khái niệm đa diện, có nhiềucách hiểu và tiếp cận khác nhau Mặc dù còn có những điểm khác nhau về nộidung và phương pháp tiếp cận, song đã phản ánh một số đặc điểm chung củakhái niệm quyền con người như sau:
Một là, quyền con người là các quyền bẩm sinh thuộc sở hữu vốn có
của mọi người, nó gắn liền với hành động công nhận, thừa nhận chứ khôngphải là ban phát, từ chối hay tước đoạt vô cớ
Hai là, trung tâm của khái niệm quyền con người là khái niệm về
phẩm giá vốn có của mọi thành viên trong gia đình nhân loại
Ba là, quyền con người là các quyền được áp dụng bình đẳng cho tất
cả mọi người mà không có sự phân biệt nào về chủng tộc, màu da, giới tính,ngôn ngữ, tôn giáo, chính kiến, quan điểm, nguồn gốc dân tộc hoặc địa vị xãhội
Bốn là, quyền con người là các quyền được bảo đảm minh bạch về
pháp lý nhằm giúp cá nhân, các nhóm xã hội đạt được nhu cầu, lợi ích mộtcách độc lập trên các lĩnh vực
Trang 4Năm là, quyền con người xác lập nghĩa vụ tôn trọng, bảo đảm của
nhà nước và xã hội
Từ sự phân tích trên, có thể hiểu: Quyền con người là các đặc quyền
tự nhiên, bắt nguồn từ phẩm giá vốn có của tất cả mọi người, được cộng đồngquốc tế và quốc gia thừa nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm bằng hệ thốngpháp luật quốc gia và quốc tế
- Khái niệm quyền công dân: Quyền công dân là tổng hợp các quyền
và tự do cơ bản của mỗi cá nhân, tạo nên địa vị pháp lý của cá nhân trong mốiquan hệ với nhà nước thông qua chế định quốc tịch, được thừa nhận và bảođảm bằng Hiến pháp và pháp luật của quốc gia
- Hệ thống pháp luật Việt Nam về quyền con người: Hệ thống pháp
luật ở Việt Nam hiện nay được hiểu là tổng thể các quy phạm pháp luật, cácnguyên tắc, định hướng và mục đích của pháp luật có mối liên hệ mật thiết vàthống nhất với nhau, được phân thành các ngành luật và được thể hiện trongcác văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền bỉmhành theo những hình thức, trình tự, thủ tục luật định để điều chỉnh các quan
hệ xã hội phát sinh trên lãnh thổ Việt Nam Theo cách hiểu này, hệ thốngpháp luật là một khái niệm chung bao gồm hai mặt cụ thể là: Hệ thống cấutrúc của pháp luật (quy phạm pháp luật, chế định pháp luật và ngành luật) và
hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (hệ thống nguồn của pháp luật)
Ở Việt Nam hiện nay, pháp luật về quyền con người chưa được giảngdạy rộng rãi với tư cách là ngành luật độc lập tại nhiều cơ sở đào tạo về luật,mặc dù quyền con người luôn là nội dung quan trọng cấu thành Hiến pháp và
đã được quy định trong hầu hết các văn bản quy phạm pháp luật Hiến phápnăm 2013 quy định: Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyềncon người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được
Trang 5công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật Như vậy,
để bảo đảm các quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân được thựcthi trong thực tiễn cần có các văn bản dưới luật cụ thể hóa, chi tiết hóa cácquyền và nghĩa vụ của công dân trong Hiến pháp và luật
Hiến pháp là đạo luật cơ bản, quan trọng nhất của đất nước, xác định
thể chế chính trị, cách thức tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, quyđịnh địa vị pháp lý của cá nhân, công dân trong mối quan hệ với nhà nước
và đặc biệt Hiến pháp là công cụ quan trọng nhất để bảo vệ quyền conngười, do vậy chế định quyền con người luôn là một nội dung quan trọngcấu thành Hiến pháp
Bên cạnh việc quy định và bảo vệ quyền con người trong Hiến pháp,quyền con người còn được quy định và bảo vệ trong các ngành luật khác nhưLuật Hành chính và Luật Tố tụng hành chính; Luật Hình sự và Luật Tố tụnghình sự; Luật Dân sự và Luật Tố tụng dân sự; Luật Hôn nhân và Gia đình;Luật Lao động; Luật Thường mại; Luật Đất đai và được quy định trongnhiều đạo luật chuyên biệt, bảo vệ quyền của nhóm xã hội dễ bị tổn thươngtrong xã hội như: Luật Trẻ em; Luật Bình đẳng giới; Luật Thanh niên; LuậtNgười cao tuổi; Luật Người khuyết tật…
- Quyền khiếu nại, tố cáo: Ở Việt Nam, quyền khiếu nại, quyền tố cáo
là nội dung quyền trong nhóm quyền tham gia quản lý nhà nước và được Hiếnpháp thừa nhận
- Khiếu nại: Là việc công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công
chức theo thủ tục do Luật Khiếu nại quy định, đề nghị cơ quan, tổ chức, cánhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chínhcủa cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quanhành chính nhà nước hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi có căn
Trang 6cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền,lợi ích hợp pháp của mình.
- Tố cáo: Là việc công dân theo thủ tục do Luật Tố cáo quy định báo
cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm phápluật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gâythiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan,
tổ chức
1.2 Quyền con người trong học thuyết Mác – Lênin
C.Mác chỉ rõ: “Bản chất con người không phải là một cái trừu tượng cốhữu của cá nhân riêng biệt Trong tính hiện thực của nó, bản chất của conngười là tổng hòa những quan hệ xã hội” Đây là cơ sở quan trọng để xem xét,đánh giá vấn đề quyền con người Ông cho rằng, con người vừa là sản phẩmcủa tự nhiên, vừa là sản phẩm của xã hội Do đó, quyền con người không phải
là sự ban phát của Thượng đế Mặc dù bắt nguồn từ các quyền tự nhiên,nhưng quyền con người không phải tự nhiên mà có
Học thuyết Mác đề cao con người và sự nghiệp giải phóng con người,nhấn mạnh quyền và tự do của con người không tách rời quyền và tự do củamỗi dân tộc Quyền tự do của mỗi dân tộc, trước hết là quyền tự quyết dântộc, là một bảo đảm vững chắc để có thể hiện thực hóa đầy đủ các quyền conngười
C.Mác và Ph.Ăngghen cũng nhấn mạnh, chỉ trong xã hội cộng sản mốiquan hệ giữa cá nhân và cộng đồng mới được giải quyết một cách trọn vẹn:
“Thay cho xã hội tư sản cũ, với những giai cấp và đối kháng giai cấp của nó,
sẽ xuất hiện một liên hợp, trong đó sự phát triển tự do của mỗi người là điềukiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người”
V.I.Lênin kiên quyết ủng hộ quyền đấu tranh khẳng định quyền tự
Trang 7quyết dân tộc, cả về mặt lý thuyết cũng như trên thực tế Đóng góp nổi bậtcủa V.I.Lênin đối với lý luận về quyền con người còn là tư tưởng về xây dựngchế độ dân chủ, bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân lao động và con đườnggiành quyền tự quyết của các dân tộc.
Trong tiến trình xây dựng xã hội mới, V.I.Lênin đưa ra một trongnhững tiêu chí phân biệt nền dân chủ vô sản với các nền dân chủ trước đó:Dân chủ vô sản là chế độ thống trị của đa số với thiểu số, vì lợi ích của đasố Ông cũng chỉ rõ, chủ nghĩa xã hội thắng lợi nhất thiết phải thực hiện chế
độ dân chủ hoàn toàn Từ nhận thức này, V.LLênin đề xuất và lãnh đạo tiếntrình hiện thực hóa quyền tham gia của nhân dân lao động trong quản lý nhànước và xã hội; thực thi dân chủ trên thực tế ngay những ngày đầu thành lậpchế độ mói ở nước Nga Dưới chế độ Xôviết tại Nga, quyền của các nhóm dễ
bị tổn thương luôn được quan tâm, bảo vệ; quyền của phụ nữ, trẻ em đượcnâng niu, trân trọng bằng những chính sách và hoạt động cụ thể
Như vậy, học thuyết Mác-Lênin chủ trương đấu tranh giành lại quyềncon người trên thực tế cho tất cả mọi người, nhất là quyền con người của nhândân lao động và các nhóm yếu thế trong xã hội; đặt cuộc đấu tranh vì quyềncon người trong tiến trình giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng
xã hội và giải phóng con người
1.3 Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về quyền con người
- Quyền con người là giá trị chung của nhân loại
Quyền con người bắt nguồn từ phẩm giá con người Nhưng quyền conngười có nội hàm phong phú như ngày nay là thành quả chung của cả nhânloại trong việc chinh phục tự nhiên và giải phóng con người khỏi mọi sự thahóa, khôi phục bản thể vốn có của con người
Thực tiễn nói trên là cơ sở để Đảng khẳng định: “Quyền con người là
Trang 8thành quả của cuộc đấu tranh lâu dài qua các thời đại của nhân dân lao động
và các dân tộc bị áp bức trên thế giới, và cũng là thành quả của cuộc đấu tranhcủa loài người làm chủ thiên nhiên; qua đó, quyền con người trở thành giá trịchung của nhân loại” Từ quan điểm này, Đảng ta chủ trương: Kế thừa vàphát huy những truyền thống văn hóa tốt đẹp của tất cả các dân tộc trongnước, tiếp thu những tinh hoa văn hóa nhân loại, xây dựng một xã hội dânchủ, văn minh, vì lợi ích chân chính và phẩm giá con người Chống tưtưởng, văn hóa phản tiến bộ, trái với những truyền thống tốt đẹp của dân tộc
và những giá trị cao quý của loài người, trái với phương hướng đi lên chủnghĩa xã hội
Những năm qua, Nhà nước Việt Nam đã chủ động tham gia vào cácdiễn đàn và hoạt động quyền con người khu vực cũng như toàn cầu Đảngluôn khẳng định, việc bảo đảm quyền con người là một mục tiêu, động lựccủa cách mạng, là trách nhiệm lớn của Đảng và Nhà nước
- Trong xã hội có phân chia giai cấp đối kháng, khái niệm quyền con người mang tính giai cấp sâu sắc
Từ thực tiễn Việt Nam và thế giới, Chỉ thị số 12-CT/TW ngày
12-7-1992 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về vấn đề quyền con người và quanđiểm, chủ trương của Đảng ta chỉ rõ: “Trong xã hội có phân chia giai cấp đốikháng, khái niệm quyền con người mang tính giai cấp sâu sắc”
Quyền con người, xét về bản chất, là đặc quyền vốn có của con người
Đó là quyền tự nhiên, gắn với con người và chỉ có ở con người Nói cáchkhác, đây là dấu hiệu đặc trưng phân biệt con người với các loài vật khác Cácquyền này biểu hiện dưới dạng những nhu cầu, do chính phẩm giá con ngườiquy định Nhưng để trở thành quyền, những nhu cầu ấy cần phải được phápluật ghi nhận và bảo vệ
Trang 9Trong xã hội Việt Nam, quyền lợi của giai cấp công nhân và nhân dânlao động gắn liền với quyền lợi của đất nước, dân tộc; tính giai cấp của kháiniệm quyền con người thống nhất với tính nhân loại, tính phổ biến của quyềncon người Nói một cách cụ thể, trong xã hội Việt Nam, quyền con người củatất cả mọi người đều được tôn trọng và bảo đảm, không phân biệt giai cấp,tầng lóp, dân tộc, tôn giáo
- Quyền con người gắn với độc lập dân tộc và chủ quyền quốc gia
Đảng ta khẳng định: “Quyền con người gắn với quyền dân tộc cơ bản
và thuộc phạm vi chủ quyền quốc gia” Thực tiễn lịch sử Việt Nam và nhiềunước từng trải qua quá trình đấu tranh giành độc lập đã cho thấy, đất nước bị
nô lệ thì người dân không thể có tự do, các quyền con người sẽ bị chà đạpnghiêm trọng Bảo đảm quyền con người trước hết và chủ yếu thuộc tráchnhiệm của mỗi quốc gia Độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia là đòi hỏi hàngđầu trong việc bảo đảm và thực thi quyền con người, nhưng điều có ý nghĩacực kỳ quan trọng là nhà nước phải sử dụng các điều kiện này để đem lại cuộcsống hạnh phúc cho mọi thành viên của quốc gia Điều này thể hiện mối quan
hệ biện chứng giữa quyền dân tộc tự quyết với quyền con người và trở thànhđịnh hướng chính trị quan trọng trong mọi hoạt động bảo vệ quyền con ngườicủa Nhà nước Việt Nam
- Quyền con người gắn liền với lịch sử, truyền thống và phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế, văn hóa của mỗi quốc gia
Đảng Cộng sản Việt Nam cho rằng: Quyền con người luôn luôn gắnliền với lịch sử, truyền thống và phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế, vănhóa của đất nước Do vậy không thể áp đặt hoặc sao chép máy móc các tiêuchuẩn, mô thức của nước này cho nước khác
Quyền con người là giá trị được kết tinh từ những thành tựu, kinh
Trang 10nghiệm đặc sắc trong lịch sử, truyền thống, văn hóa của mỗi quốc gia Chínhnét đặc sắc trong việc bảo đảm quyền con người của mỗi quốc gia lại làmphong phú thêm giá trị chung của quyền con người.
- Quyền con người là mục tiêu, động lực của sự phát triển xã hội, là bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa
Đảng ta nhận định: Vấn đề quyền con người được đặt ra xuất phát từmục tiêu của chủ nghĩa xã hội, từ bản chất của chế độ ta; giải phóng conngười gắn liền với giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội.Chỉ dưới tiền đề độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội thì quyền con người mớiđược bảo đảm rộng rãi, đầy đủ, trọn vẹn nhất
Ngày nay, quyền con người được xác định là mục tiêu hướng tới củamọi nhà nước, được ghi nhận, bảo vệ thông qua Hiến pháp, pháp luật và trongthực tế cuộc sống Thực tiễn đã chứng minh, khi quyền con người được tôntrọng và bảo vệ sẽ kích thích sự sáng tạo của mỗi cá nhân, tạo xung lực cho
ổn định và sự phát triển toàn diện cá nhân, cộng đồng cũng như của cả xã hội
Đại hội lần thứ XIII của Đảng chủ trương: Tiếp tục cụ thể hóa, hoàn
thiện thể chế thực hành dân chủ theo tinh thần Cương lĩnh xây đựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) và
Hiến pháp năm 2013, bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân.Thực hiện đúng đắn, hiệu quả dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện, đặc biệt làdân chủ ở cơ sở Thực hiện tốt, có hiệu quả trên thực tế phương châm “Dânbiết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”
Trên ý nghĩa ấy, quyền con người thể hiện rõ bản chất của chế độ xãhội xã hội chủ nghĩa, của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Đó vừa làmục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy xã hội phát triển theo dòng chảy chung củanhân loại là hướng tới tự do, bình đẳng, hạnh phúc và thịnh vượng cho tất cả
Trang 11và bảo vệ thì không thể có bất cứ quyền con người nào Trong phạm vi quốcgia, pháp luật bảo vệ quyền con người thể hiện ở việc ghi nhận các quyền conngười, quyền công dân trong Hiến pháp, pháp luật Đó là cơ sở để Đảng vàNhà nước Việt Nam luôn nhấn mạnh vai trò của pháp luật trong việc bảo đảmquyền con người Đại hội VII của Đảng chỉ rõ: “Nhà nước định ra các đạoluật nhằm xác định các quyền công dân và quyền con người” Hiến pháp năm
2013, tại Điều 14, đã nhấn mạnh: Các quyền con người được “công nhận, tôntrọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật” và “chỉ có thể bị hạn chếtheo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninhquốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng”
- Quyền của mỗi cá nhân không tách rời nghĩa vụ và trách nhiệm công dân
Từ khi Luật quốc tế về quyền con người ra đời, vấn đề quyền và nghĩa
vụ cũng đồng thời được đặt ra C.Mác viết: “Không có quyền lợi nào màkhông có nghĩa vụ, không có nghĩa vụ nào mà không có quyền lợi” Đảng takhẳng định: “Quyền dân chủ, tự do của mỗi cá nhân không tách rời nghĩa vụ
và trách nhiệm công dân Dân chủ phải đi đôi với kỷ cương, pháp luật”
Hệ thống các quan điểm, cách tiếp cận nói trên của Đảng về quyềncon người nhìn chung tương đồng với quan điểm của nhiều quốc gia trên thếgiới; có giá trị định hướng cho mọi hoạt động của Nhà nước Việt Nam nhằm