1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

MỘT SỐ GIẢI PHÁP CẢI THIỆN CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC TẠI TỈNH BÌNH ĐỊNH ĐỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI

22 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một số giải pháp cải thiện chất lượng nguồn nhân lực tại tỉnh Bình Định để phát triển kinh tế - xã hội
Tác giả Nhóm tác giả
Trường học Trường Đại Học Lao Động Xã Hội
Chuyên ngành Quản lý nguồn nhân lực
Thể loại Tiểu luận kết thúc học phần
Năm xuất bản 2018
Thành phố TP HCM
Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 420,31 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ong giai đoạn tới, nếu chỉ với một nguồn nhân lực dồi dào, cần cù lao động thì chưa đủ đáp ứng nhu cầu phát triển. Đặc biệt, tỉnh Bình Định với quy mô nền kinh tế còn nhỏ, trình độ dân trí còn thấp, đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn thì yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của tỉnh đặt ra nhiều khó khăn và thách thức. Chính vì vậy em chọn đề tài “Một số giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tỉnh Bình Định để phát triển kinh tế - xã hội” để nghiên cứu và đưa ra các biện pháp khắc phục.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG XÃ HỘI (CS2)

KHOA QUẢN LÝ NGUỒN NHÂN LỰC

-***** -

TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN NGUỒN NHÂN LỰC

MỘT SỐ GIẢI PHÁP CẢI THIỆN CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC TẠI TỈNH BÌNH ĐỊNH ĐỂ

PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI

SỐ BÁO DANH: 143 SINH VIÊN THỰC HIỆN: PHAN VĂN NGHĨA MSSV: 1653404040519

Điểm số Cán bộ chấm thi 1

Điểm chữ Cán bộ chấm thi 2

LỚP: Đ16NL2

TP HCM, ngày 20 tháng 4 năm 2018

Trang 2

1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Quá trình phát triển của một quốc gia, một địa phương cần phải có nhiều điều kiện cũng như các nguồn lực cần thiết Trong các nguồn lực cần thiết cho sự phát triển như: cơ sở vật chất, tài nguyên thiên nhiên, nguồn vốn, khoa học công nghệ, nguồn nhân lực,… thì nguồn nhân lực này đóng vai trò quyết định và chi phối các yếu tố còn lại Đặc biệt, trong xu thế toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay thì vai trò, vị trí nguồn nhân lực ngày càng quan trọng Trong đó chất lượng nguồn nhân lực là một vấn đề được quan tâm hàng đầu trong các chiên lược phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia Hiện nay cơ cấu kinh tế nước ta đang có những bước chuyển dịch từ các ngành nông nghiệp truyền thống sang các ngành công nghiệp và dịch vụ theo hướng hiện đại, yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là cấp bách Vì vậy việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phát triển và sử dụng có hiệu quả chất lượng nguồn nhân lực là một vấn

đề được quan tâm hàng đầu ở nước ta nhằm biến nguồn nhân lực thực sự trở thành động lực của quá trình phát triển kinh tế - xã hội Trong những năm gần đây công tác nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của tỉnh Bình Định đã dạt một số thành tưu đáng kể, góp phần hỗ trợ đắc lực vào sự phát triển kinh tế - xã hội và sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá của tỉnh Tuy nhiên so với yêu cầu tình hình mới thì công tác vẫn còn nhiều hạn chế: trình độ học vấn, trình độ chuyên môn kỹ thuật của nguồn nhân lực còn thấp; các

cơ quan đào tạo chưa đáp ứng yêu cầu về quy mô, năng lực và chất lượng đào tạo; năng suất lao động thấp, chuyển dịch cơ cấu lao động còn chậm, sự phối hợp các ngành quản

lí, giữa các cơ quan đào tạo với các doanh nghiệp và người lao động còn thiếu chặt chẽ,… Trong giai đoạn tới, nếu chỉ với một nguồn nhân lực dồi dào, cần cù lao động thì chưa đủ đáp ứng nhu cầu phát triển Đặc biệt, tỉnh Bình Định với quy mô nền kinh tế còn nhỏ, trình độ dân trí còn thấp, đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn thì yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của tỉnh đặt ra nhiều khó khăn và thách thức Chính

vì vậy em chọn đề tài “Một số giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tỉnh

Bình Định để phát triển kinh tế - xã hội” để nghiên cứu và đưa ra các biện pháp khắc

phục

Nhân lực là sức lực con người, nằm trong mỗi con người và làm cho con người hoạt động Sức lực đó ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của cơ thể con người và

Trang 3

dến một mức độ nào đó, con người đủ điều kiện tham gia vào quá trình lao động ( Kinh

tế nguồn nhân lực – Trần Xuân Cầu, 2008)

Nguồn nhân lực là tất cà những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính toán của con người có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và của đất nước ( LHQ), là toàn bộ vốn con người bao gồm thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp (WB), là toàn bộ những người trong độ tuổi có khả năng tham gia lao động của một quốc gia (ILO) Chất lượng nguồn nhân lực là trạng thái nhất định của nguồn nhân lực, là tố chất, bản chất bên trong nguồn nhân lực, luôn có sự vận động và phản ánh trình độ phát triển kinh tế

xã hội cũng như mức sống, dân trí của dân cư

Năng suất lao động là chỉ tiêu đo lường hiệu quả sử dụng lao động, đặc trưng bởi quan

hệ so sánh giữa một chỉ tiêu đầu ra với lao động sản xuất ra nó, trong đó đầu ra được tính bằng GDP, đầu vào thường được tính bằng số lượng lao động đang làm việc, giờ công lao động, hay lực lao động được điều chình theo chất lượng

2.THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC TỈNH

BÌNH ĐỊNH 2.1 Khái quát về quy mô nguồn nhân lực tỉnh Bình Định

Bảng 2.1 Dân số trung bình chia theo giới tính, thành thị và nông thôn tỉnh Bình

Trang 4

khăn cho việc cung cấp nhân lực cho Tỉnh Đặc biệt, khó khăn lớn nhất đó là dân số nông thôn, thành thị có sự chênh lệch quá lớn, năm 2015 dân số thành thị cao hơn nông thôn 576,5 nghìn người – điều nay cho thấy dân số Bình Định tập trung chủ yếu ở nông thôn, trong khi nó các công ty, xí nghệp lớn lại tập trung đa số ở thành thị đã gây nên tình trạng thất nghiệp ở nông thôn còn thành thị thì thiếu nguồn nhân lực

Hình 2.1 Biểu đồ thể hiện tỷ lệ tăng tự nhiên của dân số Bình Định

trong giai đoạn 2012 – 2015

Đơn vị: ‰

Nguồn: Tổng cục thống kê

Qua đồ thị trên ta thấy, tỷ lệ tăng tự nhiên của dân số không đồng đều qua các năm Cụ thể, từ năm 2010 – 2013, tỷ lệ tăng tự nhiên của dân số tăng 0,7 phân ngàn nhưng từ năm 2013 – 2015 thì tỷ lệ này đã giảm xuống 1.6 phần ngàn còn chỉ 8,2 phần ngàn

2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nhân lực tỉnh Bình Định

2.2.1 Nhóm yếu tố về vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên

• Vị trí địa lí :

Bình Định là tỉnh thuộc vùng duyên hải Nam Trung Bộ, phía Bắc giáp tỉnh Quảng Ngãi – nơi có khu công nghiệp Dung Quốc, phía Nam giáp tỉnh Phú Yên – có niều tiềm năng phát triển về du lịch, phía Tây giáp tỉnh Gia Lai, phía Đông giáp biển Đông Tỉnh có 11 đơn vị hành chính bao gồm 10 huyện và 1 thành phố Quy Nhơn là thành phố loại II trung tâm kinh tế - chính trị - văn hoá của tỉnh

Với vị trí địa lí thuận lợi, Bình Định có tiềm năng to lớn trong phát triển kinh tế từ đó giải quyết việc làm, nâng cao mức sống dân cư Đồng thời góp phần đào tạo nhân lực

và lưu chuyển nguồn nhân lực trình độ cao từ các tỉnh trong vùng với nhau

• Điều kiện tự nhiên:

Trang 5

Với điều kiện thuận lợi, nhiều loại đất đa dạng khác nhau đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc trồng các cây ăn quả, cây công nghiệp khác nhau; xây các nhà máy xí nghiệp đem lại việc làm cho người lao động Đồng thời, Bình Định có bờ biển dài đã giúp tỉnh phát triển mạnh ngành công nghiệp, dịch vụ và các ngành kinh tế biển, thu hút nguồn nhân lực dồi dào, có năng lực về cho tỉnh

2.2.2 Nhóm yếu tố về phát triển kinh tế

• Trình độ phát triển của nền kinh tế

Tổng sản phẩm địa phương (GRDP) năm 2015 (theo giá so sánh 1994) đạt 14.540 tỷ đồng Bình quân mỗi năm GRDP đạt mức tăng trưởng gần 10% GRDP bình quân đầu người đến năm 2015 đạt 40,1 triệu đồng, bình quân mỗi năm tăng gần 4,5 triệu đồng (tăng 17,8%/năm) Tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 670 triệu USD, bình quân mỗi năm tăng 45,5 triệu USD, tương ứng mức tăng trưởng 12%/năm Thu ngân sách chủa tỉnh luôn việc chỉ tiêu đề ra hàng năm và tăng bình quân 9,7%/năm Tổng thu ngân sách trên địa bàn tỉnh ước đạt 5.500 tỷ đồng, đạt chỉ tiêu Nghị quyết đề ra (Cục thống kê Bình Định )

Trang 6

• Tăng trưởng đầu tư nền kinh tế

Tính tới ngày 20/9/2015, tỉnh Bình Định có 63 dự án FDI còn hiệu lực, tổng vốn đầu tư đăng ký 1,7 tỷ USD, đang đứng thứ 26/63 tỉnh, thành phố trong cả nước Bình quân 1

dư án là 27,9 triệu USD cao hơn bình quân trung bình của 1 dự án có đầu tư nước ngoài vào Việt Nam (14,5 triệu USD/dự án) Từ đầu năm đến nay, tỉnh đã thu hút được 15 dự

án trong nước với tổng vốn khoảng 5.198,906 tỷ đồng Trong đó: 9 dự án đầu tư trong lĩnh vực dịch vụ, thương mại, bất động sản; 4 dự án đầu tư trong lĩnh vực nông nghiệp;

2 dự án đầu tư trong lĩnh vực công nghiệp

Tăng trưởng đầu tư kinh tế tỉnh góp phần giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập, cải thiện chất lượng cuộc sống của người lao động và sẽ tác động tích cực đến đời sống vật chất và tinh thần

• Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng hiện đại, tỷ trọng công nghiệp - xây dựng tăng 9,17% 9 (kế hoạch 11,2%), dịch vụ tăng 8,52% ( kế hoạch 6,6%), nông – lâm – ngư nghiệp tăng 4,12% ( kế hoạch 3,5%); trong đó nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản phát triển toàn diện với năng suất, sản lượng cao; công nghiệp đã và đang khẳng định được vai trò, vị thế của mình; dịch vụ ngày càng khởi sắc Sự chuyển dịch cơ cấu các ngành công nghiệp, dịch vụ chủ yếu của vùng sẽ là bước đột phá, thu hút nhiều lao động đặc

Trang 7

biệt là lao động trình độ cao vào các ngành kỹ thuật công nghiệp cao, công nghệ hiện đại, giá trị gia tăng cao ( Báo cáo UBND tỉnh Bình Định 2016)

2.2.3 Nhóm yếu tố văn hoá – xã hội

- Yêu cầu sử dụng lao động của xã hội

Hiện nay mỗi năm tỉnh Bình Định cần 15 nghìn lao động, ít nhất 45% trong số đó phải được đào tạo dài hạn, trong khi các cơ sở đào tạo tại Bình Định chỉ có thể cung cấp khoảng 8 – 9 nghìn lao động Điều đó cho thấy nhu cầu lao động qua đào tạo của Bình Định rất lớn Qua thời gian, kinh tế Bình Định đang theo đổi theo chiều sâu, nâng cao hàm lượng chất xám trong sản phẩm, sử dụng công nghệ hiện đại, tiến tới nền kinh tế tri thức, vậy nên đòi hỏi người lao động cũng phải tích cực hoàn thiện bản thân để đáp ứng yêu cầu đó

- Phát triển giáo dục và đào tạo

Giáo dục – đào tạo – dạy nghề phát triển mạnh về cơ sở vật chất, mở rộng quy mô và nâng cao chất lượng đào tạo Công tác xã hội giáo dục được đẩy mạnh, đa dạng hoá các loại hình trường lớp, các loại đào tạo đáp ứng tốt nhu cầu học tập và phát triển nguồn nhân lực Tính đến cuối năm 2016, toàn tỉnh có thêm 24 trường đạt chuẩn quốc gia, trong đó: Bậc học mầm non có 12 trường, nâng tổng số trường đạt chuẩn quốc gia lên 40/211 trường, đạt tỷ lệ 18,96%; cấp tiểu học có thêm 4 trường, tổng có 81/242 trường, đạt 74,8%; cấp THCS có thêm 4 trường, nâng tổng số trường đạt chuẩn quốc gia lên 107/150 trường; cấp THPT có thêm 4 trường, hiện có 15/53, đạt 8,3% Hệ thống trung tâm học tập cộng đồng được xây dựng và hoạt động ngày càng năng động Tỉnh được

Bộ GD–ĐT công nhận đạt tiêu chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học và xoá mù chữ 1998, đạt phổ cập THCS năm 2004 ( Báo cáo UBND tỉnh Bình Định 2016)

Bảng 2.2 Số lớp học phổ thông tại thời điểm 30/9/2015

Trang 8

trang thiết bị để có thể đáp ứng việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho tỉnh nhằm mục tiêu đưa nền kinh tế phát triển mạnh Đặc biệt theo quyết định phê duyệt của Thủ tướng Chính phủ số 1018/1997/QĐ-TTg ngày 29/11/1997, vùng kinh tế trọng điểm Trung bộ gồm thành phố Đà Nẵng và các tỉnh Thừa Thiên – Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi

• Khả năng chăm sóc sức khoẻ và dinh dưỡng

Công tác bảo vệ, chăm sóc sức khoẻ nhân dân có nhiều tiến bộ tích cực triển khai tốt công tác y tế dự phòng, kịp thời khai triển các biện pháp khẩn cấp phòng chống dịch bệnh nguy hiểm, không để xãy ra dịch bệnh lớn; công tác phòng chống trên địa bàn tỉnh được quan tâm chỉ đạo và giám sát chặt chẽ Đến nay đã có 157/159 trạm y tế có bác sĩ đạt tỷ lệ 98,7% ( trong đó : 135 xã có bác sĩ tại chổ, 22 xã có bác sĩ tăng cường tuyến huyện về) Tiếp tục tăng cường quản lí và tạo điều kiện thuận lợi để hệ thống y tế ngoài công lập phát triển, nhất là với việc khám chữa bệnh ban đầu, tư vấn sức khoẻ, chăm sóc y tế và cung cấp thuốc chữa bệnh cho nhân dân, góp phần giảm quá tải, nâng cao chất lượng khám chữa bệnh cho nhân dân tại các tuyến bệnh viện công lập cấp xã, huyện, tỉnh, thành phố.Thường xuyên đẩy mạnh công tác tư vấn về chăm sóc sức khoẻ sinh sản

và phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em Thực hiện tốt chương trình phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em; tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi giảm xuống còn 17,27%, vượt 0,73% so với kế hoạch

2.3 Thực trạng chất lượng nguồn nhân lực tỉnh Bình Định

2.3.1 Tình trạng thể lực

- Đứng trước thời kỳ công nghiệp hoá – hiện đại hóa, nền kinh tế tỉnh Bình Định có những nét chuyển biến tích cực trong quá trình phát triển kinh tế, giáo dục Trong đó, tình trạng sức khỏe của nguồn nhân lực của tỉnh cũng liên tục được cải thiện Nhưng cũng gặp không ít khó khăn và thách thức:

+ Chỉ số HDI có xu hướng tăng Chỉ số phát triển con người HDI ở nước ta trong những

năm qua có bước tiến đáng kể năm 2012 là 0,623 đến năm 2015 đã tăng lên 0,652

+ Tuổi thọ là chỉ số thành phần quan trọng của HDI Năm 2015 đạt cột mốc 73,2 tuổi

cao hơn mức 72,9 năm 2012

Trang 9

+ Giáo dục có sự cải thiện rõ rệt do mức độ tăng đáng kể của số năm đi học của người

lớn từ 6,67 năm 2012 lên 7,74 năm 2015 Tuy nhiên, số năm đi học kỳ vọng lại giảm từ 11,23 năm 2012 xuống 11,05 năm 2015

Ngoài các yếu tố về tính tự nhiên, đây chính là kết quả của việc cái thiện mức sống,

chăm lo sức khỏe của người dân, nâng cao trình độ y tế và áp dụng khoa họ- kỹ thuật

Bảng 2.3 HDI tỉnh Bình Định giai đoạn 2012-2015

+ Chỉ số BMIcó tình hình cải thiện tích cực.Chỉ số BMI của bạn được tính như sau:

BMI = (trọng lượng cơ thể)/ (chiều cao x chiều cao) Với Trọng lượng cơ thể tính bằng kg và chiều cao x chiều cao tính bằng m

Bảng 2.4 Đánh giá theo tiêu chuẩn của tổ Y tế thế giới (WHO) và dành riêng cho

người Châu Á ( IDI & WPRO)

Trang 10

+ Vấn đề chăm sóc sức khỏe là một trong những vấn đề được quan tâm hàng đầu trong

việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của một địa phương Nhìn chung, tình hình chăm sóc sức khoẻ của Tỉnh Bình Định vẫn còn một số bất cập, hạn chế

Bảng 2.5 Số cơ sở khám, chữa bệnh trực thuộc sở y tế của Tỉnh Bình Định

Đơn vị: Cơ sở

khu vực

Trạm y tế xã, phường

Bảng 2.6 Số Bác sĩ, Y sĩ, Y tá, Hộ sinh trực thuộc sở Y tế của Bình Định từ năm

Trang 11

Số người nhiễm AIDS

Số người nhiễm HIV còn sống

Số người nhiễm AIDS còn sống

Số người chết do AIDS

Bảng 2.8 Số cơ sở y tế năm 2013 phân theo địa phương của Tỉnh Bình Định

Trang 12

Nhận xét: Qua bảng thống kê, ta thấy sự phân bố cơ sở y tế ở các địa phương trong Tỉnh chưa đồng đều, còn có sự chênh lệch lớn Quy Nhơn là nơi có tổng số cơ sở y tế cao nhất (33 cơ sở), Vân Canh là nơi có tổng số cơ sở thấp nhất (8 cơ sở), những địa phương

có trình độ kinh tế phát triển như Quy Nhơn, Hoài Nhơn, Phù Mỹ, Phù Cat thì tập trung các cơ sở y tế đầy đủ còn những nơi trình độ phát triển kinh tế kém, khó khăn như An Lão, Vĩnh Thạnh, Vân Canh thì các cơ sở y tế rất thưa thớt Chính vì vậy mà Tỉnh cần phải quan tâm hơn nữa, cho xây dựng các cơ sở y tế ở các vùng này, có như vậy thì chất lượng nguồn nhân lực sẽ tăng cao kéo theo kinh tế sẽ phát triển

2.3.2 Tình trạng trí lực

- Trình độ văn hóa là cơ sở quan trọng để giáo dục , đào tạo , nâng cao năng lực, kỹ

năng làm việc của người lao động

Bảng 2.9 Tỷ lệ dân số từ 15 tuổi trở lên biết chữ của cả nước và Bình Định

Trang 13

Bảng 2.11 Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông

Tỷ lệ học sinh trung học phổ thông của tỉnh giảm dần một cách rõ rệt đã phản ảnh giáo dục, đào tạo của tỉnh còn yếu kém, chưa đáp ứng được nhu cầu chất lượng nguồn nhân lực của Tỉnh, đồng thời tỷ lệ này còn thấp hơn so với cả nước đã gây ra khó khăn lớn cho Tỉnh để theo kịp đà phát triển của đất nước

- Trình độ chuyên môn kĩ thuật của người lao động là một trong những chỉ tiêu phản

ánh rõ nhất chất lượng của một quốc gia hay một địa phương Nhìn chung, trình độ

Trang 14

chuyên môn kĩ thuật của người lao động Tỉnh Bình Định của ở mức độ khá thấp sao với mặt bằng chung

Bảng 2.12 Số lao động có việc làm từ 15 tuổi trở lên chia theo trình độ CMKT,

giới tính, thành thị và nông thôn năm 2015

Đơn vị: Người

Nguồn: Trung tâm dịch vụ việc làm Bình Định

- Qua bảng trên, ta thấy số lao động đang làm việc chưa qua đào tạo chiếm hơn 1/2 tổng

số lao động có việc làm trong cả tỉnh (56,6%), tập trung chủ yếu ở khu vực nông thôn (77,2%), lao động nữ chưa qua đào tạo cao hơn nam (54,1%).Tỷ lệ lao động trình độ đại học trở lên có việc làm là 96,8%, chia đều ở cả hai khu vực: thành thị 51,7%, nông thôn 48,3%; lao động nữ chiếm 42,1%

- Từ những điều này đã gây ra cho Bình Định rất nhiều khó khăn lớn trong việc đào tạo nguồn nhân lực để kịp với trình độ phát triển kinh tế - xã hội của Tỉnh Tỉnh cần phải đẩy mạnh các chính sách đào tạo nguồn nhân lực bởi số lao động chưa qua đào tạo còn chiếm số lượng rất lớn, đồng thời việc phân chia người lao động có trình độ đại học còn chưa hợp lí nên tập trung số lao động có trình độ đại học ở thành thị nhiều hơn nông thôn bởi nền kinh tế của Tỉnh tập trung chủ yếu ở thành thị

Ngày đăng: 28/05/2023, 08:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w